Bạch Thoại Phật Pháp – Quyển 3
(白话佛法三)
Lời Mở Đầu
BẠCH THOẠI PHẬT PHÁP
Bài giảng Video
Quyển 3
Tác giả: Đài Trưởng Lư Quân Hoành
LỜI MỞ ĐẦU
Bạch Thoại Phật Pháp là cách Đài trưởng Lư sử dụng ngôn ngữ của cuộc sống để giảng giải Phật pháp uyên thâm. Giải thích triết lý của nhân sinh từ việc sử dụng các ví dụ đơn giản trong cuộc sống hàng ngày. Trong Bạch Thoại Phật Pháp lĩnh hội được các lý luận Phật học ở mức độ cao huyền bí. Khởi dậy Phật tánh của tất cả chúng sinh và sửa đổi số phận của chúng ta. Mời quý vị đón đọc bài giảng Bạch Thoại Phật Pháp của Đài trưởng Lư.
Để đạt được những hiệu quả nhất định, trước khi đọc Bạch Thoại Phật Pháp nên đọc lời cầu nguyện dưới đây:
“Cảm tạ Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Xin gia trì cho đệ tử __(họ tên) để con đọc và hiểu được nội dung của Bạch Thoại Phật Pháp, để năng lượng của Bạch Thoại Phật Pháp gia trì bổn tánh của con, phù hộ cho con khai sáng trí tuệ, tiêu trừ nghiệp chướng, mọi điều kiết tường. Con xin cảm tạ Bồ Tát”.
60. Thấu hiểu là giải thoát
Tập 60
THẤU HIỂU LÀ GIẢI THOÁT
(06/05/2020)
Được rồi, hôm nay Đài trưởng sẽ tiếp tục giảng với đại chúng về “Bạch Thoại Phật Pháp”.
Trong quá trình học Phật của chúng ta, trong Phật giáo có tứ môn (tức là bốn cửa) “Tín-Giải-Hành-Chứng”: Tín Môn, Giải Môn, Hành Môn, Chứng Môn, đây là quá trình và tiến trình quan trọng nhất mà người Phật tử nên nắm vững khi học Phật. Sư phụ dần dần sẽ nói với mọi người về những nguyên tắc cơ bản của Phật học, để mọi người có thể tiến bộ hơn trong việc học Phật.
Tín, thực ra là chúng ta phải tin vào Phật pháp trước. Tin vui theo Phật pháp, tin Phật, tin Tam Bảo, thì chúng ta sẽ có được lòng tin. Giống như những gì chúng ta làm bây giờ, khi quý vị đã tin rồi, thì quý vị mới chịu làm. Quý vị không tin người khác, nếu họ bảo quý vị làm điều gì, quý vị sẽ không làm. Hôm nay chúng ta tin vào Tam Bảo Phật Pháp Tăng, chúng ta tin rằng có Bồ Tát sẽ phù hộ cho chúng ta, chúng ta tin rằng Phật pháp có thể làm cho chúng ta phá mê khai ngộ, chúng ta tin rằng Tăng đoàn đại diện cho hình ảnh của Đức Phật, đại diện cho hình ảnh của mỗi người giữ giới trong chúng ta, vậy thì khi chúng ta đã tin, thì chúng ta sẽ học. Vì vậy, niềm tin là Chánh tín.
Điều quan trọng thứ hai trong phật giáo là “Giải”. Giải là gì? Nó có nghĩa là sự hiểu biết của quý vị về một sự vật là rất quan trọng. Ví dụ nếu quý vị không hiểu một điều gì đó, quý vị sẽ không bao giờ làm được việc đó. Nếu ai đó nói một câu, quý vị cần phải hiểu đúng không? 2500 năm trước, Đức Phật để lại cho những người đệ tử chúng ta dòng pháp Phật vàng son, chính là để cho chúng ta hiểu rõ và biết rõ được chân nghĩa của “Khổ-Không-Vô thường” trong thế giới này: hết thảy đều là vô thường và không dài lâu; thế giới này là đau khổ. Cho đến cuối cùng nó sẽ trống rỗng và không có gì cả. Khổ-Không-Vô thường là nói cho chúng ta biết sự thật, vậy thì quý vị phải hiểu nó, đúng không? Vì vậy, “Giải” là rất quan trọng. Một khi quý vị đã hiểu rõ ràng rồi, quý vị sẽ đạt được
giải pháp chính trực chân chính của Phật lý – giải thích nó một cách chính xác. “Giải” thứ hai chính là sau khi tin tưởng, điều quan trọng là phải tiếp thu và hiểu được giáo nghĩa của Phật pháp.
Và thứ ba là “Hành”. Sau khi quý vị hiểu được đạo lý, thì có phải quý vị cần y theo pháp mà tu hành không? Hành – chính là đang làm Bồ Tát. Khi tôi biết được rồi, người khác nói với tôi, tôi đều hiểu được, tiếp theo tôi phải thực hành và làm nó, làm giống như Bồ Tát, đây chính là Hành. “Hành” thực ra là một cụm từ mà người học Phật chúng ta thường nói đến, đó là “tu hành”. Tu cái gì? Quý vị có hành vi nào hàng ngày không? Có. Có một số việc quý vị làm không đúng lý không đúng pháp cũng gọi là hành vi, đúng không? Đúng. Vậy chúng ta có nên sửa nó không? Nên sửa. Tiếp theo đó chính là cần sửa nó trong hành vi của quý vị. Vì vậy tu hành y theo pháp, có nghĩa là học Phật và tu hành một cách như lý, như Pháp, chính là điều thứ ba mà chúng ta nói, đó là phải “Hành”.
Điều thứ nhất là cần phải tin tưởng, điều thứ hai là có thể hiểu được Phật pháp, sau khi hiểu rồi thì phải thực hành, và điều cuối cùng là phải “Chứng” được. Bởi vì sau khi Hành xong thì quý vị sẽ có được sự cảm ngộ, và sau khi Hành xong thì quý vị sẽ có được sự hiển linh. Tại sao nhiều người học Phật? Bởi vì tôi tu hành theo Phật rồi và làm rất nhiều việc của Phật, không ngờ rằng lại có thể quảng kết thiện duyên {hình thành được nhiều mối quan hệ tốt đẹp} và tôi thực sự đã hiểu được. Đây là điều mà những người học Phật nên hiểu, nếu hôm nay quý vị tu hành theo Phật và làm những việc giống như một vị Bồ Tát thì sẽ có nhiều mối quan hệ tốt đẹp, mọi người sẽ đối xử tốt với quý vị, quý vị sẽ rất hạnh phúc, “Bạn xem sau khi tôi học Phật, mọi người đều đối với tôi tốt như vậy, mọi người đều quan tâm đến tôi như thế đó”, thì có phải là quý vị đã kiểm chứng được sự chứng ngộ của Phật pháp rồi không? Và quý vị hiểu được: “Tôi sẽ tiếp tục tu hành, bởi vì tôi đã kiểm chứng rằng đây là con đường đúng đắn, và tôi sẽ tiếp tục thực hành”. Đó chính là đã chứng đắc quả vị, bởi vì nếu quý vị kiên trì, thì nó sẽ ra quả. Quý vị trồng cây để sinh trái, người khác nói với quý vị rằng sẽ mọc ra cây táo, tuy quý vị không nhìn thấy nhưng khi quý vị trồng nó có phải là đã “Hành” rồi không? Trước tiên, quý vị tin vào cái cây này, nó có thể mọc ra táo. Sau đó xét về mặt lý thuyết, kết cấu, môi trường sinh trưởng, ánh sáng mặt trời và việc tưới nước của cây này, giúp cho quý vị có khả năng biết được nó có thể mọc ra táo. Thứ ba là phải Hành, bắt đầu xới đất, tưới nước và đón nắng v.v.. phải làm rất nhiều công việc, đây chính là Hành. Sau khi đã thực hành, nó vẫn chưa ra quả. Vậy thì đến cuối cùng đó là Chứng, tức là khi quý vị thấy quả táo mọc ra và có được quả này rồi thì gọi là Chứng quả. Vì vậy, Phật giáo cũng giống như nhiều nguyên lý trong nhân gian chúng ta, chẳng hạn như trồng thực vật và các nguyên lý chính xác khác, đều là giống nhau.
Tín-Giải-Hành-Chứng. Thực ra, “Tín”, nói một cách đơn giản hơn, có nghĩa là người học Phật phải xây dựng niềm tin cho chính mình. Tôi tin nên tôi mới học Phật. Bởi vì quý vị có niềm tin chân chính vào Phật giáo, “Tôi tin vào Phật, tin vào Quán Thế Âm Bồ Tát nhất định có thể cứu tôi”. Khi đó quý vị đã lập được chánh tín vào cội nguồn của Phật giáo. Cội nguồn của Phật giáo là gì? Phật giáo đến từ đâu, quý vị cần biết nguồn gốc của niềm tin chân chính mà Phật giáo mang lại cho quý vị. Bởi vì Đức Phật giảng dạy là chánh Pháp nên tôi tin rằng Giáo Pháp mà Đức Phật mang đến cho chúng ta có thể khiến chúng ta giác ngộ và giải thoát. Tiếp theo quý vị sẽ tìm thấy được một nhân duyên lớn để Phật đến nhân gian, bởi vì Đức Phật đến nhân gian để hoằng dương Phật pháp, nhân duyên lớn nhất của Ngài đến nhân gian chính là muốn cho tất cả tín chúng, tất cả chúng sinh chúng ta “Khai Phật Tri Kiến”. Cái gì gọi là “Khai Phật Tri Kiến”? Để hiểu được lời dạy của Đức Phật, chúng ta phải phá mê khai ngộ. Một khi quý vị thoát khỏi những phiền não trong tâm trí, thì quý vị có thể nhìn thấy Phật Pháp. “Tri” có nghĩa là biết kiến giải của mình là đúng hay sai. “Giải” thực chất là nói đến sự hiểu biết và tri kiến về Phật giáo. Quý vị muốn hiểu được Giải, có phải cần kết hợp tình huống thực tế để lý giải Phật pháp hay không, nếu
quý vị áp dụng đạo Phật vào cuộc sống thì nó mới phù hợp với cuộc sống của quý vị, nếu trong nhà có mâu thuẫn, quý vị biết cam chịu nhẫn nhục, thì mâu thuẫn sẽ dần dần được hóa giải, một khi thấy Phật pháp này đã được chứng minh là tốt thì quý vị sẽ minh lý và minh bạch nó, nên “Giải” có nghĩa là hóa giải và lý giải.
Chữ “Hành” thứ ba chính là những gì Sư phụ đã giảng trước đó với mọi người, muốn làm một việc gì, quý vị có cơ sở lý luận, nhưng quý vị phải làm mới được. Ví dụ như quý vị có làm nhiều việc ở nhà đi chăng nữa, cho dù lý thuyết gì quý vị cũng hiểu, nhưng nếu quý vị không thực hành, thì quý vị sẽ không thể thực sự hiểu được. Giống như một người nói: “Tôi biết lái xe. Lái xe rất dễ. Chỉ cần kéo cái này và đạp phanh bên kia. Muốn dừng thì nhấn bàn đạp trái. Muốn lái xe thì nhấn bàn đạp phải”. Nếu quý vị chưa từng lái xe, quý vị thử theo lý thuyết này xem? Khi quý vị lên xe thì sẽ khác. Cho nên cái “Hành” này là phải hiểu, sau khi hiểu rõ triệt để về Phật pháp rồi, phải dùng nó trong cuộc sống, áp dụng nó vào chánh kiến để minh lý. “Chánh kiến minh lý” tức là hiểu rõ, thật sự chánh kiến hiểu rõ cái đạo lý này, hơn nữa áp dụng Phật lý này vào mỗi sự việc trong cuộc sống của quý vị, thì quý vị đã “Hành” rồi. Hôm nay tôi ăn cơm, tôi phải “cảm ân”, đó chính là hành Phật. Hôm nay tôi nấu ăn: “Hôm nay tôi biết tôi phải lao động và tôi phải giúp đỡ người khác”. Cho dù ngủ tôi cũng phải mơ một giấc mơ đẹp, bởi vì tôi học Phật tu tâm, “con mong Bồ Tát gia trì cho con, ngày mai có sức lực đi trợ giúp nhiều người hơn nữa, bởi vì con cần được bổ sung năng lượng cho thân thể, nên con cần phải ngủ ngon, con xin Bồ Tát phù hộ cho con”. Vì vậy, khi đề cập đến các vấn đề ở nhân gian, mỗi một bước quý vị đều phải như lý như pháp.
“Chứng” có nghĩa là tự mình trải nghiệm và nghiệm chứng đạo lý của Phật pháp, xem liệu tất cả các con đường quý vị đi có đúng hay không. Quý vị phải hiểu rằng quý vị không thể hiểu được hàm ý bên trong bằng cách dựa vào người khác để nói với quý vị. Chỉ khi quý vị tự mình kiểm chứng và trải nghiệm nó,
thì quý vị mới có thể hiểu được ý nghĩa thật sự của điều này. Đối với nhiều đứa trẻ, dù cha mẹ có nói với chúng bao nhiêu lần rằng “Con ơi, nếu con như vậy thì con sẽ phải chịu khổ cho mà xem”, nó chưa từng đau khổ qua, không có cảm giác nên nó sẽ không hiểu, chỉ khi nó gặp đau khổ hay hạnh phúc và chỉ khi nó cảm nhận được điều đó thì nó mới có thể tin, hiểu và làm được. Vậy nên làm sao để Phật Pháp có thể hòa nhập vào nhân gian thì phương pháp để tu hành là rất quan trọng.
Mọi chuyện xảy ra trong cuộc sống, sau khi quý vị học được bốn cửa: Tín-Giải-Hành-Chứng, quý vị sẽ dần dần hiểu ra: Mọi thứ trong nhân gian của chúng ta chỉ là trải nghiệm và cảm giác, không có cách nào làm chủ được nó. Một điều vô cùng hạnh phúc mà chúng ta có được khi còn nhỏ, bây giờ đã tan biến, không còn nữa. Một bữa tiệc (party), hoặc đã từng giành được một giải thưởng hay một chức vô địch nào đó, tất cả mọi thứ đều không thể có được nó mãi mãi, vì vậy không có gì là mất mát cả, đó chỉ là sự trôi qua của cuộc đời mà thôi. Giống như chúng ta đã từng đến rất nhiều nước, quý vị đã từng đi đây đi đó chưa? Đã từng. Đã từng đi du lịch qua chưa? Đã từng. Quý vị cảm thấy vui không? Đã quên rồi. Có rất nhiều người như vậy, cuộc sống cũng vậy, chỉ là trôi qua mà thôi. Vì vậy, mất hay có không quan trọng, đó là một loại cảm giác. Sự thất bại của con người cũng không có gì quan trọng. Nhưng có rất nhiều người khi làm sai lại vướng mắc vào điểm này, nghĩa là không dám thừa nhận. Thực tế thì họ đang vướng chấp vào việc “tôi thất bại rồi”, trên thực tế, sau vài tháng, một năm, hai năm, sự việc này vốn đã là một loại trí giác, cảm giác, và nó đã không còn nữa, dù đã từng thất bại hay sở hữu cũng hoàn toàn không thành vấn đề, chỉ là thêm một kinh nghiệm mà thôi. Cho nên, Sư phụ nói với mọi người, hãy nhìn đời bằng trái tim chân thành, tất cả những gì được mất, danh và lợi đều là một loại “quá nhãn vân yên” (phù du) mà thôi.
Giống như phong cảnh khi chúng ta đi du lịch, chúng ta chưa từng đến Paris nước Pháp và bị choáng ngợp bởi tháp Eiffel hùng vĩ ở Paris, chúng ta đã xem
rất nhiều bộ phim, rất muốn lên đó tham quan. Đã đi đến được nơi đó rồi, xếp hàng rất dài, sau khi đi lên tháp, bị một cơn gió thổi, nên vội vàng đi xuống, tan biến rồi, không tìm thấy nữa, hết rồi, chỉ là một cảm giác mà thôi. Vậy tại sao con người lại phải vướng vào một điểm nào đó không chịu thừa nhận lỗi lầm của mình? Trên thế gian này, đừng cố vượt qua ngưỡng cửa mà quý vị không có khả năng vượt qua. Nếu quý vị vượt qua nó, đó là một cánh cửa, nhưng nếu quý vị không thể vượt qua nó, đó là một trở ngại. Đừng cố lấy thứ mình không cầm được, cho dù có được nhất thời, cũng sẽ mất đi. Hiểu được đạo lý này, thì trên đời này có cái gì có thể đi tranh, có thể đi cướp, có thể đi đoạt đây?
Trên đường đời, có đôi khi trước giờ chúng ta còn chưa hiểu, hoặc vẫn còn chưa biết được rốt cuộc là chuyện gì xảy ra, lúc đứng ở ngã tư hay ngã ba đường, đi sai một bước, có thể ảnh hưởng đến tiền đồ cả đời của chúng ta. Người học Phật vì sao có trí tuệ, chính là vì chúng ta dùng ngộ tánh trong tâm của mình để nhận thức chân lý của thế giới này khi đưa ra những lựa chọn. Khi đó con người chúng ta mới có thể dần dần biết được, cả đời này có đôi khi cảm giác nhân sinh rất thống khổ, vì sao? Bởi vì quý vị không thể chịu đựng được những lời dối trá của người khác nên quý vị mới tức giận. Đôi khi quý vị phải chịu đựng sự dối trá, quý vị phải chịu đựng sự đối xử miễn cưỡng của người khác đối với quý vị, phải chịu đựng được sự lừa dối của người khác đối với quý vị. Đôi khi, để sống, quý vị phải quên đi những tổn thương mà quý vị đã từng trải qua. Dần dần, quý vị sẽ nhận ra rằng sự kiên trì đôi khi không mang lại cho quý vị thành công cùng chiến thắng. Từ bỏ không có nghĩa là nhận thua và thất bại. Hãy cho bản thân một khoảng không gian vòng quanh, để bản thân lùi lại một bước, suy nghĩ về điều đó, dừng lại một chút và suy nghĩ xem cuộc sống sẽ như thế nào. Quý vị phải học cách chờ đợi, học cách nắm bắt chân lý, học cách điều chỉnh tính cách và khí chất của mình. Theo chân chư Phật và Bồ Tát cho tốt để tìm được năng lượng tích cực, tìm ra trí tuệ và Bát nhã của thế gian.
Thứ duy nhất quý vị có trong đời mà sẽ không bao giờ đánh mất đó là “Dĩ giả loạn chân” {làm giả như thật}. Quý vị cũng không thể coi sự thật và sự giả dối là tuyệt đối. Đứa trẻ này là con của quý vị đúng không? Đúng vậy. Nó có vẻ là thật thì phải? Phải đó. Thực ra nếu mất đi rồi thì đó không phải của quý vị nữa, là giả, đó là duyên phận. Nó đã từng có mặt rồi và nó sẽ rời khỏi, sẽ kết hôn rồi về nông thôn hoặc đi đến những nơi nào đó mà nó cần đến. Quý vị không thể coi duyên phận nhân gian này là vĩnh cửu, là tuyệt đối, là chân thực, để phân biệt nó, để hình dung nó, bởi vì những thứ này đều là hư ảo, bởi vì “Sắc tức thị không, Không tức thị sắc”.
Tất cả mọi hiện tượng, giới Phật giáo đều cho rằng bản chất của nó — Tánh của chúng là Không, tức là bản chất của chúng là trống rỗng. Khi con người chúng ta đến thế giới này, ngay cả thân xác của quý vị cũng không thể ở bên cạnh quý vị mãi mãi, nó sẽ rời bỏ quý vị, chỉ có linh hồn là của quý vị. Khi cá nhân này chết đi, nhục thể bị hủy hoại, nó sẽ rời bỏ quý vị. Có lẽ nhiều người không coi trọng khi Đài trưởng nói điều này, cảm thấy: Thân thể này không phải là vĩnh viễn đi theo tôi sao? Xin hỏi, nếu một bộ phận nào đó trên cơ thể quý vị bị hoại tử và được phẫu thuật cắt bỏ, thì đó có phải là mảnh thịt này, cánh tay này, hay cái chân này không còn là của quý vị nữa không? Nhiều bệnh nhân tiểu đường, chân bị hoại tử, phải cắt bỏ, bằng không sẽ bị viêm nhiễm và ảnh hưởng đến sức khỏe tổng thể, nên cái chân này không còn là của họ nữa, không thể ở bên nhau mãi mãi. Vì vậy, bất kỳ sự chấp trước hay tham luyến nào đều có nghĩa là không hiểu rằng “Sắc tức thị Không”.
61. Ngũ trược phiền não chính là nghiệp chướng
Tập 61
NGŨ TRƯỢC PHIỀN NÃO CHÍNH LÀ NGHIỆP CHƯỚNG
(06/05/2020)
Bất cứ sự chấp trước hay tham luyến nào cũng chính là do không hiểu đạo lý “Sắc tức thị Không”. Khi quý vị sinh ra, đó chẳng phải là “Không tức thị Sắc” sao? Đến nhân gian này cái gì cũng không có: Không có người thân, không có bạn bè, không có quần áo, ngay cả cha mẹ cũng là tạm thời, đến nhân gian mới vay mượn, tất cả đều thuộc về Không. Từ cái Không lại biến thành “Sắc” – quý vị có rất nhiều người thân, bạn bè, tình cảm, còn có cả công việc, tất cả lại biến thành “Không tức thị Sắc”. Cho nên sự chấp trước, tham luyến sẽ biến thành hư ảo, trống rỗng trong tâm quý vị.
Phải hiểu rằng trên thế giới này, “Biến đổi” là lẽ thường. Một người mà không thay đổi thì đó là không bình thường. Nếu một đứa trẻ chỉ cao một mét, hai mươi mấy năm trôi qua vẫn chỉ cao một mét, có phải là bất thường không? Nếu một người trải qua mấy chục năm mà không già đi, dần dần theo sự tăng trưởng của tuổi tác mà họ vẫn cứ y nguyên như vậy, có phải là kì lạ không? Trên thế giới này hầu như không có gì là vĩnh hằng, không có một sự việc nào có thể tồn tại vĩnh cửu, tồn tại mãi mãi, đó là điều không thể. Quý vị mãi mãi phải chịu đựng sự đau khổ, phiền não của Thành, Trụ, Hoại, Không.
Những hiện tượng biến qua đổi lại vô thường đó chính là vô thường. Con người chúng ta thay đổi tới lui, hôm nay tốt với người này, ngày mai lại không tốt với họ; không tốt với họ một giai đoạn, qua một thời gian lại tốt với họ. Đôi khi, tình cảm giữa cha mẹ và con cái cũng như vậy, giai đoạn này hai người vô cùng tốt đẹp, qua một thời gian nữa hai người lại gây gổ, gây gổ xong qua một thời gian lại làm hòa, đây chính là sự tương hợp của duyên phận. Tương hợp cái gì? Tương hợp với đạo lý vô thường, bởi vì tất cả đều sẽ thay đổi. Cho nên một người nếu không nhìn thấu, họ sẽ nghĩ: “Đứa con này đối với tôi như thế, vĩnh viễn sẽ không thay đổi”, vĩnh viễn hận cha, hận mẹ, không thay đổi là điều không thể. Giữa cha mẹ cũng đều như vậy, luôn có hợp và tan. Sư Phụ từng giảng với mọi người, câu đầu tiên trong “Tam Quốc Diễn Nghĩa” chính là “Chia lâu ắt hợp, hợp lâu ắt chia.” (Chia lìa lâu ngày ắt sẽ đoàn tụ, đoàn tụ lâu ngày ắt sẽ chia lìa). Kỳ thực đó chính là nói về đạo lý Bát quái – Âm dương ngũ hành, hợp lâu nhất định sẽ chia ly, chia ly lâu nhất định sẽ hợp. Vậy nên, chuyện vĩnh hằng đã không tồn tại, thì tại sao quý vị lại phải chấp trước như thế? Bạn bè cuối cùng biến thành người dưng, họ hàng thân thích biến thành kẻ thù, xảy ra chuyện như vậy có nhiều không? Kiếp này là vợ chồng, kiếp sau không biết là quan hệ gì; hôm nay không có bạn, ngày mai lại có bạn bè; tiền bạc vất vả kiếm được, tiêu hết rồi, tối đến bị người ta cướp mất rồi; những gì kiếp này quý vị sở hữu, kiếp sau đều sẽ mất đi; những gì kiếp này không có, nói không chừng kiếp sau lại có. Đây chính là luân hồi, đây gọi là thế giới vô thường. Quý vị bước vào thế giới này, chính là bước vào sự vô thường.
Quý vị phải hiểu, có một ý thức vũ trụ ở trong tâm của chính mình. Ý thức vũ trụ là gì? Chính là nhìn cho xa, nhìn cho thấu. Rời khỏi trái đất để nhìn trái đất, nó chỉ là một vòng tròn đang xoay; quý vị ở trong trái đất, quý vị hoàn toàn không nhìn thấy nó là một vòng tròn. Quý vị ở trong gia đình, ngày nào cũng tranh cãi, chỉ khi quý vị rời đi một thời gian, quý vị mới biết nguyên nhân thực sự của sự tranh cãi. Chúng ta phải biết chấp nhận sự thay đổi và chấp nhận sự vô thường của sinh mệnh. Sinh mệnh giống như đang chơi trốn tìm với chúng ta vậy: Hôm nay có thể cứu được, ngày mai bác sĩ bảo quý vị hết cách cứu rồi; qua vài ngày bác sĩ bảo hết cách cứu, nhưng sau khi quý vị niệm kinh thì lại cứu được… Kỳ thực tất cả những điều này đều thuộc về vô thường. Phải đi tìm cái chân thật, cái chân thật chính là tinh thần và linh hồn của chúng ta; phải buông bỏ cái giả, đó chính là nhục thân và những vật chất nhân gian như mộng, huyễn, bào, ảnh (như mộng, ảo ảnh, bong bóng) mà chúng ta tạm thời sở hữu. Được thì vui mừng, mất thì hụt hẫng, tất cả những cái này đều là vô thường, tại sao lại phải hụt hẫng, tại sao lại phải vui mừng? Đây chính là phẩm chất cao quý mà các bậc cao tăng đại đức sở hữu: “Như như bất động”.
Hy vọng mọi người phải hiểu, đừng dùng tâm thái tiêu cực để nhìn nhận cuộc đời, bởi vì cuộc đời sẽ chuyển biến, bởi vì những cái được và mất của đời người đều là tạm thời, bởi vì con người sinh ra là một mình cô độc mà đến, khi đi cũng là một mình cô độc mà đi. Đã như vậy, làm gì có “cô độc”? Quý vị vốn dĩ một mình đến, quý vị đi vẫn là một mình đi, quý vị chẳng có gì gọi là cô độc cả. Quý vị không mất đi cái gì, cũng chẳng đạt được cái gì, cho nên những người đang cảm thấy mất mát, thực ra chẳng có gì đáng mất cả., chỉ là tự quý vị cảm thấy mất mát mà thôi, cứ tìm ai đó trò chuyện, quý vị sẽ lập tức hết buồn ngay. Có những người biết cách điều chỉnh tâm thái, biết rằng người đến cũng vội vàng, đi cũng vội vàng.
Cần biết rằng vô lượng chúng sinh trong vũ trụ tức là Phật. Các con thử nghĩ xem, có ai là không có lương tâm? Chỉ là lương tâm của rất nhiều người bị ô nhiễm rồi, cho nên không nhìn thấy lương tâm của chính mình. Chúng ta phải ở cùng với Phật. Ở cùng với Phật Bồ Tát, làm gì còn tồn tại sự được mất, cô độc? Chúng ta ngày nào cũng quỳ trước mặt Bồ Tát khấu đầu, thỉnh an, cầu Bồ Tát phù hộ chúng ta, thì làm gì có cô độc? Cho nên trên thế giới này, cô độc, đau lòng, lo âu, bi hoan ly hợp, được mất, chỉ giống như một chuỗi những ảo tướng lớn nhỏ mà thôi, chính là bong bóng khí. Vui vẻ, rồi cũng tàn; danh, rồi cũng mất; lợi, một lát là hết; đau khổ, khóc xong là hết; vui vẻ xong, lại kết thúc… Tất cả những thứ như mộng huyễn bào ảnh này, sẽ rất nhanh biến mất trong mệnh căn của quý vị. Cho nên người thực sự có thể thấu hiểu và lý giải, biết được như thế, chỉ có Đại Viên Mãn Trí Huệ – trí huệ của Phật, trí huệ của Bồ Tát, quý vị mới có thể chiến thắng những điên đảo mộng tưởng của thế gian.
Hôm nay Sư phụ sẽ giảng cho mọi người nghe về “Ngũ Trược Ác Thế”. Mọi người đều biết thời Mạt Pháp là thời kỳ “Ngũ Trược Ác Thế”, bao gồm năm loại ác và năm loại trược. Loại trược thứ nhất gọi là Kiếp Trược. “Kiếp” ở đây chúng ta thường hay nói là kiếp nạn; “Trược” chính là sự ô trược, dơ bẩn. Trên thế gian này, người ta thường nói đến hạn “3-6-9” là kiếp số khó tránh. Đến năm 49 tuổi, 39 tuổi, 29 tuổi… thì sẽ có hạn; kiếp số khó tránh, “tại kiếp nan đào” (chạy trời không khỏi nắng), đây chính là chữ “Kiếp” trong “Kiếp trược”. Thực tế, “kiếp” chính là kiếp nạn. Nếu dùng Phật lý cao thâm để giải thích thì kiếp nạn chính là sự tổng hợp của thời gian và không gian. Quý vị thử nghĩ xem, kiếp nạn có khái niệm về thời gian không? Quý vị bao nhiêu tuổi thì gặp hạn, nếu không qua được năm sau, sức khỏe cứ xấu đi như vậy thì nhất định phải phẫu thuật, đó chẳng phải là một cái “kiếp” sao? Đó chính là kiếp nạn. Kiếp nạn có thời gian không? Có. Còn không gian chính là môi trường mà quý vị đang sống hiện tại. Nếu hôm nay quý vị ở trong một môi trường có 5 người hút thuốc, bản thân quý vị không hút, nhưng cái không gian đó sẽ khiến quý vị nhất định bị viêm phổi, bởi vì khói thuốc thụ động của 5 người kia quý vị đều đang hít vào. Vì vậy, thời gian và không gian tạo nên cái “kiếp” này. Phật pháp giải thích về chữ “kiếp” này vô cùng rõ ràng, kiếp số chính là quan niệm về thời không. Chúng ta thường nói: “Bất thị bất báo, nhật tử vị đáo.”(Không phải là không có báo ứng, chỉ là thời gian chưa chín muồi). Khi thời gian của kiếp số chín muồi rồi, quý vị “tránh được mùng một, không tránh được hôm rằm”. Đây chính là khái niệm về thời gian và không gian mà Sư phụ nói cho quý vị biết. Tại sao quý vị không thể giải thoát? Tại sao khổ nạn này quý vị đã cầu xin Bồ Tát bao lâu rồi mà đến hôm nay vẫn chưa kết thúc? Bởi vì thời gian của quý vị chưa tới, bởi vì không gian bái Phật của quý vị – cái không gian ở trong tâm – vẫn chưa được dọn dẹp hoàn toàn sạch sẽ, cho nên quý vị không thể giải thoát. “Tại sao tôi không thể chứng đạo?” Bởi vì thời không khiến quý vị chưa thể chứng đạo. Cho nên cái “kiếp” này chính là Kiếp trược, cái kiếp của kiếp nạn. Rất nhiều người trong vòng xoáy thời gian và không gian rất khó trốn thoát. Vì thế tại sao nhiều người lại sợ hãi đến vậy, hễ nghiệp chướng của mình trổ ra là sợ đến mức không chịu nổi. Là thật đó! Sao mà không sợ cho được? Quý vị nói Sư phụ nghe, làm sao mà không sợ? Khi nghiệp đến thì trốn cũng không thoát. Mở miệng nói chuyện thì sinh ra chuyện; làm việc bình thường vẫn làm đúng, tự nhiên hôm nay lại xảy ra sự cố. “Ái chà, sao lại thế này? Sao mình lại hồ đồ thế nhỉ?”. Đó là bởi vì quý vị đã đi vào kiếp nạn của thời gian và không gian, đó là Kiếp trược.
Thứ hai gọi là Kiến Trược. “Kiến”, chính là sai lầm của kiến địa. Kiến địa là gì? Là kiến giải, là sự hiểu biết. Quý vị nghĩ xem, con người làm sai rất nhiều việc, có nhiều lúc phải chăng là do quý vị hiểu sai, phán đoán sai, nên mới nói ra những lời sai trái, nghĩ ra những tư duy lệch lạc, và cuối cùng dẫn đến những hành vi sai lầm. Rất nhiều người vì kiến địa sai lầm nên không thể thành Phật. Quý vị hiểu sai, quý vị tưởng rằng Phật pháp là thế này sao? Quý vị tưởng rằng Phật pháp là thế kia sao? Quý vị tưởng rằng bản thân mình đã hiểu thấu Phật pháp rồi sao? Tất cả những kiến địa sai lầm đó tạo thành Kiến trược. “Trược” là không tốt, là ô nhiễm. Những gì quý vị nhìn thấy không phải là sự thật, Kiến trược rồi. Chúng ta đôi khi ngồi thiền, cảm thấy khí mạch lưu thông, người rất thoải mái, bèn nghĩ: “Mình đã tu đến tầng bậc nào rồi, các huyệt vị và huyệt đạo của mình đều đã đả thông rồi”. Quý vị nhìn thấy, cảm thấy mình đã đả thông, cái quý vị thấy đó là “trược” – là sai rồi. Như vậy, thực tế quý vị chưa thực sự khai ngộ, quý vị chỉ là có cảm giác khai ngộ mà thôi, thực tế là kiến giải và sự hiểu biết của quý vị đã sai lầm. Quý vị tưởng rằng nhìn thấy Bồ Tát là quý vị đã tu thành, đã có quả vị rồi sao? Đó là Kiến trược, cái thấy và kiến địa bị sai lầm. Cho nên nhiều người cảm thấy công phu của mình rất thâm sâu, không nói năng gì, ngồi bên cạnh nín thở tập trung, người bên cạnh nhìn vào bảo: “Công phu cao quá”. Sư phụ gặp rất nhiều “cao nhân” như thế này, Sư phụ vẫn cười và nói chuyện với họ, nhưng họ thì cứ nín thở tập trung, làm như đang vận khí với trường năng lượng của Sư phụ vậy. Sư phụ vẫn cứ cười, và kết quả thì họ tự biết. Thực tế không phải là sự hiển hóa, những kiến giải hay sự hiểu biết mà quý vị cho là đúng thì nó sẽ là đúng. Có những người tu đến mức trên đầu phát ra hào quang, tức là có một chút mandala, cũng chưa thể coi là thành Phật được. Rất nhiều bậc cao tăng đại đức từng dạy chúng ta: kể cả khi quý vị tu đến trên đỉnh đầu có hào quang, vẫn là huyễn giác, không phải là chân thật; “Vân sinh túc hạ vị vi tiên” (Mây sinh dưới chân chưa hẳn là tiên), không nhất định đã là thần tiên. Có người khi đi đường, cảm giác như dưới chân có sương khói, như có mây bay, cũng chưa chắc đã là tiên nhân. Kiến trược chính là những gì quý vị hiểu chưa chắc đã đúng, kiến giải và kiến địa không đúng.
Thứ ba gọi là Phiền Não Trược. Mọi người đều biết phiền não, người có thể nhìn thấu phiền não sẽ hiểu được kiến giải của Phật pháp đối với phiền não, bởi vì phiền não vốn là không. Cho nên rất nhiều người rất ngốc nghếch: phiền muộn, đau khổ, khó chịu. Một tháng sau, một tuần sau, hai ngày sau, ba ngày sau, quý vị còn phiền không? Lúc phiền thì nhíu mày nhăn mặt, khó chịu, tỏ thái độ với người khác, chính là nghĩ không thông; qua hai ngày nghĩ thông rồi: “Chào bạn”. Tự mình nghĩ lại: “Sao mình lại thế nhỉ, lúc thế này lúc thế khác”, là bởi vì quý vị đã nghĩ thông suốt rồi. Quý vị nghĩ không thông là vì quý vị có Phiền não trược, cái khí ô trược của phiền não đang ở trên thân quý vị, quý vị không thoát ra được. Phiền não, dùng lời của Sư phụ mà nói, là quý vị đang tự lừa dối mình, tự dọa nạt mình: “Việc này tiếp theo phải làm sao đây?”, “Việc này làm thế nào?”. Đó là phiền não. Quý vị tự lừa mình, tự dọa mình: “Tôi phiền chết mất!”. Có gì đâu mà phiền? Nếu quý vị có Bồ Tát phù hộ, quý vị phiền cái gì? Nếu quý vị có trí huệ của Bồ Tát, quý vị phiền cái gì? “Xe đến trước núi ắt có đường, thuyền đến đầu cầu tự nhiên thẳng”. Người có trí huệ thì phiền não không thể trở thành một loại ô trược đối với họ; người không có trí huệ, hễ gặp phiền não là bị ô nhiễm ngay. “Thiên hạ bổn vô sự, dung nhân tự nhiễu chi vi phiền nhĩ” (Thế gian vốn không có chuyện gì, là do người tầm thường tự chuốc lấy rắc rối). Hãy nghĩ xem hồi nhỏ chúng ta có bao nhiêu phiền não, cảm giác như không thể vượt qua nổi, bây giờ nghĩ lại thấy thật nực cười, thật ngu si biết bao. Bây giờ quý vị hồi tưởng lại quá khứ của mình, có thấy mình rất ngu si không? Có thấy mình rất ngốc không? Lại còn cảm thấy mình cần giữ thể diện nữa chứ.
Thứ tư là Chúng Sinh Trược. Chúng sinh là gì? Chính là đám đông, là xã hội. Quý vị ở trong đám đông chúng sinh mà bị ô trược, nghĩa là trước mặt mọi người quý vị cố sống chết giữ thể diện, thì quý vị bị ô trược; quý vị không chịu thừa nhận khuyết điểm của mình, quý vị liền bị ô nhiễm. Bởi vì đông người, quý vị bèn liều mạng muốn nắm lấy một số lợi ích, muốn giữ lại những lợi ích và dục vọng mà mình cho là tốt cho bản thân, như vậy là quý vị đã mắc vào Chúng sinh trược. Rất nhiều người khi đối diện cá nhân thì có thể nói mình không tốt, nhưng chỉ cần đông người một chút là lập tức phủ nhận, sống chết giữ sĩ diện. Người học Phật nhất định phải khắc phục Chúng sinh trược, thực tế chính là không được cố chấp giữ sĩ diện. Dục vọng, chúng ta không thể lưu giữ nó trong tâm, bởi vì người có dục vọng, chỉ cần có người bên cạnh, có chúng sinh bên cạnh, là quý vị muốn nắm lấy họ, muốn để lại cho họ một ấn tượng tốt đẹp nhất. Lấy một ví dụ đơn giản: Đi dự một party (bữa tiệc), rất nhiều người muốn mình phải khác biệt với người ta: ăn mặc khác người, đi vào nói chuyện phải khác người, muốn tìm một cách để thu hút sự chú ý của người khác. Có đôi khi, thật sự không thể gây chú ý, bèn cố ý làm vỡ ly rượu… Quý vị xem trong phim đều thấy rồi đó, đó là kẻ phạm vào Chúng sinh trược.
Chúng ta phải hiểu rằng, thời đại đang thay đổi, tính cách con người cũng đang thay đổi, thế giới này không có gì là bất biến. Quý vị đừng vì sự thay đổi của xã hội, sự thay đổi của chúng sinh mà để nội tâm của mình thay đổi theo. Có một người bạn tốt đã lâu không gặp, người ta vừa hỏi thăm, “Ôi, anh ấy đã mất rồi”. Thực ra “Vận trình thường biến, vô thường thiên vực” – Vô thường khiến quý vị phải “thiên”, tức là dời đi; “vực” là khu vực – giống như dòng sông chảy không ngừng. Vô thường vĩnh viễn ở bên cạnh chúng ta, chúng ta đừng bao giờ không xem trọng nó. Phàm phu tục tử chúng sinh thông thường không biết rằng sự thay đổi của hoàn cảnh chẳng thể giúp bản thân đạt được điều gì. Sự thay đổi trong vận mệnh của quý vị thực chất chính là sự thay đổi của nghiệp lực. Bởi vì quý vị tạo nghiệp nên mệnh của quý vị mới thay đổi; bởi vì quý vị quá coi trọng thể diện nên quý vị đã đi vào nghiệp lực của chính mình. Nếu quý vị hiểu rằng thế giới này tất cả đều là vô thường, những gì hôm nay sở hữu thì ngày mai sẽ mất đi, như vậy quý vị sẽ hiểu được ý nghĩa chân thực của vận mệnh, cảm giác mà quý vị nhận được sẽ khác đi. Trên thế giới này, có người có tài mà không có mệnh, tức là người này tài sản tiền bạc rất nhiều nhưng không có cái mệnh để hưởng; có người có mệnh nhưng lại không có tài.
Rất nhiều người nói: “Sư phụ, Ngài xem bói giúp con với”. Sư phụ nói: “Đừng tìm tôi xem bói”. Quý vị có cái mệnh của quý vị, vận mệnh của quý vị hoàn toàn do quý vị tự mình kiểm soát tốt. Quý vị học hành giỏi, nhất định sẽ tốt nghiệp, hơn nữa thế giới này rất nhiều thứ sẽ không cho quý vị sự viên mãn đâu, chính là liên tục đưa ra thử thách cho quý vị, đây cũng là một loại vô thường. Nhiều người học rất giỏi nhưng chưa chắc đã phát tài; có người phát tài lớn nhưng chưa chắc học vấn đã cao; có người dung mạo đẹp hơn quý vị, quý vị rất ngưỡng mộ họ, nhưng mệnh của họ khổ hơn quý vị. Tại sao? Bởi vì họ đẹp, nên chịu nhiều sự giày vò, cho nên quý vị xấu hơn họ một chút, có khi lại nhiều tiền hơn họ đấy. Thế giới này tất cả đều là vô thường, tất cả sẽ không để quý vị cảm thấy hoàn toàn viên mãn. Cho nên thế giới này không có sự cân bằng âm dương tuyệt đối, nếu âm dương hoàn toàn cân bằng thì sẽ không tồn tại một thế giới có trăng tròn trăng khuyết, trời nắng trời mưa. Mỗi người có cái mệnh của mỗi người, mỗi người có cái phúc của mỗi người, chớ hâm mộ người khác.
Muốn dứt bỏ phiền não, cần phải sở hữu cái tâm “Vô ngã”. Con người làm sao để dứt bỏ phiền não, thực sự làm được vô ngã? Trong đầu chỉ nghĩ cho người khác, quý vị sẽ “trống rỗng”, trong đầu toàn nghĩ cho người khác thì quý vị nhất định sẽ không phiền não. Quý vị chỉ cần nghĩ đến: “Tôi phải làm sao đây, tôi mất mặt quá, tôi xấu hổ quá, tôi nên thế nào đây, tại sao tôi vẫn chưa có được, tại sao tôi vẫn chưa lấy được”, thì quý vị sẽ có phiền não. “Tại sao tôi làm nhiều như vậy mà anh ta vẫn tốt hơn tôi?”. Đừng hâm mộ người ta, đừng đi đố kỵ với người khác, trí huệ của quý vị sẽ tăng trưởng. Trong tâm quý vị chỉ nghĩ đến người khác, hy vọng người khác tốt đẹp, thì con người quý vị mới có thể học Phật đến mức tâm địa lương thiện.
Rất nhiều người, tại sao cảnh giới của họ cao? Họ thường cảm thấy bản thân mình khổ một chút cũng không sao, mọi người tốt là được, đó mới gọi là học Phật. “Tôi bỏ ra nhiều hơn một chút, chỉ cần để mọi người vui vẻ là tốt rồi”. Nhưng rất nhiều người lại nghĩ không thông điểm này: “Tại sao lại như vậy? Dựa vào đâu mà tôi phải bỏ ra nhiều hơn?”. Thế là quý vị dần dần thêu dệt nên những vọng tưởng và sự hư ảo trong nội tâm. Như vậy, trong tâm quý vị mâu thuẫn cấu thành nên vọng tưởng, bởi vì quý vị không hiểu rõ về sự việc này, khiến quý vị nảy sinh vô minh, vô minh sẽ sinh ra vọng tưởng.
62. Tránh trung tương tri, nguyên minh giác
Tập 62
TÁNH TRUNG TƯƠNG TRI, NGUYÊN MINH GIÁC
(06/05/2020)
Bởi vì các con không hiểu rõ về sự việc này, nên đã sinh ra vô minh, và vô minh sẽ sinh ra vọng tưởng. “Con không hiểu, dựa vào đâu mà anh ta tốt hơn con?”, “Con không hiểu, tại sao anh ta tệ như vậy mà Sư phụ vẫn đối xử tốt với anh ta?”. Vậy các con có biết công lực kiếp trước của họ không? Các con có biết kiếp trước họ đến từ đâu không? Họ có phước báo của họ, chỉ là khi phước báo dùng hết thì sẽ không còn nữa, cho nên đừng dùng sự vô minh của mình để tạo ra ảo tưởng cho bản thân. Chúng sinh trược chính là: tất cả chúng sinh trong xã hội này, trên thế giới này, bởi vì sinh mệnh của chúng ta, linh hồn của chúng ta đã bị ô nhiễm, nên chúng sinh đều đã chịu rất nhiều sự ô nhiễm. Vì vậy mọi người mới nói rằng những điều được cho là tốt chưa chắc đã thật sự tốt, bởi vì tất cả mọi người trong cõi người này đều đã bị ô nhiễm.
Tiếp theo Sư phụ giảng cho mọi người về loại trược thứ năm là Mệnh trược, chính là sự ô trược của sinh mệnh. Các con thử nghĩ xem, trong tâm tràn đầy tà tư tà niệm, coi thường người khác; làm người mà hành xử như ma quỷ, lén lén lút lút, động tâm cơ nhỏ nhen, hãm hại người khác, không nói lời thật. Đó là phi chánh mệnh, không phải là cái mệnh chánh. Phi chánh mệnh nghĩa là mệnh của con không chánh, con sẽ bị trược, bị ô trược. Một người mệnh không tốt, có phải là mệnh sẽ bị trược, đúng không? Trược chính là ô trược. Cho nên rất nhiều người mệnh của mình càng không tốt, lại càng muốn tìm cách làm hại người khác để bản thân đạt được nhiều lợi ích hơn. Đã không sinh ra bởi chánh mệnh, lại còn không dùng chánh mệnh để sống, thì sẽ không đạt được chánh mệnh trong Bát Chánh Đạo. Bởi vì con đường chánh đạo này, nếu các con thực hành cho tốt, thì kết quả sẽ là chánh mệnh; người có chánh mệnh là người lìa xa tà mệnh. Rất nhiều người mang tà mệnh, chính là luôn nghĩ người khác theo chiều hướng xấu, làm việc gì cũng chỉ làm những việc có lợi cho bản thân, còn việc có lợi cho người khác thì họ không làm, ích kỷ tự lợi. Dùng lời hiện đại mà nói, chính là không thể thuận theo sự tự nhiên của bản tánh, bởi vì bản tánh vốn dĩ đều là lương thiện, đều là nên bao dung, giúp đỡ người khác. Mà những người này sống trên đời, suốt ngày giống như kẻ trộm cắp, trộm đồ của người ta, trộm sự lương thiện của người ta, lừa gạt tiền bạc của người ta, làm những việc không tốt.
Người học Phật bình thường, có người miệng nói lời hay, tụng kinh rất giỏi, giảng Phật học rất bài bản, đâu ra đấy. Sư phụ gọi loại người này là “Phật ở đầu môi”, họ rất giỏi nói về Phật giáo, lúc nào cũng nói về Phật pháp. Rất nhiều thiền ngữ, các con phải áp dụng vào thực hành thực tế. Sư phụ đã giảng cho mọi người rất nhiều thiền ngữ – ngôn ngữ của thiền định, rất nhiều người hiểu biết trên lý tính, nhưng lại không áp dụng được vào hành vi của chính mình. Hiểu đạo lý, nói chuyện rất bài bản, học thức rất cao, lý luận cao siêu, nhưng các con có “Tánh trung tương tri” không? Trong bản tánh các con có thể thực sự hiểu nó không? Không phải là hiểu hời hợt bên ngoài, mà là hiểu từ trong bản tánh, đó gọi là “Tánh trung tương tri”. Chỉ lý tính biết thôi chưa đủ, bản tánh phải biết, phải thực sự thấu hiểu nó.
Sau khi học Phật, biết nhân hiểu quả, hiểu rằng gặp chuyện gì cũng đừng để bản thân tức giận, khi tức giận chính là nghiệp báo đang đến. Rất nhiều người suốt ngày chịu nghiệp báo, tại sao vậy? Hễ tức giận, cả cơ thể mất cân bằng, hệ miễn dịch bị tổn hại và thương tổn, bản thân lại còn cảm thấy mình có lý, cứ thế ra sức khóc, la, hét, dần dần thời gian lâu ngày, nghiệp báo sẽ nảy sinh. Còn có rất nhiều người nói lý lẽ rất hay: “Tôi buông bỏ rồi, tôi…”, nhưng họ lại không chịu thừa nhận khuyết điểm sai lầm của mình, chỉ là nói lý thuyết suông nơi cửa miệng.
Có một vị lão hòa thượng, gặp một chú tiểu nói năng rất hay, giảng rất nhiều Phật lý. Lão hòa thượng không nói chuyện với chú, đột nhiên cầm cây thước gỗ đánh vào đầu chú một cái, rất đau. Chú tiểu lập tức kêu lên: “Ui da, Sư phụ, ngài đánh con chi vậy?”. Vị Sư phụ này nói: “Con không phải nói là “Không” rồi sao? Con không phải nói con cái gì cũng “Không” rồi sao?”
Khuyên người khác thì dễ, nếu con thật sự “không”, thì lẽ ra ngay cả cảm giác này cũng không có, nếu không thì chứng tỏ con vẫn chưa thực sự ở trong cái “không”, mà chỉ đang ở trong việc “ngộ không”, đang trong quá trình khai ngộ mà thôi. “Tánh trung tương tri, dụng trung tương bối” (Bản tánh hiểu rõ, nhưng lại hành động trái ngược). Trong bản tánh, các con đều có thể tương tri, tương hiểu với Phật tính, có thể lý giải nó, biết nó; nhưng khi hành động lại tương bối, lại trái ngược. Hễ đến lúc cần dùng, đến lúc bản thân thực sự phải học Phật, phải đem Phật lý ra để thay đổi bản thân thì hoàn toàn không dùng được. Có người nói chuyện thì đầy miệng lời Phật, ngồi bên cạnh thì vẻ mặt đầy “Phật khí”, toàn thân giống như Phật tướng, hễ thấy người là hai tay chắp lại, vừa mở miệng là toàn lời Phật, khiến người ta cảm giác họ dường như còn thật hơn cả chân Phật. Phải xem họ có phải là chân tu hay không, hễ đụng đến lợi ích thiết thân của mình, thì họ lại là “Tánh trung tương tri, dụng trung tương bối”.
Phật nói: “Đắc Nguyên minh giác, vô sinh diệt tánh, vi nhân địa tâm” (Đạt được cái giác ngộ sáng suốt ban đầu, bản tánh không sinh diệt, làm cái tâm nơi địa hạt nhân quả). Điều này nói cho chúng ta biết, các con phải đạt được Nguyên minh giác. Nguyên minh giác là gì? Nguyên là nguyên thủy, tâm minh là sự giác ngộ trong tâm, sự giác ngộ trong bản tánh gọi là Nguyên minh giác, là vô sinh diệt tánh, vi nhân địa tâm. Vô sinh diệt tánh, nghĩa là, họ căn bản không hề sinh khởi cái tâm muốn đi diệt độ, bởi vì họ không sinh tâm, họ vô sinh pháp nhẫn, họ không có bất kỳ tạp niệm nào sinh ra trong tâm địa, vậy họ cần đi diệt nó làm gì? Loại này gọi là sự tu chứng của Viên thành quả địa. Dùng lời hiện đại mà nói, một đứa trẻ trước khi học cái xấu, con nói gì nó cũng tiếp nhận, nó chính là một loại “nhân địa tâm” của”vô sinh diệt tánh”. Còn một loại nữa, khi con đố kỵ với người khác, con biết phải làm sao để khắc chế: “Tôi phải nhẫn nại, tôi phải có tâm nhẫn nhục”, thực tế là con đã trải qua rất nhiều lúc “phi nhẫn nhục”, đã trải qua rất nhiều tạp niệm của nhân gian, đang phải khắc chế, đang phải thay đổi, điều này không giống với cái Nguyên minh giác ban đầu.
Cho nên Bồ Tát dạy chúng ta phải hiểu, bất luận con học Phật như thế nào, phải dùng cái “nhân địa tâm” trong bản tánh nguyên thủy của con để tu. Nhiều người nói: “Con đã bị ô nhiễm rồi, phải làm sao đây?”. Cho nên mới bảo con phải nhảy ra khỏi nghiệp báo, đừng để Mệnh trược, hãy làm lại cuộc đời. Đây là điều Đức Phật đích thân truyền dạy cho chúng ta. Trong Mật tông, Hiển tông, trên thế giới này, Bổn sư của Phật pháp là Thích Ca Mâu Ni Phật; bất luận các con học Phật gì, bất luận tông phái nào, Bổn sư của chúng ta chính là Thích Ca Mâu Ni Phật. Hôm nay các con sống trên thế giới này, bất luận làm việc gì, cái Nguyên minh giác trong nội tâm chính là bản tánh của các con. Mỗi một người, bất kể là người xấu, người tốt, người ích kỷ hay người không ích kỷ, đều sở hữu nguyên minh giác, chính là sở hữu sự giác ngộ lương thiện nguyên thủy và bản tánh lương thiện nguyên thủy.
Hôm nay Sư phụ kể cho mọi người nghe một câu chuyện cuối cùng. Tương truyền có một vị Tỳ-kheo, ông là người thành Xá Vệ, từng nghe Đức Phật thuyết pháp mà xuất gia. Nhưng ông có một thói quen rất xấu, đó là vô cùng sợ chết. Hơn nữa bất kể là ban ngày hay ban đêm, chỉ cần nghe thấy tiếng gió bên ngoài, tiếng chim thú, quái vật kêu, hoặc nhìn thấy cây khô rung lắc, chao đảo, ông ấy liền cảm thấy sự đe dọa của cái chết. Hơn nữa sau khi ông biết, cảm nhận được điều đó, ông có thói quen xấu là hét lên: “Cứu mạng với”, rồi chạy khắp nơi, la hét khắp nơi. Ông chưa từng nghĩ rằng bản thân rồi cũng có ngày phải chết, nếu ông biết mình rồi cũng sẽ chết, có lẽ ông đã không sợ chết đến thế. Bởi vì ông chưa bao giờ nghĩ đến cái chết, ông không có kế hoạch rằng “Mình sống ở nhân gian bao nhiêu năm, mình sẽ làm những gì, trong những năm tháng cuối cùng này, mình phải làm ra được những việc gì để lìa khổ được vui, siêu thoát lục đạo”, ông đều chưa từng nghĩ đến, ông chỉ sợ chết.
Tâm lý sợ chết của ông bị tất cả các Tỳ-kheo biết được. Một hôm, các Tỳ-kheo bàn tán về ông tại pháp đường, có người nói: “Huynh biết không, nghe nói huynh ấy rất sợ chết, suốt ngày bị cái chết đe dọa, trong lòng huynh ấy rất đau khổ”. Có một vị Pháp sư nói: “Làm Tỳ-kheo, nên có xác tín rằng bản thân chắc chắn sẽ chết. Phải tự mình quán tưởng, để có thể hiểu cái chết rốt cuộc là như thế nào”. Khi mọi người đang bàn luận, Đức Phật bước vào, nhìn bọn họ và hỏi: “Các con tụ tập ở đây đang nói chuyện gì vậy?”. Các Tỳ-kheo lập tức đáp: “Thưa Đức Phật, là chuyện về vị Tỳ-kheo sợ chết ạ”. Đức Phật bèn cho gọi vị Tỳ-kheo đó đến, hỏi: “Nghe nói con rất sợ chết, có thật không?”. “Vâng ạ, thưa Đức Phật, con vô cùng sợ chết”. Thế là Đức Phật quay sang mọi người, nói: “Này các Tỳ-kheo, mọi người đừng chê cười ông ấy, đừng bất mãn với ông ấy. Sở dĩ ông ấy sợ chết như vậy, không phải là không có nguyên do, đó là bởi vì kiếp trước ông ấy từng có tao ngộ như thế”. Đức Phật rất thích giảng về nhân quả, liền kể lại một đoạn nhân quả quá khứ của ông ấy.
Đức Phật kể, ngày xưa có một vị quốc vương, khi ông cai trị, từng giao một con voi báu ngự dụng cho người nuôi voi, bảo người này huấn luyện “bất động thuật” cho con voi lớn này. Thế là người nuôi voi liền treo con voi lên cột gỗ, khiến con voi này không thể cử động, sau đó dùng đủ loại tre nhọn vây quanh bốn phía, con voi này hễ bỏ chạy thì những cây tre nhọn đó sẽ đâm nó bị thương. Cứ như vậy, ông ta bắt đầu huấn luyện bất động. Con voi lớn này không chịu nổi nỗi khổ khi bị huấn luyện, nó cậy vào thân hình to lớn phá hủy những cột gỗ đó, giẫm nát những hàng rào tre vây quanh, xông qua đám đông, chạy vào rừng sâu. Mọi người liền đuổi theo, “Voi chạy mất rồi”, đuổi đến trên núi thì không đuổi kịp nữa vì nó chạy rất nhanh, đành phải bỏ cuộc đi về. Con voi sau khi vào trong núi thì vô cùng cô độc, nó sợ bị trói lại xử tử, bởi vì trong đầu nó vẫn còn cảm giác bị trói đó. Nó nghe thấy tiếng gió liền run rẩy sợ chết, liều mạng chạy tới chạy lui, như thể vẫn đang bị trói vào cột gỗ chịu sự huấn luyện bất động thuật, phải chịu bị đánh, bị cột lại vậy. Cứ thế, con voi này thân tâm mất đi cảm giác an toàn, luôn run rẩy quanh quẩn ở một chỗ. Vị Thần cây trong rừng sâu nhìn thấy sự thất thường của con voi, bèn hát trong rừng cây rằng: “Cỏ cây yếu ớt, lay động trong gió mạnh, đây được xem như chuyện thường. Voi ơi voi à, nếu ngươi vì thế mà sợ hãi, chắc chắn sẽ tự làm tổn hại mình mà chết”. Đây là Thần cây hát cho con voi đó nghe. Thần cây cứ thế khích lệ con voi điên loạn thất thường, hát cho nó nghe, để nó phải trấn tĩnh lại, “cứ tiếp tục thế này, ngươi sẽ chết mất”. Nhờ vậy, con voi này sau đó dần dần giảm bớt nỗi sợ hãi, nhưng trong tiềm thức của nó, nỗi sợ vẫn tiếp tục tác động. Đức Phật nói, con voi điên lúc đó, chính là vị Tỳ-kheo này. Ông ấy vô cùng sợ chết, nhưng không phải cứ sợ là không chết, chỉ có người giải thoát sinh tử mới vĩnh viễn không chết.
Câu chuyện này nói cho chúng ta biết, đời người thực ra là một quá trình từ “không” đến “có”. Chúng ta không có sinh mệnh, đến nhân gian này, chúng ta có sinh mệnh; chúng ta không có cha mẹ, đến nhân gian này, cho chúng ta cha mẹ; chúng ta không có Sư phụ, chúng ta không có trường học, chúng ta không có tiền, chúng ta không có quần áo… tất cả đều là một quá trình từ “vô” đến “hữu” khi đến nhân gian. Sự giải thoát chân chính là sự giải thoát trong nội tâm, bởi vì tất cả những vật chất và con người từ “vô” đến “hữu” kia, đều sẽ theo sinh mệnh của con mà tan biến, con chỉ có giải thoát trong tâm, thì thế giới này mới hoàn toàn thay đổi.
Nhưng tật xấu của con người chúng ta là thường luôn muốn thay đổi thế giới, mong rằng thế giới sẽ biến đổi theo ý muốn của mình. Sư phụ nói cho các con biết, ai cũng có thể quyết định bản thân mình, nhưng không thể thay đổi thế giới, cho nên phương pháp tốt nhất chính là thay đổi chính mình. Bất kể cuối cùng có danh dự, địa vị hay không, có tiền tài hay không, chúng ta đã mất đi quá khứ và hiện tại, chúng ta còn chưa đi đến tương lai, chúng ta vẫn đang luân hồi trong lục đạo, chỉ là nhất thời cảm giác sự tồn tại của cái “ngã”. Đó là lý do tại sao Kinh Kim Cang nói “như mộng huyễn bào ảnh” (như mộng ảo bọt nước), chỉ trong một sát na. Hãy dùng tịnh bình thủy của Quán Thế Âm Bồ Tát để gột rửa linh hồn dơ bẩn trong nội tâm chúng ta, mới khiến chúng ta cuối cùng lĩnh ngộ được: Vô sự vô tâm là tự nhiên, vô thị vô phi là chí lý.
Được rồi, hôm nay bài giảng “Bạch Thoại Phật Pháp” đến đây là kết thúc, chúng ta hẹn gặp lại vào lần sau.
63. Chứng Phật quả minh tâm tánh
Tập 63
CHỨNG PHẬT QUẢ MINH TÂM TÁNH
(09/05/2020)
Được rồi, hôm nay chúng ta tiếp tục chia sẻ với mọi người về Bạch Thoại Phật Pháp.
Lần trước, Sư phụ đã giảng cho quý vị nghe về “Nguyên Minh Giác”. Nguyên Minh Giác chính là sự vận dụng thật tốt cái “Nguyên” (tức là sự quang minh của tự tánh, cái tự tánh bất sanh bất diệt mà chúng ta vốn có) ở trong tự tâm và bản tánh của mình – cái sự quang minh, cái vốn đã giác ngộ, cái ban đầu, cái tự giác đó. Để đạt được Nguyên Minh Giác, trước hết phải kiểm soát tốt những tạp niệm và phiền não trong tự tâm của mình. Mỗi người mỗi ngày đều có phiền não, vậy làm sao để loại bỏ phiền não? Trước tiên phải làm lắng đọng phiền não. Giống như một ly trà, lá trà đều nổi bên trên, từ từ đợi nó lắng xuống, thì ly trà đó sẽ trở nên vô cùng thanh tịnh, đó mới là trà ngon. Sau đó dần dần minh tâm kiến tánh. Sư phụ vừa giảng cho quý vị về “Giác” và “Nguyên”, thực ra sự viên mãn của bản tánh, sự giác ngộ và minh tâm kiến tánh đều là một thể. Khi con có thể sở hữu tự tánh, bản tánh, sự giác ngộ vốn có để minh tâm kiến tánh, con sẽ biết rằng mọi thứ trên thế gian này đều là bất sanh bất diệt, bởi vì nó không sinh ra, cũng không diệt đi. Hiểu được quy tắc cơ bản này của việc học Phật, thì các khái niệm và lý niệm học Phật cơ bản quý vị đã nắm vững rồi, đây là bước đầu tiên của việc học Phật, trong giới Phật pháp gọi là “Nhân Địa Tâm”.
“Nhân Địa Tâm” là gì? Chính là cái tâm vô sanh vô diệt. Đến nhân gian này, vốn dĩ không có nhiều dục vọng, bản lai là không có dục vọng, nhưng rồi sinh ra rất nhiều dục vọng, đến cuối cùng những dục vọng này cũng sẽ tiêu trừ, như vậy cuối cùng vẫn giống như chưa từng sinh ra, đó chính là cái tâm sơ khởi của bản giác, gọi là “Nhân Địa Tâm”. Vì vậy, Nhân Địa Tâm sinh khởi, chính là vô sanh vô diệt. Chúng ta đến nhân gian, tất cả những gì chúng ta đạt được và mất đi, thực ra chưa từng sinh ra, cũng chưa từng tiêu diệt.
Nắm chuẩn phương hướng là quan trọng nhất trong học Phật, bởi vì khi quý vị đã hiểu cái Nhân Địa Tâm này, thì mỗi ngày trong việc đi, đứng, nằm, ngồi, mỗi một ngày làm việc tại nhân gian, quý vị sẽ thuận theo tâm của Bồ Tát mà làm, đó là vô sanh vô diệt — không sinh ra cái tâm đó, cũng không cần phải diệt đi cái tâm đó, như vậy sẽ không đi làm “người” nữa. Rất nhiều người làm người rất khéo, nhưng đều là giả tâm giả ý, họ không có cái bản giác quang minh tự nhiên từ nội tại của chính mình. Người học Phật bất kể là ăn cơm, đi, đứng, nằm, ngồi, kể cả đi kết bạn, làm công đức, tâm nhất định phải giữ cho thanh tịnh, quang minh, những lời nói giả dối sẽ gây ảnh hưởng bất lợi cho việc tu tâm. Nhiều người cả đời tu tâm là tu cho người khác xem, chứ bản thân không thật sự đang tu, “Anh xem tôi tu tâm này, anh xem tôi bây giờ giác ngộ cao chưa này”, một chút tác dụng cũng không có, bởi vì “nhân địa” chính là “nhân duyên” — cũng chính là nhân duyên để quý vị giải thoát, quý vị lại không chịu thực hành nó cho tốt. Khi cái duyên phận này đến, duyên phận học Phật hoặc duyên phận làm người đã đến, quý vị không cố gắng để viên thành chánh quả, chính là không thật sự hiểu làm thế nào để tu hành chứng đắc viên thành chánh quả. Sư phụ lấy ví dụ cho mọi người nghe, chẳng hạn như làm một việc gì đó luôn có báo ứng, quý vị không hiểu về báo ứng, đối xử với người ta không tốt, thì người ta sẽ đối xử không tốt với quý vị , đây gọi là nhân quả. Có người năm ngoái từng đối xử tệ với người khác, người ta “quân tử báo thù mười năm chưa muộn”, có thể vài năm sau, một ngày nào đó họ tìm được cơ hội chơi xấu quý vị , quý vị vẫn không biết đó là do cái nhân đã từng gieo bao nhiêu năm về trước. Quý vị ở trên “nhân địa” không hiểu được cái “Giác” và “Minh” của nó, thì làm sao có thể tu thành chánh quả? Cho nên người thực sự tu thành chánh quả, là ngay tại nhân địa, tức là trên phương diện nhân duyên quả báo, từng chút một đều không phạm sai lầm. Dù hôm nay chỉ nói một câu, khi người khác đang nói chuyện quan trọng, ví dụ như một ông chủ đang phát biểu, vào lúc quan trọng mà quý vị ho một tiếng, bất kể là thật hay giả, lúc đó mọi người đều cười, thì quý vị đã tạo cái nhân này rồi, quý vị có thể sẽ rất nhanh bị ông chủ sa thải. Quý vị nói: “Tại sao? Tôi ho cũng không được à?”. Chính là không được, bởi vì quý vị đã tạo cái nhân này ngay trên duyên phận đó.
Chứng Phật quả chính là minh tâm kiến tánh, là biết cái gì nên làm, cái gì không nên làm. Cho nên muốn chứng được quả vị Bồ Tát rất khó, quý vị muốn chứng được quả vị La Hán cũng rất khó; quý vị muốn kiếp sau được làm người, không phải xuống địa ngục, thì ít nhất phải giữ Ngũ giới trước đã. Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã dùng Phật pháp dạy dỗ, giáo dục chúng ta: “Như trừng trược thủy, trữ ư tĩnh khí” (Ví như nước đục, chứa trong bình yên tĩnh). “Như trừng trược thủy” chính là nước ô trược phải lóng cho trong, chúng ta đến nhân gian có Ngũ trược ác thế, phải thanh lọc cho nó thành trong vắt; “trữ ư tĩnh khí” là đặt trong một vật chứa yên tĩnh; sau đó “tĩnh thâm bất động”, tức là như như bất động; “sa thổ tự trầm”, tức là phiền não, nghiệp chướng trên thân người dần dần sẽ tự lắng xuống; thì “thanh thủy hiện tiền”, minh tâm kiến tánh rồi. Phật pháp mà Đức Phật dạy chúng ta chính là: nước vô cùng ô trược, chúng ta cần đặt nó trong môi trường yên tĩnh, “tĩnh thâm bất động”, như như bất động; rồi “sa thổ tự trầm”, dần dần sẽ loại bỏ hết tạp niệm, phiền não; “thanh thủy hiện tiền”, dòng nước trong này chính là bản tánh và lương tâm của quý vị . Tại sao nhiều người có bản tánh, lương tâm? Có thể thấu hiểu người khác thì có bản tánh, lương tâm; có thể khiến bản thân như như bất động, thì có công năng này.
“Danh vi sơ phục khách trần phiền não”, “danh vi sơ phục” là sự hàng phục ban đầu, một người học Phật nhất định phải hiểu “sơ phục khách trần phiền não”. Điều này có nghĩa là, nếu quý vị có thể thực sự “tĩnh thâm bất động, sa thổ tự trầm”, quý vị mới có thể “sơ phục khách trần”, tức là bước đầu hàng phục những phiền não của hồng trần nhân gian. Sự thanh tịnh từ đâu mà đến? Thanh tịnh là do tự mình “tĩnh thâm bất động”. Một người có thể yên tĩnh, người đó sẽ trở nên rất đẹp; một người cả ngày phiền não, cả ngày đầy đầu tạp niệm, người đó sẽ trở nên vô cùng dơ bẩn, đừng nói là đẹp, chắc chắn hình tướng cũng bị tổn hại. Trong bản tánh nguyên thủy của chúng ta, làm sao để tu ra được tâm thanh tịnh? Phải Tĩnh. Yên tĩnh có thể đắc trí huệ, tĩnh năng sinh huệ. Tất cả đạo lý tu trì Đức Phật đều đã nói cho chúng ta biết, Đức Phật dạy chúng ta hiểu được cách học sự yên tĩnh, đó là lý do tại sao trong Phật pháp có meditation (ngồi thiền), chính là sự lắng đọng, để bản thân thâm tĩnh, sự yên tĩnh vô cùng sâu lắng.
Trong kinh Hoa Nghiêm có một câu danh ngôn: “Bất vong sơ tâm, phương đắc thủy chung” (Không quên cái tâm nguyện đã khởi phát lúc ban đầu thì mới thành tựu trọn vẹn được việc làm). Trong cuộc sống hiện thực, tần suất mọi người nói câu “bất vong sơ tâm” rất cao, nhiều người cửa miệng thường treo câu “bất vong sơ tâm”. Hôm nay Sư phụ chia sẻ câu vàng ngọc này trong kinh Hoa Nghiêm với mọi người, hy vọng mọi người hiểu thế nào gọi là “Bất vong sơ tâm, phương đắc thủy chung”.
Trước hết, nhất định phải kiên trì giữ vững bản tánh và niềm tin ban đầu của mình, đừng quên mình đã bắt đầu học Phật như thế nào, đã chịu bao nhiêu khổ sở ở nhân gian như thế nào, lập thệ nguyện phải siêu thoát lục đạo, tu hành tử tế, kiên trì giữ vững bản tánh và niềm tin ban đầu của mình. Rất nhiều người trong nhà có nhiều phiền não mới bắt đầu học Phật; trước đây nhiều người học Phật vì trong nhà có người sức khỏe không tốt, hoặc về kinh tế, ở công ty, đơn vị đều xảy ra nhiều chuyện không hay, lúc đó họ liều mạng học Phật, cần sự giúp đỡ của Bồ Tát, cái niềm tin ban đầu đó và bản tánh của họ đã thành tựu tâm nguyện của họ, để họ bây giờ có thể học Phật, có thể công đức viên mãn, đó chính là bản tánh ban đầu của họ. Thật ra, mỗi một người ngộ đạo, có người bắt đầu học Phật, có người xuất gia làm hòa thượng, đều là tự nguyện. Đời người đã trải qua bao nhiêu trắc trở như vậy, Bồ Tát dạy chúng ta trước sau đừng quên, chính vì có nhiều gian nan, trắc trở ở nhân gian như vậy, không được quên ban đầu tại sao lại xuất gia; đối với cư sĩ chúng ta mà nói, không được quên ban đầu tại sao lại học Phật — là vì khổ rồi, vì nếm trải khổ nạn trong sinh mệnh và nỗi vất vả trong cuộc sống. Cho nên Bồ Tát dạy chúng ta đừng quên, ban đầu học Phật là vì cái gì mà bắt đầu, làm sao bắt đầu cam tâm tình nguyện buông bỏ rất nhiều dục vọng cá nhân của nhân sinh, những thứ của bản thân. Một người thường xuyên nghĩ đến “bất vong sơ tâm”, thì sẽ có sức mạnh, bởi vì sơ tâm đưa quý vị bước vào cửa Phật.
Nhất định phải hiểu “phương đắc thủy chung”, phải có đầu có cuối. Thường xuyên nghĩ đến bản thân “vì lúc đó trong nhà khổ, nên tôi mới bắt đầu tu tâm”, điều này rất quan trọng, cứ kiên trì có quan niệm này mãi, đến cuối cùng sẽ thành công, đó là thủy chung như nhất (từ đầu đến cuối không thay đổi). Tại sao nói có đầu có cuối? Thủy chung là gì? Là luôn luôn như một, từ bắt đầu đến kết thúc, đều là một người học Phật tốt. Sơ tâm chính là chỉ rõ cho chúng ta một phương hướng. “Sơ tâm” là gì? Là động lực của những lúc bắt đầu. Chúng ta làm một việc gì đó, tại sao có động lực? Từng có một người rất nổi tiếng, tại sao ông ấy lại đi nghiên cứu máy tạo nhịp tim? Bởi vì trong nhà ông ấy có một người cứ thế mà ra đi, ông ấy vô cùng đau buồn, cho nên ông thành lập quỹ từ thiện, không ngừng nghiên cứu về tim mạch để cống hiến, đó chính là sơ tâm của ông ấy. Phương hướng nỗ lực chính là sơ tâm của quý vị , động lực tiến lên chính là sự thủy chung của quý vị . Đừng quên chúng ta làm sao mà đến với việc học Phật, những gì chúng ta đạt được lúc đó, tại sao bây giờ chúng ta không thể quên? Bởi vì trong quá trình học Phật, ở giữa cái “Thủy” (bắt đầu) và cái “Chung” (kết thúc) sẽ nảy sinh rất nhiều sự mê hoặc và điên đảo. Đó là lý do tại sao con người lại tranh cãi, lại có những ý niệm khác biệt nảy sinh. Thực tế trong cuộc sống của chúng ta, bất kể có bao nhiêu khó khăn, trắc trở, bất kể trên con đường tiền đồ có bao nhiêu mịt mờ, bao nhiêu khúc khuỷu, chúng ta đều phải tiến về phía trước, bởi vì mọi sự vật trên thế gian đều sẽ thay đổi. Vì vậy, giữ một tấm lòng sơ tâm, sẽ khiến quý vị không thay đổi tâm nguyện ban đầu.
Tật xấu của con người là luôn thích “nhược sơ tương kiến” (như thuở ban đầu gặp gỡ), giống như lúc đầu gặp gỡ vậy, nhưng thời gian lâu dần, sẽ từ từ quen thói bình thường, bất dĩ vi nhiên (không còn coi trọng nữa). Chúng ta đừng quên sơ tâm, chính là để chúng ta bất luận ở thời điểm nào, dù có một thứ gì mới xuất hiện, cũng phải nhớ là mình đã bước vào cửa Phật như thế nào, đã bắt đầu học Phật ra sao. Không quên sơ tâm, là phải nhớ kỹ suy nghĩ chân thật nhất trong nội tâm quý vị — suy nghĩ chân thật hiện tại trong nội tâm quý vị , suy nghĩ ban đầu của quý vị là gì, phải luôn ghi nhớ nó, có thể cái sơ tâm đó chính là lý tưởng lúc bấy giờ của quý vị . Bất luận trong quá trình tu tâm có bao nhiêu chuyển biến, không được quên lý tưởng này, đây chính là cái tâm nguyên thủy của một người, là một người rất có lương tâm. Bất luận con đường tu tâm của chúng ta xa xôi thế nào, bất luận con đường chúng ta về trời phải trải qua bao nhiêu thiên nan vạn hiểm (muôn vàn khó khăn và hiểm nguy), ngàn núi vạn sông cách trở, chúng ta đều không được bỏ cuộc; hôm nay chúng ta đi theo Quán Thế Âm Bồ Tát vĩnh viễn không lạc lối, chúng ta không được quên con đường mình đã đi khi đến đây, chúng ta không được đánh mất mục tiêu của mình. Ở nhân gian tuy có dục vọng làm mê hoặc tư duy con người, nhưng chúng ta nhất định phải giữ mãi sơ tâm, nhất cổ tác khí (khi làm một việc có sự phấn chấn, trong phút chốc hoàn thành), kiên trì đến cùng, thì sẽ nhìn thấy được cái minh tâm thuần khiết nhất, sáng ngời nhất nơi sâu thẳm nội tâm. Nếu chúng ta không muốn làm kẻ thất bại của nhân sinh, nhất định phải học được “Bất vong sơ tâm, phương đắc thủy chung”.
Một vị Bồ Tát, một người học Phật phải “tri nhất thiết chúng sanh tâm niệm” (biết tâm niệm của tất cả chúng sanh), phải thấu hiểu người khác. Mọi người thử nghĩ xem, xã hội hiện đại có phải đang sống trong sự thấu hiểu người khác không? Người làm càng tốt, chính là càng thấu hiểu người khác. Ví dụ, công ty của con càng lớn, con chắc chắn thấu hiểu nhân viên của mình; gia đình con càng tốt, chứng tỏ vợ chồng thấu hiểu nhau rất tốt; Sư phụ và đệ tử quan hệ tốt, cũng là đệ tử hiểu Sư phụ nhiều hoặc Sư phụ hiểu đệ tử nhiều. “Tri nhất thiết chúng sanh tâm niệm”, chính là chân chân thật thật giảng Phật pháp cho họ, chân chân thật thật nói lời thật với người; “Khởi ư trí nghiệp”, chính là có trí huệ. Bồ Tát biết những ý niệm trong tâm của tất cả chúng sanh chúng ta, hơn nữa Bồ Tát dựa theo những gì chúng sanh nghĩ trong tâm để khai đạo pháp môn gì cho chúng ta, đó chính là trí huệ, khởi ư trí nghiệp — dùng trí huệ của Bồ Tát để làm sự nghiệp Bồ Đề, bởi vì thấu hiểu mới có thể thành công.
Trên thế giới này, bất kỳ ai muốn gặt hái thành công, trước tiên cần phải thấu hiểu. Ví dụ quý vị chế tạo ô tô, quý vị phải hiểu kết cấu của ô tô; quý vị là kỹ sư tâm hồn, quý vị phải thấu hiểu tinh thần và linh hồn của mỗi một người. Hy vọng quý vị phải hiểu “Trí nghiệp”, đó là một loại nghiệp lớn (đại sự nghiệp) thuộc về trí huệ của Đại Phật trí. Bởi vì Bồ Tát thấu hiểu tâm chúng sanh, nên có thể “ứng cơ thuyết pháp” (nói pháp phù hợp với căn cơ). Trong những câu chuyện về Đức Phật mà Sư phụ kể cho quý vị nghe, Đức Phật đi đến đâu thì thuyết pháp đến đó — ứng cơ thuyết pháp; đối với câu hỏi đệ tử đưa ra thì trả lời ngay tại chỗ — ứng cơ thuyết pháp. Cho nên trí huệ càng cao, càng có thể khéo léo độ chúng, càng có thể hiểu rõ chúng sanh. Người thực sự có trí huệ, có thể thấu hiểu chúng sanh một cách khéo léo, ứng cơ thuyết pháp.
Trí nghiệp, chính là dùng “Tha tâm thông”, thứ giúp chúng ta có thể thấu hiểu đối phương, để tạo dựng phước báo và phước nghiệp cho chúng sanh, dùng ý niệm, tâm hành thấu hiểu đối phương của mình để giáo đạo chúng sanh hữu hình và vô hình trong ba cõi Thiên, Địa, Nhân. Đó là lý do tại sao chúng ta tôn xưng Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là Đạo Sư của Tam Giới.
Cho nên phải dùng cảnh giới cao của Bồ Tát để độ hóa chúng sanh, dùng tâm không, ý không, niệm không để độ họ. Khi độ người khác, nếu có tư tâm tạp niệm, tâm của quý vị sẽ không “không”, người khác sẽ nhìn ra được, người khác sẽ không thể tiếp nhận nhiều quan điểm của quý vị . Nếu hôm nay ý niệm của quý vị không “không”, nghĩ rằng “Hôm nay tôi chỉ độ anh ta, tôi thử xem sao”, có tạp niệm kiểu này, quý vị độ không được người khác. Quý vị có ý nghĩ rằng “bởi vì người đó từng là ai, người đó từng là ai của tôi”, suy nghĩ của quý vị không “không”, sẽ không độ được chúng sanh. Cho nên Sư phụ cần các quý vị dùng cái tâm: tâm không, ý không, niệm không này để thấu hiểu chúng sanh. Bồ Tát thấu hiểu chúng sanh, ngoài việc bản thân không có ý niệm, không có tư tâm tạp niệm, Ngài còn chuyển tâm từ bi độ người thành một loại khái niệm, để giúp đỡ quý vị , thành tựu đạo nghiệp trí huệ cho quý vị .
64. Vô thủ vô chứng hoàn sơ bổn giác
Tập 64
VÔ THỦ VÔ CHỨNG HOÀN SƠ BỔN GIÁC
(09/05/2020)
Bồ Tát thấu hiểu chúng sinh, ngoài việc bản thân Ngài không có ý niệm, không có tư tâm tạp niệm, Ngài còn chuyển hóa lòng từ bi độ người thành một khái niệm để giúp đỡ quý vị, thành tựu đạo nghiệp trí huệ của quý vị. Bởi vì mỗi người đều có trí huệ, Bồ Tát biết họ có trí huệ, biết họ có thể hiểu rõ sự lý, cho nên Ngài “động chi dĩ tình, hiểu chi dĩ lý” (lấy tình cảm để lay động, lấy lý lẽ để giải thích). Bồ Tát không ngừng giảng giải cho người đó, giảng đến cuối cùng, người đó nói: “Thưa Bồ Tát, con hiểu rồi”, thế là Bồ Tát đã độ được người đó. Nếu đi độ một người, quý vị giảng giải đàng hoàng với họ, giảng giải với sự thấu hiểu, họ sẽ rất dễ dàng chấp nhận ý kiến của quý vị. Trong tâm lý học có nói, quý vị phải hiểu họ thì quý vị mới có thể giúp họ chuyển đổi ý niệm. Lấy ví dụ, nếu muốn làm cho chiếc xe lửa này chậm lại, không để nó chạy lung tung về phía trước nữa, trước tiên quý vị phải leo lên chiếc xe lửa đó; khi lên xe rồi, quý vị phải đi cùng tốc độ với nó, lên được xe rồi, quý vị mới có thể làm cho nó từ từ dừng lại. “Chuyển niệm thuyết pháp” là một phương pháp mà người học Phật chúng ta nên rất chú trọng. Chuyển đổi ý niệm của chính mình: không phải quý vị là bậc sư trưởng, là đồng tu hay là ai đó của họ, mà hãy xem mình là người thân thiết nhất của họ, họ cũng giống như mình đều là chúng sinh; quý vị giác ngộ trước một chút thì đi kéo họ một cái. Như vậy khi tu tâm quý vị sẽ không khởi tạp niệm, sẽ biết cách giúp đỡ họ mà không có bất kỳ tư tâm tạp niệm nào, trong tâm sẽ không sinh ra nghiệp chướng (rất nhiều người khi độ người lại sinh ra nghiệp chướng).
Tu tâm tu đến sau này phải đạt đến “tự tánh bất động”, thì phiền não từ đâu sinh ra? Nếu quý vị không có yêu cầu gì đối với người khác, thì khi nói chuyện với họ có phải là “tâm vô quái ngại” không? Hôm nay quý vị có yêu cầu đối với người khác, nếu họ không đạt được, quý vị sẽ sốt ruột, đến cuối cùng họ vẫn không nghe, quý vị sẽ đập bàn, mắng người. Cho nên tâm niệm không khởi, thì phiền não từ đâu sinh? Như như bất động. Rất nhiều người hỏi Sư phụ: “Thưa Sư phụ, như như bất động, nhưng tư duy của con vẫn cứ dao động.” “Thưa Sư phụ, con ngồi đây như như bất động, nhưng con nhìn thấy thiện và ác của nhân gian.” Sư phụ nói cho quý vị biết, thiện và ác của nhân gian, quý vị vẫn nhìn thấy, nhưng nhìn thấy rồi thì cũng như không nhìn thấy, bởi vì quý vị biết đó là quan hệ nhân quả. Cái gì đúng, cái gì sai, tất cả đều có nhân có quả, đó là nhân duyên quả báo. Quý vị nhìn thấy cũng giống như không nhìn thấy, bằng với việc không nhìn thấy, “thị nhi bất kiến” (nhìn mà như chẳng thấy), như vậy trong tâm quý vị, trong khái niệm của quý vị, bất kỳ điều thiện ác nào cũng sẽ không ảnh hưởng đến tư duy của quý vị, trong tâm quý vị sẽ không có thiện cũng không có ác. Rất nhiều người học Phật học đến sau này sẽ có nghi vấn: “Tại sao không nghĩ thiện, không nghĩ ác? Không nghĩ ác là đúng, đừng đi nghĩ những chuyện ác, nhưng tại sao chuyện tốt cũng đừng nghĩ?” Bởi vì con không hiểu được đó là thiện hay là ác, bởi vì tất cả đều là nhân quả. Hiểu được những điều này, bất cứ sự thiện ác nào cũng sẽ không ảnh hưởng đến khả năng phán đoán của quý vị, quý vị sẽ “như như bất động”. “Như như bất động” thực ra gọi là “tự tánh bất động”, bản tánh, lương tâm của mình bất động. Nếu quý vị nhìn thấy bất kỳ chuyện thị phi nào của người khác, “người này rất thiện lương, người kia rất ác”; hai người họ cãi nhau, “người này tốt, người kia không tốt”, thì điều đó đã ảnh hưởng đến khả năng phán đoán trong nội tâm của chính quý vị rồi. Bởi vì quý vị đã đi vào trong “sắc không”, đi vào sắc giới, tự tánh đã đang biến đổi, trong tâm quý vị đã có “thị”, “phi”. Quý vị không thể minh biện thiện ác, thì sẽ ảnh hưởng đến tâm của quý vị.
Tại sao Phật Pháp muốn chúng ta không chịu ảnh hưởng của ngoại cảnh, tâm không dao động? Một người giữ được sự bình ổn, khi nghe người khác cãi nhau, trong lòng họ chỉ cười cười: “Cái thị phi thiện ác này, toàn bộ đều là nhân duyên quả báo.” “Nhãn kiến diệc phi chân”, nghĩa là những gì mắt tôi nhìn thấy đều không phải là thật; “Nhĩ văn quân thị giả”, những gì tai nghe thấy, người ta nói xấu có thể là giả, không phải thật. Câu nói này Sư phụ giải thích đơn giản cho mọi người: Có người vì muốn một người nào đó đối tốt với mình, khi người đó vắng mặt, biết rằng sẽ có người truyền lời lại cho người kia nghe, bèn cố ý nói trước mặt người khác rằng “Người đó không tốt, tôi không thích anh ta”. Sau đó khi người này đi mách lại với đối phương, khiến đối phương tìm đến anh này. Sau khi tìm đến, anh này lại giả vờ nói: “Xin lỗi, tôi… ồ, hóa ra ý bạn là thế này”, thế là kết bạn với nhau. Từ việc bắt đầu bằng ác duyên, từ từ chuyển hóa thành thiện duyên. Cho nên đôi khi kết bạn cũng là như vậy, hồi nhỏ chúng ta nghe người ta nói “anh hùng cứu mỹ nhân” chính là như thế: một người rất thích một cô gái trong lớp, cô ấy rất xinh đẹp, nhưng không có cách nào tiếp cận, bèn tìm mấy người giả làm lưu manh chặn đường về của cô ấy vào buổi tối, sau đó anh ta xông ra cứu, khiến cô gái nảy sinh hảo cảm với anh ta.
Giống như những gì tai nghe mắt thấy đều không phải là thứ chân thật. Quý vị tưởng nó là thật sao? Nói xấu người khác thật sự không thể học theo, chỉ cần đi nghe người khác nói xấu, quý vị đã không phải là người học Phật tử tế rồi. Chúng ta không những không nghe những điều giả dối, mà ngay cả điều thật cũng không nghe. Bởi vì cái thật ở nhân gian cũng là giả, cái giả cũng là thật, cho nên “Giả tố chân, thời chân diệc giả, chân tố giả thời giả diệc chân” (Khi biến cái giả thành thật, thì cái thật ấy cũng thành giả; khi làm cái thật thành giả, thì cái giả ấy sẽ là thật), thế giới này chính là thật thật giả giả. Giống như nói chuyện vậy, quý vị biết câu nào của họ là thật, câu nào là giả? Tại sao rất nhiều người bị người ta lừa? Bởi vì thật thật giả giả. Quý vị bảo họ toàn bộ là giả, họ lại có câu thật ở trong đó; quý vị bảo họ toàn bộ là thật, trong đó lại có rất nhiều câu giả dối. Cho nên Sư phụ bảo quý vị, là người học Phật chân chính, bất kể thời gian nào, một phút một giây cũng đừng để bị ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài. Môi trường bên ngoài đối với quý vị hoàn toàn không có khái niệm gì, bởi vì quý vị đã triệt ngộ rồi, đã biết thế giới này là thật thật giả giả, “mắt tôi nhìn thấy cũng chưa chắc là chân thật, tai tôi nghe thấy cũng chưa chắc là chân thật, huống hồ những việc tôi đang làm bây giờ, môi trường bên ngoài có ảnh hưởng thế nào đi nữa, tôi vẫn như như bất động”. Tâm đặt nơi Phật Pháp, đó mới là đi trên con đường Phật đạo. Muốn đạt được sự thanh tịnh chân chính nơi nội tâm, dù là điều đúng với không đúng, thị hay phi, điều gì chỉ kém một chút xíu, tất cả những cái đó đều “như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điện” (như mộng ảo bọt bong bóng, như sương cũng như chớp). Chỉ cần dùng tự tánh, bản tánh của Bồ Tát để quán sát tất cả nhân duyên quả báo ở nhân gian, quý vị sẽ hiểu được tất cả mọi thứ trên thế giới này “đã không có nơi đến, cũng không có nơi đi”, quý vị cớ sao lại sinh phiền não?
Hôm nay Sư phụ sẽ giảng cho mọi người nghe thành Phật là cảnh giới như thế nào. Mọi người đều hy vọng thành Phật đúng không? Ai cũng nói “tôi muốn thành Phật”, vậy thành Phật rốt cuộc phải có cảnh giới gì? Một phàm nhân muốn thành Phật, trước tiên phải học Phật tu đạo. Nhưng mỗi người học Phật một mặt thì học Phật tu đạo, một mặt lại dùng “tâm sở đắc” của mình để tu. Thế nào gọi là tâm sở đắc? “Nếu quý vị thành Phật thì tốt biết bao, hôm nay quý vị tu tâm thật tốt, quý vị nhất định phải thành Phật”, đây chính là đã có “sở đắc”. Còn có rất nhiều phàm phu nơi nhân gian, trong lúc học Phật tu đạo cứ mãi vì cái “ngã” (tôi), đi vào trong “ngã tướng” muốn thành Phật, “tôi” phải học Phật, “tôi” phải tu đạo, “tôi” nỗ lực thế này “tôi” nhất định sẽ thành Phật, điều này đã đi lệch khỏi cái gọi là “vô thủ vô chứng” (không nắm giữ, không chứng đắc) của giới Phật pháp. Tu tâm chân chính phải tu đến “vô thủ vô chứng”, đó mới là cảnh giới cao. “Vô thủ vô chứng” nghĩa là không có gì để đắc được cả, “hôm nay tôi muốn thành Phật, tôi cũng chẳng đắc được gì cả”, lúc đó quý vị mới thực sự đắc được; nghĩ muốn thành Phật, muốn đắc được Phật, thực ra quý vị đã đi vào sự chấp trước. Rất nhiều người hỏi Sư phụ: “Thưa Sư phụ, con khấu đầu cầu xin việc này việc kia, có tính là chấp trước không?” Nếu dùng cảnh giới của Bồ Tát để nói, thì quý vị chính là chấp trước; còn từ góc độ phàm nhân tu tâm thì điều này không tính là chấp trước, cầu cho gia đình, cầu cho cha mẹ, cầu cho con cái, điều này rất bình thường. Nhưng Đức Phật dùng “vô thủ vô chứng” để đối đãi, quý vị đã rất khó thành Phật, bởi vì cảnh giới của Phật rất cao. Rất nhiều người vừa tu tâm, vừa tưởng rằng mình đã sở hữu Phật Pháp và Phật đạo, dường như nắm giữ được rất nhiều đạo lý của Phật, cảm thấy mình có cảnh giới thành Phật. Nếu quý vị thường xuyên cảm thấy “tôi tiếp tục tu như thế này, tôi nhất định thành Phật”, quý vị đã làm hỏng cảnh giới học Phật của mình, bởi vì không thể có “thủ” (nắm giữ), có “thủ chứng” (mong cầu chứng đắc). Quý vị tưởng tượng việc muốn thành Phật, quý vị có thể sẽ không sở hữu được cảnh giới cao hơn của Phật. Phải ngay cả ý niệm làm việc này cũng không có, thì việc làm ra mới gọi là thuần thiện, thuần việc tốt, đó mới là chân Phật, thuần Phật ngay cả ý niệm muốn thành Phật cũng không có, thì đó mới là thật sự muốn thành Phật; nếu không sẽ tu không tốt, sẽ rơi vào súc sinh đạo, rơi vào nhân đạo, rơi vào cống cao ngã mạn.
“Tâm Kinh” nói với chúng ta “bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm”. Tu tâm, quý vị tu bao nhiêu năm, thực ra không tăng cũng không giảm, bởi vì con người trong bản tính vẫn là con người ban đầu của quý vị, bởi vì bản thân quý vị vốn dĩ đã có bản tính ở trong tâm. Trong nội tâm quý vị sở hữu sự lương thiện, quý vị từ nhỏ đã lương thiện, đến khi ra đi cũng rất lương thiện, không có tăng, không có giảm. Chỉ là ngoại trần (bụi trần bên ngoài) mà quý vị tiếp xúc trong bát thức điền làm quý vị không nhìn thấy bản tính của mình, dường như lúc sáng lúc tối. Lấy một ví dụ đơn giản, đôi tay của ai mà không biết lao động? Nhưng người này mười mấy năm không lao động, đôi tay của anh ta có lao động được không? Vẫn có thể lao động được. Đôi tay của anh ta có tác dụng không? Đương nhiên có tác dụng. Bản tính của chúng ta tuy không được dùng đến, không được lau sạch sẽ, nhưng không đại diện là không có bản tính. Bản tính vốn đã sở hữu, có gì tăng giảm đâu? Cho nên “bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm”, không có giảm đi cũng không có tăng thêm, vẫn là bản tính ban đầu của quý vị, không nhiều hơn một chút, cũng không ít đi một chút.
Rất nhiều người nói “tôi tu hành tu tâm”, quý vị tu cái tâm gì? Nên hiểu rằng “tu” chính là lau chùi cái tâm của quý vị, chỉ là làm sao để lau tâm mình cho sạch sẽ hơn một chút mà thôi. Tâm vốn dĩ đã có, còn cần quý vị đi tu nó sao? Bản tính không giảm – bất tăng bất giảm, chỉ là người không tu thì bản tính của họ bị ô nhiễm mà thôi. Khi trong tâm quý vị có chánh niệm, tâm quý vị bước vào thiên đường; khi nội tâm quý vị trở nên vô cùng thuần tịnh, tâm quý vị nhất định sẽ siêu thoát lục đạo; khi quý vị ở nhân gian đầy rẫy tạp niệm, cảm thấy mình tu rất tốt, rồi dùng quan điểm bất chánh kiến và ngôn ngữ bất chính để phỉ báng người khác, vu khống người khác, đi nói pháp môn khác không tốt, quý vị sẽ tạo ra cái nhân đọa địa ngục. Cho nên Sư phụ nói với quý vị, giống như giữa hàng xóm láng giềng với nhau, nhà có thể tốt, có thể lát sàn, mua tủ lạnh, lắp điều hòa, nhưng quý vị đừng đi nói nhà người khác tốt xấu; đừng vì không lắp nổi điều hòa mà đi nói tiền mua điều hòa nhà người khác là từ đâu từ đâu mà có. Tất cả những điều này thực ra đã tạo thành cái nhân đau khổ cho quý vị.
Tâm và bản tánh bất cấu bất tịnh, bởi vì nghiệp tạo ra trong bát thức điền không hoàn toàn ảnh hưởng đến A-ma-la thức trong cửu thức điền. Đây chính là điều Sư phụ nói với quý vị, tại sao có những người sau khi xuống địa ngục, chịu hết khổ rồi, một số tội linh vẫn được lên đầu thai làm người? Bởi vì linh hồn của họ vẫn còn, chưa hoàn toàn tan biến, bởi vì sự từ bi và lương thiện của A-ma-la thức trong cửu thức điền của họ vẫn còn, chỉ là hoàn toàn bị che lấp nhiễm trước (các phiền não tham ái làm cho tâm nhơ bẩn và đắm trước), căn bản là không thể nhìn thấy được. Đợi đến khi chịu quả báo của ác nghiệp xong, sạch sẽ rồi, họ vẫn sẽ đầu thai làm người, đầu thai vào súc sinh đạo, ở trong lục đạo, cho nên tâm của họ vẫn là bất cấu bất tịnh, cũng bất tăng bất giảm. Sư phụ lấy một ví dụ đơn giản, trong nhà quý vị có một thiết bị điện đã lâu không dùng, bẩn vô cùng, toàn là bụi, bụi nhiều đến mức không nhìn ra là thiết bị gì nữa, giống như một cái thùng đầy bụi bặm. Khi quý vị lau sạch nó đi, bắt đầu dùng lại, nó có phải vẫn là cái lò vi sóng không? Đây chính là điều Sư phụ nói với quý vị, hôm nay quý vị tu cũng được, không tu cũng được, bản tánh của quý vị không thay đổi. Tại sao quý vị lại xuống địa ngục chịu khổ? Bởi vì nhục thân của quý vị đang tạo nghiệp, linh hồn đang tạo nghiệp, che lấp bản tánh của quý vị, ảnh hưởng đến tự tánh của quý vị, tự tánh của quý vị trở nên ô trọc, thì sẽ phải chịu khổ, chịu nạn, bởi vì bản tính bị nhiễm trước rồi. Cho nên quý vị lên thiên đường hưởng phúc cũng vậy, xuống địa ngục chịu khổ cũng vậy, đó là cảm giác của quý vị – cảm giác của thức thứ 8 đang chịu khổ, còn tự tánh của quý vị chỉ là bị che lấp, không tìm thấy được mà thôi.
Đức Phật nói với chúng ta rằng, người bình thường chúng ta ở trên thế gian này sống trong những cảm thọ khổ, lạc, ưu, hỷ. Mọi người có cảm thấy chúng ta sống trên đời chính là một loại cảm thọ không? “Cảm thấy vui vẻ, cảm thấy ăn rất ngon”, “Bây giờ tôi cảm thấy vui, vừa rồi tôi cảm thấy không hài lòng”… Bởi vì khổ sẽ qua đi, vui vẻ cũng sẽ qua đi, đó chỉ là cảm giác của quý vị. Cảm giác đau khổ rất nhanh sẽ hết; một việc rất vui vẻ, rất nhanh cũng sẽ không còn nữa. Hỷ lạc và ưu sầu có phải là một loại cảm thọ không? Có phải là một loại cảm giác không? Khổ vui theo tâm lý học thì thuộc về một loại cảm thọ của cơ quan cảm giác sinh lý: cảm thấy hạnh phúc thì sẽ hạnh phúc; cảm thấy vui vẻ thì sẽ vui vẻ. Lo âu cũng là một loại cảm giác của cơ quan cảm thọ nội tâm. Quý vị cảm nhận thấy đau khổ, thì quý vị đau khổ. Có những thợ mát-xa ấn vào chân quý vị, ấn đau đến mức quý vị nhảy dựng lên, nhưng tại sao có người càng ấn mạnh họ càng thấy vui? Đau vô cùng nhưng họ nói “thật thoải mái”, đó là do cảm giác của mỗi người khác nhau. Cho nên hoan hỷ cũng là một loại cảm thọ của nội tâm quý vị, gọi là “giác thọ” – cái “thọ” của cảm giác. Chỉ cần quý vị đào rỗng những cảm giác này, quý vị sẽ buông bỏ được những cảm thọ khổ vui lo buồn. Khổ cái gì? Vui cái gì? Đào rỗng, làm cho nó thành “không”, không có gì khổ, cũng không có gì vui, tất cả đều là vô thường. Quý vị buông nó xuống, sống ở nhân gian, quý vị sẽ không khổ không lạc, quý vị sẽ sở hữu cảnh giới Cực Lạc chốn nhân gian. Đồ giả thì có gì đáng để vui? Đồ giả thì có gì đáng để khổ? Đau khổ cũng là giả, vui vẻ cũng là giả, vậy đến cuối cùng không hỷ không lạc, thì “như như bất động” rồi, có phải đã đến cảnh giới Cực Lạc rồi không?
“Tâm Kinh” nói: “Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp”, chữ “Vô” này nghĩa là gì? Nói cho cùng chính là một chữ “Vô”, nói đến cuối cùng là “Vô trí diệc vô đắc”. “Vô trí” là gì? “Trí” là chỉ cái trí giải thoát, trí huệ giải thoát, chính là Phật tánh. “Vô trí”, cái “trí” này là trí giải thoát, và là Phật tánh, bản tánh, không tịch. Cái “Trí” này không phải là trí huệ, mà là sự không tịch của bản tánh Bồ Tát. “Vô trí diệc vô đắc”, vô trí, đến cuối cùng, quý vị phải hiểu lìa xa tất cả các tướng, mới có thể thực sự vui vẻ; hôm nay quý vị không lìa tất cả các tướng, cho đến cả tướng giải thoát, nghĩa là hôm nay quý vị phải đạt “vô trí diệc vô đắc”, ngay cả cái tư duy muốn giải thoát cũng không được có, đều không thể đắc – tam tâm đều không thể đắc, “chư pháp không tướng”. Quý vị đắc cái gì? Ngay cả tâm “hôm nay tôi muốn giải thoát, thành Phật, thành Bồ Tát” cũng phải là không tánh – “thử tâm diệc bất khả đắc” (tâm này cũng không thể đắc), thì mới là cảnh giới cao của thành Bồ Tát, thành Phật. Hôm nay quý vị làm lao động mẫu mực, quý vị không hề nghĩ mình phải làm tấm gương lao động, “tôi cứ phục vụ chúng sinh cho thật tốt”, đến cuối cùng người ta đưa quý vị lên báo, đăng báo, cho quý vị nhiều tiền thưởng, cho quý vị tất cả, quý vị đều chưa từng nghĩ đến, chưa bao giờ cân nhắc cho bản thân mình, vậy cảnh giới đó có cao không? Nếu trong khi làm tấm gương lao động, quý vị lại nghĩ “mình sẽ được lên báo, mình sẽ được mọi người vây quanh bước lên đài, sẽ đeo hoa hồng lớn, sẽ nhận bằng khen lớn, sẽ được rất nhiều tiền thưởng…” thế thì cảnh giới này của quý vị so với tấm gương lao động còn kém rất xa.
Trí huệ thành Phật là diệu tâm Niết Bàn của chư Phật. “Vô trí diệc vô đắc”, không phải nói là không có trí huệ, mà là hôm nay ngay cả cái tâm muốn giải thoát bản tánh quý vị cũng không được có, vô đắc. Tại sao Tâm Kinh lại vi diệu? Chính là nói với chúng ta, trên thế giới này, “Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp”, tất cả đều là không có. Ở đâu ra? Đó là cảm giác của quý vị, tất cả đều là không. Sau đó “vô trí diệc vô đắc”, chính là cảnh giới của Phật rồi. Cái tâm muốn thành Phật cũng không còn nữa, bởi vì “vô trí diệc vô đắc”, chẳng phải là “vô thủ vô chứng” (không nắm giữ không chứng đắc) sao? Không có bất kỳ sự đòi hỏi nào, cũng không có bất kỳ sự chứng đắc Phật Pháp nào, nghĩa là tất cả mọi thứ quý vị có ở nhân gian, đến cuối cùng chỉ là hai chữ “Không Vô”. Quý vị hiểu là “Không Vô”, thì quý vị thành Phật rồi. Nếu quý vị còn sở hữu một vài thứ gì đó, bao gồm lý niệm của quý vị, bao gồm một số khái niệm “tôi muốn thành Phật”, thì đời này làm sao quý vị thành Phật được? Quý vị liền cách Phật mười vạn tám ngàn dặm rồi.
65. Cảnh giới kham nhẫn là nền tảng của Phật
Tập 65
CẢNH GIỚI KHAM NHẪN LÀ NỀN TẢNG CỦA PHẬT
(09/05/2020)
Quý vị xem, trong “Tâm Kinh” tuyệt vời biết bao, Sư phụ giảng cho quý vị càng giảng càng hay. Bởi vì “vô thọ tưởng hành thức”, bởi vì “vô sắc”, “vô khổ tập diệt đạo, vô trí diệc vô đắc”, cái gì cũng vô rồi, thì quý vị sở hữu bản tánh. Nếu căn phòng này là của quý vị, quý vị cho người khác thuê, căn phòng này vốn dĩ trống rỗng, quý vị cho người bán kẹo thuê, họ để vào một phần tư kẹo; quý vị cho người bán bột mì thuê, lại để bột mì vào;quý vị lại cho người bán máy móc thuê; cuối cùng một phần tư còn lại cũng dùng để bán thứ gì đó, nhà kho cho thuê hết rồi. Trong đó có phải cái gì cũng có rồi không? còn sở hữu bản tánh của quý vị không? quý vị không sở hữu được căn phòng này nữa rồi, cái gì cũng không làm được nữa, đúng không? Đợi đến khi mang tất cả những thứ đó đi hết, quý vị sở hữu lại căn phòng vốn có rồi chứ? Lúc đó quý vị mới sở hữu lại bản tánh vốn có của mình chứ? Chính là đạo lý này.
Cảnh giới thành Phật là cảnh giới viên giác. Thấy người ta không vui, quý vị phải giác ngộ “mình làm sai ở đâu?”, đừng đi giận dỗi người ta, chắc chắn là do bản thân mình có vấn đề. Quý vị có cảm giác không tốt về một sự việc, chứng tỏ vẫn chưa “viên” (làm cho sự việc này toàn vẹn), chưa có sự giác ngộ viên mãn. Trong kinh Phật có bộ “Kinh Viên Giác”, chính là làm sao để giác ngộ viên mãn, thực ra chính là “vô thủ vô chứng”. Mỗi người đều nói “tôi muốn cái này, tôi muốn cái kia”, cuối cùng trên đời này không một thứ nào có thể mang đi được; chỉ có thành Phật mới có thể đạt đến cảnh giới giác ngộ viên mãn chân chính. Cảnh giới viên mãn chính là đã chứng được Phật Pháp viên mãn, triệt để thấu hiểu Phật Pháp, mới sở hữu được cảnh giới của Phật. Triệt để thấu hiểu một người quý vị thích, quý vị mới có thể sở hữu người đó. Sau khi triệt để thấu hiểu Phật Pháp, mới có thể đi theo Đức Phật tiến về phía trước; triệt để thấu hiểu sự đại từ đại bi của Quán Thế Âm Bồ Tát đã mang lại cho chúng ta sự an yên và vui vẻ vô hạn, mới có thể sở hữu Phật Pháp của Quán Thế Âm Bồ Tát.
Trong xã hội, có một số người đọc được một chút kinh văn, cảm thấy mình rất hiểu rồi, sau đó bắt đầu giảng giải – phạm giới vọng ngữ, không hiểu mà nói bừa. “Bất đắc chứng nhi loạn thuyết”, chính là chưa chứng ngộ Phật tánh thì không được nói lung tung. Giống như một người chưa điều tra thì chưa có quyền phát ngôn. Việc này quý vị có hiểu không? Quý vị hiểu rồi hãy nói. Quý vị không hiểu tại sao lại nói? Quý vị không hiểu mà nói ra, sẽ khiến người ta chê cười, chính là bảo cho mọi người biết “tôi là người không có đầu óc, tôi là người ăn nói lung tung”. Cho nên đôi khi rất nhiều người phạm khẩu nghiệp, một số người còn phạm tội đọa địa ngục.
Vì vậy trong thực tướng “thực vô Bồ Tát và chúng sinh”, là không có Bồ Tát và chúng sinh. Bồ Tát và chúng sinh từ đâu ra? Bồ Tát chính là chúng sinh, chúng sinh khai ngộ chính là Bồ Tát, Bồ Tát chưa khai ngộ chính là chúng sinh. Cho nên mới bảo chúng ta, cuộc sống Như Lai chân thật là không có Bồ Tát và chúng sinh. Người có trí huệ xem mỗi một người đều là Bồ Tát, là Phật tương lai. Một người xem người khác đều là Bồ Tát, quý vị xem mọi người có thích người đó không? Người đó chắc chắn vô cùng tôn trọng mọi người, sẽ không có tâm cống cao ngã mạn. Con người phải sống trong thế giới thực tướng, cũng chính là thế giới như lai chân thật. Trước tiên không được nói dối, phải thừa nhận sự thật. Mà có những người tu tâm, rõ ràng bảo họ việc này là thật, họ cũng không tin; rõ ràng nói việc này là việc như lai chân thật, họ cũng nói “có thể không phải đâu”, cho nên họ mãi mãi không thấy được cảnh giới Phật chân chính. “Tin thì có, không tin thì không có”. Thực tướng chính là chân tướng chân thật, thực thực tại tại, và là sự thấu hiểu cảnh giới của Phật.
Phải quán thế gian khổ, không, vô thường. Thế gian này tất cả đều là khổ không vô thường, có gì to tát lắm đâu, quá khứ đã đi qua rồi, một câu nói, một sự việc, nếu vô ngã thì sẽ giải thoát, người giải thoát sẽ sở hữu trí huệ. Niệm kinh là sự bắt đầu của minh tâm kiến tánh, nếu bản thân chưa rõ ràng, niệm kinh nhiều sẽ minh tâm kiến tánh. Sự tranh đấu của nhân loại chúng ta, từ xã hội nguyên thủy đến ngày nay chưa từng dừng lại, đây chính là nghiệp lực. Bởi vì nhân loại chưa đạt đến được cảnh giới của Phật, chưa đạt được cảnh giới của Bồ Tát, không thể thoát khỏi những vòng tuần hoàn ác tính đó. Cho nên con người nhìn thấy con người, trước hết là tìm lỗi của đối phương, hạ thấp người khác, tâng bốc bản thân, ghen tị với người khác, làm cho mình sở hữu nhiều tư dục hơn. Do liệt căn tính (tính xấu thâm căn cố đế) của con người, nên trong thế giới này mới nảy sinh ra đủ loại tranh đấu, chính là vì sinh tồn mà nảy sinh dục vọng, những dục vọng này khiến quý vị trong lục đạo không được siêu sinh, vĩnh viễn luân hồi trong lục đạo.
Quán Thế Âm Bồ Tát “đảo giá từ hàng” (quay thuyền từ trở lại) đến nhân gian chúng ta, khổ khẩu bà tâm (tận tình khuyên bảo) khuyên ngăn chúng ta, đến điều phục, khơi dậy sự chuyển biến tâm thái của chúng ta, để chúng ta hiểu rằng thế giới này tất cả đều là khổ không vô thường. Chỉ có thấu hiểu Phật Pháp một cách đàng hoàng, chỉ có làm viên mãn cái tâm Phật vốn có của chính mình, khơi dậy Phật tánh trong nội tâm mình, thay đổi thái độ của chính mình, đời người mới tìm thấy Phật chân chính. Phật xa tận chân trời, gần ngay trước mắt, chính là chân Phật trong nội tâm quý vị, chính là chân Phật trong A-ma-la thức của cửu thức điền, chính là lương tâm và bản tánh của quý vị, Phật tánh chân chính của chính quý vị, cái tâm nguyên thủy. Cho nên phải hiểu học Phật chính là một sự thấu hiểu, học Phật chính là giúp đỡ người khác, học Phật chính là chiếc chìa khóa để bản thân giải thoát khỏi đủ loại phiền não và khổ muộn hiện tại. Nếu hôm nay quý vị không làm được những điều này, chứng tỏ quý vị vẫn chưa giải thoát, vẫn đang luân hồi trong khổ nạn; chỉ có triệt để buông bỏ, mới có thể triệt để giải thoát. Quý vị buông bỏ bao nhiêu, giải thoát bấy nhiêu; triệt để buông bỏ, sẽ đạt được sự giải thoát triệt để của đại viên mãn.
Được rồi, cuối cùng Sư phụ kể cho mọi người nghe một câu chuyện Phật pháp.
Đức Phật năm xưa cùng các đệ tử hàng ngày ôm bình bát đi khất thực, có phải là để giải quyết vấn đề ấm no của mình không? Hoàn toàn không phải. Người xuất gia hoàn toàn có thể tự mình canh tác. Vậy ôm bình bát khất thực rốt cuộc là vì cái gì? Là để cho chúng sinh một cơ hội tăng trưởng thiện căn. Nhưng rất nhiều người không hiểu, tưởng rằng “tại sao các ông không tự mình nấu cơm, lại bắt người ta cúng dường cho các ông?” Thực ra, ý của Đức Phật chính là muốn cho thí chủ đạt được đại phúc báo. Quý vị thử nghĩ xem, nếu không có người đi khất thực, quý vị làm sao bố thí? Hôm nay quý vị pháp bố thí, tài bố thí, vô úy bố thí, phải có người tiếp nhận, họ tiếp nhận sự bố thí của quý vị, quý vị sẽ sở hữu đại phúc báo. Sau đây kể cho mọi người nghe câu chuyện này, chính là để một vị Bà La Môn cuối cùng cũng hóa giải được phiền não trong lòng, chứng đắc chính quả.
Trong thành Xá Vệ có một vị Bà La Môn (Bà La Môn là tầng lớp quý tộc có địa vị cao ở Ấn Độ thời bấy giờ), ông ta trời sinh thông minh lanh lợi, suy nghĩ kín kẽ, hơn nữa sở hữu vô số châu báu,phú quý dồi dào, trong đời gần như không có thứ gì ông muốn mà không được. Cư dân trong thành nhìn thấy ông đều trăm ngàn lần ngưỡng mộ. Ông ta vô cùng bài xích Phật Pháp, ông thường nói một câu: “Bố thí là lãng phí tiền bạc, hành thiện là việc làm vô nghĩa.” Một chút Phật căn cũng không có.
Một hôm vào giữa trưa, Tôn giả Xá Lợi Phất hiện thần túc thông, từ một nơi rất xa đến trước mặt vị Bà La Môn này, Xá Lợi Phất tay bê bình bát đứng yên bất động (đột nhiên đứng trước mặt ông ta không động đậy). Lúc này, vị Bà La Môn đang chuẩn bị ngồi xuống dùng bữa, nhìn thấy Tôn giả Xá Lợi Phất đột nhiên xuất hiện, bỗng nổi trận lôi đình. Ông ta bình thường đã coi thường người hành khất, đang định mắng người, nhưng khi vừa mở miệng, đột nhiên trong lòng nảy ra một kế, ông ta muốn làm cho vị xuất gia này tự chuốc xấu hổ.
Thế là Bà La Môn quay người ngồi xuống, coi Tôn giả Xá Lợi Phất như không nhìn thấy, mắt cũng chẳng thèm liếc một cái, không đuổi đi, cũng không tỏ ý chào đón, mặc kệ ông ấy, cứ thế tự mình dùng bữa. Một lúc sau, vị Bà La Môn này ăn no rồi, ông ta bèn đổ bát nước vốn dùng để rửa tay súc miệng vào trong bình bát của Tôn giả Xá Lợi Phất và nói: “Đây chính là thứ mà hôm nay tôi muốn bố thí cho ông, ông có thể đi được rồi.” Sỉ nhục Ngài. Không ngờ Tôn giả Xá Lợi Phất lại chẳng hề tức giận chút nào, ngược lại còn từ bi chúc nguyện cho ông ta: “Nguyện sự cúng dường thành tâm hôm nay của ông, khiến ông trăm kiếp ngàn đời được vô lượng phúc báo.” Nói xong, Xá Lợi Phất quay người từ từ rời đi. Nếu dùng suy nghĩ của người hiện đại, thì điều đầu tiên hiện lên trong câu nói này là chế giễu ông, nhưng Xá Lợi Phất là thật tâm, cảm thấy “ông cúng dường một bát nước, tôi cũng đều biết ơn như vậy”.
Bà La Môn nhìn bóng dáng Tôn giả dần đi xa, đột nhiên trong lòng bất giác dấy lên ý niệm sợ hãi, ông ta vừa đi vừa nghĩ: “Nhỡ đâu vị Sa môn này đem hành động của ta đi nói khắp nơi, rêu rao ra ngoài, thì mọi người nhất định sẽ cho rằng ta là một kẻ keo kiệt không có chút tâm cung kính nào.” Bà La Môn càng nghĩ càng không yên tâm, bèn sai người hầu đuổi theo gọi Tôn giả Xá Lợi Phất quay lại.
Tôn giả Xá Lợi Phất sau khi rời đi, liền đi thẳng về tinh xá. Ngài suy nghĩ: “Bát nước khất thực được hôm nay, ta phải làm cho thí chủ này đạt được lợi ích lớn nhất (chính là để nó trở thành một công đức).” Một lát sau, Ngài nghĩ ra một cách. Ngài đổ bát nước đó vào một bãi đất bùn, trộn đều lên, đợi bùn thật mềm rồi lấy ra, trải lên chỗ mà Đức Phật thường đi qua. Năm xưa Đức Phật và các đệ tử đều đi chân trần, nếu một bãi đất bùn nhào với nước, đi lên sẽ mềm mại. Sau đó Ngài thưa với Đức Phật: “Thưa Đức Phật, vị thí chủ này tính tình keo kiệt, chỉ nguyện ý bố thí chút nước này. Tuy nhiên để ông ấy khỏi đọa vào ba đường ác, cho nên con lấy bát nước và bùn này trải một đoạn đường cho Người, cúi mong Đức Phật từ bi, đi trên mảnh đất này, khiến cho vị Bà La Môn này đời đời kiếp kiếp được đại phúc báo.” Tôn giả Xá Lợi Phất đều là thật tâm, Ngài hy vọng Đức Phật đi qua bãi bùn mà Ngài đã trải, mềm mại, như vậy sẽ khiến vị Bà La Môn kia nhận được đại phúc báo. Đức Phật nghe Tôn giả Xá Lợi Phất trình bày xong, vô cùng từ bi thương xót chấp nhận thỉnh cầu của Xá Lợi Phất, sau đó nhập chính định đi bộ trên nền đất bùn, bước qua đó.
Lúc này, người hầu do Bà La Môn phái đến nhìn thấy toàn bộ sự việc, anh ta đứng bên cạnh vô cùng cảm động, lập tức quay về nhà Bà La Môn, đem sự việc kể tường tận cho Bà La Môn (chính là lập tức báo cáo tình hình cho Bà La Môn): “Thưa ông, Đức Phật chí cao vô thượng vốn là thái tử của một nước, nay Ngài từ bỏ ngôi vị Chuyển Luân Thánh Vương mà ai ai cũng ngưỡng mộ, dẫn dắt các đệ tử tu hành, ôm bát khất thực. Ngài không có thức ăn sao? Ngài có chứ. Ngài chẳng qua là để cho chúng sinh cơ hội tu phúc báo, tăng trưởng thiện căn, Ngài là từ bi, thực sự không phải vì lợi ích của bản thân mà đi làm những việc khất thực này.” Bà La Môn nghe xong, vô cùng xấu hổ với những ác hành ác niệm trước kia của mình, bèn dẫn cả nhà lớn nhỏ cùng đến tinh xá cầu Đức Phật thương xót cho sám hối, hy vọng Đức Phật có thể tha thứ cho sự ngu si của mình. Đức Phật bèn truyền Tam Quy Y và thuyết pháp cho ông, Bà La Môn ngay lập tức hóa giải được đủ loại phiền não trong lòng, đắc đạo chứng quả.
Câu chuyện này nói cho tất cả chúng ta biết, phải biết thông cảm và thấu hiểu người khác. Cuộc sống chính là một sự thông cảm và thấu hiểu đối với người khác. Quý vị biết thông cảm thấu hiểu người khác, quý vị sẽ khoan dung với người khác, cuộc sống của mình sẽ trôi qua một cách ấm áp, đời người sẽ an yên; rất nhiều phiền não chính là đến từ việc chúng ta không thể thông cảm cho người khác. “Thiên hữu bất trắc phong vân, nhân hữu đán tịch họa phúc” (trời đất nắng mưa khó đoán, người có hoạ phúc sớm chiều), cảm xúc của mỗi người đều sẽ có thay đổi, chúng ta không thể quá để ý đến quan điểm và sự chấp trước của bản thân, hãy nên thấu hiểu người khác nhiều hơn. Có những người chính vì không hiểu nhau mới dẫn đến không ai nhường ai, mới làm tổn thương đối phương. Chúng ta nên nhận thức rằng, thế giới này tất cả đều có tiến có lùi, nếu quý vị biết lùi bước nhường nhịn, quý vị sẽ phát hiện ra tâm bình thường quan trọng biết bao nhiêu. Có gì to tát đâu? Tâm bình thường mà, đời người ở đâu mà chẳng vui? Không cần thiết phải làm khó mình vì sự chấp trước của bản thân, không cần thiết phải để sự chấp trước của mình gây khó dễ với người khác. Đời người cần đạt được là một trái tim thấu hiểu người khác, một đồng tâm (trái tim như trẻ thơ), một trái tim thuần khiết, một niềm tin, một cơ thể khỏe mạnh, một tâm thái cân bằng, một giấc ngủ an ổn và một trái tim hướng về tương lai, tận hưởng cuộc sống, biết đủ. Người thực sự có thể thấu hiểu Phật Pháp, là người nhìn thấy tương lai, nhìn thấy ánh sáng. Chúng ta hãy học Phật, tu tâm cho tốt, loại bỏ tham sân si mạn nghi, dùng một trái tim Phật, mỗi ngày đều tinh tấn, đều nhẫn nhục, để đi đến Bồ Đề, đi đến ánh sáng.
Được rồi, hôm nay chương trình “Bạch Thoại Phật Pháp” nói đến đây thôi, hẹn gặp lại quý vị trong chương trình lần sau. Cảm ơn mọi người.
65. Cảnh giới kham nhẫn là nền tảng của Phật
Tập 65
CẢNH GIỚI KHAM NHẪN LÀ NỀN TẢNG CỦA PHẬT
(09/05/2020)
Quý vị thấy đấy trong Tâm Kinh thật kỳ diệu biết bao, Sư phụ càng giảng cho mọi người thì càng cảm thấy kỳ diệu. Bởi vì “Vô thọ tưởng hành thức”, “Vô sắc”, “Vô khổ tập diệt đạo. Vô trí diệc vô đắc”, nếu cái gì cũng không có, thì quý vị liền có được bổn tánh. Nếu căn phòng này là của quý vị, quý vị cho người khác thuê, căn phòng này vốn trống rỗng, quý vị cho người bán kẹo thuê, và cho anh ta một phần tư không gian để bày kẹo. Quý vị cho người bán bột mì thuê, và lại chất bột mì vào. Quý vị lại cho người bán máy móc thuê, một phần tư cuối cùng cũng dùng để bày bán thứ gì đó, toàn bộ kho hàng đều cho thuê hết rồi. Không gian trong phòng này có phải đã được chất đầy rồi không? Vậy thì quý vị còn sở hữu bổn tánh của mình nữa hay không? Quý vị không thể sở hữu căn phòng này nữa và không thể làm bất cứ điều gì nữa, đúng không? Cho đến khi dọn hết những thứ này đi, quý vị sẽ sở hữu ngôi nhà ban đầu, đúng không? Vậy thì quý vị có được bổn tánh ban đầu rồi phải không? Chính là cái đạo lý này.
Cảnh giới thành Phật là cảnh giới viên giác (tánh giác viên mãn), khi thấy người khác không vui thì phải nhận ra: “Tôi đã làm gì sai?” Đừng nổi giận với người khác, nếu tức giận với họ thì chắc chắn bản thân có vấn đề. Nếu quý vị có cảm giác không tốt đối với một sự việc gì đó, tức là quý vị vẫn chưa “viên” (tức là làm cho sự việc này toàn vẹn), chưa giác ngộ viên mãn. Có một bộ kinh Phật tên là “Viên Giác Kinh”, chính là làm thế nào để giác ngộ viên mãn, thực ra nó có nghĩa là “Vô thủ vô chứng”. Mọi người đều nói: “Tôi muốn cái này, tôi muốn cái kia”. Cuối cùng, trên đời không có thứ gì mang theo được. Chỉ có thành Phật mới có thể đạt được cảnh giới giác ngộ viên mãn thật sự. Cảnh giới viên mãn chính là đã chứng đắc Phật pháp viên mãn, hiểu được Phật pháp triệt để, thì mới có được cảnh giới của Phật. Chỉ khi quý vị hoàn toàn hiểu được một người nào đó mà quý vị yêu mến, thì quý vị mới có thể có được người ấy. Sau khi hiểu biết thấu đáo về đạo Phật thì mới có thể theo Phật tổ tiến về phía trước,
hiểu thấu đáo lòng đại từ đại bi vĩ đại của Quán Thế Âm Bồ Tát đã mang đến cho chúng ta sự yên bình và hạnh phúc vô hạn, thì chúng ta mới có thể có được Phật pháp của Quán Thế Âm Bồ Tát.
Trong xã hội có một số người xem được một chút kinh văn, cảm thấy mình rất am hiểu, sau đó bắt đầu giảng – phạm giới vọng ngữ, không hiểu giảng lung tung. “Bất đắc chứng nhi loạn thuyết” có nghĩa là không có chứng ngộ Phật tánh, thì quý vị không được giảng lung tung. Cũng giống như một người, không điều tra thì không có tiếng nói. Quý vị có hiểu chuyện này không, hiểu rồi mới nói. Nếu quý vị không hiểu thì tại sao quý vị lại nói về nó? Nếu quý vị không hiểu mà nói ra, thì mọi người sẽ cười nhạo quý vị, cũng như nói với mọi người rằng: “Tôi không có đầu óc và tôi nói những điều vô nghĩa”. Vì vậy, đôi khi nhiều người phạm phải khẩu nghiệp, và một số thậm chí còn phạm tội đọa địa ngục.
Cho nên trong thực tướng “Thực vô Bồ Tát và chúng sinh”, là không có Bồ Tát và chúng sinh. Bồ Tát và chúng sinh ở đâu ra? Bồ Tát chính là chúng sinh, chúng sinh đã khai ngộ chính là Bồ Tát, Bồ Tát chưa khai ngộ chính là chúng sinh. Cho nên là để nói cho chúng ta biết rằng, trong đời sống của Như Lai chân thật là không có Bồ Tát và chúng sinh. Người có trí tuệ coi mọi người như một vị Bồ Tát, vị Phật tương lai. Nếu một người đối xử với người khác như Bồ Tát, quý vị có nghĩ rằng mọi người sẽ thích người đó không? Chắc chắn rằng người này rất tôn kính mọi người và họ sẽ không có tâm cống cao ngã mạn. Con người phải sống trong thế giới thực tướng, chính là thế giới của Như Lai chân thực. Trước hết không được nói dối, phải thừa nhận sự thật. Còn có một số người tu tâm, dù có nói cho họ biết chuyện này là thật, thì họ cũng không tin. Dù có nói sự việc này là sự việc của Như Lai chân thật, họ cũng nói “có thể không phải”, nên họ vĩnh viễn không thấy được cảnh giới chân thật của Phật, “tin thì có, không tin thì không có”. Thực tướng chính là chân tướng thực thực tại tại và sự hiểu biết về cảnh giới của Phật.
Phải quán thế gian khổ-không-vô thường. Thế gian này hết thảy đều là khổ-không-vô thường, có gì mà to tát lắm đâu, quá khứ đã đi qua rồi, một câu nói, một sự việc, nếu không có bản ngã thì sẽ được giải thoát, người được giải thoát sẽ có trí tuệ. Niệm kinh là sự khởi đầu của minh tâm kiến tánh, nếu chưa rõ ràng thì tụng kinh thường xuyên hơn sẽ giúp quý vị minh tâm kiến tánh. Tranh đấu của nhân loại chúng ta, từ xã hội nguyên thủy cho đến ngày nay chưa bao giờ dừng lại, đây chính là nghiệp lực. Bởi vì nhân loại chưa đạt đến cảnh giới của Phật, chưa đạt đến cảnh giới của Bồ Tát, nên không thể thoát khỏi những vòng tuần hoàn ác tính đó. Vì vậy, khi nhìn thấy người khác, trước hết họ tìm tật xấu của đối phương, coi thường người khác, khen ngợi mình, đố kỵ người, khiến cho bản thân có được càng nhiều tham muốn ích kỷ hơn. Do bản chất xấu xa của con người, nên trong thế giới này mới nảy sinh ra đủ loại tranh đấu, đó là tham muốn sinh tồn mà sinh ra dục vọng, những dục vọng này khiến quý vị ở trong lục đạo không được siêu sinh và vĩnh viễn ở trong lục đạo luân hồi.
Quán Thế Âm Bồ Tát đảo giá Từ Hàng đến nhân gian chúng ta, khổ khẩu bà tâm khuyên can chúng ta, đến để điều phục và khơi dậy những thay đổi trong tâm thái chúng ta, để cho chúng ta hiểu được thế giới này hết thảy đều là khổ-không-vô thường. Chỉ bằng cách hiểu đúng Phật giáo, hoàn thiện Phật tâm nguyên thủy, khơi dậy Phật tánh bên trong và thay đổi thái độ của mình, thì mới có thể tìm thấy vị Phật chân chính trong cuộc đời. Phật ở xa tận chân trời, gần ngay trước mắt, chính là chân Phật trong lòng quý vị, chính là chân Phật trong trường thức thứ chín, Amala thức của quý vị, chính là lương tâm cùng bổn tánh của quý vị, là Phật tánh chân chính và cái tâm nguyên thủy của quý vị. Vì vậy, phải hiểu rằng học Phật chính là một loại hiểu biết, học Phật chính là giúp đỡ người khác, học Phật chính là chìa khóa để giải thoát bản thân khỏi mọi phiền não và buồn khổ hiện tại. Nếu hôm nay quý vị không làm được những điều này, có nghĩa là quý vị vẫn chưa được giải thoát, vẫn còn luân hồi trong khổ nạn. Chỉ
có buông bỏ hoàn toàn thì quý vị mới được giải thoát một cách triệt để. Quý vị buông bỏ bao nhiêu, sẽ giải thoát được bấy nhiêu: nếu quý vị buông bỏ hoàn toàn, thì sẽ đạt được sự giải thoát hoàn toàn của đại viên mãn.
Được rồi, cuối cùng Sư phụ kể cho mọi người nghe một câu chuyện về Phật giáo.
Đức Phật năm đó cùng các đệ tử của Ngài mỗi ngày đi thác bát khất thực, là vì muốn giải quyết ấm no của bản thân sao? Không hẳn. Người xuất gia hoàn toàn có thể tự làm nông. Như vậy thác bát khất thực rốt cuộc là vì cái gì? Là muốn cho chúng sinh một cơ hội để phát triển thiện căn. Nhưng rất nhiều người không hiểu, cho rằng “Tại sao các vị không nấu ăn, mà lại muốn để người ta đến cúng dường cho các vị?”, trên thực tế, ý của Đức Phật chính là muốn thí chủ nhận được đại phúc báu. Quý vị thử nghĩ xem, nếu không có ai đến xin ăn, thì làm sao quý vị có thể bố thí được? Pháp thí, tài thí, vô úy thí mà quý vị bố thí ngày hôm nay, cần phải có người đến tiếp nhận, khi họ tiếp nhận bố thí của quý vị, thì quý vị sẽ có được đại phúc báu. Sau đây kể cho mọi người nghe câu chuyện này, chính là khiến cho một vị Bà La Môn cuối cùng đã giải quyết được những phiền não trong lòng và chứng đắc được Chánh quả.
Trong thành Xá Vệ có một vị Bà La Môn (Bà La Môn chính là bậc quý tộc có địa vị ở Ấn Độ năm đó), ông thông minh nhanh nhẹn bẩm sinh, suy nghĩ sâu sắc, hơn nữa còn có vô số của cải, phú khả địch quốc (tức là vô cùng giàu có), cả đời hầu như không có thứ gì ông muốn mà không có được. Dân trong thành thấy ông đều hâm mộ. Ông rất bài xích Phật pháp, ông thường nói một câu: “Bố thí là lãng phí tiền bạc, làm việc thiện là hành động vô nghĩa”. Một chút căn Phật trong ông cũng không có.
Một buổi trưa hôm nọ, Tôn giả Xá Lợi Phất hiển hóa thần túc thông, từ một nơi rất xa đến trước mặt vị Bà La Môn này, Xá Lợi Phất tay cầm bát đất đứng bất động (đột nhiên đứng bất động trước mặt vị Bà Là Môn này). Lúc này, vị Bà La
Môn đang chuẩn bị ngồi ăn, thì vô cùng tức giận khi nhìn thấy Tôn giả Xá Lợi Phất đột nhiên đến. Bình thường ông khinh thường người ăn xin, đang định mắng chửi, nhưng vừa mở miệng thì trong đầu chợt nảy ra một ý nghĩ, ông định làm cho vị hòa thượng này tự chuốc họa vào thân.
Thế là vị Bà La Môn quay người ngồi xuống, như thể ông ta không nhìn thấy Tôn giả Xá Lợi Phất, thậm chí không thèm nhìn một cái, không trục xuất cũng không hoan nghênh, ông không để ý đến Ngài mà tiếp tục ăn một mình. Một lúc sau, khi vị Bà La Môn này đã no nê, ông đổ nước định dùng để rửa tay và súc miệng vào bát khất thực của Tôn giả Xá Lợi Phất và nói: “Đây là những gì ta muốn bố thí cho ông hôm nay, ông có thể đi được rồi.” Không ngờ Tôn Giả Xá Lợi Phất không hề tức giận, ngược lại còn từ bi chúc phúc cho ông: “Cầu mong sự cúng dường chân thành của Ngài ngày hôm nay mang đến cho Ngài vô lượng phước lành trong trăm kiếp và hàng nghìn kiếp”. Nói xong, Xá Lợi Phất quay người chậm rãi rời đi. Nếu dùng cách nghĩ của người hiện đại, thì điều đầu tiên hiện lên trong câu nói này là chế giễu ông, nhưng Xá Lợi Phất rất thành thật và cảm thấy rằng “Tôi vô cùng biết ơn bát nước mà ông cúng dường”.
Vị Bà La Môn nhìn bóng dáng Tôn giả đang dần rời xa, bất tri bất giác trong lòng chợt nảy sinh ý nghĩ sợ hãi, ông vừa đi vừa nghĩ: “Nếu Sa Môn này đi khắp nơi nói về hành động của mình và phô trương ra ngoài, thì chắc chắn người ta sẽ cho rằng ta là một quỷ ma keo kiệt không hề có lòng cung kính.” Vị Bà La Môn càng nghĩ càng không yên lòng, vì vậy liền phái người hầu truy tìm Tôn giả Xá Lợi Phất về.
Sau khi Tôn giả Xá Lợi Phất rời đi, Ngài trở về thẳng Tinh Xá. Ngài nghĩ: “Hôm nay tôi xin được bát nước này, tôi muốn mang lại lợi ích tối đa cho vị thí chủ này (nghĩa là biến nó thành một việc làm công đức).” Ngay sau đó, ông nghĩ ra một phương pháp. Ông đổ nước trong bát vào một cục bùn, rồi trộn đều lên, khi bùn thật mềm, ông lấy ra và rải ở bất cứ nơi nào Đức Phật thường lui
tới. Vào thời đó, Đức Phật và các vị Tỳ kheo đều đi chân trần, nếu có một cục bùn hòa trộn cùng với nước thì đi trên đó sẽ êm chân hơn. Rồi ông liền thưa với Đức Phật: “Bạch Đức Thế Tôn, vị thí chủ này bản tính keo kiệt, ông chỉ nguyện ý bố thí những thứ nước này. Tuy nhiên, để tránh cho ông ta sa vào ba đường ác, con đã dùng bát nước và đất bùn này để đắp đường cho Đức Phật, và cầu mong Đức Phật từ bi mà đi trên mảnh đất này, để vị Bà La Môn này có thể nhận được đại phước báu mãi mãi”. Tôn giả Xá Lợi Phất đều rất thành tâm, ông mong Đức Phật sẽ đi qua lớp bùn mềm do ông trải ra để vị Bà La Môn được phước lớn. Sau khi nghe Tôn giả Xá Lợi Phất diễn thuyết, Đức Phật đã nhận lời thỉnh cầu của Xá Lợi Phất với lòng đại từ bi, rồi nhập định, đi trên đất bùn rồi bước tới.
Lúc này người hầu do vị Bà La Môn sai đến chứng kiến sự việc, ở bên cạnh vô cùng cảm động, lập tức trở về nhà Bà La Môn để cụ trần kỳ sự cho Bà La Môn (tức là lập tức báo cáo sự việc này cho Bà La Môn nghe): “Thưa Bà-la-môn, Đức Phật Tối Cao vô thượng vốn là hoàng tử của một vương quốc, nhưng nay Ngài đã từ bỏ ngôi vị Chuyển Luân Thánh Vương mà mọi người hâm mộ, dẫn dắt các đệ tử của Ngài tu hành và khất thực xin ăn. Ngài ấy không có thức ăn ư? Ngài ấy có. Ngài chỉ muốn mang lại phước báu cho tất cả chúng sinh, cho chúng sinh cơ hội để phát triển thiện căn, là do Ngài từ bi và không làm những việc khất thực này vì lợi ích riêng của mình. “Sau khi nghe điều này, vị Bà La Môn cảm thấy vô cùng hổ thẹn về những hành động và ý nghĩ xấu xa của mình nên đã đưa cả gia đình đến Tinh Xá để cầu xin sám hối với Đức Phật, mong Đức Phật tha thứ cho sự thiếu hiểu biết của mình. Đức Phật đã truyền thụ cho ông tam quy y đồng thời thuyết pháp, vị Bà La Môn liền tiêu trừ mọi phiền não trong tâm và đắc đạo chứng quả.
Câu chuyện này cho chúng ta biết rằng, chúng ta phải biết quan tâm và thấu hiểu người khác. Cuộc sống là một kiểu quan tâm và thấu hiểu người khác. Nếu quý vị biết quan tâm và thấu hiểu người khác thì quý vị sẽ bao dung với họ, cuộc sống sẽ ấm áp, cuộc sống sẽ bình yên, nhiều phiền não đến từ việc chúng
ta không thể thông cảm cho người khác. “Thiên hữu bất trắc phong vân, nhân hữu sớm chiều họa phúc.” Cảm xúc của mỗi người sẽ thay đổi, chúng ta không nên quá quan tâm đến ý kiến và sự chấp trước của bản thân, chúng ta có thể hiểu người khác hơn. Một số người không hiểu nhau và đó là lý do tại sao họ không nhượng bộ và làm tổn thương nhau. Chúng ta nên nhận ra rằng mọi việc trên đời này đều có tiến có lùi, nếu biết nhường nhịn thì sẽ thấy được tâm bình thường quan trọng biết nhường nào. Có gì mà to tát lắm đâu? Tâm bình thường thôi, đời có gì mà không vui? Không cần phải đấu tranh với những chấp trước của chính mình, hãy tiêu trừ đi những cố chấp của bản thân. Điều mà một người cần trong cuộc sống là một trái tim hiểu người khác, một sự hồn nhiên như trẻ thơ, một trái tim trong sáng, một niềm tin, một cơ thể khỏe mạnh, một tâm thái cân bằng cũng như một giấc ngủ ngon và một trái tim nhìn về tương lai, tận hưởng cuộc sống và biết đủ. Người có thể thực sự hiểu Phật pháp là người có thể nhìn thấy tương lai và nhìn thấy ánh sáng. Chúng ta hãy học Phật và tu tâm, đoạn trừ tham, sân, si, mạn, nghi. Dùng tấm lòng của một vị Phật để hướng tới Bồ-đề và ánh sáng với tinh tấn và nhẫn nhục mỗi ngày.
Được rồi, bài giảng “Bạch Thoại Phật Pháp” dành cho đại chúng hôm nay xin tạm dừng tại đây, hẹn gặp lại mọi người vào tiết mục lần sau. Cảm ơn đại chúng.
66. Phật tánh bình đẳng vô nhị
Tập 66
PHẬT TÁNH BÌNH ĐẲNG VÔ NHỊ
(13/05/2020)
Được rồi, hôm nay chúng ta tiếp tục giảng về 《Bạch Thoại Phật Pháp》.
Trước hết, khi một người suy nghĩ về một vấn đề nào đó, hãy cố gắng suy nghĩ theo hướng tích cực, hướng về những điều tốt đẹp, như vậy thì sẽ được pháp hỷ sung mãn. Bởi vì nỗi đau khổ và ưu sầu của nhiều người chính là do năng lượng tiêu cực trong tâm quá nhiều. Vì năng lượng tiêu cực nhiều, họ liền nghĩ rất nhiều vấn đề theo hướng không tốt và tiêu cực, càng nghĩ càng sợ hãi, càng nghĩ, bản thân lại dần dần sinh ra lo âu. Nếu suy nghĩ theo hướng chánh, rất nhiều việc sẽ trở nên khoái lạc vô ưu, sẽ không có ưu thường, cho nên, đây là một phương pháp vô cùng quan trọng để người học Phật thấu hiểu sự việc. Bất kỳ ai cũng phải hiểu về luân hồi. Một sự việc dù tốt hay không tốt thì nó đều sẽ luân hồi: Một chuyện tốt gặp chuyện không tốt, từ từ lại luân hồi trở thành tốt; chuyện ác, chuyện không tốt khi luân hồi, dần dần cũng sẽ trở thành chuyện tốt.
Bắt đầu từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của con người, cho đến những gì quý vị nghe thấy, ngửi thấy, thực ra tất cả đều là một loại luân hồi, quý vị không thể coi chúng là quá thật. Một chuyện nào đó hồi nhỏ khiến ta rất đau lòng, chính là bởi vì chúng ta đã coi nó là quá thật, cho nên chúng ta mới ở trong luân hồi. Bồ Tát dạy chúng ta hiểu rằng, chỉ sau khi nhìn thấy Phật tính thì con người mới không còn luân hồi, cũng chính là nói với chúng ta rằng, chỉ khi một người thực sự hiểu được Phật tính, hiểu được Phật lý, muốn không luân hồi nữa, thì bắt buộc phải khai ngộ, bắt buộc phải chứng đạo. Sư phụ nói với mọi người, một người đi trên con đường này, quý vị nói xem quý vị có thể liên tục đi mãi được không? Đúng vậy, phải kiên định không dời mà bước về phía trước. Thế còn phương hướng thì sao? Nếu phương hướng sai lầm, quý vị vẫn sẽ đi trong luân hồi; nếu phương hướng đúng rồi, quý vị sẽ bước ra khỏi vùng đầm lầy của cuộc đời mình, quý vị sẽ từ từ khai ngộ, hiểu được rằng không thể tiếp tục mê hoặc điên đảo trên thế giới này nữa, phải bước ra khỏi con đường của chính mình, phải nhìn thấy Phật tánh, phải hiểu thế giới này, tất cả đều là Khổ, Không, Vô Thường, không có một việc gì có thể vĩnh cửu. Cho nên có được thì cũng đồng nghĩa với mất đi, mất đi cũng đồng nghĩa với tạm thời sở hữu.
Người có thể lưu giữ Phật Pháp trong tâm thì sẽ có thể phá mê khai ngộ. Vì trong tâm chúng ta vẫn còn mê hoặc, nên mới có vọng tưởng, mới có chấp trước. Khi một người nghĩ không thông một chuyện gì đó, thực ra họ đang ở trong sự chấp trước, mà người chấp trước thì chắc chắn sẽ luân hồi. Cho nên hy vọng mọi người nhất định phải hiểu, phải đem mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đều chuyển đổi thành Phật tánh: Mắt nhìn thấy, mũi ngửi thấy, tai nghe thấy v.v… đều chuyển thành Phật tánh, chánh tín chánh niệm, “Tôi không nghe loạn, không nhìn loạn, không ngửi loạn”. Ý niệm được xây dựng dựa trên những khái niệm hình thành trong tư duy của chính mình, cho nên ý niệm này vô cùng quan trọng, cũng chính là ý niệm của bất kỳ ai đều cần phải giác ngộ. Quý vị có ý niệm giác ngộ, chánh tín của quý vị liền khởi đầu; quý vị có ý niệm giác ngộ, chánh tri chánh giác của quý vị liền khởi đầu. Một người có chánh tri chánh giác, thì lời nói ra sẽ giống như Đức Phật vậy. Mỗi một người chúng ta muốn thành Phật, thì trong tâm nhất định phải có Phật, mới có thể nói ra, làm ra và suy nghĩ ra Phật tánh, quý vị nhất định sẽ xa rời luân hồi. Ở nhân gian, chưa nói đến đại luân hồi, mà ngay cả tiểu luân hồi cũng diễn ra không ngừng—coi thường một việc nào đó rồi lại phạm lỗi. Cả đời chúng ta, từ nhỏ đến lớn, đã luân hồi bao nhiêu sự việc rồi? Chúng ta nói phải hiếu thuận với cha mẹ, đến cuối cùng lại quên mất; nói rằng dịp lễ tết phải đối xử với người nhà mình như thế nào đó, rồi lại quên mất; nói rằng người khác đối tốt với tôi, tôi phải cảm ơn họ, báo đáp họ, cuối cùng lại quên mất. Tất cả những điều này chính là đang ở trong luân hồi.
Phật duyên mà chúng ta gieo trồng trên thế gian chính là cái Nhân để chúng ta không luân hồi, thì mới nhận được cái Quả không luân hồi. Rất nhiều người rất đáng thương, không gieo trồng Phật duyên, mà lại gieo nhân quả của nhân gian, đó chính là nhân duyên, nhân duyên sẽ dẫn đến quả báo không tốt. Phải hiểu rằng Bồ Tát chính là người thầy tâm linh của chúng ta. Dạy dỗ chúng ta, chi phối tâm linh chúng ta, chính là Bồ Tát, là Đạo sư của chúng ta. Cho nên tâm chúng ta nghĩ gì, phải giống như điều mà Phật Bồ Tát nghĩ; việc mà chúng ta làm, phải giống như Bồ Tát. Phải tưởng tượng đến sự tự tại trong tâm mình, bởi vì chỉ có một lòng một dạ với Phật, quý vị mới có thể “nhậm vận” tâm linh của mình. “Nhậm vận” nghĩa là quý vị có thể hoàn toàn tự tại, làm chủ tâm linh của mình, lương tâm, từ bi tâm, tâm “vô ngã lợi tha” của quý vị đều sẽ hiển lộ. Cho nên phải an trụ nội tâm của chính mình, không để nó luân hồi, quý vị sẽ bước vào con đường Niết Bàn vĩnh hằng. Nhiều người nói, làm sao có thể bước vào con đường Niết Bàn? Phải an trụ nội tâm của mình, đừng để nó Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi.
Đức Phật dạy chúng ta “Chúng sinh giai cụ Phật tính” (Tất cả mọi chúng sinh đều có sẵn tính Phật), chỉ có giác ngộ nhân sinh, rời xa những chướng ngại phiền não của nhân gian. Phải rời xa tất cả “sở tri chướng”, cảm thấy bản thân cái này cũng hiểu, cái kia cũng hiểu, thì sẽ có chướng ngại, sẽ có chấp trước. Tại sao chúng ta thường khuyên người khác rằng, hiểu rồi cũng phải buông xuống, không hiểu thì càng phải buông xuống hơn? Hiểu rồi thực ra đồng nghĩa với việc quý vị vẫn còn rất nhiều điều chưa hiểu; không hiểu đồng nghĩa với việc bạn vẫn phải học, sẽ học được rất nhiều điều mà bậc trí giả thấu hiểu. Nếu cảm thấy “Tôi đã biết rất nhiều rồi”, thế thì chướng ngại của quý vị bắt đầu sinh khởi rồi. Tại sao phải khiêm tốn? Tại sao phải có trí huệ để tiêu trừ nghiệp lực, nghiệp chướng? Các con hãy thử nghĩ xem, một người có nghiệp chướng, nếu không có trí huệ, người đó không thể tiêu trừ được nghiệp chướng; họ bắt buộc phải có trí huệ thì mới có thể tiêu nghiệp. Bất kỳ ai rời xa trí huệ chính là rời xa Bát Nhã; rời xa trí huệ, sẽ trở nên ngày càng ngu si.
Phải hiểu rằng chúng ta và Phật tánh là bình đẳng vô nhị, bởi vì sâu thẳm trong nội tâm chúng ta có Phật tánh, Phật ở ngay trong tâm chúng ta, chúng ta có thể khắc phục mọi kiếp nạn chướng ngại ở nhân gian. Bởi vì tâm chúng ta bình đẳng vô nhị, cho nên chúng ta chính là Phật, Phật chính là quý vị, quý vị dùng tâm thái này mới có thể thành Phật tại nhân gian. Đừng cho rằng Đức Phật ở cách xa chúng ta, thực ra chỉ cần tâm quý vị giống như Phật, thì quý vị chính là Phật ở nhân gian. Phải có niềm tin, phải có lực tinh tấn. Hiện nay, chúng ta dùng Pháp Môn Tâm Linh để hóa giải, tiêu trừ nghiệp chướng và linh tính, dùng diệu pháp trí huệ để chuyển hóa nghiệp lực nhân quả. Chúng ta hiện nay có phải đang như vậy không? Niệm kinh, loại bỏ những nghiệp chướng vốn không tốt của bản thân, rất nhiều những nợ nần kiếp trước với người khác, chúng ta từ từ thông qua Niệm kinh, Phát nguyện, Phóng sinh để tiêu trừ nghiệp chướng quá khứ của chính mình, đó chính là đang chuyển hóa nghiệp lực nhân quả, đang thay đổi túc mệnh của chính thân quý vị.
Hiểu rõ Phật Pháp: có sinh ắt có tử, tất cả danh lợi đều là hư ảo. Danh sẽ rời đi không? Sẽ. Lợi sẽ rời đi không? Sẽ. Tất cả đều như mộng huyễn bào ảnh. Hy vọng mọi người hiểu được những hiện tượng tự nhiên trong cuộc sống nhân gian, những hiện tượng tự nhiên đó chính là lục đạo luân hồi, cho nên nếu không muốn luân hồi, thì phải hiểu vô thường sinh tử. Phải hiểu rằng tiền bạc danh lợi ở nhân gian không có cách nào giải quyết được vấn đề sinh tử, chỉ có thâm nhập vào trong Phật Pháp để tìm tòi, để thấu hiểu, để khai ngộ. Vô thường là một đạo lý tự nhiên, thế giới này tất cả đều không có gì là vĩnh cửu, hiểu được điều này thì đã sở hữu được trí huệ. Khi quý vị sở hữu trí huệ để giải quyết phiền não nhân gian, quý vị sẽ sở hữu Bát Nhã.
Phải hiểu “Vô Sở Đắc”, bởi vì quý vị có tạo ra bao nhiêu danh tiếng, cuối cùng cũng là một tràng hư không—vô sở đắc; sở hữu bao nhiêu lợi ích, cuối cùng cũng là vô sở đắc. Đều không phải là của quý vị, chỉ là quý vị đang giúp người khác trông coi mà thôi, bởi vì khi quý vị vừa rời đi, tất cả đều quy về không, tất cả đều là của người khác rồi. Sư phụ thường lấy ví dụ cho quý vị, nếu ngôi nhà này là của quý vị, quý vị vừa đi khỏi, ngôi nhà liền đổi tên chủ khác rồi. Tất cả đều là vô thường, cho nên xem nhẹ danh lợi, mới có thể sinh trưởng trí huệ, mới có thể rời xa chướng ngại của phiền não. Mục đích của giải thoát sinh tử là để đắc đại tự tại, cho nên người giác ngộ sở hữu sự đại tự tại, người giác ngộ hiểu rằng tất cả là bất sinh bất diệt, sinh ra rồi sẽ diệt đi, diệt đi rồi sẽ lại sinh ra, cho nên Phật Pháp dùng trí huệ để hiểu thành “bất sinh bất diệt”. Mọi người đều biết trong 《Tâm Kinh》 có câu “bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh”, chính là như vậy.
Chúng ta ở nhân gian phải ngừng làm việc ác, không được làm điều ác. Người không làm ác, bản tánh, tự tánh, Phật tánh của họ sẽ hiển lộ. Người thường xuyên mắng chửi, thường xuyên đối xử tệ với người khác, người mà thường xuyên giở trò sau lưng với người khác, ngấm ngầm hãm hại người khác, trong tâm dơ bẩn không gì sánh bằng, lấy đâu ra cái tâm thanh tịnh vô ngại? Sư phụ muốn quý vị hiển lộ bản tánh và lương tâm của chính mình, nhìn thấu nhân sinh, mới có thể thực sự thấu hiểu Phật tánh. Một người lương thiện ngày ngày sống trong đại tự tại; một người u ám, cả ngày sống trong sự kinh hãi. Cho nên người học Phật có thể hưởng thụ sự đại tự tại và trí huệ của nhân gian, còn một người nghĩ không thông, sẽ rời xa trí huệ và Bát Nhã của chính mình. Chúng ta phải hiểu rằng “Nhất thiết duy tâm tạo” (mọi việc đều do tâm tạo ra).
Có người hỏi Sư phụ, giới Phật Pháp thường nói “Đại bi vô lệ, đại ngộ vô ngôn, đại tiếu vô thanh”, điều này có nghĩa là gì. Sư phụ nói cho mọi người biết, “Đại bi vô lệ”, mọi người hãy thử nghĩ xem, từ bi là lòng từ bi vô tận, là từ và bi mẫn, cho nên nó là vô tận, không phải là một loại tình cảm của con người. Nước mắt của con người là sự bộc lộ của một loại tình cảm, còn từ bi là ở trong nội tâm, cho nên người thực sự đại từ đại bi không phải là rơi nước mắt, mà là cảm nhận được nỗi khổ và đau thương của người khác từ trong nội tâm, cho nên gọi là “Đại bi vô lệ”.
Có người hỏi câu thứ hai “Đại ngộ vô ngôn”, đại ngộ, tại sao sau khi triệt ngộ lại không nói chuyện? quý vị xem có rất nhiều Pháp sư, bất kể quý vị hỏi ngài ấy câu gì, ngài ấy cũng luôn trả lời “A Di Đà Phật”, bởi vì ở nhân gian không có đúng sai, ngài ấy đã không còn rơi vào vòng thị phi nữa, ngài ấy xa rời thị phi nhân gian. Đại ngộ chính là đã khai mở đại trí huệ, cái trí huệ này không thể dùng ngôn ngữ để diễn tả ra được. Người thực sự khai ngộ không phải dùng ngôn ngữ là có thể giải thích được, cho nên họ không nói nữa, đây gọi là “đại ngộ vô ngôn”.
Câu cuối cùng “Đại tiếu vô thanh”. Đại tiếu (cười lớn), thực ra chính là một loại tâm tình trong thất tình lục dục của con người, “Vui quá, ha ha ha”, cười lớn, đó là một loại tâm trạng vui vẻ của nhân gian; còn niềm vui của Bồ Tát, niềm hỷ lạc trong nội tâm, khi Bồ Tát nhìn thấy một người được cứu độ, nhìn thấy một nghiệp chướng của quý vị được tiêu trừ, giúp quý vị lìa khổ được vui, Ngài làm sao có thể dùng tiếng cười để diễn tả niềm hỷ lạc trong tâm đó đây? Cho nên nói đại tiếu vô thanh. Thử nghĩ xem có phải như vậy không? Một người mẹ vì muốn con thi đạt thành tích tốt, ngày ngày thức khuya dậy sớm nấu cơm cho con, để con có môi trường yên tĩnh học hành, ngày ngày chờ đợi, suốt một năm xuân hạ thu đông. Đến khi thi đại học chính thức, chờ đến lúc con trở về nói: “Mẹ ơi, con thi đậu rồi”, khi con vui vẻ cười lớn, người mẹ không cười theo con, mà lại chảy nước mắt, bởi vì tình cảm đó xuất phát từ nội tâm, đó là một loại từ bi.
67. Tâm vô sở động, tâm vô sở trụ
Tập 67
TÂM VÔ SỞ ĐỘNG, TÂM VÔ SỞ TRỤ
(13/05/2020)
Quý vị hiểu được Phật Pháp thì sẽ hiểu được nhân tánh, rồi sẽ dần dần hiểu được Phật tánh là như thế nào. Đại bi vô lệ, đại tiếu vô thanh, cho nên rất nhiều người vui đến phát khóc. Sư phụ giảng cho quý vị, chính là hy vọng quý vị phải hiểu, cảnh giới của Phật là như thế nào, Bồ Tát đến nhân gian để làm gì, và quý vị hôm nay ở nhân gian nên làm những gì.
Một người học Phật phải có tâm thanh tịnh, trong kinh văn có một câu danh ngôn: “Bất ưng trụ sắc sinh tâm, bất ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sinh tâm, ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” (Không nên trụ vào sắc mà sinh tâm, không nên trụ vào thanh-hương-vị-xúc-pháp mà sinh tâm, nên sinh cái tâm không trụ vào đâu cả). Ý nghĩa câu này bảo cho mọi người biết, chúng ta không nên “trụ sắc sinh tâm”, trên thế giới này, chúng ta không thể bị danh vọng lợi dưỡng của nhân gian cám dỗ, tâm của chúng ta không thể tùy tiện thay đổi theo vật chất hay theo suy nghĩ của người khác. “Bất ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sinh tâm”, không thể vì ngửi thấy mùi thơm mà động tâm, không được nghe thấy âm thanh, lời người khác nói mà động tâm. “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”, câu này là câu nổi tiếng trong 《Kinh Kim Cang》, hôm nay Sư phụ đặc biệt lấy ra để giải thích với mọi người. “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”, sự ngộ đạo ban đầu của Lục Tổ Thiền Tông chính là câu này, thử nghĩ xem, chỉ một câu nói thôi mà sức nặng biết bao nhiêu, bởi vì Ngài nghe thấy “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” liền khai ngộ.
Sư phụ giải thích với mọi người một chút, tâm của chúng ta vốn dĩ là vô sở trụ, toàn bộ tâm của chúng ta đều là vô sở trụ, “vô sở trụ” chính là Không, không có nơi nào để đi đến cả, chính là bảo cho chúng ta biết “Thử tâm vô sở trụ, vô sở trụ tất cánh không” (Tâm này không trụ vào đâu, không trụ bám thì rốt ráo không). Cái tâm hồi nhỏ của quý vị bây giờ đi đâu rồi? Cái tâm hận thù hồi nhỏ đi đâu rồi? Cái tâm tham lam hồi nhỏ đi đâu rồi? Hồi nhỏ quý vị từng bị người ta bắt nạt, hoặc quý vị đi bắt nạt người khác, những cái tâm không tốt đó bây giờ ở đâu? Cho nên nó là tâm vô sở trụ, chỉ là một cảnh giới Không mà thôi. “Hữu sở trụ” chính là quý vị đem chuyện không vui, chuyện vui vẻ đặt hết vào trong tâm, quý vị thử nghĩ xem tâm có bị áp lực không? Phiền não có phải bắt đầu khởi động từ tâm hay không? Việc tốt—vui vẻ, việc không tốt—khó chịu, có phải bắt đầu khởi động từ tâm quý vị không? Nếu quý vị không trụ nó ở trong tâm, thì chính là trụ ở trong Không, cái tâm này hôm nay không có chướng ngại. Giống như rất nhiều bạn đồng tu nói với Sư phụ: “Sư phụ, quý vị nói chuyện với một số người quý vị không cần động não, quý vị cảm thấy rất vui. Nói chuyện với họ giống như nói chuyện với trẻ quý vị vậy, vì họ sẽ không giận quý vị, quý vị cũng không giận họ. quý vị nói gì họ cũng có thể tiếp nhận, không nghĩ lung tung; họ nói gì, quý vị cũng không nghĩ lung tung. Cho nên quý vị nói chuyện với họ vô cùng thoải mái, vô cùng vui vẻ.” Đó chính là tâm vô sở trụ. Nếu quý vị “có tâm” (để tâm), lo lắng họ đến tìm quý vị nói chuyện, đến bắt lỗi phiền não của quý vị, bắt lỗi sai của quý vị, đến mỉa mai quý vị, gây tổn thương cho quý vị, sau khi quý vị sở hữu những cái tâm này, chính là “trụ sắc sinh tâm”, liền trụ vào trong phiền não của nhân gian này rồi, quý vị lấy đâu ra tự tại, lấy đâu ra tâm tự tại?
Tâm thanh tịnh chân chính không chỉ là Không, mà chủ yếu là quý vị có cảnh giới. Chúng ta làm người nhất định phải hiểu “Bất trụ sắc, bất trụ thanh hương vị xúc pháp”. Sự tu hành chân chính nên là tâm vô sở động—vốn dĩ không có tâm, tôi đi trụ nó làm gì? Tôi phải dùng tâm để chứa đựng những danh lợi vật chất dơ bẩn trong hồng trần nhân gian làm gì? Vì vậy, nên “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”. quý vị nói tâm có không? Có chứ. Ở đâu? Vô sở trụ. Lấy một ví dụ đơn giản, quý vị đang sống, đúng không? Đúng. quý vị sống ở đâu? Không sống ở đâu cả, muốn sống ở đâu thì sống ở đó. Người mà nói muốn sống ở đâu thì sống ở đó, có phải họ đạt được sự tự tại không? Hôm nay quý vị bị một nơi quản thúc, quý vị chỉ có thể sống ở đây, có phải đã “trụ sắc”—sống trong “sắc” rồi không? Lấy ví dụ đơn giản, ở nhân gian vì cái tham của quý vị, vì cái hận của quý vị, cuối cùng gây ra sai lầm, thế thì quý vị phải sống trong nhà tù, cái tâm này chỉ cần sống trong nhà tù, quý vị có phải đã bị quản thúc rồi không? Có phải cái tâm này của quý vị đã trụ sắc rồi không? Cho nên phải vô sở trụ, thản nhiên. “Tôi không có tâm tình với bất cứ ai, tôi không có tâm ý để làm tổn thương người khác, tôi không có tâm ý để chấp nhận những tổn hại mà người khác gây ra cho tôi”, quý vị có phải đắc đại tự tại không? Vì vậy vô tâm tức là hữu tâm, hữu tâm tức là vô tâm, tâm ở đâu? Bởi vì tâm không đến cũng không đi, là tâm vô sở trụ. Đây chính là điều chúng ta thường nói là đừng “lưu tâm”, quý vị hễ lưu tâm thì nhất định sẽ có phiền não.
Bồ Tát dạy chúng ta, tâm này vô hình, giống như tấm gương vậy. Chính là bảo với mọi người, tâm của chúng ta không có hình dạng. Tâm có hình dạng gì? quý vị hận người ta thì có hình dạng gì? quý vị xem, nhiều người cứ cố làm ra một cái hình tượng, yêu người này thì phải làm ra hình trái tim giống quả đào thọ, nhưng điều này không đại diện cho việc quý vị sở hữu tình yêu thương đó. Thực ra tâm chỉ là vô hình, trái tim có hình, nhưng tất cả khái niệm, sự thấu hiểu, yêu, ghét… mà tâm nghĩ ra đều là vô hình. Những thứ vô hình này giống như một tấm gương, chiếu đến vật chất hữu hình, thì trong tâm quý vị có vật chất hữu hình. Hôm nay quý vị chiếu đến tình yêu, trong tâm quý vị có tình yêu; hôm nay quý vị chiếu đến hận, trong tâm quý vị sở hữu hận. Cho nên “Tâm như minh kính đài” (Tâm như đài gương sáng), có cảnh giới, nó có thể dùng để chiếu. Một tấm gương ở trong tâm, thiện ác đều chiếu vào tâm quý vị, chiếu qua rồi thì không quý vị nữa. quý vị nhìn xem một tấm gương, khi vừa soi gương xong, trong gương có phải quý vị lưu lại hình ảnh của quý vị không? Hình ảnh “quý vị” này có phải là một giả tướng của “quý vị” không? Tấm gương này có phải là vô sở trụ không? Khi quý vị rời khỏi tấm gương, tấm gương này chiếu được cái gì? Chiếu được là tánh Không, không quý vị gì nữa, vì quý vị đã soi qua rồi, vừa rời khỏi gương, trong gương liền không quý vị quý vị nữa, cho nên Bồ Tát dùng đài gương sáng để nói với chúng ta: Tâm tựa đài gương sáng—chiếu thấy thiện tức là thiện, chiếu thấy ác tức là ác, trong tâm phải lưu giữ Phật, chiếu kiến tức là Phật. Điều này bảo cho chúng ta biết, trong tâm không được có ma, bởi vì quý vị có ma, có hận, trong tâm quý vị liền lưu giữ ma tính. Tại sao rất nhiều người dù được khuyên thế nào, họ cũng không thể sở hữu Phật tính? Bởi vì họ đã dùng ma tính chiếm hữu Phật tính trong nội tâm họ rồi. Giống như một đứa trẻ, quý vị khuyên nó trở nên tốt thế nào, nó cũng không thể tốt lên được, vì trong tâm nó đã có rất nhiều cái ác, cho nên nó rất khó trở nên tốt.
Phật giống như cái gì? Phải để Phật tính chiếu sáng trong tâm của quý vị. Tấm gương này của quý vị ngày ngày soi thấy Phật, hơn nữa phải lưu giữ vị Phật này ở trong gương, bởi vì Phật là một ngọn đèn sáng. Mọi người xem, có những tấm gương có đèn, bật đèn lên, tấm gương có phải ngày càng sáng không? quý vị dụng tâm, ngọn đèn này sẽ sáng; quý vị không dụng tâm, ngọn đèn này của quý vị không bật sáng. Cho nên khi quý vị “tâm minh nhãn lượng” (tâm sáng mắt tỏ), quý vị sẽ vô sở trụ tâm, nó chính là một chùm ánh sáng, ánh sáng ở đâu? Ánh sáng sẽ không dừng lại ở một nơi nào cả. quý vị nhìn ánh sáng mặt trời xem, nó di chuyển theo thời gian; ánh sáng ở nhân gian, đến tối khi mọi người đi ngủ, đều phải tắt đèn đi phải không? Nó vô sở trụ mà.
Cho nên tất cả đều không trụ, nếu quý vị có thể khiến mọi thứ đều không trụ lại trong tâm mình, thì đó chính là cảnh giới Thực Tướng. quý vị thử nghĩ xem, hai người này đang cãi nhau, quý vị đứng bên cạnh nghe, “người này tốt, người kia không tốt”, “người kia tốt, người này không tốt”, đối với quý vị mà nói, quý vị không đi giúp người này, cũng chẳng giúp người kia, thế thì quý vị gọi là cảnh giới Thực Tướng. Nếu quý vị có tình cảm tốt với người này, quý vị giúp họ, thế thì quý vị đã bước vào thế giới hư huyễn hư tướng, bởi vì quý vị mang theo tình cảm, bởi vì trong tâm quý vị đã chiếu kiến sự thị và phi của một sự vật nào đó. Tại sao gọi là cảnh giới Thực Tướng? Thực thực tại tại. Chúng ta làm người phải thành thực, đừng thiên vị, đừng tha thứ cho sai lầm và khuyết điểm của bản thân, đừng tha thứ cho thói hư tật xấu của mình, phải kiên quyết đấu tranh với thói hư tật xấu trên người mình, đánh đổ nó, phải tiêu trừ triệt để, mới có thể đạt đến tướng Như Lai chân thật.
Khi quý vị đạt đến tướng Như Lai chân thật, nói lời thật, nói chuyện một cách thực thực tại tại, quý vị phải hiểu “Thực tướng vô tướng”. Thực ra nhân gian chúng ta, khi quý vị tu thành rồi, quý vị nói “Tôi đã không quý vị bước vào thị phi nữa, tôi sở hữu thực tướng”, cái thực tướng này quý vị không? Thực ra chính là vô tướng. Quý vị nói nhân gian này tất cả đều là hư không—là hư, là không, quý vị nói có thực tướng không? Chắc chắn không có, nhất vô sở đắc. Cho nên một người, cả đời phán đoán một sự việc nào đó là đúng, một sự việc nào đó là sai, có thể là do khi 20 tuổi làm việc này, hoàn cảnh lúc đó, sự hiểu biết lúc đó, đạo lý lúc đó, thì là đúng, nhưng hôm nay 20 năm sau, có thể là sai. Cho nên tất cả những điều này đều là nhất vô sở đắc, tại sao chúng ta lại cứ phải rối rắm vào một sự việc nào đó xảy ra tại một thời điểm nào đó, nắm chặt lấy nó không buông, hơn nữa không ngừng chấp trước, cố định suy nghĩ của mình, khiến cho ý niệm của mình không được giải phóng, không được giải thoát, rồi cứ liều mạng nắm giữ, tạo thành cái ngã chấp, phiền não, vô minh của bản thân? Như vậy quý vị sẽ từ từ bước vào trong cái thế giới hư huyễn này. Sư phụ nói với quý vị “Thực tướng vô tướng”, thực sự đến khi quý vị cho rằng sự việc này là thực tướng, thực ra chính là vô tướng.
Tất cả mọi thứ trên thế gian, sinh tử đều không thể trụ. quý vị thử nghĩ xem ai có thể vĩnh viễn không chết? Người chúng ta yêu thương nhất cũng sẽ rời xa chúng ta, người chúng ta hận nhất cũng sẽ rời xa chúng ta, tất cả những điều này đều là không thể trụ. Cho nên khái niệm, sự chấp trước của quý vị càng không thể trụ ở trong tâm, phải giống như tấm gương sáng, có thể nhìn thấu hồng trần, có thể thắp sáng ánh sáng của Đức Phật trong tâm, để Bát Nhã Thực Tướng trong tâm mình vĩnh viễn chiếu rọi tiền đồ của mình, như vậy mới có thể lìa khổ được vui, mới có thể dùng đèn quang minh soi sáng tiền đồ của quý vị.
Nếu một người chấp trước vào “vô trụ”, thì lại không được rồi. “Tôi không trụ, tôi không để tâm vào việc này, tôi chấp trước tôi sẽ không care (quan tâm) bạn, tôi sao cũng được”, quý vị lại rơi vào thiên chấp thiên không (chấp lệch về tính không). Cho nên học Phật vô cùng khó, quý vị ép bản thân nói “Tôi phải làm người tốt”, quý vị có thể là một người tốt giả, vì là quý vị ép mình làm, không phải tự giác làm; nếu là tự giác tự nguyện làm người tốt, quý vị nhất định sẽ tùy duyên một cách rất tự nhiên, quý vị chính là một người tốt. Bất kỳ ai thiên chấp chính là không hiểu Phật Pháp, cho nên Phật Pháp dạy chúng ta đừng chấp trước vào vô trụ, “Tôi làm mọi việc, bạn xem, tôi đều không có cái tâm kiểu như đi biểu dương bản thân, tôi vô sở trụ tâm, tôi chính là phục vụ vì mọi người, tôi rất nỗ lực.” quý vị có chấp trước không? Vẫn là chấp trước. Người vô trụ thực sự thì căn bản là nghĩ cũng không nghĩ đến, giúp người khác làm việc tại sao lại phải nghĩ “Tôi đang làm việc tốt”? Đó mới là cảnh giới cao.
Không rơi vào thiên không, vì cớ gì? Cần biết “Chân không bất không”. Gì là chân không bất không? Một người bước vào trong chân không, thực ra là bất không (không phải Không). Khi quý vị ở nhân gian đã nghĩ thông, nghĩ thấu tất cả, thực ra quý vị đang sống trong cái “Không”; nhưng sống trong cái Không, quý vị lại đang ở trong Thực Tướng. Câu này giảng thế nào đây? Một lão trụ trị, lão pháp sư nào đó, tuy ngài đã hoàn toàn nhìn thấu, hoàn toàn “không” rồi, nhưng ngài vẫn có nhục thân, vẫn phải sinh hoạt, vẫn phải độ người, quý vị nói ngài ấy hoàn toàn “không” chưa? Ngài nhìn thấu cái Không, nhưng ngài “bất không”, điều này gọi là “Chân không bất không”, ngài đã không quý vị rơi vào trong cái Không nữa. Đây là sự vô cùng vô cùng khó hiểu của Phật Pháp.
“Không tịch linh tri” (Sự hiểu biết của linh hồn trong sự tĩnh lặng, hư không), khi quý vị không đi nghĩ đến nó, không đại biểu rằng Bồ Tát trên trời hoặc trong tư duy của quý vị không có suy nghĩ này. Điều này giảng hơi sâu, lấy một ví dụ đơn giản, hôm nay quý vị muốn đi giúp người này, khi quý vị giúp họ quý vị không cảm thấy “tôi đang giúp họ”, nhưng trước khi quý vị đi giúp họ, nơi sâu thẳm trong linh hồn quý vị có phải muốn đi giúp họ không, có không? Có chứ. Vậy thì trong sự không tịch có linh hồn biết, cũng chính là Phật tánh của quý vị biết, bắt buộc phải đi độ người, độ chúng sinh, bắt buộc phải đi giúp đỡ chúng sinh. Mà khi quý vị thực sự đang giúp đỡ chúng sinh, lại không cảm thấy “tôi đang giúp đỡ chúng sinh”. Không biết mọi người có thể hiểu ý của Sư phụ không, đây thực sự là chỗ vô cùng thâm sâu của Phật Pháp. Sư phụ rất thích dùng hình ảnh người mẹ chăm sóc quý vị cái để làm ví dụ. Một người mẹ hoàn toàn đặt tâm vào quý vị cái, dụng tâm vì quý vị, bà không cảm thấy “tôi đang làm việc vì quý vị, tôi đang làm chuyện nuôi chúng khôn lớn”, nhưng thực tế tất cả những việc người mẹ làm có mục đích không? Ở trong chân không, đúng không? Bà ấy lại “bất không”, tại sao? Mẹ giáo dục quý vị là lẽ trời, đây là đạo lý, cho nên bà ấy bất không. Bởi vì bà có đạo lý này tồn tại, tuy bà không đi nghĩ ngợi, là chân không, nhưng thực tế bà vẫn có tư tưởng chỉ đạo này, vô hình trung sâu thẳm trong linh hồn bà vẫn chưa hoàn toàn “không”. Cho nên đạo lý thâm sâu được giảng trong 《Tâm Kinh》và 《Kinh Kim Cang》chính là, khi quý vị đã thấu hiểu, khi quý vị đã giác ngộ, quý vị đã giải thoát rồi, thực ra quý vị đang ở giữa Chân và Giả, đang trong quá trình thấu hiểu một sự vật nào đó. Tại sao kinh văn thường nói “vô sở trụ”? Tại sao lại có “hữu sở trụ tâm”, và tại sao lại có “vô sở trụ tâm”? Thực ra trụ và không trụ tâm, chỉ trong một niệm mà thôi.
68. Quán chiếu chính là chiếu kiến
Tập 68
QUÁN CHIẾU CHÍNH LÀ CHIẾU KIẾN
(13/05/2020)
Kinh Phật chính là nói cho các con biết tại sao, bởi vì nhờ trí huệ Bát Nhã mà sinh kỳ tâm, bởi vì khi các con hoàn toàn “Không”, trí huệ Bát Nhã của Phật tính sẽ khiến các con sinh khởi cái tâm từ bi thiện lương này. Và cái tâm từ bi thiện lương này lại “vô sở trụ tâm”, nó hiện hữu trong ý niệm, nhưng dường như lại không tìm thấy được. Sư phụ rất muốn dùng những ví dụ thực tế ở nhân gian để giảng cho mọi người, hôm nay các con đến tham dự một party (buổi tiệc) của một người, ăn mặc thật xinh đẹp. Các con bước vào, hy vọng mọi người đều có thể chú ý đến mình, thấy mình mặc rất đẹp. Nhưng khi nhìn quanh, thấy ai nấy cũng đều ăn mặc rất đẹp, lúc này các con quên mất việc mình đẹp hay không đẹp, mà cùng vui vẻ với mọi người. Sư phụ hỏi các con, trong vô thức, sâu thẳm trong nội tâm các con, cái cảm giác muốn người khác ngắm nhìn mình, một loại cảm giác khiến con thấy rất tự hào rằng: “Bởi vì hôm nay tôi mặc bộ đồ này rất đắt tiền, rất đẹp”, các con có cảm giác này không? Lúc đó, trong cảm giác ấy các con không nói ra, cũng không nghĩ đến, nhưng trong sâu thẳm nội tâm các con có hay không? Cái này chính là những thứ nằm trong linh hồn.
Bởi vì tương đối khó, nên Sư phụ lấy thêm một ví dụ đơn giản nữa. Ví dụ khi lạy Phật khấu đầu, các con có thể nói: “Thưa Quán Thế Âm Bồ Tát, con xin loại bỏ tạp niệm, loại bỏ tạp niệm”. Khi miệng các con nói “loại bỏ tạp niệm”, thì tạp niệm trong khoảnh khắc đó biến mất. Nhưng khi tạp niệm biến mất trong khoảnh khắc đó, liệu có còn để lại dấu vết không? Sư phụ hỏi các con, cục tẩy xóa đi vết chữ chì thì có còn hằn lại vết không? “Thưa Quán Thế Âm Bồ Tát, con “không”, con “không”, con không muốn suy nghĩ, không muốn suy nghĩ nữa”. Khi con không muốn nghĩ, thì ba chữ “không muốn nghĩ” đó có phải vẫn là đang nghĩ không? “Thưa Quán Thế Âm Bồ Tát, con nhất định phải sạch sẽ, con nhất định phải sạch sẽ, con không muốn suy nghĩ lung tung”. Khi tạp niệm ập đến, hình ảnh của một ai đó hoặc một sự việc nào đó hiện lên trong tâm trí các con, hoặc khi quỳ trước Bồ Tát niệm Chú Đại Bi, niệm Tâm Kinh, cái ý niệm đó chẳng phải đã đến rồi sao? Khi nó đến, các con nói: “Thưa Quán Thế Âm Bồ Tát, con muốn được sạch sẽ, con muốn được thanh tịnh, con muốn thanh tịnh”. Khi các con muốn thanh tịnh, thì tạm thời dường như là không nghĩ ngợi gì, nhưng thực tế trong sâu thẳm nội tâm các con có nghĩ không, có đang có cái ý niệm đó không? Đây chính là chỗ vi diệu mà Kinh Phật giảng.
Cho nên, những thứ đã tồn tại trong bát thức điền của con, muốn làm cho nó hoàn toàn “vô sở trụ tâm”, rất khó! Vì vậy, hy vọng mọi người học Phật phải thật sự dùng cái tâm để học. Các con từng xuất hiện tâm ích kỷ, các con có thể nói “Tôi không muốn ích kỷ, tôi không muốn ích kỷ”. Nhưng, cho dù lúc đó con nói “tôi không muốn ích kỷ”, Sư phụ hỏi các con, cái bóng đen của tâm ích kỷ đó có còn trong tâm con không? Chắc chắn là còn. Vậy thì phải loại bỏ cái bóng đen này, phải làm cho nó “vô sở trụ tâm”, thì các con mới đạt được sự đại tự tại chân chính. “Vô sở trụ tâm” chính là như vậy. Sư phụ giảng cho mọi người hiểu làm thế nào để lĩnh ngộ Phật pháp, Phật pháp vô cùng trí huệ, hy vọng mọi người nhất định phải tu cho tốt, học cho tốt.
Cuối cùng, Sư phụ muốn kể cho mọi người nghe một câu chuyện, câu chuyện này vô cùng đặc sắc.
Vào thời Hậu Ngụy Nam Bắc triều tại Trung Quốc, trên núi Ngũ Đài ở tỉnh Sơn Tây có ngôi chùa Linh Thứu. Cứ đến tháng ba mùa xuân hàng năm, chùa đều theo thông lệ tổ chức hội Vô Già Trai. Hội Vô Già Trai là gì? Chính là bất luận Pháp sư xuất gia hay đệ tử tục gia chưa xuất gia, bất luận thiện nam tín nữ, già hay trẻ, người giàu hay người nghèo, thậm chí là người ăn xin, trong ngày này đều được đối đãi bằng tâm bình đẳng để cúng dường, cung cấp thức ăn cho họ ăn, để họ được ăn một bữa no nê, bình đẳng bố thí, xem tất cả chúng sinh đều bình đẳng như nhau, biểu thị cho sự bình đẳng của Phật pháp, không có sự phân biệt giữa ta và người. Đây là một ngày kỷ niệm vô cùng tốt đẹp, nên cứ đến tháng ba là mọi người đều đến đó.
Tại buổi trai hội, có một người phụ nữ nghèo khổ bế trên tay hai đứa trẻ nhỏ, phía sau còn có một con chó đi theo. Ngoài những thứ này ra, trên người cô không còn vật gì dư thừa. Cô đến hiện trường hội Vô Già Trai của chùa Linh Thứu, nhưng vẫn chưa đến giờ dùng trai (chưa đến giờ ăn cơm). Cô không một đồng dính túi, lại ngại không dám ăn không, lúc đó bèn nghĩ: “Mình lấy gì để bố thí đây?”, cô liền cắt đi mái tóc của mình để biểu thị chút lòng thành bố thí (ý là cắt tóc xuống và nói “Đây cũng là sự bố thí của tôi”). Cô nói với vị trụ trì trong chùa rằng: “Thưa Sư phụ, con chỉ có mái tóc này để bố thí cúng dường Tam Bảo, xin đừng từ chối ạ”.
Vị Pháp sư nói: “Được rồi, vậy chúng tôi xin nhận. Nữ thí chủ, cô từ đâu tới vậy?”
Nữ thí chủ đột nhiên nói: “Con đến từ nơi con đến”.
Vị trụ trì thấy cô trả lời như vậy, cảm thấy nữ thí chủ này có chút kỳ lạ. Không ngờ người phụ nữ đó liền mở lời yêu cầu: “Thưa Sư phụ, con còn có việc gấp phải đi nơi khác, có thể chia trước một chút thức ăn cho con được không?”.
Mặc dù giờ khai trai chưa đến, nhưng yêu cầu của thí chủ thì không thể từ chối. Vị trụ trì này tên là Pháp Ấn Đại sư, đây là một câu chuyện có thật được lưu truyền từ xưa.
Sau đó, Pháp sư Pháp Ấn nói: “Được thôi”. Ngài rất từ bi, từ bên trong lấy ra ba phần thức ăn, dụng ý giúp người phụ nữ và hai đứa trẻ được ăn một bữa no.
Nhưng sau khi nhận thức ăn, người phụ nữ lại nói: “Thưa Sư phụ, con còn có con chó này nữa, nó cũng cần phải ăn chút gì đó mới được”.
“Ồ, được thôi”. Vị trụ trì không biết làm sao, miễn cưỡng vào trong lấy thêm một ít thức ăn mang ra đưa cho người phụ nữ.
Người phụ nữ lại nói: “Thưa Sư phụ, trong bụng con còn có đứa nhỏ, cũng cần phải chia một ít thức ăn để ăn nữa”.
Lúc này vị trụ trì không nhịn được nữa, giận dữ nói: “Cô đến đây cầu người xuất gia bố thí Trai thực, nhưng cô tham lam vô độ, là đạo lý gì! Đứa trẻ trong bụng cô căn bản còn chưa sinh ra, chẳng lẽ nó cũng có thể ăn được sao? Vậy mà cô lại đòi hỏi hết lần này đến lần khác, khởi tâm tham lam mỹ vị. Vị nữ sĩ này, cô không cảm thấy mình hơi quá đáng sao?”.
Người phụ nữ nghèo khổ bị quở trách, lúc này liền đọc một bài kệ: “Khổ qua liên căn khổ, điềm qua triệt đế điềm. Tam giới vô trước xứ, trí sử A Sư hiềm.” Bài kệ này nói cho mọi người biết: Nếu là khổ qua, thì rễ của nó cũng đắng; nếu là quả dưa ngọt, thì ngay cả cái cuống nối liền cũng ngọt. Nhưng ở trong Tam giới này, không có cách nào giải quyết những vấn đề ấy; “Trí sử A Sư hiềm” nghĩa là có thể khiến cho những người bố thí, những vị Sư phụ sinh lòng chê bai.
Nói xong bài kệ này, đột nhiên cô bay vút lên hư không, thị hiện ra đức tướng của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Lúc này, con chó bên cạnh hóa thành sư tử tọa kỵ dưới tòa, hai đứa trẻ hóa thành hai vị thị giả bên cạnh Ngài. Trong ánh mây phiêu miểu, lúc ẩn lúc hiện, Ngài lại nói tiếp một bài kệ: “Chúng sinh học bình đẳng, tâm tùy vạn cảnh ba. Bách hài câu xả khí, kỳ như ái tăng hà?”
Ý nghĩa là nói cho mọi người biết: Chúng sinh chúng ta liều mạng học tâm bình đẳng, nhưng tâm của chúng ta lại thay đổi theo các cảnh giới của nhân gian. Chúng ta “bách hài câu xả khí” (trăm xương cốt đều buông bỏ), con người chúng ta có đủ loại ý niệm không tốt, tất cả đều phải xả bỏ, huống hồ còn giữ lại yêu và hận làm gì?
Bài kệ này ý nói người học Phật chúng ta phải hiểu về tâm bình đẳng. Hôm nay các con nói muốn bố thí bình đẳng, điều đó không có gì đáng trách, nhưng lại không kiểm soát được sự dao động trong tâm thức của mình. Nhìn thấy người phụ nữ mang thai thì cảm thấy đứa bé trong bụng không nên ăn, cảnh giới của các con đang không ngừng luân chuyển. Mặc dù biết rõ phải buông bỏ cái thân xác bên ngoài, bố thí vật phẩm cho người khác, là để cái tâm của mình có thể bố thí cho người, nhưng trong tâm con người chúng ta vẫn còn ẩn chứa yêu và ghét, cũng có nghĩa là, bởi vì nhìn thấy cô ấy nghèo, nhìn thấy cô ấy dắt theo hai đứa con và một con chó, bèn khởi tâm sân hận. Ý của Bồ Tát là: Như vậy thì làm sao có thể nhập đạo được?
Lúc đó có hơn một ngàn người tham dự buổi Trai hội, tận mắt chứng kiến thánh tích của Văn Thù Bồ Tát, lắng nghe bài kệ cảnh thị (cảnh báo và thị hiện) của Đại Sĩ, tất cả mọi người đều quỳ xuống, ngấn lệ khóc, hướng lên không trung đảnh lễ và nói: “Thưa Đại Sĩ, cúi xin Ngài chỉ dạy pháp môn bình đẳng chân chính, để chúng con một lòng phụng hành!”.
Từ không trung lại vọng xuống bài kệ của Bồ Tát: “Trì tâm như đại địa, diệc như thủy hỏa phong, vô nhị vô phân biệt, cứu cánh như hư không.” Điều này dạy chúng ta: “Trì tâm như đại địa” – chúng ta sống trên thế gian này phải biết bố thí tâm bình đẳng, phải có tấm lòng bao dung như trời đất để đối đãi với người và sự việc. “Diệc như thủy hỏa phong” – nước, lửa, gió đều giống nhau, đều sẽ diệt độ, đều sẽ không còn; cho nên “Vô nhị vô phân biệt” – bất kể hôm nay là nước cũng vậy, lửa cũng vậy, gió cũng vậy, nó đều sẽ mất đi, cho nên không có hai, không có phân biệt. “Cứu cánh như hư không” – đến tận cùng rồi thì chính là hư không vô tánh, đến cuối cùng tất cả đều là vô tánh.
Lúc này, vị trụ trì oán trách bản thân mình có mắt mà không nhận ra Phật thật. Để bày tỏ tâm sám hối chuộc tội vì đã báng bổ Bồ Tát, ông liền chạy xuống bếp lấy một con dao, định tự móc mắt mình. Bởi ông cảm thấy mình có mắt không tròng (có mắt như mù), Bồ Tát đến mà cũng không biết.
Rất nhiều đệ tử và cư sĩ bên cạnh nói: “Sư phụ, thầy không thể làm như vậy!”.
“Đúng vậy, thưa Sư phụ, làm như vậy cũng không cứu vãn được gì, đây cũng là một việc làm dại dột!”.
“Cách chuộc tội có rất nhiều, hà tất phải dùng đến hạ sách này?”. Mọi người kẻ một câu người một lời, giật lấy con dao trong tay vị trụ trì. Vị trụ trì bèn từ bỏ ý định ban đầu, dùng mái tóc mà người phụ nữ nghèo (chính là Văn Thù Bồ Tát) đã bố thí, xây dựng một tòa bảo tháp cúng dường.
Vào đầu thời Vạn Lịch, Pháp sư Viên Quảng tiếp nhận chức trụ trì, để tu sửa lại bảo tháp, ông đã đào được ở dưới tháp vài bó Thánh Phát của Đại Sĩ (giống như ở Sri Lanka có chùa Phật Nha, rất nhiều bảo tháp đều thờ tóc hoặc xá lợi răng của Đức Phật). Màu sắc tóc (tóc của Văn Thù Bồ Tát) giống như màu vàng kim, nhưng nhìn kỹ lại, thì màu sắc biến hóa không định. Tòa bảo tháp này hiện nay nằm ở phía đông của Đại Tháp Tự viện, đây là di tích cổ văn vẫn còn được lưu giữ tại chùa Linh Thứu.
Câu chuyện này nói cho chúng ta biết, con người miệng nói muốn có tâm bình đẳng, nhưng trong lòng vẫn không bình đẳng. Chúng ta phải hiểu rằng, sống trên thế giới này, làm sao để trong tâm mình sinh khởi sự bình đẳng chân chính. Chúng ta phải yêu thương mẹ của mình, và càng phải kính yêu Quán Thế Âm Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát… cùng chư vị Bồ Tát, giống như khi chúng ta còn nhỏ luôn nhớ nhung mẹ vậy. Niệm niệm nhớ về Quán Thế Âm, niệm niệm nhớ về chư vị Bồ Tát, tự nhiên sẽ dập tắt được “Tam độc” Tham – Sân – Si trong tâm mình. Chỉ có người không có trí huệ mới mãi mãi ghi hận người khác. Vì vậy Sư phụ nói với các con: Nếu từ trên thân người khác mà có thể nhìn thấy cái bóng của chính mình, đó là trí huệ; nếu từ trên thân người khác mà có thể rút ra bài học giáo huấn, đó là một bậc trí giả.
Trí huệ, chính là chuyện gì cũng có cách giải quyết, điềm tĩnh, hài hước, và bình tĩnh để xử lý. Tu tâm chính là tu sự giác ngộ trong tâm. “Giác” là bản tánh của con, “Ngộ” là chánh năng lượng của bản thân con, dùng chánh năng lượng của mình để giác bản tánh của mình, chính là đang đi trên con đường Phật đạo. Dùng tâm quán chiếu những tật xấu của mình, các con mới có thể chiếu kiến ngũ uẩn giai không. Sự “quán chiếu” này chính là soi thấy, nhờ vậy các con mới sửa đổi được những tật xấu nhân gian, mới có thể buông xả, mới có thể giải thoát. Hãy nhớ rằng, giải thoát chính là giác ngộ.
Được rồi, bài giảng《Bạch thoại Phật pháp》 hôm nay nói đến đây. Hẹn gặp lại quý vị trong chương trình lần sau, cảm ơn mọi người.
69. Thực tướng chân tam giác ngộ hữu đạo
Tập 69
THỰC TƯỚNG CHÂN TÂM GIÁC NGỘ HỮU ĐẠO
(16/05/2020)
Chào quý vị, hôm nay Sư phụ tiếp tục giảng về 《Bạch Thoại Phật Pháp》 cho đại chúng.
Lần trước Sư phụ đã giảng cho quý vị về câu “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”, hôm nay Sư phụ sẽ tiếp tục giải thích thêm một chút. Câu này nằm trong 《Kinh Kim Cang》, là câu nói từ sự ngộ đạo của Lục Tổ. Thực ra, câu nói này vô cùng ý nghĩa. Trước hết, chúng ta cần hiểu “Vân hà sinh tâm”, nghĩa là tại sao con người lại sinh khởi ra nhiều tâm niệm như vậy. Bởi vì mỗi chúng ta khi gặp chuyện liền sinh ra rất nhiều loại tâm, ví dụ như tâm ích kỷ, tâm tham, tâm đố kỵ, tâm hận… “Vân hà sinh tâm”, tại sao lại sinh ra những loại tâm này? Bởi vì con người chúng ta vốn dĩ đã có “Diệu minh chân tâm”, tức là trong cửu thức điền của chúng ta đã có sẵn chân tâm nguyên thủy, đó chính là bản tánh “Chân như thực tướng” – cái tâm lương thiện từ bi. Những thứ này đều là tâm tốt, nhưng vì chúng ta ở trong hồng trần nhân gian quá lâu, đã che lấp mất bản tính và lương tâm, cho nên mới sinh khởi nhiều loại tâm không nên có. Trong khi đó, những tâm niệm lẽ ra nên sinh khởi như tâm bi nguyện, tâm Bồ Tát, tâm Bồ Đề, tâm từ bi, tâm bình đẳng và tâm “lợi tha vô ngã” (làm lợi cho người, không vì mình), tất cả những tâm tốt đẹp này đều không tìm thấy. Đây chính là lý do tại sao con người ngày càng đi xuống dốc. Hễ gặp chuyện gì, trước tiên người ta chỉ nghĩ đến “tôi”, “bản thân tôi”, “tôi cần”, chứ không hề nghĩ đến việc giúp đỡ người khác.
Bồ Tát dạy chúng ta “như thị đẳng tâm” – tất cả những tâm tốt đẹp, cũng đều phải “vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”. Ngay cả là tâm tốt, một khi đã nghĩ qua rồi, thì đừng để trụ lại trong lòng; những đồ tốt đẹp, dùng xong rồi thì đừng mãi “quái ngại” (vướng bận), đừng mãi ghi nhớ trong tâm mình. Rất nhiều việc quý vị giúp người khác, quý vị không ghi nhớ trong lòng, hoặc quý vị từng tặng người khác rất nhiều đồ vật, từng nuôi nấng họ khôn lớn hoặc đối xử rất tốt với họ, giống như những tâm lương thiện này, thực ra chính là chân tâm và tâm thanh tịnh của quý vị, là Phật tâm của quý vị, bởi vì quý vị vô sở trụ, quý vị quên đi những lần đã giúp đỡ người khác, không còn cảm giác mình đang sở hữu những tâm đó nữa. Nói cho cùng, giúp người rồi thì phải quên đi, đối tốt với người ta rồi thì phải quên đi. Tại sao chúng sinh lại sinh ra nhiều tâm tham, tâm chấp trước, tâm cống cao ngã mạn như vậy? Tại sao lại có tâm phân biệt, cho đến tám vạn bốn ngàn tâm phiền não? Đó chính là vì chúng ta cứ đem những cái tâm đã dùng qua đó lưu giữ lại trong tâm. Thời gian lâu dần, “đây là tâm của tôi”, “đây là mối hận của tôi”, “đây là sự đố kỵ của tôi”… Dần dần vì quý vị lưu giữ quá nhiều loại tâm, khiến quý vị sinh khởi thêm càng nhiều tâm khác nữa, thế là vọng tâm bắt đầu sinh khởi rồi, nghiệp thức tâm bắt đầu sinh khởi rồi, tâm bình đẳng sẽ không còn tìm thấy nữa. Cho nên tất cả đều là “vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”. Chúng ta chỉ cần mang bất kỳ cái tâm nhân gian nào lưu trữ trong tâm thanh tịnh của chính mình, thì chân tâm của quý vị sẽ không bị ô nhiễm, đó chính là Phật tâm thường trụ. Tất cả tâm mà chúng sanh sinh khởi đều là tâm tham, tâm chấp trước, tâm cống cao ngã mạn, còn có tâm phân biệt, những vọng tâm và nghiệp thức tâm này (Nghiệp ở đây là nghiệp của nghiệp chướng, vì nghiệp chướng ngăn trở ý thức, loại tâm thái được sinh ra này gọi là nghiệp thức tâm), cũng chính là tâm của chúng sinh.
Trong kinh Phật có giảng “Sở dĩ giả hà?” (Tại sao lại như vậy?). Tại sao chúng sinh làm gì cũng chấp tướng, việc gì cũng muốn đi sâu vào? “Tôi từng đối tốt với bạn, tôi từng tốt với bạn hai ba lần rồi, tại sao bạn lại đối xử với tôi như vậy?” – Chấp tướng rồi. “Tại sao tôi tu thế này mà vẫn chưa tốt? Thưa Bồ Tát, con ngày nào cũng khấu đầu, sao vẫn chưa được ạ?” Bởi vì “Tướng đa, cố tâm diệc đa”, nghĩa là hôm nay quý vị chấp tướng càng nhiều thì quý vị càng sinh ra nhiều tâm. Hôm nay nhìn người này, người kia, cảm giác không giống nhau: Cảm thấy người này rất tốt, sinh ra tâm hoan hỷ; cảm thấy rất ghét người kia, sinh ra tâm sân hận; hôm nay thấy cô ấy giàu hơn mình, xinh đẹp hơn, lại sinh khởi tâm đố kỵ… Bởi vì từ “tướng” sinh ra “tâm”, tâm nhiều thì không thể thanh tịnh. Vì vậy, khi học Phật, chúng ta thường có một câu nói: “Con người bạn đa tâm quá” – là bởi vì quý vị suy nghĩ quá nhiều, nên tâm không thanh tịnh, vậy thì đương nhiên trong học Phật sẽ không thể ngộ ra thực tướng chân tâm, quý vị không thể hiểu thế nào là thực tướng. Cho nên người học Phật cần “dục ngộ thực tướng chân tâm” (“Chân tâm” chính là cái tâm chân thật của quý vị), chính là Sư phụ bảo quý vị không được nói dối, quý vị mới nói được lời thật lòng; hôm nay quý vị nói dối, quý vị có thể nói ra lời chân tâm không? “Thực tướng chân như”, tâm không thanh tịnh thì mọi thứ đều không đạt được chân tướng, cho nên phải buông bỏ tất cả, thì tất cả đều không trụ. Hôm nay quý vị có đối xử với người ta tốt hay không – một cái tâm này cũng không nên có; hôm nay quý vị cảm thấy người ta có đáng ghét hay không – đừng nên có. Giống như Sư phụ hôm nay bất kể nhìn thấy ai, đều cảm thấy họ đang học Phật, họ có bản tánh, họ là người “chân tâm tự kiến” (người có thể tự nhìn thấy bản tánh). Quý vị dùng cảnh giới này để nhìn tất cả mọi người, quý vị sẽ không thấy ai đáng ghét, quý vị sẽ tự thấy được đạo tâm.
Phật đạo, học Phật có đạo lý, học Phật có một con đường, không phải học loạn, nhiều người tưởng rằng cứ niệm kinh là mình đang học Phật. Phật đạo Phật đạo, Phật có một con đường. Quý vị đi trên con đường chính đạo này sẽ có thể tìm thấy Phật; quý vị rời xa con đường của Phật, sẽ không tìm thấy Phật thật sự, có thể sẽ đi lệch. Cho nên “Đạo từ tâm sinh”, Đạo từ đâu mà đến? Từ nội tâm sinh ra. “Tâm do Đạo kiến”, tâm của quý vị đặt trên con đường Phật đạo thì mới nhìn thấy lương tâm và bản tính chân thật. Suy cho cùng, chính là chữ “Đạo”, chữ “Phật”, chữ “Giác”, chữ “Ngộ”, là một sự kì diệu không thể tả. Hiểu rồi thì quý vị tìm thấy con đường này; khi quý vị không thể hiểu, quý vị sẽ rời xa Phật đạo. Bất luận làm việc gì, lời nói và hành vi của quý vị, nếu quý vị có thể thấu hiểu, quý vị sẽ đắc được Phật, sẽ có thể phán đoán. Nếu trong lòng quý vị đang làm một việc gì đó mà trong tâm không tìm thấy lối đi, thì con đường của quý vị đã tuyệt, đã mất rồi; không tìm thấy Phật Pháp thì đường cũng không còn. Phật đạo vi diệu, người mới học hoàn toàn không biết lĩnh ngộ chân như thực tướng của Phật Pháp, bởi vì họ không tìm thấy Phật đạo. Bất luận làm việc gì, “ngôn” và “hành” (ngôn ngữ và hành vi) của quý vị, nếu quý vị có thể thấu hiểu, quý vị sẽ đắc được Phật, sẽ có thể phán đoán. Nếu trong lòng quý vị đang làm một việc gì đó mà trong tâm không tìm thấy lối đi, thì con đường của quý vị đã bị cắt đứt, đã mất rồi; không tìm thấy Phật Pháp, thì đường cũng không còn. Phật đạo vi diệu, người mới học hoàn toàn không biết lĩnh ngộ chân như thực tướng của Phật Pháp, bởi vì họ không tìm thấy Phật đạo.
Phật muốn chúng sinh lĩnh ngộ “thực tướng vô tướng”, nên Phật đã giảng với mọi người rằng: Thế giới này tất cả đều là không vô, các vị đừng vì một chút lợi ích nhân gian, vì danh lợi mà tranh cãi, bởi vì thế giới này bề ngoài nhìn là thực tướng, nhưng thực tế là vô tướng, là không có gì cả. Hôm nay nếu quý vị không có ý niệm sẽ suy nghĩ, thì quý vị chính là chân tâm, cho nên gọi là “ly niệm tức là chân tâm”. Quý vị có ý niệm, thì tâm quý vị sẽ có chỗ trụ; nếu hôm nay quý vị không có ý niệm, tâm vô sở trụ. Vì vậy, Phật Pháp chân chính là một sự thấu hiểu, một sự khai ngộ. Đức Phật muốn chúng sinh lĩnh ngộ sự huyền diệu của Phật Pháp, chính là dạy chúng ta phương pháp sinh khởi tâm: Chúng ta phải sinh khởi Phật tâm, phải sinh khởi tâm từ bi, đó mới gọi là chính đạo. Nếu hôm nay quý vị sinh ra những tâm hèn hạ như tham lam, sân hận, ngu si, và còn để những tâm này trú ngụ trong lòng mình, thì quý vị sẽ vĩnh viễn không tìm thấy Phật đạo. Cần phải hiểu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”, nghĩa là bất luận làm việc gì (dù tốt hay xấu), tâm niệm của tôi sinh ra thì tôi phải quên nó đi, đừng đặt nó ở trong lòng. Thử nghĩ xem, hồi trẻ quý vị làm sai chuyện gì, bây giờ Sư phụ nhắc lại quý vị từng như thế nào, như thế nào, quý vị lập tức rơi nước mắt, bởi vì nó trú ngụ trong tâm quý vị nên mới sinh ra cái tâm đó.
Bồ Tát dạy chúng ta “ưng vô sở trụ”, những chuyện xấu, chuyện tốt đều là quá khứ, đừng để trong lòng, thì “vô sở trụ tâm”. Hai câu này, “ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ tâm”, bề ngoài nhìn thì có vẻ như là bảo quý vị đừng có tâm, nhưng câu sau “nhi sinh kỳ tâm”, lại là phải sinh ra cái tâm đó. Vậy rốt cuộc là sinh ra tâm gì? Trông có vẻ mâu thuẫn, nhưng thực ra là bảo quý vị: Hôm nay tôi có tâm khởi lên, nhưng tôi không trụ nó trong lòng, tôi coi như không có cái tâm này; không có tâm rồi lại sẽ sinh ra tâm; dù sinh ra tâm, nhưng tôi không trụ trong lòng, điều này có phải cũng giống như thời gian đã trôi qua, là không còn nữa không? Thử nghĩ xem, nỗi đau khổ của chúng ta chính là do hồi ức, do trí nhớ, nếu quý vị “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”, quý vị sẽ không đau khổ nữa. Vậy tại sao tâm của quý vị lại sinh ra? Bởi vì tâm nhất định sẽ sinh ra. Cho nên, đằng nào cũng sinh khởi cái tâm ấy, Bồ Tát dạy chúng ta nhất định phải “ưng vô sở trụ”. Đảo ngược hai câu này có nghĩa là: Quý vị nhất định sẽ sinh ra tâm, cho nên quý vị cần phải vô sở trụ tâm. Đây chính là chỗ huyền diệu của Phật Pháp.
Trong 《Kinh Kim Cang》 có câu “Vân hà ứng trụ, vân hà hàng phục kỳ tâm”, nghĩa là muốn đạt đến cảnh giới của Bát Nhã Bồ Tát, quý vị nên hàng phục tâm mình như thế nào? Chính là quý vị nên đặt cái tâm này ở cảnh giới nào, làm sao hàng phục những tâm vọng tưởng này? Sư phụ lấy ví dụ đơn giản, hôm nay quý vị cãi nhau với người ta, nếu cảnh giới thấp, quý vị sẽ để cái tâm đó trụ ở nỗi sân hận sâu thẳm trong lòng. Bởi vì cãi nhau xong quý vị hận người ta, không muốn làm hòa nữa, rất buồn bã, quý vị chính là đang đặt cái tâm này trụ trong sự sân hận, chính là cái cảnh giới này. Vậy làm sao hàng phục những vọng tưởng này? Cũng chính là bảo mọi người “ưng như thị trụ”, hãy thực sự cầu thị, việc này qua rồi, bản thân chúng ta chưa đủ cảnh giới này, chúng ta làm sai, hoặc đã có được, đã mất đi, tất cả đều là “như thị” – vốn dĩ nó là như vậy. Nghĩ thật kỹ, trên thế gian này tất cả những gì nên xảy ra sẽ xảy ra, không nên xảy ra sẽ không xảy ra, tất cả đều là duyên phận.
“Ưng như thị trụ, như thị hàng phục kỳ tâm”, nghĩa là thế giới này tất cả đều là bình thường, xuất hiện cũng là bình thường, xảy ra cũng là bình thường, giải quyết xong cũng là bình thường, dùng điều đó để hàng phục cái tâm này của mình, như vậy quý vị sẽ an trụ được tâm mình. Bề ngoài thoạt nhìn, câu trả lời của Đức Phật trong Kinh Kim Cang dường như là không có câu trả lời, nhưng thực tế trong tâm Đức Phật sớm đã “không” (trống rỗng) rồi, Ngài không có ý niệm. Khi đệ tử hỏi, ý niệm của Phật Đà sớm đã trống rỗng rồi, nên Đức Phật sau đó mới giảng một câu pháp môn tiện lợi, đó là “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”. Nghĩa là tất cả các tâm của quý vị đều đừng để trụ lại trong lòng, lúc này cái tâm quý vị sinh ra có phải là tâm sạch sẽ không? Lấy ví dụ đơn giản, hôm nay quý vị vừa cãi nhau với người ta, nếu quý vị đem niệm hận, đem những ý nghĩ người ta vừa nói xấu quý vị, đối xử không tốt với quý vị, cùng tất cả những lời tổn thương trong quá khứ và hiện tại, tất cả đều không để trụ lại trong lòng, quên hết đi, lúc này quý vị cảm thấy: “Khi tôi đang nói chuyện khác với bạn, không có việc gì khác trụ ở trong lòng tôi”, cái tâm cuối cùng quý vị sinh ra chính là cái tâm đang hiện hành, là tâm “như thị”, sẽ không mang theo thành kiến. Tại sao nhiều người lại có thành kiến? Vì họ để cái tâm quá khứ trụ lại trong lòng, nên họ nhìn người khác mới có thành kiến. Cho nên mỗi một ý niệm đều không được dừng lại trong tâm quý vị – gọi là “vô sở trụ tâm”, tự nhiên sẽ hành vân lưu thủy (như nước chảy mây trôi).
“Tiền niệm dĩ diệt”, niệm phía trước đã diệt độ rồi; “Hậu niệm bất sinh”, chính là bảo chúng ta, niệm trước đã diệt rồi, phía sau đừng sinh khởi đủ loại niệm khác nữa. Bây giờ Sư phụ đem những câu kinh văn quan trọng trong Kinh Kim Cang làm nền tảng trước cho mọi người, sau này giảng kinh văn, mọi người sẽ có thể hiểu được. Chính là bảo mọi người, một ý niệm sinh ra rồi phải diệt nó đi, quý vị không trụ vào tâm nữa; niệm sau quý vị lại không sinh khởi, thì quý vị sẽ sạch sẽ. Sư phụ rất thích lấy gia đình làm ví dụ, người chồng vừa nói một câu rất đáng ghét, người vợ nhìn thấy ông ấy liền cảm thấy ghét, nếu bà ấy quên đi câu nói đáng ghét ông ấy vừa nói – tiền niệm dĩ diệt, hết rồi; sau đó tiếp theo “hậu niệm bất sinh”. Nghĩa là, câu nói đáng ghét vừa rồi đã diệt độ, không còn nữa, giống như chưa nghe thấy, thì sẽ không sinh khởi niệm chán ghét tiếp theo với ông ấy, có phải là hậu niệm bất sinh không? Cho nên “hành vân lưu thủy, đương thể tức không” (như nước chảy mây trôi, ngay tại đó là không), ngay lập tức, ngay lúc đó, trong tâm quý vị không có tâm sân hận, không có tâm phiền não, tất cả đều sao cũng được, thì quý vị “không” rồi. Cho nên đừng đi dụng tâm.
Cũng ví dụ đó, nếu người chồng vừa nói câu đáng ghét, quý vị vẫn nhớ, giữ trong lòng, rồi quý vị lại muốn diệt độ nó, quý vị bắt buộc phải dụng tâm để cầu cái “không”. Nghĩa là, quý vị phải dùng tâm để diệt độ câu mắng vừa rồi, lúc này, quý vị đang trú ngụ trong tâm của chính mình rồi. “Vừa nãy ông ấy mắng mình à? Thôi bỏ đi, đừng chấp nữa, ông ấy là người như thế mà, suốt ngày đáng ghét, thôi bỏ đi, mình kiềm chế một chút vậy…” Con nghĩ xem, con dùng tâm cầu không, con dùng tâm muốn việc này không trụ trong lòng, thực tế vẫn là “nhân tâm nhi sinh tâm” (vì tâm mà sinh tâm). Cho nên, điều kỳ diệu trong lời Bồ Tát nói là “Nhi sinh kỳ tâm” – “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”. Quý vị quên hết những lời mắng chửi trước đó, cái tâm quý vị sinh ra tiếp theo có phải là tâm sạch sẽ không? Cũng giống như trước mặt có chậu nước bẩn, quý vị đổ đi rồi, nước hứng tiếp theo có phải là nước sạch không? Nếu chậu nước bẩn trước đó chưa đổ sạch, quý vị bảo “Ồ, thật đáng ghét, tôi sẽ đổ nó đi”. Cái trước là thuận tay đổ đi ngay, còn cái này là “Ồ, thật đáng ghét, tôi thấy nó bẩn rồi”, sau đó mới đổ đi, lúc này quý vị muốn sinh ra cái tâm sạch sẽ, thì cái tâm này đã không còn là tâm “đương thể tức không” nữa rồi. Vì thế, bất kỳ một vọng niệm nào sinh ra, chúng ta không thể để nó trụ lại trong bản tính tự tánh. Khi ý niệm của một người phát ra là không tốt, phải tiêu trừ nó đi; nếu không thể tiêu trừ ý niệm này, thì không thể làm được “như như bất động”.
70. Như Như Bất Động Tâm Tự Hạo Nhiên
Tập 70
NHƯ NHƯ BẤT ĐỘNG TÂM TỰ HẠO NHIÊN
(16/05/2020)
Phật Pháp là trí huệ, không chỉ đơn thuần là tụng kinh, tọa thiền, khấu đầu, đó là một cảnh giới. “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”, chữ “Ưng” này, thực ra chính là một phương pháp luận — quý vị nên, bắt buộc phải làm. Nói theo bản thể luận, nghĩa là vốn không có chỗ trụ mà sinh cái tâm ấy: Nếu một người vốn dĩ đã không để tâm trụ vào bất cứ điều gì, tâm trống rỗng, quý vị vô sở trụ, thì dù thế nào đi nữa, quý vị cũng hoàn toàn trống không, sẽ không sinh khởi ra cái tâm nào cả. Quý vị sẽ không sinh ra tâm tham, sân, si, mạn, bởi vì quý vị không có tâm này. Giống như rất nhiều người thường nói: “Cái người này sao vô tâm vô tính thế, người ta nói với quý vị cả buổi trời mà sao quý vị chẳng nhớ gì cả?” Nhìn từ một góc độ khác, chính là nói cho quý vị biết, xét về bản thể luận, quý vị đã “vô sở trụ tâm” (tâm không chỗ vướng mắc) rồi.
Đức Phật về sau có giảng “Tâm quá khứ bất khả đắc”, đó cũng chính là “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”. Chính là để nói cho quý vị biết, quý vị đã không có chỗ trụ tâm, vậy cái tâm quá khứ còn cần nắm giữ nữa không? Những chuyện đã xảy ra trong quá khứ, còn cần phải nhớ lại nữa không? “Tâm hiện tại bất khả đắc”, hiện tại quý vị học Phật rồi, nên buông xuống đi, không nên vì những chuyện nhân gian vụn vặt, phức tạp trong cuộc sống hiện tại mà sinh ra tâm sân hận, tâm tham, tâm phiền não nữa, cho nên hiện tại cũng không thể nắm giữ. Đức Phật lại dạy chúng ta “Tâm tương lai bất khả đắc”, tương lai còn chưa xảy ra, tại sao quý vị lại phải sinh khởi nó trong tâm? Chuyện này còn chưa xảy ra, hơn nữa cũng không biết sẽ xảy ra như thế nào, quý vị để trong lòng làm gì? Cho nên nói cho cùng chính là bảo quý vị “ưng vô sở trụ”, đừng để tâm vướng mắc. Tại sao nhiều người lại phiền não? Vì quá đa tâm. Rất nhiều người tâm quá cứng rắn, tâm quá đố kỵ, lại có rất nhiều người tâm quá mềm yếu, hoặc tâm quá dơ bẩn, tất cả đều là từ tâm phát ra. Cho nên Bồ Tát bảo quý vị vô sở trụ, chính là đem những thứ đó quét sạch hết, quét cho thật sạch. Quét sạch xong thì tâm có xuất hiện nữa không? Tâm vẫn sẽ xuất hiện, cho nên gọi là “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”, cái “kỳ tâm” sinh ra lúc đó, mới là sạch sẽ.
“Tâm quá khứ bất khả đắc, tâm hiện tại bất khả đắc, tâm tương lai bất khả đắc”, biết được tâm quá khứ không thể nắm bắt, thì tâm hiện tại của quý vị đương nhiên cũng không thể nắm bắt được rồi. Ngay cả những chuyện đã làm trong quá khứ đều phải quên đi, thì hiện tại có cái gì có thể đạt được cơ chứ? Tâm hiện tại của quý vị đã quên đi, việc hiện tại quý vị làm còn chưa xong, làm sao lại đi lo lắng cho chuyện tương lai? Rất nhiều người quỳ trước mặt Bồ Tát suốt ngày cầu xin chuyện tương lai: “Thưa Bồ Tát, xin cho con của con sau này lớn lên có thể thi cử đỗ đạt, học hành có thành tích”. Quý vị bảo đứa trẻ tu tâm học Phật, niệm kinh cho tốt, thì có thể không tốt được sao? Rất nhiều người hỏi Sư phụ: “Sư phụ, Ngài xem giúp con xem con của con sau này lớn lên có thể tìm được bạn gái để kết hôn không?” Đây chẳng phải là quý vị đang ôm giữ cái tâm tương lai sao? Cho nên tất cả đều không nên cầu, tất cả mọi cái tâm đều đừng nên trụ — trụ vào trong tâm của quý vị, bởi vì nó là thì hiện tại, tương lai và quá khứ, sẽ không thể cản trở quý vị trong bất kỳ hoàn cảnh nào, không có lý do gì để khiến quý vị phải đau buồn hay xót xa. “Tự tánh bản không” (Tự tánh vốn là không), tại sao gọi là tự tánh bản không? Vốn dĩ là không có gì, đó là do tâm quý vị sinh ra, cuối cùng chính quý vị lại diệt độ nó, tâm của quý vị, bản tánh của quý vị vẫn là sự trống không.
Thiền môn giảng tâm pháp. Rất nhiều người nói, giảng đi giảng lại, tâm pháp mà Thiền tông giảng chung quy chỉ là một chữ “Tâm”. Nhiều người trong chúng ta chuyện này muốn quản, chuyện kia muốn quản, không quản cũng muốn quản, quản rồi vẫn muốn quản, miệng đã nói “Chuyện này tôi không quản nữa”, nhưng ngay sau đó lại hỏi “Chuyện đó thế nào rồi?”. Quý vị nói buông xuống thì nên buông xuống, đã buông xuống rồi, cớ sao còn muốn quản? Nhiều người chúng ta chính là như vậy, lúc bảo: “Bây giờ quý vị đừng quản chuyện này nữa”, liền đáp “Vâng, thưa Sư phụ, con không quản nữa”. Miệng nói không quản, nhưng lại hỏi “Cái chuyện vừa nãy sao rồi? Tôi không quản nữa đâu, nhưng bây giờ họ sao rồi?” Quý vị xem, người đó lại sinh ra tâm rồi, họ không buông xuống được, họ không trống rỗng. Tâm vốn là trống không, họ lại tự tạo ra một cái tâm. “Ngoại tức chư duyên, nội tâm vô suyễn” (Bên ngoài dứt hết các duyên, nội tâm không xao động), nghĩa là gì? “Ngoại tức chư duyên”, là các duyên bên ngoài (tất cả mọi duyên phận) đã ngưng lại, không còn nữa. “Nội tâm vô suyễn”, chính là không xao động. Nhiều người bề ngoài nhìn có vẻ “Tôi mặc kệ rồi”, nhưng thực tế trong nội tâm vẫn đang quan tâm sự việc này. Hiện nay rất nhiều người trẻ tuổi yêu đương, người con trai chia tay cô ấy, kết thúc rồi, cô ấy nói: “Loại người này có chết tôi cũng mặc kệ, liên quan gì đến tôi?” Thế nhưng lại đi hỏi “Này, dạo này anh ta thế nào rồi?” Quý vị xem, cô ấy đâu có buông bỏ được. Đây chính là điều Sư phụ nói với quý vị: Bề ngoài thì “không” rồi, nhưng thực tế lại chẳng “không” chút nào. Bởi vì ý niệm cứ cái này nối tiếp cái kia sinh ra, cảnh giới là do quý vị hết lần này đến lần khác tự tạo ra. Nếu quý vị có thể hiểu được “Tự tánh bản lai không, niệm niệm bất đình lưu” (Tự tánh vốn dĩ là không, mọi ý niệm đều không thể lưu giữ), quý vị biết tất cả mọi ý niệm đều không thể giữ lại được, vậy đi giữ nó để làm gì?
Trong Phật Pháp, rất nhiều người thường tranh luận vì những lý luận Phật học: Rốt cuộc là “không” hay “không phải là không”. Khi quý vị đi tranh luận, thực ra quý vị vẫn chưa “không”, bởi vì quý vị muốn tranh biện cho ra một đạo lý, muốn biện luận ra một chân lý. Thực chất là quý vị đang rơi vào một cái vỏ “Không”, “Tôi muốn đạt được cái Không này”, nhưng quý vị lại rơi vào trong một cái “Không” hoàn toàn không có tính không.
《Kinh Kim Cang》 là một bộ kinh văn vô cùng khó, Sư phụ cũng chỉ có thể mượn lý luận Phật học để giải thích đôi chút, mong quý vị có thể tiếp thu từ nông đến sâu.
Tiếp theo Sư phụ sẽ giảng cho quý vị về “Đại đạo chí giản” (Đạo lý cao siêu, vĩ đại nhất thường rất đơn giản, mộc mạc). Có một số người thường cho rằng những gì mình nói là đạo lý lớn, cảm thấy mình nói rất đúng, người khác đều sai, luôn cho rằng mình đúng: “Những gì tôi nói là rất có đạo lý, các người nói đều không ra gì đâu”. Câu nói “Đại đạo chí giản” có ý muốn nói với chúng ta: Đạo lý lớn lao thực sự không phải là quý vị đưa ra thật nhiều lý thuyết để chứng minh, mà chỉ cần một hai câu đã có thể khiến người ta liễu ngộ. Ví dụ, hôm nay quý vị thắc mắc: “Tôi là người làm rất nhiều việc tốt, tại sao không có thiện báo?”, “Kẻ kia làm bao nhiêu việc ác, tại sao hắn không bị ác báo?” Sư phụ dùng đạo lý lớn để nói với quý vị, đại đạo có đơn giản không? Quý vị hãy nhớ kỹ: “Không phải không báo, chỉ là thời điểm chưa đến” — hai câu nói, đơn giản vậy thôi. Có người nói: “Tôi không biết giúp anh ấy có đúng hay không, cũng không biết làm chuyện này xong có gây tổn hại cho anh ấy không?” Rất đơn giản, chỉ hai câu: “Chúng thiện phụng hành, chư ác mạc tác” (Vâng làm các việc lành, không làm các việc ác). Cho nên, đạo lý lớn này vô cùng đơn giản. Rất nhiều chuyện trên thế giới này, cái khó là ở chỗ quý vị không biết cách biến chuyện phức tạp thành đơn giản. Rất nhiều chuyện càng tranh luận càng phức tạp, càng làm càng rối tung. Quý vị nhìn xem chuyện trong nhà, chuyện ở trường học, chuyện ở cơ quan… những chuyện phức tạp ngoài xã hội, càng giải quyết càng phức tạp, càng làm càng mịt mù. Con người chúng ta chính là thích phức tạp hóa những việc vốn rất đơn giản.
Tại sao phải học “Đại đạo chí giản”? Bởi vì lời nói, sự giao tiếp giữa người với người, hay những va chạm trong công việc biến thành lừa lọc dối trá, đấu đá tranh giành, tất cả đều đang rời xa sự đơn thuần, rời xa sự thuần khiết. Giữa người với người ngày càng trở nên phức tạp, trong khi đó, “đại đạo chí giản” thực chất mới là trí huệ ở cảnh giới cao nhất. Dùng ngôn ngữ nhân gian mà nói, đó là biểu hiện của sự trưởng thành và trí huệ sâu sắc; trong giới Phật Pháp, đó là lúc cảnh giới đã đạt đến một mức độ nhất định; xét theo tâm lý học, đôi khi sự hoàn mỹ ở nhân gian lại chính là điều đơn giản nhất. Một người không nói lời nào mà chỉ chú tâm làm việc, người này nhất định sẽ thành công, đó chính là sự hoàn mỹ. Rất nhiều người nói cả đời, nhưng cả đời làm việc chẳng thành công; có người thì chẳng nói năng gì, chỉ chú tâm làm thật tốt, một việc rất đơn giản nhưng họ lại thành công. Đơn giản chính là chân lý, người có thể giải quyết những chuyện phức tạp một cách đơn giản, người đó chính là có trí huệ. Trong thực tế, một việc rất đỗi bình thường, chúng ta lại liều mạng làm cho nó rối tung lên, càng làm càng rắc rối. “Hậu tích bạc phát” (chỉ việc tích lũy lâu dài, chuẩn bị kỹ càng trong thời gian dài, đến một lúc thích hợp sẽ bộc lộ và đạt được thành tựu lớn) chính là sức mạnh của sự đơn giản. Chỉ cần hai câu nói là có thể làm rõ tình huống, có thể khiến người khác thấu hiểu, chứng tỏ quý vị là người có trình độ. Quý vị cứ thử nhìn một học sinh tiểu học, một học sinh trung học, một sinh viên đại học, khi họ muốn giải một đề bài hay giải thích một chuyện gì đó, họ không ngừng tìm đủ mọi lý do, mọi căn cứ, lôi đủ thứ chuyện ra để quý vị hiểu; nhưng một vị giáo sư bước đến, hai câu là giải quyết xong. Không biết quý vị có cảm nhận được không, khi nói chuyện với luật sư, quý vị thao thao bất tuyệt kể lể đối phương tồi tệ ra sao, “anh ta đáng lẽ phải thế này thế kia”, nhưng luật sư chỉ cần chốt lại với hai câu như: “Tên này chính là đang lừa đảo, nhục mạ quý vị, phỉ báng quý vị”,chỉ với vài từ luật sư đã có thể miêu tả rõ sự việc. Cho nên, Sư phụ muốn nói với quý vị: Đơn giản sẽ tạo ra sức mạnh, càng phức tạp càng yếu ớt. Lấy một ví dụ đơn giản, một cây búa giáng xuống sẽ vô cùng có sức nặng, nhưng nếu quý vị đập nó vụn ra thành vô số chiếc tua-vít, thì khi đập xuống sẽ chẳng còn chút sức mạnh nào.
Phải biết biến chuyện phức tạp thành đơn giản, nhưng nhiều người không biết rằng, những chuyện thoạt nhìn rất đơn giản, thực ra lại không đơn giản chút nào. Ví dụ vợ chồng thường xuyên cãi vã, toàn nói đến những việc vụn vặt cụ thể. Để phân bua đúng sai, hai vợ chồng ai cũng khăng khăng giữ lý lẽ của mình, khiến sự việc càng nói càng phức tạp. Bởi vì trong những tư duy rườm rà đó, con người chúng ta từ lâu đã rời xa trí huệ. Quý vị hãy nhớ kỹ, người đang chìm trong phiền não là người không có trí huệ. Nếu một người hiểu được “Đại đạo chí giản”, người đó có thể nói thẳng với đôi vợ chồng kia: “Bất kể ai đúng ai sai, việc hai người cãi nhau như thế này vốn dĩ đã là sai rồi”, chỉ cần trao cho họ một đạo lý lớn đơn giản như vậy. Dù chuyện có khó khăn đến đâu, quý vị cứ bắt tay từ chỗ đơn giản, tiến hành từng bước một thì mới có thể giải quyết. Bởi vì cả hai vợ chồng đều đang cho rằng mình đúng, một khi họ hiểu được việc hai người tranh cãi, cãi vã là sai, họ sẽ chịu ngồi xuống để đàng hoàng thương lượng. Đơn giản không? “Trước tiên đừng cãi nhau nữa, cãi nhau là sai rồi. Dù cho có cả ngàn vạn lý do đi chăng nữa, thì trước tiên hãy ngồi xuống nói chuyện”, đạo lý lớn đúng không nào? Có phải con người nên giải quyết những vấn đề tưởng chừng phức tạp một cách đơn giản không?
Người thực sự có trí huệ là người có thể làm những việc phức tạp một cách cực kỳ đơn giản. Những việc đơn giản khi quý vị kiên trì lặp đi lặp lại nhiều lần, quý vị sẽ trở thành chuyên gia. Nghe có vẻ rất đơn giản, hôm nay niệm một câu “Nam Mô A Di Đà Phật”, có đơn giản không? Quý vị không ngừng lặp đi lặp lại việc đó, đến cuối cùng quý vị sẽ đến được thế giới Tây Phương Cực Lạc. Việc lặp đi lặp lại thì phải làm một cách thật nghiêm túc. Hôm nay có một việc rất nhỏ là giải quyết phiền não cho chúng sinh, nghe điện thoại (tư vấn), một lúc lại có một cuộc gọi đến, một lúc lại có một cuộc gọi đến, quý vị rất nghiêm túc giải đáp, kiên trì nỗ lực mà làm, quý vị nhất định có thể cứu độ chúng sinh. Trên thế giới này, chỉ cần quý vị kiên trì làm lặp đi lặp lại, và làm một cách tận tâm những chuyện tưởng chừng rất đơn giản đó, quý vị nhất định không có việc gì là không thành công. Học Phật tu tâm phải dựa vào thời gian, rất nhiều người cả đời chỉ niệm “A Di Đà Phật”, vô cùng đơn giản, nhưng tại sao khi họ sắp ra đi lại có Tây Phương Tam Thánh đến tiếp dẫn? Thực ra chính sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” đó, đều phải dựa vào sự tu tập thường ngày của quý vị, nhìn thì đơn giản, nhưng quý vị phải xây dựng nền tảng vững chắc để thực hành cho tốt. “Đại đạo chí giản, ngộ tại thiên thành”. Sự khai ngộ nằm ở chỗ tự nhiên mà thành, bởi vì rồi sẽ có một ngày quý vị sẽ bừng tỉnh khai ngộ. Suy nghĩ đơn giản sẽ tồn tại vĩnh cửu; suy nghĩ mọi việc quá mức phức tạp thì nhân sinh sẽ đầy rẫy chông gai và phiền não.
Sư phụ nói cho quý vị biết, thực ra con người sống trên đời, giống như đang ở giữa một bụi gai. Chúng ta sống trên thế giới này, có đôi lúc giống như đang đi vào lùm cây, đâu đâu cũng là những cành nhánh nhọn hoắt đầy gai góc, đủ loại cành cây chĩa ra, khẽ động một chút là sẽ bị gai đâm, khẽ động một chút là sẽ va vấp cọ xát mà rỉ máu. Đôi khi trong rừng rậm còn có rất nhiều con rắn ẩn nấp, quý vị không động, nó không đến cắn quý vị; nhưng quý vị vừa động đậy, nó trườn tới ngay. Đây chính là muốn nhắc nhở chúng ta: Sống trên thế giới này, đôi lúc chúng ta rất đau khổ rắc rối, nếu quý vị không động, tâm quý vị không động, quý vị sẽ không bị thương tổn; nhưng chỉ cần tâm quý vị động đậy, quý vị sẽ bị thương ngay lập tức. Bởi vì tâm quý vị không động, thì người không vọng động, không động thì sẽ không có thứ gì làm tổn thương quý vị; tâm quý vị vừa động, người liền sinh vọng động, làm tổn thương thân thể, đau đớn đến tận xương tủy, nếm trải muôn vàn thống khổ ở thế gian. Nhiều người đi tham gia một bữa tiệc (party), trong buổi tiệc tình cờ để ý một người nào đó, rất thích, tâm vừa động một cái, là bắt đầu đau khổ rồi, đúng không? Vọng động rồi: “Giá như mình có thể thành đôi với người ta thì tốt biết mấy”, tiếp đó liền ngày đêm nghĩ ngợi, vắt óc suy nghĩ, tìm trăm phương ngàn kế để tiếp cận, đến cuối cùng bị người ta hắt hủi, thế có bị tổn thương không? Có đau lòng thống khổ không? Cho nên rất nhiều chuyện trên thế gian chính là: Quý vị không động, nó sẽ không động. Nhân gian mọi lúc mọi nơi đều giống như khu rừng rậm đầy chông gai, khắp nơi đều ẩn chứa hiểm nguy và cám dỗ. Cám dỗ thì rất nhiều, quý vị chỉ có cách giữ cho mình không khởi vọng tâm, không giữ vọng tưởng, tâm lặng như nước.
71. Nhất niệm trí tức bát nhã
Tập 71
NHẤT NIỆM TRÍ TỨC BÁT NHÃ
(16/05/2020)
Một người tốt không đi tham lam, thì lấy đâu ra phiền não? Muốn cái này, muốn cái kia, muốn đến cuối cùng không có được, thế chẳng phải là sinh ra phiền não rồi sao? Cho nên, muốn bản thân không có phiền não, không đi lệch hướng, thì phải chủ động tránh những rủi ro đó một cách hiệu quả. Có một số người rất có kinh nghiệm, chỉ cần hỏi việc này có rủi ro không, nghe thấy có rủi ro là: “Tôi không làm đâu, thêm một chuyện chi bằng bớt một chuyện”, nhờ vậy họ mới có thể chống lại được sự cám dỗ. Lấy một ví dụ đơn giản, hiện nay rất nhiều người đi vay tiền (vay tiền mua nhà), họ vô cùng đau khổ, tại sao? Vì họ không chịu nổi cám dỗ, “Có thể vay tiền, có thể mua nhà”, sau khi đi vay tiền rồi lại trả không nổi, căn nhà này bị ngân hàng thu hồi, không còn là của họ nữa, họ liền bị đau khổ đeo bám, đó là do họ không chống lại được sự cám dỗ. Cho nên “tâm động tắc vật động, tâm tĩnh tắc vật tĩnh” (tâm động thì vật động, tâm tĩnh thì vật tĩnh). Lấy một ví dụ đơn giản, bộ quần áo đẹp để trong tủ kính, nếu quý vị muốn mua, tâm quý vị vừa động, thì bộ quần áo này liền động — vì quý vị muốn mua nó, nó liền động; nếu tâm quý vị không động, nhìn một cái rồi bước qua, bộ quần áo này vẫn cứ y nguyên nằm ở đó. Việc quý vị muốn mua nó, giá cả của nó chính là ngọn nguồn khiến quý vị động tâm.
Sư phụ nói với quý vị “Nhất niệm ngu tức Bát Nhã tuyệt”: Một ý niệm vô cùng ngu muội khởi lên, thì trí huệ của quý vị sẽ bị đoạn tuyệt; “Nhất niệm trí tức Bát Nhã sinh”: Nếu hôm nay một ý niệm của quý vị có trí huệ, thì Bát Nhã của quý vị liền sinh ra. Hôm nay quý vị rất coi trọng chuyện này, quý vị cho rằng mình đang sở hữu nó, thì nó chính là đang hiện hữu ngay trước mắt quý vị; nếu quý vị cảm thấy chuyện này đối với mình hoàn toàn không đáng bận tâm, hoàn toàn không cho là như vậy, thì nó sẽ không tồn tại trước mắt quý vị nữa. Lấy một ví dụ đơn giản, quý vị thấy căn nhà này đẹp vô cùng, quý vị rất thích, quý vị nhắm trúng rồi, bắt đầu vắt óc nghĩ cách vay tiền, quý vị suy tính rất nhiều, thì tòa nhà này là đang tồn tại; đợi đến khi quý vị nói “Thôi bỏ đi, giá cao thế này, còn rất nhiều nhà khác tốt hơn nó”, quý vị không coi nó ra gì nữa, thì tòa nhà này không còn tồn tại nữa, trong mắt quý vị nó không tồn tại nữa, là kết thúc rồi, không còn nữa. Bất luận chúng ta làm chuyện gì, đôi khi ở trong tâm có, thì là có; ở trong tâm không, thì là không. Rất nhiều vật chất ở nhân gian đều là hư không, ngay cả con người cũng là hư không, chúng ta đến với thế giới này, tất cả đều là hư không. Trên kinh Phật từ lâu đã có lời giải thích, “Sinh không mang đến, chết chẳng mang đi”. Vật gì mang không đi được thì không phải là của quý vị. Quý vị cảm thấy có thể mang đi được không? Mang không đi được, thì đó không phải là của quý vị, cho dù quý vị đã có được thì rồi cũng sẽ mất đi.
“Vọng tâm bất khởi, hằng xứ tịch diệt chi lạc” (Vọng tâm không khởi, hằng ở trong niềm vui tịch diệt). “Vọng tâm bất khởi”, hôm nay quý vị đối với bất kỳ chuyện gì trên thế giới cũng đều không khởi lên tâm tham lam và ý niệm vọng tưởng muốn có được; “Hằng xứ tịch diệt chi lạc”, nghĩa là quý vị luôn luôn ở trong niềm an lạc của sự tịch diệt (chính là một loại bình an, yên tĩnh). Nếu vọng tâm của quý vị vừa động, liền sẽ bị gai góc đâm bị thương, cho nên trên kinh nói “Hữu tâm giai khổ, vô tâm tức lạc” (Có tâm đều khổ, không có tâm mới vui), người học Phật chính là phải quản lý tốt cái tâm này của mình. Cho nên người thực sự học Phật, tu hành tu tâm, tu tâm tu hành, không thể tách rời cái tâm này, vì thế quản lý tốt cái tâm này của mình, để cái tâm này vô quái ngại (không vướng bận), mới có thể đạt đến cảnh giới vô ngã.
Tiếp theo Sư phụ sẽ kể cho quý vị nghe một câu chuyện thời Đức Phật còn tại thế.
Bấy giờ Đức Phật đang ở thành Xá Vệ, tại Lộc Dã Uyển có một vị quốc vương nổi tiếng tên là Phạm Thí. Trong thời gian ông trị vì, quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, trâu ngựa béo khỏe, cả nước bừng bừng sức sống, phồn vinh hưng thịnh, người dân có một cuộc sống an lành.
Không lâu sau, Vương phi mang thai, mười tháng sau hạ sinh một bé gái đoan trang xinh đẹp, trong ngoài hoàng cung đã tổ chức một buổi lễ mừng sinh nhật long trọng cho nàng. Khi chuẩn bị đặt tên cho nàng, vì dòng dõi hoàng gia mang họ Ca Hy, mà nàng lại có vẻ đẹp thiên phú, xinh đẹp phi phàm, cho nên được đặt tên là “Mỹ Nữ Ca Hy”. Quốc vương đặc biệt mời tám vị nhũ mẫu cho nàng, tám vị nhũ mẫu lần lượt phụ trách việc ăn, uống, ngủ, chơi đùa, giải trí… chăm sóc nuôi dưỡng nàng rất tận tình. Vị công chúa này như đóa hoa sen trên biển nhanh chóng khôn lớn. Từ nhỏ nàng đã học tập các loại văn võ lý số, kinh sử thi phú, sinh khởi một lòng tin vô song đối với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (thời xưa nói sinh khởi lòng tin chính là sau khi đọc kinh sách cảm thấy rất hay, vô cùng tôn kính Đức Phật), còn thường xuyên mượn sự giúp đỡ của cha mẹ để cúng dường Tam Bảo Phật Pháp Tăng.
Lúc này, Mỹ Nữ Ca Hy đang ở độ tuổi thanh xuân phơi phới, là một thục nữ yểu điệu, nhan sắc của nàng có thể xưng là đệ nhất thế gian, không ai sánh bằng, đến mức quốc vương của sáu nước xung quanh đều biết đến nàng, đều hy vọng cưới nàng về hoàng cung. Sáu nước liền cử sứ giả đến chỗ Vua Phạm Thi ở Ấn Độ để cầu thân. Vua Phạm Thí nghe xong trong lòng chợt bất an, thầm nghĩ: Mình chỉ có một cô con gái, nếu mình nhận lời một vị quốc vương nào trong số họ, thì năm vị quốc vương kia nhất định sẽ thách thức mình, sẽ gây nguy hiểm cho thần dân cả nước. Ông có chút lo âu, nên đã không nhận lời bất kỳ vị quốc vương nào. Sáu vị quốc vương này đều vô cùng không vui, mỗi người tự thống lĩnh bốn đạo quân lớn tiến về Lộc Dã Uyển, chuẩn bị cướp người.
Một buổi sáng nọ, quốc vương Phạm Thí đột nhiên nghe thấy bên ngoài thành tiếng cờ tung bay phấp phới, xe ngựa tấp nập. Khi ông bước lên tường thành nhìn, trước mắt lại là quân đội của sáu quốc gia. Đột nhiên, ông cảm thấy mọi chuyện thế là xong rồi, trong lòng vô cùng nôn nóng, lê bước chân nặng nhọc, ủ rũ rã rời quay về tầng thượng, ngồi đó chống cằm trầm tư, nghĩ “Phải làm sao đây?” Thật là sốt ruột.
Lúc này Mỹ Nữ Ca Hy đi đến bên cạnh quốc vương Phạm Thí, thấy phụ vương mặt mày sầu não, vội hỏi: “Phụ vương, vì sao người lại tâm sự nặng nề như vậy?”
“Ôi, vì con đó.”
“Vì con ư? Lẽ nào là do nhan sắc của con chưa đủ đẹp?” Nàng còn nói đùa, bảo rằng nhan sắc mình chưa đủ đẹp.
Quốc vương Phạm Thi cười khổ nói: “Con ngoan, không phải vì không đẹp, mà là vì con quá đẹp, sáu nước tranh nhau muốn cưới, ta đều lần lượt từ chối, dẫn đến hôm nay quân đội sáu nước kéo đến áp sát cổng thành, việc này biết làm sao cho ổn?”
Mỹ Nữ Ca Hy suy nghĩ một lát, liền hỏi: “Phụ vương, phụ nữ có quyền tự lựa chọn hôn nhân của mình không?”
Quốc vương sảng khoái trả lời: “Đương nhiên là có quyền tự lựa chọn.”
Mỹ Nữ Ca Hy sau khi được sự cho phép, liền an ủi phụ vương: “Phụ vương, xin người đừng lo lắng, người hãy đi nói với sáu vị quốc vương, con sẽ đích thân kén chọn họ.”
Quốc vương nghe xong những lời này, trong lòng nhẹ nhõm đi rất nhiều, liền cử sáu sứ giả đem việc này báo cho sáu vị quốc vương, xin họ thu binh, đợi thêm vài ngày để chuẩn bị tham gia đợt tuyển chọn. Sáu vị quốc vương lúc này đều kiêu ngạo cho rằng Mỹ Nữ Ca Hy chắc chắn sẽ chọn trúng mình, do đó họ đều không hẹn mà cùng đồng ý lui binh. Sứ giả về báo: “Bẩm quốc vương, sáu nước này toàn bộ đã lui binh rồi.” Quốc vương thầm nghĩ trong lòng: Lần này con gái chắc chắn phải xuất giá làm vương phi rồi, nhưng dù thế nào đi chăng nữa, chỉ cần quốc thái dân an, lòng ta đã mãn nguyện. Sau đó tâm của ông từ từ bình tĩnh lại.
Sáu vị quốc vương ứng cử viên đó tự xây dựng cung điện, mang ra đủ các loại đồ trang sức quý giá, mang theo voi lớn (thời đó voi lớn tượng trưng cho uy vọng của một quốc gia), tài bảo và quyến thuộc, gần như là dốc hết cả gia tài, ngày hôm đó đúng giờ đã có mặt tại Lộc Dã Uyển. Sau khi đến nơi, mỗi người họ chiếm giữ một phương vị, dàn trận riêng biệt, sau đó ngồi trên ngai sư tử, chờ đợi sự xuất hiện của Mỹ Nữ Ca Hy. Mọi người đều nhìn qua nhìn lại nhau, ai nấy đều cảm thấy bản thân mình là tốt nhất.
Mỹ Nữ Ca Hy thực sự đã đến, nàng khoác trên mình những bộ y phục lộng lẫy và trang sức quý giá, cưỡi voi lớn, từ từ đi ra từ cổng thành, bước qua trước mặt mỗi vị quốc vương, cuối cùng chân thành nói với họ: “Thưa các vị quốc vương, tôi không muốn cùng bất kỳ ai trải qua cuộc sống thật thật giả giả ở thế gian này, tôi nguyện đi lễ bái Đức Phật Thích Ca Mâu Ni!” Nói xong nàng quay đầu lại, cưỡi voi rời đi. Sáu vị quốc vương và quyến thuộc nhìn bóng lưng nàng thong thả rời đi, vô cùng thất vọng (bởi vì thời xưa họ rất tôn trọng tôn giáo, Phật giáo, họ vô cùng tôn kính Đức Phật), nhưng lại mơ hồ cảm thấy, một người con gái xinh đẹp như thế này tại sao lại không tham luyến cuộc sống thế gian, lại không muốn hưởng thụ vinh hoa phú quý của đời người, mà lại tình nguyện quy y Đức Phật. Quốc vương Phạm Thí và quyến thuộc cũng nhìn thấy hành động này của công chúa Mỹ Nữ Ca Hy, họ bán tín bán nghi đi theo phía sau Mỹ Nữ Ca Hy, để xem chân tướng ra sao.
Trên đường đi, Mỹ Nữ Ca Hy hễ cưỡi được voi thì cưỡi, không cưỡi được thì đi bộ tiến lên, một hành trình phong trần sương gió, cuối cùng cũng đến được thánh cư của Đức Phật. Sau khi diện kiến Đức Phật, nàng quỳ dưới chân Đức Phật chắp tay, cung kính đảnh lễ, thỉnh cầu: “Bạch Đức Thế Tôn, con nguyện được xuất gia dưới giáo pháp của Ngài, thọ trì tịnh giới, cúi xin Ngài xót thương ân chuẩn!” Đức Phật vui vẻ nhận lời, gọi vị chúng sinh chủ mẫu đến, đích thân giao phó (chúng sinh chủ mẫu chính là vị thủ lĩnh chuyên phụ trách các Tỳ kheo ni, quản lý toàn bộ Tỳ kheo ni). Vị chúng sinh chủ mẫu liền làm lễ cạo đầu xuất gia cho vị công chúa này, thụ Cụ túc giới, truyền thụ Phật Pháp. Vị công chúa này tích lũy tư lương, tinh tấn tu trì, đoạn tận gốc rễ luân hồi trong ba cõi, chứng đắc quả vị La Hán của bậc Thánh giả. Trong cảnh giới của cô, vàng bạc và đất phân đều giống nhau, không có sự phân biệt hơn kém; lòng bàn tay và hư không chẳng có gì khác biệt, sắc không là một. (Sư phụ đã từng kể với quý vị, có một vị vĩ nhân khi lâm chung đã nói với viên thị vệ của mình, đợi sau khi ông ra đi, phải để hai bàn tay của ông ra ngoài cỗ quan tài, cho mọi người cùng nhìn xem, một con người vĩ đại như vậy, khi ra đi cũng là hai bàn tay trắng. Chính là để nói với mọi người: hai bàn tay trắng, dường như đang nắm lấy thứ gì, nhưng cuối cùng tất cả đều phải buông bỏ). Chư thiên xưng tán (chính là thiên thượng đều vô cùng tán thưởng).
Những người đi theo nhìn thấy Mỹ Nữ Ca Hy thực sự đã xuất gia (thời xưa chỉ cần quý vị xuất gia, sẽ không còn vướng bận chuyện hôn nhân nữa, mọi người đều tôn trọng), và đã chứng đắc quả vị, mọi người đều cảm thấy thực sự quá phi thường. Mỹ Nữ Ca Hy lại đến trước mặt Đức Phật lễ tạ, Thế Tôn liền truyền pháp cho những người đi theo đến đó. Lúc này, chúng Tỳ kheo liền hỏi: “Bạch Đức Thế Tôn, vì nhân duyên gì mà Mỹ Nữ Ca Hy lại sinh ra trong gia đình đế vương? Lại vì nhân duyên gì mà cô ấy có tướng mạo đoan trang đến thế? Cô ấy lại vì nhân duyên gì mà sinh khởi lòng tin to lớn đối với giáo pháp của Như Lai? Vì nhân duyên gì mà cô ấy lại mau chóng chứng đắc Thánh quả?”
Đức Phật liền kể cho họ nghe: “Đây là nguyện lực của cô ấy từ đời quá khứ. Từng có thời kỳ ở tiền kiếp khi tuổi thọ con người là hai vạn tuổi, Thiên nhân Đạo sư (hay còn gọi là thiên nhân sư, nghĩa là bậc Thầy của Trời, Người), Như Lai, Bậc Chánh Đẳng Giác Ca Diếp Phật ra đời, ở Lộc Dã Uyển có một vị thí chủ, ông giàu có như Đa Văn Thiên Tử. Con dâu của nhà thí chủ sinh được một bé gái xinh đẹp. Sau khi lớn lên, cô bé đã sinh khởi lòng tin cực lớn đối với Đức Phật Ca Diếp. Nhờ sự giúp sức của cha mẹ, cô đã xây dựng một ngôi kinh đường để cúng dường Đức Phật và chư Tăng. Sau khi được cha mẹ đồng ý, cô đã được xuất gia, cả đời cô nghiêm giữ tịnh giới, tinh tấn văn tư tu hành (nghe, suy ngẫm, tu hành). Trước khi lâm chung, cô phát nguyện: ‘Nguyện cho những công đức bố thí, cúng dường, trì giới, văn tư… của con trong đời này, có thể giúp con đời đời kiếp kiếp sinh vào gia đình phú quý, tướng mạo đoan trang, và được xuất gia chứng quả La Hán trong giáo pháp của Đức Thích Ca Thế Tôn’. Vị Tỳ kheo ni phát nguyện này chính là Mỹ nữ Ca Hy, nhờ nguyện lực từ quá khứ nay đã chín muồi, nên đời này được sinh vào gia đình phú quý, tướng mạo đoan trang, sinh khởi lòng tin đối với Ta, được xuất gia làm ni, chứng đắc Thánh quả.”
Đức Phật kể cho họ nghe một nhân duyên như vậy, chính là muốn nói với họ, con người cần phải sinh khởi lòng tin tâm thanh tịnh lớn. Nhìn lại chúng ta hiện tại, mỗi người đều không có nguyện lực, nguyện lực của rất nhiều người chính là “Tôi muốn nổi tiếng, tôi muốn giàu sang phú quý”. Nhìn xem những người lên chùa cầu xin, toàn là cầu tài, cầu cho bản thân được tốt đẹp, toàn là vì bản thân mà cầu. Mỗi chúng ta cần phải hiểu: Phiền não là do mong cầu mà ra, dục vọng sẽ tạo thành phiền não cho quý vị, sẽ làm tổn thương cái tâm thanh tịnh của quý vị, sẽ khiến quý vị đánh mất đi càng nhiều trí huệ và phước đức. Cho nên, phải tránh xa dục vọng, để chúng ta có thể đón nhận trí huệ của Đức Phật, dùng tâm thanh tịnh của Quán Thế Âm Bồ Tát, dùng Phật Pháp mà Đức Phật ban cho chúng ta để dẫn lối cho hướng đi tiến về phía trước của mình, có như vậy chúng ta mới có thể xa lìa điên đảo mộng tưởng, một kiếp tu thành báo ân Phật!
Được rồi, hôm nay Sư phụ giảng cho quý vị đến đây thôi, chúng ta hẹn gặp lại trong chương trình lần sau. Cảm ơn quý vị.
72. Tu tâm như sơ, rời xa mê cảnh
Tập 72
TU TÂM NHƯ SƠ, RỜI XA MÊ CẢNH
(20/05/2020)
Chào quý vị, hôm nay Sư phụ tiếp tục giảng về “Bạch Thoại Phật Pháp”..
Trên đường đời, mỗi người đều đang hối hả chạy đua. Có lúc chúng ta vượt qua một số người, đi trước người khác; có lúc cuộc đời của chúng ta lại bị nhiều người vượt qua. Thực ra, bí quyết của nhân sinh chính là tìm ra một nhịp độ phù hợp nhất với bản thân để sống. Đừng vì thấy người khác đi nhanh, hay thấy người ta đi chậm, mà lại chất thêm gánh nặng quá tải cho chính mình. Cho nên, con người sống trên đời, phải biết tìm kiếm nhịp độ và nguồn năng lượng phù hợp nhất với chính mình để làm việc. Trong giới Phật Pháp thường nói “Mạc nhân trì hoãn nhi không hao sinh mệnh” (Đừng vì chậm trễ mà uổng phí sinh mạng), để sinh mạng của chính mình trôi qua một cách vô ích.
Phật Pháp dạy chúng ta, con người đều sẽ trải qua một quá trình, quá trình đó gọi là “Khổ”. Bởi vì “khổ” chính là một cách để thấu hiểu thế giới này; đôi khi, khổ lại là một loại cảm giác, một sự cảm nhận của chúng ta về thế giới. Quan trọng nhất là, người học Phật phải học cách sống trên đời này một cách đầy trí huệ. Điều con người tuyệt đối không được quên, đó là những người từng cứu chúng ta thoát khỏi biển khổ, từng giúp đỡ chúng ta trong lúc chúng ta gặp khổ nạn, nghĩ không thông, hay đang vô cùng bế tắc. Người mà quý vị tuyệt đối không nên kết giao, chính là những người khi quý vị thất bại lại miệt thị và ruồng rẫy quý vị. Người mà quý vị không thể hoàn toàn tin tưởng, chính là những người luôn nói quý vị cái gì cũng tốt khi quý vị đang thành công. Phải đặc biệt cẩn thận, những điều này quý vị đều cần phải dùng trí huệ để nhìn thấu. Người tuyệt đối không thể vứt bỏ, chính là những người cùng quý vị tu tâm, cùng đồng cam cộng khổ. Tình bạn trong hoạn nạn là vô cùng đáng quý. Hiện nay là thời kỳ mạt pháp, mỗi người trên thế gian đều phải gánh chịu những áp lực khác nhau. Người có thể cùng chúng ta học Phật chính là những người bạn đạo cùng đồng cam cộng khổ tu tâm. Người mà quý vị tuyệt đối không nên yêu, chính là người không coi trọng nhân cách của quý vị. Khi một người chỉ thích tiền bạc, danh vọng, hay nhan sắc của quý vị, những người này không hề coi trọng phẩm cách của quý vị, thì đây là những người mà quý vị tuyệt đối không nên chấp nhận.
Điều quan trọng nhất đối với con người, là sống trên đời này không được để dục vọng khống chế. Dục vọng nhân gian sẽ khiến chúng ta đánh mất phương hướng trong đối nhân xử thế, mang đến cho chúng ta vô vàn phiền não và bế tắc. Dục vọng đôi khi giống như mật ong tẩm thuốc độc, bề ngoài trông rất ngọt ngào, nhưng thực chất đang từ từ ăn mòn lục phủ ngũ tạng của con người. Rất nhiều người không có sự cảnh giác đối với dục vọng, chính là vì họ cảm thấy nó quá đỗi ngọt ngào. Có loại dục vọng nào mà không khiến người ta cảm thấy sung sướng? Nhưng khi quý vị đã sa chân vào dục vọng rồi, thì sẽ trở nên khổ không tả xiết. Mọi người đều muốn mua nhà, thấy người ta mua thì quý vị cũng muốn mua, nhưng kinh tế của quý vị lại không đủ. Lúc đó, quý vị nhìn căn nhà và vô cùng muốn vay tiền, nhưng một khi vay xong rồi, quý vị sẽ cảm thấy áp lực nặng nề đè nặng lên vai. Cho nên, trong cuộc sống, dục vọng sẽ khiến chúng ta nảy sinh rất nhiều tà tư tà niệm. Lòng tham của con người thực chất chính là một loại “liệt căn tính” (thói hư tật xấu). Nhiều người thường nói con người có liệt căn tính, vậy rốt cuộc liệt căn tính là gì? Đó chính là lòng tham, là dục vọng của quý vị. Ai cũng muốn có một cuộc sống “tùy tâm sở dục” (muốn gì được nấy), nhưng khi chiều theo cái tâm của mình, khi dục vọng ngày một tăng cao, thì chính sự “tùy tâm sở dục”, chính cái dục vọng ấy sẽ mang đến cho quý vị vô tận thống khổ và phiền não. Quý vị thử nghĩ xem, có dục vọng nào lại không mang đến bế tắc và phiền não cơ chứ? Kẻ theo đuổi tiền bạc, cuối cùng bị tiền bạc làm cho nhà tan cửa nát; kẻ chạy theo tình ái, cuối cùng lại bị tình ái làm cho tổn thương; kẻ mưu cầu danh vọng, cuối cùng không những chẳng có được danh vọng, mà còn chuốc lấy muôn vàn tổn thương và sầu muộn cho bản thân, thậm chí ảnh hưởng đến cả một đời. Khi quý vị không đạt được thứ mình muốn, nỗi thống khổ ấy thậm chí còn ảnh hưởng đến cả kiếp sau của quý vị. Bởi vì dục vọng là thứ không có điểm dừng. Chỉ cần quý vị còn dục vọng, nó sẽ không bao giờ dừng lại, có nhiều rồi lại muốn nhiều hơn, tốt rồi lại muốn tốt hơn nữa. Lòng tham không biết điểm dừng sẽ vĩnh viễn tạo thành nỗi thống khổ trong tâm và sự giày vò cho tâm hồn. Phàm là một người có dục vọng, tâm niệm của họ nhất định đã bị ô nhiễm. Có dục vọng nghĩa là đã bị ô nhiễm. Con người thật đáng thương, cả ngày chỉ nghĩ “Tôi muốn, tôi muốn, tôi muốn…”, suốt ngày nghĩ “Chỉ cần mua được món đồ này là mãn nguyện rồi”, “Chỉ cần có được tình cảm này, tôi sẽ hạnh phúc”. Thực ra, sẽ không thể mãn nguyện đâu, dục vọng sẽ chẳng bao giờ dừng lại. Phương châm sống của Sư phụ thì mọi người đều biết rõ: “Vô dục tự nhiên tâm như thủy” (Không dục vọng, tự nhiên tâm sẽ lặng như nước). Cho nên, Sư phụ muốn quý vị đừng có dục vọng. Nước chính là cái tâm của quý vị, bình lặng như mặt nước vậy. Không đi tham lam, thì sẽ không sinh lòng sân hận; không sân hận người khác, thì quý vị sẽ không làm ra những chuyện ngu si.
Chúng ta làm người phải suy nghĩ thông suốt, phải hiểu thế nào là Phật lý, Phật Pháp. Phải thấu hiểu rằng tất cả mọi dục vọng chỉ là một loại cảnh giới mê ảo tạm thời của nhân sinh, gọi là “mê cảnh”. Bởi vì quý vị có dục vọng, quý vị mới chìm đắm vào cảnh giới này, nó dụ dỗ tâm hồn của những kẻ phàm phu tục tử chúng ta đánh mất phương hướng. Cho nên hôm nay Sư phụ muốn nói với quý vị, dục vọng rất hại người. Bởi vì sự đánh mất phương hướng của tâm hồn, khiến quý vị có nhiều rồi lại muốn nhiều hơn, tốt rồi lại muốn tốt hơn nữa, quý vị sẽ bước vào con đường tham lam, một cảnh giới không thể tự thoát ra nổi. Cảnh giới này mang đến cho quý vị cái gọi là “khốn cảnh” (hoàn cảnh khó khăn). Nếu có thể làm chủ được trí huệ, không có dục vọng, trong lòng thấu hiểu rằng mọi thứ ở nhân gian đều là hư ảo; bởi vì bao nhiêu niềm vui rồi cũng sẽ biến mất, bao nhiêu hưởng lạc rốt cuộc rồi cũng sẽ rời xa quý vị. Hãy nhìn những gì mình đang có trước mắt, quý vị sẽ biết đủ, quý vị sẽ thường xuyên vui vẻ, và sẽ không bị cám dỗ bởi dục niệm nữa.
Do đó, trong đối nhân xử thế, chúng ta đừng để dục vọng hồng trần làm cho ô nhiễm, phải luôn ghi nhớ cái “sơ tâm” (tâm nguyện ban đầu) khi mới bắt đầu học Phật tu tâm. Sơ tâm rất quan trọng, “Bất vong sơ tâm, phương đắc thủy chung” (Không quên tâm nguyện ban đầu, mới đạt được thành tựu viên mãn đến cuối cùng). Giống như một người lớn tuổi, mặc dù thân thể đã già yếu, nhưng về mặt tinh thần họ luôn nhớ về những hoài bão và hy vọng ngập tràn mà mình từng có thời tuổi trẻ, đó chính là nguồn cội để duy trì sức sống của họ. Có một số người lăn lộn trong đời đã lâu, ở nhân gian này nhìn thấy người khác đều là tham, sân, si, mạn, nghi; sau đó bản thân lại phải chịu chút trắc trở, đã từng trải qua gian nan khốn khổ, dần dần trong tâm bị ô nhiễm, tính cách trở nên xấu đi. Tham luyến hồng trần đã khiến cho tính cách vốn vô cùng thẳng thắn của họ ngày càng trở nên giả tạo, không dám nói lời thật lòng nữa. Nhằm muốn mình được lòng mọi người hơn, họ biến thành một con người hoàn toàn giả dối. Con người giả tạo thì sẽ sinh ra ý định giả dối, cái tâm giả dối thì sẽ biến thành con người giả tạo. Con người sẽ trở nên không còn thản nhiên, không còn thẳng thắn nữa, sống trên đời rõ ràng biết chuyện đó là đúng, họ lại nói thành sai; rõ ràng là sai, họ lại bóp méo tâm lý để cam chịu những trắc trở ở nhân gian. Đây chính là lý do vì sao sự chuyển hóa nhân tâm hiện nay lại quan trọng đến vậy.
Trong cuộc sống, rất nhiều người luôn cho rằng “Hoàn cảnh xã hội đã ảnh hưởng đến tôi”. Có người nói: “Thực ra tôi cũng tốt lắm chứ, tại môi trường xã hội thôi, ai cũng thế cả, người ta thế này, người ta thế kia…” Thực ra, đứng từ góc độ Phật Pháp mà nói, hoàn cảnh không thể ảnh hưởng đến chúng ta, hoàn cảnh không thể nào tác động được; đó là bởi vì sự tu dưỡng, trình độ giác ngộ và căn cơ của chính quý vị chưa đủ. Là do tinh thần của quý vị đã rời xa cảnh giới của Bồ Tát quá xa, quá xa rồi, cho nên quý vị mới bị cảnh giới xoay chuyển. Nếu tinh thần của chúng ta sống trong cảnh giới của Đức Phật và Bồ Tát, thì cho dù có đối mặt với thời đại phức tạp đến đâu, hoàn cảnh rắc rối nhường nào, thì “Khôi khôi hồ kỳ ư du nhận tất hữu dư địa hỹ” (như dao sắc múa giữa khoảng không, thênh thang rộng rãi), con người sẽ không bị ngoại cảnh làm cho dao động. Đây chính là điều nhà Phật chúng ta gọi là “Như như bất động”, đây cũng chính là sự tu dưỡng và cái sơ tâm vốn có của một con người mà cả ba nhà Nho, Thích, Đạo đều giảng đến. Trạng thái tâm lý thuở ban sơ (mỗi người đều có một trạng thái tâm lý thuở ban sơ), là lúc con người thuần khiết nhất, trong hoàn cảnh chưa bị ô nhiễm bởi thế giới bên ngoài, tâm của con người đều quang minh lỗi lạc, thẳng thắn thuần khiết, sở hữu một trái tim của Phật, như thế chẳng phải quá tốt sao! Đây chính là điều mà Lão Tử của Đạo gia từng nói: “Như anh nhi hồ”, nghĩa là một người thuần khiết giống hệt như một đứa trẻ sơ sinh. Sư phụ tin rằng có rất nhiều người yêu thích trẻ sơ sinh, bởi vì trẻ sơ sinh vô cùng trong sáng, nên mới nói là thuần khiết như một đứa trẻ.
Một người, dù là người xuất gia hay cư sĩ tại gia, con đường tu hành đều bắt đầu tu từ hình hài phàm phu, tu cho đến khi thành Đạo, thành Phật. Rất nhiều người trong chúng ta chính là từ một kẻ phàm phu tục tử bắt đầu chuyển hóa cảnh giới, để dần thoát khỏi sự ô nhiễm của hồng trần. Học Phật vô cùng gian nan. Học Phật một năm, Phật ở ngay trước mắt; học Phật hai năm, Phật ở tít chân trời; học Phật ba năm, mượn danh Phật để kiếm tiền, càng tu càng rời xa. Vì sao lại như vậy? Là bởi vì chúng ta không thể giữ được cái tâm vĩnh hằng ban đầu; bởi vì tâm niệm của chúng ta phải thật sự thuần chính thì mới có thể thành Phật. Cho nên, vì sao Sư phụ lại khắt khe với quý vị như vậy? Chính là muốn quý vị giữ gìn được một cái tâm thuần khiết. Người xuất gia phải thuần khiết giống như một đứa trẻ, người không xuất gia cũng phải thuần khiết như một đứa trẻ, được như vậy thì quý vị thừa sức thành Phật. Đừng nghĩ rằng bản thân không thể thành Phật. Nhiều người thường nói “Thành Phật khó lắm, Đức Phật ở cách chúng ta rất xa”, thực ra người nói câu “Đức Phật ở cách chúng ta rất xa”, là bởi vì cái tâm của họ đã rời xa Đức Phật từ rất lâu rồi. Có người lại nói: “Đức Phật luôn ở ngay bên cạnh chúng ta, dạo này sao tôi cứ có cảm giác Đức Phật đang ở kề bên, Ngài đang quản thúc chúng ta vậy”, thì quý vị đã thành công rồi. Bởi vì Đức Phật đã ở cách quý vị ngày càng gần, Hộ Pháp Thần ở cách quý vị ngày càng gần, Bồ Tát sẽ ở cách quý vị ngày càng gần, thì cơ duyên thành Phật của quý vị cũng ngày một gần hơn. Nếu như quý vị suốt ngày chẳng có ai quản thúc, suốt ngày cứ lo âu: “Đến khi nào mình mới tu thành đây? Khi nào mình mới có thể đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, có thể đến thế giới Tâm Linh Tịnh Độ?”, thì lúc này thực ra tâm của quý vị đã rời xa Đức Phật rồi.
Cho nên trong kinh Phật có câu: “Sơ phát tâm tức thành Chánh Đẳng Chánh Giác” (Tâm phát nguyện ban đầu liền thành Chánh Đẳng Chánh Giác). Quý vị hãy nghĩ xem, sơ phát tâm chính là bản tánh; cái tâm khi quý vị vừa mới bắt đầu tu hành, đó chính là tâm quang minh Chánh Đẳng Chánh Giác đã được hình thành. Đức Phật nói câu này chính là muốn dạy chúng ta: Ý niệm đầu tiên của con người khi nhìn nhận sự việc luôn là rõ ràng, sáng suốt nhất. Khi vừa mới học Phật, quý vị nhìn nhận vấn đề rõ ràng nhất, nhìn thấu suốt con đường và phương hướng, thành tựu quả vị Bồ Đề, trong tâm có Phật. Sau đó dần dần nuôi dưỡng tâm Bồ Đề, tiếp tục tu hành, thì sẽ có thể tu thành Phật đạo. Cái tâm mong muốn xuất gia ban đầu ấy, cái tâm muốn một kiếp tu thành ấy, cái tâm muốn lìa khổ được vui, cái tâm cầu Phật ấy, mới chính là trái tim Như Lai chân thành và vĩnh hằng — là cái tâm nguyên thủy. Nhưng chúng ta càng tu về sau thì con người lại càng lười biếng, càng lúc càng vô trách nhiệm, chuyện gì cũng đùn đẩy trách nhiệm sang người khác. Hễ gặp chuyện không hay, thì toàn đổ lỗi là do người khác xúi giục làm như vậy, rồi tìm ra hàng ngàn hàng vạn lý do để biện minh. Ngay cả đối với cha mẹ ruột hay con cháu của chính mình, chỉ cần tồn tại những tạp niệm ấy — lúc nào quý vị cũng cho rằng mình đúng, người khác là sai, thì quý vị ngay cả một chút “sơ tâm” cũng không có. Vì thế, quý vị sẽ rời xa cảnh giới Chánh Đẳng Chánh Giác ngày càng xa hơn. Chúng ta làm người, làm việc thực ra cũng giống như vậy. Rất nhiều người lúc mới bắt đầu thì vừa khấu đầu vừa lễ bái Bồ Tát vô cùng thành kính, nhưng qua vài năm, tâm ban đầu biến mất, sự cung kính cũng không còn. Đối với Sư phụ cũng vậy, lúc vừa mới đến thì kính trọng vô cùng, dần dần thời gian lâu, lại trở nên không còn chân thành, sự tôn kính cũng biến mất. Người học Phật chúng ta phải luôn giữ trạng thái “Niệm niệm trong Bồ Đề” (Trong từng ý niệm đều có hạt giống Bồ Đề). Dù sống một năm hay mấy chục năm, cũng đều phải “Niệm niệm trong Bồ Đề”, phải giữ được tâm “Như như bất động”, để Đức Phật luôn ngự trị trong tâm trí. Ý niệm đầu tiên và căn bản nhất khi học Phật, đó chính là sơ tâm. Sư phụ yêu cầu quý vị “bất vong sơ tâm”, chính là giữ trọn vẹn ý niệm đầu tiên, và đó cũng là ý niệm cuối cùng của quý vị; bất luận làm việc gì, tuyệt đối không được “hữu thủy vô chung” (có đầu không đuôi), mà phải có trước có sau trọn vẹn. Học Phật đến giai đoạn sau, không thể tu mà lại vứt bỏ, hay làm mất đi cái tâm khởi một niệm thiện và cái tâm một niệm muốn thành Phật thuở ban sơ. Nếu không, quý vị sẽ vĩnh viễn không thể đắc được cái nền tảng cốt lõi của việc học Phật.
Sư phụ muốn nhắn nhủ đến quý vị: “Học Phật như sơ, thành Phật hữu dư” (Học Phật như thuở ban đầu, thành Phật thừa sức). Người học Phật bất kể đã học bao nhiêu năm, chỉ cần giữ mãi được cái tâm như thuở ban sơ ấy, thì việc tu thành Phật chắc chắn là nằm trong tầm tay. Một người xuất gia phải “Xuất gia như sơ, thành Phật hữu dư”; một cư sĩ tại gia phải “Tu tâm như sơ, thành Phật hữu dư”. Nghĩa là bất kể thời gian một năm hay mấy chục năm, chúng ta vẫn phải giữ được lòng thành khẩn như lần đầu tiên niệm kinh, sự xúc động y như lần đầu tiên bái Phật. Nếu luôn giữ được cái tâm này, thì quý vị sớm đã tu thành đạo quả rồi. Quyết tâm chân thành không phải là thứ có thể diễn đạt bằng lời nói. Rất nhiều người tu tâm đến giai đoạn sau, khi quỳ trước mặt Bồ Tát, họ dùng chính là cái tâm thành khẩn đó. Đó là một loại tâm trí huệ của Vô Thượng Bồ Đề; họ không cần phải thưa thốt quá nhiều lời với Bồ Tát, trong tâm chỉ tràn ngập lòng biết ơn vô hạn. Chính trạng thái tâm đó mới có thể giúp quý vị “thành Phật hữu dư”.
73. Sơ chánh tắc chung chánh
Tập 73
SƠ CHÁNH TẮC CHUNG CHÁNH
(20/05/2020)
Rất nhiều kinh văn có giảng, Bồ Tát khi mới phát tâm liền thành Chánh đẳng Chánh giác. Nói cách khác, khi quý vị phát ra nguyện lực này, khi chuẩn bị học Phật, nguồn năng lượng đó vô cùng, vô cùng lớn. Dùng ngôn ngữ hiện đại mà nói, chính là vào lúc vừa mới bắt đầu, quyết tâm của quý vị là sức mạnh không thể cản nổi. Nhưng khi quý vị làm sai chuyện gì đó, quý vị có thể sẽ nghĩ rằng: “Đâu có dễ dàng như vậy, có lẽ lúc ban đầu suy nghĩ của mình có thiếu sót, mình đã phát nguyện quá sức rồi, bây giờ mình có thể rút lại được không?” Đây chính là sự giải đãi (lười biếng, thối lui) của rất nhiều người, đây chính là việc nhiều người không có nguyện lực tiến về phía trước, và đây cũng chính là lý do tại sao một số người càng tu càng kém đi. Bởi vì trước những phiền não, trắc trở và mọi sai lầm ở chốn nhân gian, quý vị đều không nắm bắt cho tốt, quý vị không dùng cái tâm ban đầu để chiến thắng những tâm phiền não và khó khăn này. Rất nhiều người làm việc ở nhân gian, làm một nửa bỏ một nửa, nói một đằng làm một nẻo, cứ như thế dần dần đánh mất đi bản tánh của chính mình.
Học Phật không phải là chuyện cưỡi ngựa xem hoa, người học Phật là phải chuyên tâm đi sâu vào trong đó, người học Phật phải kiên trì bền bỉ không bỏ cuộc. Bởi vì Phật có thể thông suốt mọi trí huệ, triệt vạn pháp nguyên (thấu suốt cội nguồn của muôn pháp), Bồ Tát có thể thông đạt tất cả trí huệ. Nếu quý vị nghĩ không thông, vẫn đang đau khổ, vẫn đang phiền não, vẫn đang trong sự giằng xé, thì quý vị đã rời xa tất cả trí huệ rồi. Bồ Tát có trí huệ ở khắp mọi nơi; đối với Bồ Tát mà nói, tất cả những phiền não ở nhân gian, Ngài đều có thể giải quyết bằng trí huệ. Hôm nay quý vị không thể giải quyết được phiền não này, thì sẽ làm tăng thêm phiền não, sẽ không thể “thông đạt nhất thiết trí, triệt vạn pháp nguyên”. Thế nào gọi là “triệt vạn pháp nguyên”? Chính là thấu ngộ triệt để cội nguồn của tất cả các pháp đến từ đâu. Học Phật phải dựa vào trí huệ mới có thể hiểu được căn nguyên của muôn pháp, chúng ta học pháp, học Phật đều có căn nguyên. Tại sao quý vị học Phật? Mỗi người đều có một căn nguyên. Có người kể với Sư phụ rằng, họ học Phật là vì cha hoặc mẹ ở nhà sức khỏe không tốt, hoặc do bản thân từng chịu tổn thương về mặt tình cảm, và đủ mọi lý do khác. Vào thời điểm đó, họ đã hạ quyết tâm: “Tôi phải thay đổi bản thân cho thật tốt, tôi không thể suy sụp tinh thần như thế này nữa, không thể giải đãi thêm nữa, không thể lãng phí sinh mạng nữa, tôi phải tìm kiếm một phương pháp giải thoát”. Quý vị hãy ghi nhớ ““vạn pháp chi nguyên”” (nguồn gốc muôn pháp) này, ghi nhớ lý do tại sao quý vị học Phật, thì quý vị mới có thể có được khởi đầu và kết thúc.
Người học Phật không thể có bắt đầu mà không có kết thúc. Một người học đến cuối cùng mà không thể quay về cội nguồn, thì không thể thông suốt; học đến cuối cùng phải hiểu Bồ Tát dạy chúng ta làm những gì, phải học được thế nào gọi là thông suốt. Lúc học Phật khó khăn nhất thực ra lại chính là lúc bắt đầu, cảnh giới lúc bắt đầu chắc chắn là cao nhất, rồi sau đó dần dần trượt dốc không phanh. Bởi vì khi quý vị bắt đầu phát đại nguyện, những liệt căn tính (căn tính xấu xa) của quý vị sẽ bộc lộ ra, phiền não và tâm sân hận của quý vị sẽ tự nhiên hiển lộ, tiếp đó quý vị sẽ gặp khó khăn và muốn bỏ cuộc. Điều này cũng giống như hôn nhân của con người vậy: Người chưa từng kết hôn thì vô cùng khao khát có một mái ấm, muốn được kết hôn; nhưng sau khi kết hôn rồi, nghiệp chướng kéo đến, phiền não không dứt, lòng ích kỷ đã gây ra sự đổ vỡ của hôn nhân. Trong Phật giáo có một câu gọi là “Sơ chính tắc chung tu”, chúng ta phải hiểu rằng sơ tâm khi học Phật vô cùng quan trọng. Sơ tâm vô cùng chánh (chính là tâm khởi phát ban đầu của quý vị rất đúng đắn), tắc chung tu (cuối cùng quý vị sẽ tu thành Phật đạo), và điều đó phải dựa vào sự bền bỉ. Ý nghĩa của câu “Sơ chính tắc chung tu” chính là: Bởi vì tâm ban đầu của quý vị rất ngay chính, cuối cùng quý vị nhất định sẽ tu thành. Vậy tu thành nhờ vào điều gì? Chính là nhờ vào sự kiên trì bền bỉ của quý vị; có sự bền bỉ mới có thể duy trì cái tâm ban đầu đó cho đến tận cuối cùng, thì quý vị sẽ không bị thối chuyển và giải đãi.
Học Phật tu tâm, chúng ta làm người phải coi trọng đạo đức, coi trọng phẩm hạnh, đây chính là điều Phật Pháp đề xướng: “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành” (Chớ làm các việc ác, vâng làm các điều lành). Người có phẩm hạnh tốt thì không làm việc ác, người có đạo đức tốt thì làm mọi việc lành. Cho nên, một người học Phật tốt thì nền tảng chắc chắn là tốt; một người học Phật không tốt thì nền tảng chắc chắn không tốt, căn cơ lương thiện chưa đủ. Trong cuộc sống đời thường, nếu người này luôn rất lương thiện, thì cuối cùng sẽ có một ngày họ thông suốt, sẽ học Phật, sẽ nhập môn; còn một người bình thường vốn đã rất gian xảo, vô cùng cay nghiệt, thì làm sao có thể học Phật cho tốt được? Họ ngay cả tâm từ bi, tâm lương thiện tối thiểu nhất cũng không có đủ.
Phật Pháp có rất nhiều pháp môn, có Thiên Thai tông, Thiền tông, Tịnh Độ tông… có Mật tông, có Hiển giáo, không phải tông phái nào, giáo phái nào quý vị cũng đều phải học tập, đều phải thông thạo. Thực tế, rất nhiều người cái gì cũng biết một chút, đến cuối cùng lại chẳng đạt được cái gì cả, cả đời không thể trở thành chuyên gia, mà còn đi phải đi rất nhiều đường vòng uổng phí. Thấy cái gì cũng hay, cái gì cũng muốn học, cuối cùng người ta học thành tài rồi, quý vị vẫn còn đang học. Mỗi người có duyên phận học Phật của riêng mình, mỗi người có con đường thành Phật của riêng mình. Nếu quý vị dùng toàn bộ tâm niệm của chính mình để tiếp nhận hoàn cảnh, điều kiện của mỗi người, thời gian dần trôi qua, quý vị vẫn đang mải miết học, còn người khác sớm đã thành Phật rồi.
Để thấu hiểu Phật Pháp một cách chân chính, “tu tuyệt tha nhật vọng tưởng”, chính là bắt buộc phải đoạn tuyệt với những vọng tưởng trong quá khứ. Điều này nhắn nhủ chúng ta rằng, những ảo tưởng đã qua, những mê lầm từng có, những cách hiểu khác nhau về Phật Pháp trong quá khứ, đã khiến chúng ta có rất nhiều điều nghĩ không thông. Học rất nhiều, rốt cuộc lại chìm trong sự mê muội điên đảo, e rằng ngay cả bản tánh và sự tu dưỡng cơ bản của đạo làm người cũng chưa tu sửa được. Nhiều người suốt ngày tu tập, nhưng tu đến cuối cùng lại dần đánh mất đi sự quan tâm và lòng từ bi đối với người khác.
Phật Pháp giảng “Cần tu thanh tịnh Ba-la-mật”, nói cách khác, người tu tâm phải tu hành một cách tinh tấn, thì trong tâm mới thanh tịnh, đây chính là sự sản sinh của trí huệ. Người có trí huệ sẽ không đánh mất tâm Bồ Đề —— “Hằng bất vong thất Bồ Đề tâm” (Mãi mãi không đánh mất tâm Bồ Đề). Người có tâm Bồ Đề chính là người luôn muốn đi giúp đỡ người khác. Tu đến cuối cùng, người nảy sinh rất nhiều tâm muốn giúp đỡ người khác, chính là đang trong quá trình chứng ngộ. “Diệt trừ chướng cấu vô hữu dư” (Diệt trừ chướng ngại, dơ bẩn không còn sót lại), chúng ta phải tiêu diệt nghiệp chướng và sự dơ bẩn trong nội tâm của chính mình. Tu tâm, nội tu hay ngoại tu đều cần chú ý. Nếu chỉ ngoại tu mà không nội tu, nghiệp chướng và dơ bẩn trong nội tâm không thể loại bỏ, thì sẽ không thể đạt được thiện quả. “Nhất thiết diệu hạnh giai thành tựu” (Tất cả diệu hạnh đều thành tựu), phàm là mọi diệu pháp — những diệu pháp đi cứu độ người khác, đều sẽ sinh ra quả báo lương thiện. “Cần tu thanh tịnh Ba-la-mật, hằng bất vong thất Bồ Đề tâm, diệt trừ chướng cấu vô hữu dư, nhất thiết diệu hạnh giai thành tựu”, chính là để chúng ta hiểu được phải siêng năng tu tập, chuyên tâm tinh tấn đi tu cái tâm thanh tịnh của mình, thì mới có thể đạt tới cái tâm Bát Nhã mang trí huệ viên mãn. Con người làm sao có được trí huệ? Là nhờ siêng năng tu tập mà có. Nhìn chỗ này ngó chỗ kia, tâm bị phân tán, tâm bị loạn rồi, cái gì cũng hiểu một chút, cuối cùng lại chẳng hiểu điều gì cả.
Hãy dùng sự bền bỉ, đừng lãng quên cái tâm thuở sơ khai; trong cái tâm ban đầu ấy vốn dĩ đã chứa đựng tâm Bồ Đề. Khi quý vị mới bắt đầu cầu Bồ Tát: “Con muốn tìm thấy Phật Pháp, con muốn cứu cha con”, “Con muốn cứu mẹ con”, hay “Cứu em gái con”, “Cứu em trai con”… tất cả đều là khởi nguồn của tâm Bồ Đề. Không được quên đi sơ tâm, chính là dạy chúng ta đừng quên đi tâm Bồ Đề của mình. Chúng ta tiêu diệt nghiệp chướng của bản thân thì không được chừa lại bất kỳ chỗ nào, đừng để lại trong tâm một góc khuất nào có thể che giấu những dơ bẩn và nghiệt chướng. Rất nhiều người nói “Tôi ăn nói rất thẳng thắn”, vô cùng cởi mở, nghe họ nói chuyện giống như nhìn một bát nước trong, có thể nhìn thấy tận đáy; thế nhưng có một số người lại thích giấu kín nghiệp chướng và phiền não của mình vào sâu thẳm nội tâm, để rồi tự làm tổn thương chính mình, làm cho bản thân khó chịu, khiến mình không thể quên được, dần dần rời xa tâm Bồ Đề. Cho nên “Nhất thiết diệu hạnh giai thành tựu” chính là tâm Bồ Đề, tâm Bồ Đề chính là một tấm lòng phổ độ chúng sinh. Tu tâm tu đến cuối cùng, nếu không phát rộng tâm Bồ Đề, không có tâm niệm cứu độ chúng sinh, thì quý vị đã đánh mất tâm Bồ Đề, quý vị chỉ là một người tu hành chỉ biết tu “tự ngã”. Bởi vì chỉ khi suy nghĩ đến việc đi cứu độ chúng sinh, quý vị mới có thể cầu chứng được cái gốc rễ bản nguyên sinh diệt của vũ trụ, mới có thể biết được trong không gian vũ trụ này rốt cuộc là duyên phận gì. Tu đến cuối cùng sẽ hiểu ra, chúng sinh đều là người thân, ngay cả con cá đem đi phóng sinh cũng có thể từng là người thân của mình. Tất cả những sinh linh dưới lưỡi dao mà quý vị cứu sống, toàn bộ đều có thể là cội nguồn của quý vị, đều có quan hệ họ hàng thân thuộc với quý vị, chỉ là quý vị không biết mà thôi.
Hãy chăm sóc bảo vệ tốt tâm từ bi của chính mình. Quý vị có tâm từ bi không? Thấy người khác khổ, quý vị có xót xa không? Thấy người ta khóc, quý vị có rơi nước mắt không? Con người thời nay thấy người ta khóc thì lại cười nhạo; thấy người khác đau khổ thì bảo “đáng đời”; thấy nhà người ta bốc cháy thì bảo “tốt nhất là cháy rụi hết đi”, vui sướng vô cùng. Đây chính là cái tâm của con người thời nay — đã rời xa tâm từ bi. Tại sao Quán Thế Âm Bồ Tát lại đại từ đại bi, “nhân thương ngã thống” (người tổn thương mà Ngài đau xót), vô duyên đại từ (từ bi vô điều kiện)? Quán Thế Âm Bồ Tát với chúng ta không có duyên phận, nhưng lại có túc duyên (duyên từ nhiều đời kiếp trước), cho nên Quán Thế Âm Bồ Tát có thể sinh ra nghìn tay nghìn mắt, cái tâm bi mẫn cứu độ tất cả chúng sinh liền sinh khởi. Thực ra, mỗi một con mắt, mỗi một cánh tay đều là tâm từ bi của Quán Thế Âm Bồ Tát, chính là thành toàn cho tấm lòng đại bi đi cứu độ chúng sinh của chúng ta.
Người học Phật nên thường xuyên sinh khởi tâm hổ thẹn và tâm sám hối, bởi vì tâm sám hối và tâm hổ thẹn có thể giúp quý vị sinh khởi trí huệ Bát Nhã. Người thường hay rơi nước mắt là một người từ bi, họ còn có thể khóc được, chứng tỏ họ vẫn còn tâm từ bi. Quý vị thử nhìn rất nhiều kẻ sát nhân xem, sắp bị xử bắn rồi mà hắn cũng chẳng rơi một giọt nước mắt, dù là khoảnh khắc cuối cùng gặp lại mẹ, hắn cũng không rơi lệ, hắn không có tâm bi. Còn chúng ta phải hiểu rằng, từ bi là cảnh giới của Bồ Tát, là cái tâm ban đầu của chúng ta. Bảo vệ cho tốt cái tâm ban đầu để mỗi ngày có thể sinh khởi tâm Bát Nhã, đó là trách nhiệm của chúng ta. Mỗi ngày niệm Tâm Kinh, chính là làm cho trái tim quý vị ngày càng trở nên bi mẫn hơn. Một người luôn cảm thấy mình làm việc chưa tốt, luôn cảm thấy có lỗi với người khác, luôn cảm thấy trong quá khứ mình từng làm tổn thương người khác, nếu có cái tâm như vậy, người này sẽ không lười biếng, giải đãi; kẻ cống cao ngã mạn, luôn cảm thấy người khác không bằng mình, sẽ không có nhiều tâm bi mẫn. Phải thường xuyên biết ơn, thường sinh tâm sám hối, đó là một bảo bối. Bởi vì khi quý vị thường sinh tâm sám hối, người khác sẽ từ bi, đồng cảm với quý vị; còn kẻ thường xuyên làm ác hoặc đi bắt nạt người khác, chắc chắn là một kẻ cống cao ngã mạn. Trong Phật Pháp giảng, nếu có thể thường xuyên giữ tâm sám hối và tâm hổ thẹn, thì nhất định có thể tinh tấn tu hành, đạt được Tinh tấn Ba-la-mật. Quý vị mang Đạo tâm bất vong Ba-la-mật (không quên đạo tâm tiến đến bờ giác ngộ), chính là trong lúc tu tâm sẽ không bao giờ quên đi bổn nguyên của chính mình.
Tâm của một người thanh tịnh, chính là tư lương dẫn tới đại tâm Bồ Đề. Sư phụ muốn quý vị trở nên ngày càng trong sạch, đừng lưu lại bất kỳ tạp niệm nào trong nội tâm của mình, thì mới có thể siêu thoát khỏi ngũ dục lục trần này. Sự thanh tịnh sẽ giúp quý vị sinh khởi “sơ phát tâm” (tâm phát nguyện ban đầu), sơ phát tâm chính là cái tâm Chánh đẳng Chánh giác. Nếu một người sở hữu tâm Chánh đẳng Chánh giác, sở hữu sơ phát tâm, thì mới hiểu được làm thế nào để “tự độ độ tha” (tự cứu mình cứu người) ở chốn nhân gian, làm thế nào để bản thân siêu thoát khỏi cảnh giới của phàm nhân, bước vào cảnh giới Bồ Tát Chánh đẳng Chánh giác.
74. Diệt tận phiền não của tam giới
Tập 74
DIỆT TẬN PHIỀN NÃO CỦA TAM GIỚI
(20/05/2020)
Hôm nay Sư phụ kể cho quý vị nghe một câu chuyện. Cuộc đời con người, thực ra trong rất nhiều câu chuyện đều có sự giải thích. Cuộc đời con người chúng ta là “công quá tương tạp” (công lao và sai lầm xen lẫn nhau), bởi vì quý vị vừa làm rất nhiều việc thiện, lại vừa làm rất nhiều việc ác. Tại sao mỗi người lại có bi hoan ly hợp và khổ vui? Thực ra chính là vì công quá tương tạp. Nói cách khác, kiếp trước, kiếp này của quý vị từng làm rất nhiều việc thiện, cũng từng làm rất nhiều việc ác, cho nên đời này quý vị sẽ nhận rất nhiều ác báo, cũng sẽ nhận được rất nhiều niềm vui. Công và tội không thể bù trừ cho nhau, tất cả đều là quả báo của các ác nghiệp và thiện nghiệp do chính quý vị tạo ra. Đây không chỉ là một loại nhân duyên, mà là sự hội tụ của các loại nghiệp duyên — thiện duyên, ác duyên, đố kỵ duyên… Có một số người cứ thích ghen tị với người khác, vậy đó là đố kỵ duyên; cứ thích hận người, sinh ra đã hận, hận đến lúc lâm chung vẫn hận, nên loại người này gọi là hận duyên, đó là sự hội tụ của muôn vàn nghiệp duyên.
Sau đây có một câu chuyện. Một thuở nọ, Đức Phật ở thành Xá Vệ. Lúc bấy giờ, thành Xá Vệ do vua Thắng Quang cai quản, còn Lộc Dã Uyển do vua Phạm Thí nắm quyền. Hai quốc gia này vì một số mâu thuẫn nên bắt đầu giao tranh quân sự, đôi bên thương vong nặng nề, thiện duyên của hai nước ngày càng ít đi.
Có một lần, vua Phạm Thí thống lĩnh xe, ngựa, voi và bộ binh tiến quân về thành Xá Vệ, dựng trại đóng quân bên bờ sông Khang Đan. Vừa dựng trại không lâu, vua Thắng Quang liền nghe tin báo, biết đối phương kéo đến để đánh, lập tức dẫn dắt đội quân tinh nhuệ tiến ra nghênh địch. Thế lực đôi bên ngang ngửa, đánh nhau bất phân thắng bại, mãi vẫn giữ thế giằng co.
Lúc này, vương phi của vua Phạm Thí hạ sinh một bé gái vô cùng đoan trang. Khắp vương cung trên dưới đều tấu nhạc đánh trống, ăn mừng sự ra đời của vị công chúa này. Sau khi vua Thắng Quang biết được sự việc, thầm nghĩ: “Chúng ta giao chiến với nước Phạm đã lâu, viễn cảnh cũng không mấy khả quan, hai bên đều tiến thoái lưỡng nan, chi bằng mượn đứa bé gái này để hòa thân, xoa dịu mối quan hệ giữa hai nước.” Sau khi quyết định như vậy, họ liền cử đặc phái viên đến nước Phạm cầu hôn, thỉnh cầu vua Phạm Thí gả vị công chúa vừa mới sinh cho vua Thắng Quang làm vương phi. Thời xưa, trẻ con chỉ cần sinh ra là có thể hứa hôn cho người khác. Vào thời cổ đại còn có phong tục gọi là “chỉ phúc vi hôn” (trỏ bụng hứa hôn), tức là đứa trẻ còn chưa ra đời người ta đã hứa hẹn: “Nếu đứa bé này sinh ra là con trai, thì sẽ lấy con gái tôi; nếu là con gái, thì sẽ gả cho con trai tôi.”
Vua Phạm Thí sau khi biết được tâm ý của vua Thắng Quang, vừa đúng lúc muốn tìm đường thoái lui, thầm nghĩ: “Hai nước đánh nhau mãi đến tận bây giờ, tổn thất của địch và ta đều vô cùng nặng nề. Nay ông ấy đã đề nghị liên hôn, không đánh mà hòa, quả là đúng ý ta, thôi thì xem như bỏ qua mọi chuyện” Liền nói với sứ giả rằng ông rất sẵn lòng hòa thân với vua Thắng Quang. Từ đó, hai nước biến chiến tranh thành hòa bình, trở thành láng giềng hữu nghị.
Vua Phạm Thí tổ chức lễ hạ sinh long trọng cho công chúa. Khi đặt tên, bởi vì sự ra đời của cô đã dẹp yên chiến tranh, cả nước đều được bình an, nên đặt tên cho cô là “An Ninh Mẫu”, dùng sữa tươi, sữa chua, bánh rán… để nuôi dưỡng cô khôn lớn. Không lâu sau, vương phi của vua Phạm Thí lại sinh thêm một bé trai. Tướng mạo của cậu bé cũng vô cùng trang nghiêm, họ liền đặt tên cho bé trai này là “An Ninh”, cũng dùng sữa tươi, sữa chua, bánh rán để nuôi nấng cậu. Vị vương tử này giống như một đóa hoa sen, lớn lên rất nhanh. Không ngờ hai chị em lại thân thiết vô ngần, tựa hồ một khoảnh khắc cũng không muốn rời xa nhau.
An Ninh Mẫu dần khôn lớn. Lúc này, vua Thắng Quang chuẩn bị rước cô về nước, bèn đặc biệt cử người đến thỉnh cầu vua Phạm Thí. Vua Phạm Thí nói: “Nếu vua Thắng Quang đã có tâm ý này, vậy hãy chọn ngày lành tháng tốt cử hành hôn lễ.” Theo ngày đã định, vua Thắng Quang đích thân đến Lộc Dã Uyển để đón An Ninh Mẫu. Sau khi trở về thành Xá Vệ, liền theo phong tục bản quốc mà tổ chức một hôn lễ vô cùng long trọng.
Em trai An Ninh vì không tìm thấy chị gái, liền hỏi phụ mẫu: “Chị gái đi đâu rồi ạ?”
Vua Phạn Thi đáp: “Chị con đến chỗ vua Thắng Quang rồi.”
“Không chịu đâu, con cũng muốn đi.” Cậu em trai làm ầm ĩ lên.
Phụ mẫu bảo cậu: “Chị con đã lập gia đình rồi, chị con đi là để kết hôn, con đi làm cái gì? Con là vương tử của ta, sau này phải kế thừa vương vị, lo liệu quốc chính, con không thể đi được.” Mặc dù đã khuyên can hết lần này đến lần khác, nhưng cậu bé ngày nào cũng làm ầm lên, nằng nặc đòi đến chỗ chị gái cho bằng được.
Sau đó, vua Thắng Quang liền báo với vua Phạm Thí: “Hãy để An Ninh đến đây đi, ta có thể đối xử bình đẳng với cả hai chị em.” Vua Phạm Thí bất đắc dĩ, đành phải đưa người em trai này đến thành Xá Vệ, đoàn tụ cùng chị gái.
Vua Thắng Quang liền dạy An Ninh cách thông thạo nhiều kỹ năng khác nhau như cưỡi ngựa, bắn cung. Nhưng về sau không ngờ rằng cậu bé An Ninh này lại sinh hư, thường xuyên đến kỹ viện và làm hơn một trăm hành vi không đúng pháp. Lúc này, An Ninh Mẫu và vua Thắng Quang năm lần bảy lượt khuyên bảo người em trai này, bảo cậu đừng làm như vậy, nhưng chẳng có tác dụng gì cả. Không còn cách nào khác, họ đành phái người báo cho vua Phạm Thí biết những hành vi tồi tệ vô vàn của An Ninh.
Vua Phạm Thí ba lần bảy lượt gọi cậu con trai này về, bảo: “Con đừng cố ý phóng túng bản thân như vậy nữa, con là vương tử, sau này phải kế vị lo liệu quốc chính đấy.” Nhưng An Ninh vừa không muốn hồi cung, cũng chẳng nghe lời dạy bảo của phụ vương, vẫn cứ khăng khăng làm theo ý mình. Về sau, vua Phạm Thí đành phải tuyên bố cắt đứt quan hệ cha con với cậu. Còn vua Thắng Quang cũng vì hành vi của cậu quá sức không như pháp, nên đã đuổi cậu ra khỏi hoàng cung. Thân không nơi nương tựa (tức là không có nơi nào để đi nữa), cậu bèn sống lăn lộn nơi phố thị, thực chất là lưu lạc khắp nơi.
Một ngày nọ, cậu quay lại hoàng cung, muốn vào cung thăm chị gái, nhưng thị vệ dù thế nào cũng không cho cậu vào. Cậu liền sinh lòng sân hận tột độ, không nói lời nào nhìn về phía trong cung, thì thấy chị gái đang cùng vua Thắng Quang gảy đàn tỳ bà trên đài hóng mát. Lúc này, An Ninh bỗng nổi sát tâm, cậu cầm cung lên, giương cung bắn một mũi tên về phía vua Thắng Quang. Nhưng vì khoảng cách quá xa, cậu chỉ bắn đứt dây đàn, cây tỳ bà rơi xuống đất. Nhà vua hoảng hốt quay người bỏ chạy.
Vua Thắng Quang phẫn nộ cùng cực, thầm nghĩ: “Tên An Ninh này lại dám muốn giết ta? Ta thật nên lập tức giết quách nó đi! Nhưng dẫu sao nó cũng là vương tử của vua Phạm Thí, giết nó e rằng vua Phạm Thí sẽ không vui.” Ông ngẫm nghĩ một lát: “Nên đưa nó ra trước đám đông luận tội, tuyên án tử hình.”
Trong nước Thắng Quang có các hội tranh biện, thực ra chính là triệu tập mọi người lại mở họp, có một quy định: Tranh biện nhỏ thì thổi hai tù và để tập hợp mọi người (quốc gia ngày xưa rất nhỏ, quy mô bây giờ giống như một tiểu bang vậy); tranh biện lớn không những phải thổi tù và, mà còn phải đánh trống lớn. Lúc bấy giờ, nhà vua liền ra lệnh cho thủ hạ thổi tù và, đánh trống lớn, tập hợp các đại thần và tất cả quan lại của thành Xá Vệ lại, dẫn An Ninh đến tranh biện với nhà vua. Theo cách nói hiện nay, thực chất là cho cậu ta cơ hội bào chữa trước khi kết án. Rất nhiều bá tánh đều đến xem. An Ninh cuối cùng đã thua, vì cậu ta phạm hơn một trăm điều luật. Theo quy củ của bản quốc đương thời, người ta đeo lên cổ cậu một vòng hoa. Chỉ cần vòng hoa này đeo lên cổ, thì biểu thị rằng đã bị tuyên án cực hình (tử hình), sau đó sẽ giao cho đao phủ dẫn đi bêu rếu trên phố.
Lúc này, An Ninh mới cảm thấy hành vi của mình là không như pháp, liền sinh tâm hối hận tột độ. Cậu đơn độc gào khóc: “Trên thế giới này có ai có thể đến cứu tôi với!” Đến lúc đó cậu mới biết mình sắp phải chết, vô cùng đau khổ.
Đức Thích Ca Như Lai có đầy đủ vô lượng công đức và đại bi tâm, thời thời khắc khắc luôn quán chiếu nhân duyên khổ vui của hết thảy chúng sinh. Bởi vì Đức Phật có thể quán chiếu thế giới, Đức Phật thường ngồi đả tọa, thực chất là Ngài có thể nhìn thấy đủ mọi sự việc xảy ra, Ngài có thể nhìn thấy nhân duyên khổ vui. Tại sao lại như vậy? Tâm từ bi của Đức Phật đối với chúng sinh, trong một sát na cũng không hề rời xa. Cho nên người học Phật phải biết rằng, chỉ cần cầu Phật, cầu Bồ Tát, cầu Quán Thế Âm Bồ Tát, cầu Đức Phật vĩ đại, cầu tất cả các vị Bồ Tát, đại từ bi tâm của Bồ Tát chưa từng rời xa chúng ta dù chỉ một sát na, cho nên quý vị phải học cách cầu Bồ Tát. Đức Thế Tôn (Thích Ca Mâu Ni Phật) lúc đó đã quán biết được rằng cơ duyên để độ hóa An Ninh đã chín muồi, liền nói với các đệ tử: “Các đệ tử, chúng ta hãy đắp y, ôm bát vào thành hóa duyên thôi.” Đức Phật biết sự việc này đã xảy ra, nên Ngài bảo các đệ tử đi theo Ngài cùng đi hóa duyên.
Đức Phật đang tiến bước về phía trước, An Ninh đang bị bêu rếu trên phố nhìn thấy Đức Phật từ đằng xa. Vừa nhìn thấy Đức Phật, cậu liền sinh đại hoan hỷ tâm (Cho nên chúng ta nhìn thấy pháp sư phải sinh tâm hoan hỷ, bởi vì nơi nào có pháp sư… cũng giống như nhìn thấy Sư phụ vậy, nơi nào Sư phụ đến thì sẽ có hỷ sự, sẽ có năng lượng tích cực tốt lành đến, vô cùng vui vẻ). Sau đó cậu lập tức tiến lên cung kính đảnh lễ, quỳ gối nơi đó cầu xin Đức Thế Tôn: “Đức Phật từ bi, Ngài có thể ban cho con thêm một sinh mệnh nữa được không? Xin Ngài hãy cứu con, con cũng chỉ vì một phút hồ đồ.”
Đức Thế Tôn vô cùng từ bi, Ngài nói với những đao phủ: “Các ngươi đừng giết cậu ấy, hãy thả cậu ấy ra đi.”
Những đao phủ khó xử thưa với Đức Thế Tôn: “Xin Đức Phật Ngài nghĩ xem, chúng con đâu có hai cái đầu. Nếu có hai cái đầu, chúng con có thể thả hắn, bây giờ chúng con thả hắn ra thì đầu của chúng con cũng mất luôn.”
Đức Thế Tôn bảo những đao phủ: “Ta sẽ đi gặp nhà vua, trước khi ta gặp được nhà vua, xin các ngươi đừng sát hại cậu ấy.”
“Dạ được, dạ được, vậy chúng con đợi Ngài.”
Đức Thế Tôn tìm đến vua Thắng Quang, nói: “Đại Quốc vương, xin ngài hãy thả người phạm tội kia đi, đừng giết cậu ấy.”
Các vị quốc vương thời bấy giờ đều vô cùng tôn kính Đức Phật. Vua Thắng Quang – một người có đức tin – liền thưa: “Bạch Thế Tôn, hắn đã phạm rất nhiều tội, lý ra phải xử tử. Nhưng nếu Ngài có thể nhiếp thọ hắn, mà hắn cũng nguyện ý xuất gia, vậy thì chúng tôi sẽ thả hắn.”
Đức Thế Tôn nhận lời nhà vua: “Được, vậy ta sẽ nhiếp thọ cậu ấy.” Ngày xưa ở nước Ấn Độ cổ, sự tôn kính dành cho Đức Phật, cho Phật Pháp là vô cùng to lớn. Người xưa nói “Xuất gia có thể miễn tử tội” chính là đạo lý này, vì xuất gia rồi, thì không còn sống cuộc sống thế tục ở nhân gian nữa.
Sau đó, Đức Thế Tôn đưa cậu về kinh đường, thế phát xuất gia (cạo tóc, từ bỏ thế tục) và truyền giới thụ pháp cho cậu. Không ngờ bản thân An Ninh cũng phi thường tinh tấn tu trì, vì duyên phận đã đến, cậu nhanh chóng diệt tận mọi phiền não của luân hồi ba cõi (Tức là nghĩ thông, nghĩ thấu rồi, chỉ cần làm mười nghiệp thiện, vĩnh viễn không làm việc ác nữa, thì sẽ thoát khỏi luân hồi ba cõi), chứng đắc quả vị A La Hán.
Lúc này, rất nhiều tỳ-kheo đệ tử bên cạnh Đức Phật liền hỏi: “Bạch Thế Tôn, thái tử An Ninh đã làm đủ điều không như pháp, khi sắp bị hành hình lại được Đức Thế Tôn cứu mạng, được độ xuất gia và chứng đắc quả La Hán. Xin Ngài hãy vì chúng con mà tuyên thuyết (diễn thuyết giáo pháp) nhân duyên trước sau.” “Đúng vậy ạ, thưa Đức Phật, xin Ngài kể nhân duyên trước sau đi ạ.”
Đức Thế Tôn nói với các tỳ-kheo: “Chư vị tỳ-kheo, không những đời này ta cứu cậu ấy, độ cậu ấy xuất gia chứng đắc quả vị La Hán, mà tiền kiếp ta cũng từng cứu cậu ấy, giúp cậu ấy đắc được Tứ thiền Ngũ thông.”
“Thưa Đức Phật, Ngài mau nói cho chúng con nghe đi ạ.”
“Vào thời xa xưa, ở Lộc Dã Uyển tại Ấn Độ có một vị quốc vương tên là Thương Kỳ. Trong nước của ông có một kẻ ác, làm rất nhiều chuyện không như pháp, sau đó sắp bị xử cực hình. Khi đao phủ (người thi hành án) chuẩn bị giết hắn, hắn sinh lòng khiếp sợ, van xin, kêu gào cứu mạng. Lúc bấy giờ ở gần Lộc Dã Uyển có một vị đại tiên nhân, mang đầy đủ ngũ thông, thấy hắn vô cùng đáng thương, rất muốn cứu hắn. Kẻ ác nhìn thấy đại tiên nhân, cung kính đảnh lễ, cầu xin cứu mạng: ‘Tiên nhân ơi, xin ngài cứu tôi với.’ Tiên nhân liền bảo đao phủ thả hắn ra, đừng giết hắn. Những đao phủ đó nói: ‘Đại tiên nhân ơi, chúng tôi đâu có hai cái đầu, bây giờ bảo chúng tôi không giết hắn, chúng tôi không làm được đâu.’ Tiên nhân muốn đi thương lượng với nhà vua, bèn dặn dò đao phủ: ‘Trước khi ta tìm được vua Thương Kỳ, các ngươi đừng giết hắn.’ Đao phủ đồng ý. Tiên nhân liền tìm đến nhà vua cầu tình. Nhà vua nói: ‘Nếu không giết hắn, ngài phải đưa hắn đi xuất gia.’ Tiên nhân đồng ý, liền đưa kẻ ác này vào rừng sâu, truyền thụ giáo ngôn cho hắn. Hắn y giáo tu hành, đắc được Tứ thiền Ngũ thông.”
Ở đây xin giải thích với mọi người: Nhiều người ở kiếp trước có thần thông nhưng kiếp này không nhất định có bởi vì chướng thai che đậy (tức là sau khi đầu thai chuyển thế bị che đậy rồi). An Ninh kiếp trước tuy rằng chứng được tứ thiền ngũ thông, nhưng kiếp này khi hắn bị trói đi diễu hành, hoàn toàn không thể hiển thị ra tứ thiền ngũ thông ở kiếp trước.
Đức Thế Tôn bảo các vị Tỳ-kheo rằng: “Này các vị Tỳ-kheo, bậc tiên nhân lúc bấy giờ chính là ta đã chứng ngộ Bồ Đề. Kẻ ác tức là thái tử An Ninh ngày nay, quốc vương Thương Kỳ chính là quốc vương Thắng Quang ngày nay. Trước kia khi cậu ta sắp bị xử tử ta đã cứu cậu ấy, khiến cậu ấy tu được tứ thiền ngũ thông. Bây giờ cũng là lúc An Ninh sắp bị xử tử, ta đã cứu cậu ấy, khiến cậu ấy chứng được quả vị La Hán Niết-bàn tối thượng.
Có nhiều vị Tỳ-kheo hỏi: “Xin hỏi Đức Thế Tôn, vậy nhân duyên gì mà An Ninh được tái sinh vào nhà của một vị hoàng thân giàu có, thân thể trang nghiêm, được Phật lệnh độ, lại có thể xuất gia và đạt được quả vị La Hán? Bạch Đức Phật, mong Ngài có thể giải thích nhân duyên trước sau”.
Đức Thế Tôn lại bảo rằng: “Đây là nguyện lực từ tiền kiếp. Vào thời Hiền Kiếp, khi tuổi thọ con người là hai vạn tuổi, lúc Đấng Nhân Thiên Đạo Sư, Như Lai Chánh Đẳng Giác Ca Diếp Phật ra đời, có một vị tỳ-kheo chấp sự dành cả đời làm việc cho Tăng chúng, lao động vất vả. Lúc lâm chung ông phát nguyện: ‘Cả đời con xuất gia làm việc cho Tăng chúng, tuy con chưa đạt được công đức và cảnh giới gì, nguyện đem thiện căn này, sau này khi Đức Thích Ca Phật ra đời, con sẽ làm cho Phật hoan hỷ, xuất gia diệt tận phiền não ba cõi, chứng đắc quả vị A La Hán.’ Vị tỳ-kheo chấp sự này chính là vương tử An Ninh hiện tại. Bởi vì nguyện lực của ông ấy đã chín muồi, nên đời này dưới giáo pháp của ta, đã khiến ta hoan hỷ, xuất gia diệt tận phiền não ba cõi, chứng quả A La Hán.”
Câu chuyện này nói cho chúng ta biết, sự thành công của mỗi người, duyên phận của mỗi người với Bồ Tát, đều có cội có nguồn. Học Phật không phải chỉ đời này mới có duyên phận, mà đều là duyên phận bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp của chính quý vị. Cho nên Sư phụ hy vọng quý vị phải tu tâm học Phật cho tốt, đừng vì một chút phiền não, trắc trở trên con đường tu hành mà chấp mê bất ngộ. Ở nhân gian, khi con đường không thông, phải học cách rẽ ngang, lựa chọn rẽ sang hướng khác. Tu tâm đến lúc cảm thấy không vui, phải học cách xem nhẹ nó, đừng đặt nặng như vậy, qua rồi là được, sửa đổi rồi là tốt. Ở nhân gian, khi tình cảm của quý vị dần dần nhạt đi, khi khoảng cách ngày một xa, khi người ta rời bỏ quý vị, quý vị phải học cách lựa chọn “tùy duyên”. Ở nhân gian, có một số chuyện quý vị gánh vác thêm một chút, chịu đựng một chút, có thể sẽ qua đi; có những kẻ hãm hại quý vị, cắn răng bỏ qua, có lẽ dần dần quý vị cũng sẽ quên đi; có một số nỗi khổ, cười một cái là cười cho qua, cười rồi thì mọi việc sẽ qua, khổ rồi cũng sẽ qua; một trái tim của người tu tâm, đôi khi bị thương tổn một chút, sẽ trở nên kiên cường hơn. Con đường nhân sinh gập ghềnh nhấp nhô, hãy bình thản thong dong mà tùy duyên bước tới. Khi đắc ý, người học Phật chúng ta phải học cách xem nhẹ; khi thất ý, người học Phật chúng ta phải học cách nhìn thấu. Tuyệt đối đừng quá vướng mắc vào một quan điểm nào đó của bản thân, mà khiến chính mình phải gánh vác những nghiệp chướng và gánh nặng nề ở thế gian. Chúng ta thường nói “Nghiệp chướng của ai người nấy tự gánh”, đừng đi cõng nghiệp chướng lên lưng mình. Hãy học cách siêng năng tu tập, rèn luyện Phật duyên — duyên phận học Phật cần phải siêng tu khổ luyện, tu thành Vô Thượng Chánh Đẳng Tâm. Sư phụ hy vọng quý vị nhất định phải nghĩ cho thông, nghĩ cho thấu, một kiếp tu thành mới là hạnh nguyện thực sự để chúng ta trở về trời.
Được rồi, cảm ơn quý vị. Hôm nay bài “Bạch Thoại Phật Pháp” của chúng ta xin được dừng lại tại đây, hẹn gặp lại vào lần sau. Cảm ơn quý vị.
75. Phước huệ song tu thoát lục đạo
Tập 75
PHƯỚC HUỆ SONG TU THOÁT LỤC ĐẠO
(23/05/2020)
Chào quý vị, hôm nay Sư phụ tiếp tục giảng “Bạch Thoại Phật Pháp” cho mọi người.
Thực ra học Phật đến cuối cùng chính là đạt đến một cảnh giới. Cảnh giới là thứ quý vị không thể nhìn thấy, không thể sờ thấy, nhưng thông qua cách quý vị xử lý sự việc, hay khi quý vị mở miệng nói một câu, người khác liền biết cảnh giới của quý vị cao hay thấp. Có người vừa cất lời đã bị người khác coi thường, bởi vì họ quá ích kỷ; còn người có cảnh giới cao thì luôn suy nghĩ cho người khác. Cảnh giới cao, sự thăng tiến của cảnh giới sẽ khiến quý vị biết tuân thủ nghiêm ngặt khẩu nghiệp. Cho nên rất nhiều người biết cảnh giới của mình chưa cao, khi nói chuyện sẽ đặc biệt cẩn thận. Văn hóa truyền thống Trung Hoa có câu “Họa từ miệng ra, bệnh từ miệng vào”, thực tế chính là khuyên chúng ta tuân thủ nghiêm ngặt khẩu nghiệp, đừng nói năng tùy tiện. Quý vị không nói, người khác sẽ không biết cảnh giới của quý vị ở mức nào, nhưng vừa mở miệng ra, cảnh giới lập tức tụt xuống ngay. Cho nên rất nhiều người học Phật, học đến sau này, ngày càng sợ nói chuyện.
Người học Phật sau này đối với những việc mình không nắm chắc thì đừng nên nói bừa, họa từ miệng mà ra; nếu ăn nói tùy tiện, sẽ khiến người khác cảm thấy quý vị là một người không đáng tin cậy. Tại sao nhiều người sống rất đau khổ? Bởi vì họ nói gì người khác cũng không tin, bởi vì họ không đáng được người khác tin tưởng. Lời nói của một người đại diện cho cảnh giới của người đó; những lời đáng tin, nắm chắc phần đúng thì mới nói, những chuyện không đáng tin, không làm được thì đừng nói, nói năng cẩn trọng, “cẩn ngôn thận hành” (thận trọng trong lời nói và hành động), đây chính là “khẩu giới” mà người học Phật chúng ta nên giữ. Bởi vì nếu quý vị không giữ được khẩu giới, thì khẩu nghiệp của quý vị sẽ ập đến. Cần phải phúc huệ song tu, phải giữ được khẩu nghiệp, phải có cảnh giới, phải có phúc khí, phải có trí huệ. Quý vị không có phúc khí, thì không thể gặp được bậc cao tăng đại đức, không thể gặp được người tốt; nếu quý vị biết trân quý phước, trân trọng phúc phần của mình, dần dần quý vị sẽ có được trí huệ; khi quý vị có trí huệ, quý vị sẽ từ từ nâng cao được cảnh giới của chính mình.
Nhiều đệ tử hay hỏi Sư phụ: “Sư phụ, trí huệ của chúng ta từ đâu mà có?” Sư phụ nói cho quý vị biết, là từ trong Bố thí mà có. Quý vị có thích bố thí bằng lời nói không? Có thích tài thí, pháp thí, vô úy thí không? Quý vị có sẵn sàng dành ra thời gian quý báu của mình để giúp đỡ người khác không? Nếu quý vị sẵn lòng, thì quý vị là người có trí huệ, chính là đang quảng kết thiện duyên. Bởi vì giúp đỡ người khác cũng là nâng cao chính mình, giúp người khác giải quyết một vấn đề, quý vị sẽ có thêm hiểu biết về vấn đề đó. Sư phụ từng kể với quý vị, Sư phụ có quen một người bạn học năm xưa đến Úc, cô ấy rất nhiệt tình giúp đỡ mọi người. Thời điểm mới đến Úc, cô ấy chưa kết hôn cũng chưa có con, nhưng cô ấy thường xuyên giúp hàng xóm, giúp con cái của đồng nghiệp sống cùng tìm hiểu xem trường điểm nào tốt, khu vực nào tốt… Kết quả đợi đến khi bản thân cô ấy kết hôn sinh con, cô ấy đã biết hết mọi thứ rồi. Cho nên, giúp đỡ người khác chính là gia tăng trí huệ cho bản thân mình.
Phải xem chúng sinh là người thân, coi người khác như người nhà, thì chỉ cần nghe một cuộc điện thoại, giọng nói của quý vị cũng sẽ trở nên dịu dàng, êm tai. Quý vị xem bây giờ nhiều người nghe điện thoại, (giọng lạnh nhạt trả lời) “Alo, xin chào”, cách nói chuyện hoàn toàn không giống như đang nói với người thân. Rất nhiều người nói chuyện với chính cha mẹ ruột của mình mà lại cực kỳ thô lỗ. Ngôn ngữ kiểu này phản ánh cảnh giới của quý vị, người có tu dưỡng sao lại nói chuyện như vậy? Đối xử thiện với người khác, quý vị nhất định sẽ có phúc khí. Quý vị lương thiện với người ta, chắc chắn sẽ có phúc khí; quý vị ác với người ta, quý vị sẽ đánh mất đi phúc khí của chính mình.
Trí huệ đến từ trong Giới luật. Trí huệ từ đâu mà ra? Chính là từ việc giữ giới. Một người có trí huệ sẽ được người khác tôn trọng, cảnh giới của quý vị sẽ được người ta đánh giá rất cao. Bởi vì quý vị giữ giới, không nói năng hàm hồ, không tùy tiện làm bất cứ hành vi nào không nên làm, rồi trong đầu chỉ suy nghĩ đến những chuyện nên nghĩ, hơn nữa lại biết giữ giới, giữ mồm giữ miệng, thế thì quý vị đã có được trạng thái “thân tâm vô chướng” (thân và tâm không có chướng ngại), trí huệ tự nhiên sẽ đến, trong tâm quý vị sẽ không còn chướng ngại nữa. Quý vị thử nghĩ xem, chuyện không hiểu thì quý vị không nói, những gì quý vị nói ra đều là điều mình nắm rõ, vậy có phải sẽ nhận được sự tin tưởng của người khác không? Vậy tại sao nhiều người lại bị người ta coi thường? Chính là vì không biết mà cứ tỏ ra là mình biết. “Khác ngành nghề như cách một ngọn núi”, nếu quý vị là dân chuyên ngành, ví dụ như chuyên ngành máy tính, người khác không hiểu nhưng lại cứ huênh hoang “Tôi biết”, họ vừa thao tác một cái, quý vị đứng cạnh nhìn là lập tức biết ngay họ có chuyên nghiệp hay không; nếu hôm nay quý vị đi hát, mạnh miệng bảo “Tôi hát hay lắm”, chạy lên hát một bài sai nhịp trật tông, người khác lập tức nghe ra ngay. Đây chính là hậu quả của việc không biết mà tỏ ra mình biết, khiến người khác xem thường quý vị, cảnh giới lập tức tụt xuống. Cho nên mãi mãi không được nói những chuyện mình không hiểu, mãi mãi phải giữ giới, thì cảnh giới của quý vị sẽ nâng cao, trí huệ sẽ đến. Từ nhỏ Sư phụ đã nghe rất nhiều người có trí huệ dặn rằng: Khi trò chuyện với người khác, mãi mãi chỉ nói về những điều mình am hiểu; nếu mình không hiểu, đừng bàn luận chủ đề đó với họ. Thế có người sẽ nói: “Vậy chẳng lẽ con cứ ngồi bên cạnh như kẻ ngốc, chủ đề người khác nói con đều không hiểu, như thế chẳng phải con sẽ mất đi sự gắn kết với bạn bè sao?” Đúng thế, nhưng quý vị có thể khéo léo chuyển chủ đề, lái sang chủ đề mà quý vị quen thuộc, rồi sau đó mới phát huy, bản thân điều này đã là một loại trí huệ. Những việc không hiểu thì quý vị không nói, những việc am hiểu thì quý vị nói rất nhiều, như vậy người khác sẽ cảm thấy quý vị cái gì cũng biết. Thực tế, đương nhiên quý vị chưa hẳn là hiểu hết tất cả, nhưng ít nhất cũng khiến người khác nể trọng quý vị — vì quý vị không phải là kẻ nói năng lung tung.
Rất nhiều người trong chúng ta sống trên đời không biết cách làm người, chuyện không nên nói lại nói bừa, việc không nên làm lại làm bừa, thứ không nên nghĩ lại nghĩ bừa, rồi nhìn ai cũng thấy chướng mắt, cứ như vậy dần dần sẽ dẫn đến vô cớ sinh sự. Quý vị nghĩ xem, trong sự tiếp xúc giữa người với người, trong lòng quý vị nghĩ gì, từ ánh mắt của quý vị đều có thể nhìn ra được: Nếu quý vị cảm thấy mọi người đối xử tốt với mình, ánh mắt của quý vị sẽ tràn ngập niềm vui và sự cảm động; nhưng nếu hôm nay quý vị cảm thấy mọi người đang mỉa mai mình, đối xử không tốt với mình, đang dùng ánh mắt khác thường để soi mói mình, thì trong tâm quý vị sẽ lập tức sinh ra phiền não, u uất, khó chịu. Ngay cả khi không có chuyện gì xảy ra, ánh mắt của quý vị cũng sẽ nảy sinh nhiều cảm giác kỳ lạ, khiến người khác cảm thấy quý vị không tốt với họ. Thực ra người ta đâu có ý nghĩ đó, ai cũng đang bận bịu việc của riêng mình, thì ai mà đặc biệt quan tâm đến quý vị? Trừ phi là người đặc biệt thân thiết với quý vị, còn con người thời nay đều là như vậy cả.
Cho nên Sư phụ khuyên quý vị, ở chốn nhân gian đừng tùy tiện suy đoán lung tung, suy đoán chính là thường xuyên nghi ngờ: “Anh có phải đang như thế này không? Có phải anh đang giở trò sau lưng tôi không?” hoặc đối với tôi như nào… tự thêu dệt nên những chuyện không có thật. Nếu như vậy quý vị sẽ tự chuốc lấy rắc rối, Phật hữu sẽ thấy quý vị là một người vô cùng đa nghi, và người khác sẽ không muốn nói lời thật lòng với quý vị. Ngược lại, nếu quý vị không đi suy đoán người khác, ăn nói chân thành, người ta sẽ thấy quý vị rất trưởng thành, rất có tu dưỡng, lời nói ra mạch lạc đâu ra đấy, chuyện gì am hiểu thì nói nhiều một chút, trên thực tế không ai có thể cái gì cũng biết cả.
Một người tu hành, nếu thoát ly khỏi những thú vui tầm thường ở nhân gian, tức là đừng suốt ngày sống mà cứ phải nhìn sắc mặt, nhìn môi trường xung quanh, đừng suốt ngày sống dựa vào tâm trạng của người khác, đó chính là thoát ly khỏi sự thấp kém của thế tục. Tại sao quý vị luôn nghĩ rằng người ta đang coi thường mình, người ta đang nói xấu mình, người ta đang làm những hành động không tốt với mình? Trước đây có người từng kể chuyện vui thế này: Trong một nhà hàng, nếu nhân viên nào lỡ tay đánh vỡ một cái đĩa, hoặc làm vỡ một cái thìa, thì ngay lập tức người supervisor (quản lý) sẽ nghĩ: “Hôm nay cậu ta đang bất đồng quan điểm với mình, có ý kiến, có suy nghĩ rồi.” Bởi vì những người làm quản lý thường rất nhạy cảm, luôn cảm thấy người khác có thành kiến với mình, có thể do những việc anh ta làm không như lý như pháp, cho nên anh ta luôn cảm giác người khác đối xử không tốt với mình. Đây chính là việc trong tâm người đó vẫn chưa thoát khỏi những suy nghĩ thấp kém. Thực chất, những thú vui tầm thường chính là những tư tưởng thấp kém, chính là phàm nhân; ngược lại, nếu quý vị chuyên tâm tu tâm học Phật cho tốt, quý vị chính là Thánh nhân.
Hôm nay Sư phụ sẽ nói với quý vị về phúc báo. Chúng ta thường nói “người này có phúc báo”, vậy sống trên thế giới này, phúc báo thực sự là gì? Trong giới Phật Pháp, phúc báo được gọi là “Thanh tịnh vô vi”. Một người thanh tịnh rồi, tâm phải tĩnh, đầu óc phải sáng, sau đó trong tâm vừa không có phiền não cũng chẳng có bi thương, vừa không có vui vẻ cũng chẳng có u buồn, thanh tịnh vô vi, rất sạch sẽ, không vướng bận suy nghĩ, đây chẳng phải là “vô đắc diệc vô thất” (không được cũng không mất) sao? Không có được cũng chẳng mất đi, vô đắc diệc vô thất, “Tôi không có niềm vui sướng, tôi cũng chẳng có nỗi u sầu, bởi vì niềm vui đến tôi không dính mắc, nên tôi sẽ không phải chịu đựng nỗi đau đớn khi mất đi”. Người ta đối xử tốt với quý vị, quý vị cảm ơn mọi người, cảm ơn người ta; người ta rời bỏ quý vị, không quan tâm quý vị nữa, quý vị cũng chẳng lấy làm buồn bã. Cho nên trên thế giới này, người học Phật chân chính không có bi thương, không có phiền não, không có u buồn, cũng không có vui sướng, tức là vô đắc diệc vô thất. Sẽ không có chuyện người khác nhục mạ khiến quý vị khó chịu, sống trong thống khổ; cũng không có cảm giác vinh quang gì lớn lao, “Bạn xem mọi người đều đang ngước nhìn tôi kìa. Bạn xem, cảm xúc biết bao”, tâm của quý vị mãi mãi là tĩnh lặng, vô cùng bình lặng.
Trong tâm lý học từng có một cuộc thí nghiệm, họ dặn trước một người rằng: “Lát nữa anh đến công ty dự party (tiệc), anh xem, tất cả mọi người sẽ không thèm để ý đến anh đâu, ánh mắt ai cũng kỳ lạ, bởi vì hôm nay công ty bị mất một món đồ, mọi người đều đang nghi ngờ là anh ăn cắp.” Thực tế đây chỉ là một cuộc thí nghiệm tâm lý, hoàn toàn là chuyện ăn không nói có. Nhưng người này sau khi nghe những lời đó, lúc bước vào nơi tổ chức bữa tiệc, ánh mắt anh ta nhìn người khác đã có sự khác lạ; bởi vì bản thân anh ta thấy khác lạ, nên người khác nhìn anh ta cũng sẽ thấy lạ lùng, thế là anh ta thấy tất cả mọi người đều đang nhìn mình với ánh mắt kỳ lạ. Thực chất anh ta không biết nguyên nhân là do trong lòng mình đang có bóng ma. Trong tâm quý vị có khúc mắc, cho nên quý vị khiến người khác sinh ra khúc mắc, cuối cùng anh ta cảm thấy mọi người thực sự đang có ý kiến với mình. Đây chính là trắc nghiệm tâm lý. Con người chính là như vậy: Nhìn núi là núi, nhìn nước là nước; có lúc nhìn núi không phải là núi, nhìn nước không phải là nước; cuối cùng người ta bảo với anh ta: “Hoàn toàn không có chuyện mất cắp đâu, chỉ là kiểm tra tâm lý của anh chút thôi”, thì anh ta nhìn núi lại là núi, nhìn nước lại là nước. Đây chính là sự biến đổi tâm lý của con người, tự cảm thấy “có người coi thường mình rồi”, cảm thấy “có người chê bai mình rồi”, cho nên tâm của quý vị không thể “như như bất động”. Cái tâm thực sự có thể như như bất động, chính là quý vị đang tận hưởng phúc báo mà thiên thượng ban cho chúng ta — ngày ngày sống rất vui vẻ, không có phiền não, không có u buồn, không có vinh quang, cũng chẳng có nhục nhã, đó chẳng phải là phúc báo sao? Bình an chẳng phải là phúc sao? Tại sao bình an lại chính là phúc báo, đạo lý chính là ở chỗ đó.
Sư phụ sẽ nói cho mọi người hiểu thế nào gọi là “Thanh tịnh vô vi”. Phúc báo của thanh tịnh vô vi, thanh tịnh vô vi chính là “thanh phúc”, hưởng thanh phúc. Rất nhiều người sống trên thế giới này đều hay nói: “Anh sắp được hưởng thanh phúc rồi nhé, anh có phúc khí đấy, được hưởng thanh phúc rồi”. Vậy Sư phụ cho quý vị biết, quý vị có phúc khí, nhưng phúc khí đó phải “thanh”. Rất nhiều người có phúc khí, nhưng ngay sau đó là rước lấy phiền não, đúng không? Có người nói “Tôi muốn có thật nhiều phúc khí”,tài, sắc, danh, thực, thùy (tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ), đều là phúc khí, có được rồi cũng rất vui vẻ; nhưng người thực sự có phúc khí — người hưởng thanh phúc, thứ họ mong muốn là cái thanh phúc. Lấy một ví dụ đơn giản, hôm nay ở cơ quan quý vị được đề bạt làm trưởng một bộ phận nào đó, quý vị vui chứ? Về đến nhà khoe: “Nhìn xem, tôi làm giám đốc rồi”, nhưng kéo theo sau đó là một đống phiền não, đúng không? “Tôi rất vui, cuối cùng tôi cũng toại nguyện, tôi đã giành được giải nhất”, nhưng sau đó mọi người đều tìm đến quý vị nhờ vả, nhờ ký tên, rồi tìm quý vị xin tài trợ, tìm quý vị làm việc này việc kia… Loại phúc khí này không phải là thanh phúc.
Vậy hôm nay nói cho mọi người biết thế nào gọi là thanh phúc. Thanh phúc là thứ mà chỉ người có trí huệ mới được hưởng, người không có trí huệ thì không hưởng được thanh phúc. Khi một người nhàn rỗi, khi tâm đã tĩnh lại, khi không có vướng bận, phiền não, không bị tình cảm trói buộc, không có áp lực nợ nần, có thể thong thả ngồi một mình ở nhà, thanh thanh đạm đạm, không ai đến tìm, không có phiền não, không có u sầu, tự mình uống một tách trà, niệm vài bài kinh, nghĩ rằng chẳng có ai đến gây rối mình, chẳng có ai đố kỵ mình, trên thế giới này không có ai phỉ báng mình, ngay lúc này quý vị chính là đang tận hưởng phúc báo của thanh phúc. Thế nào là thanh phúc? Có người nói bình an chính là phúc. Quý vị còn đòi phúc khí gì nữa? Quý vị tưởng cứ sở hữu được là vui vẻ sao? Sư phụ lấy một ví dụ đơn giản, có một người trúng xổ số mấy chục triệu, có tiền rồi, tiếp theo con cái bị người ta bắt cóc tống tiền, cuối cùng chính ông ta cũng bị bắt cóc nốt, quý vị nói xem ông ta có phúc khí không? Có chứ. Nhưng có thanh phúc không? Không có. Quý vị có thể ngồi xuống an an định định, không ai nói về quý vị, không ai gây rối quý vị, tự quý vị biết rõ “Tôi không làm gì sai”, niệm vài bài kinh, ngồi một mình, “Thế giới này đều là của tôi, tôi thanh tịnh rồi, thế giới cũng tĩnh lặng rồi”, đây chẳng phải là “nhất hoa nhất thế giới” sao? Đây chính là quý vị đang tận hưởng một môi trường thanh tịnh, không ai quấy rầy. Lúc một người ngồi tọa thiền chẳng phải là đang hưởng thanh phúc sao? Hoàn toàn không có tiếng điện thoại réo, không có ai đến nói chuyện với quý vị, không ai đến làm phiền quý vị, phúc báo này là vô cùng to lớn.
76. Tam tâm bất khả đắc
Tập 76
TAM TÂM BẤT KHẢ ĐẮC
(23/05/2020)
Rất nhiều người trong chúng ta có thời gian rảnh, rảnh rỗi rồi, nhưng họ lại không muốn hưởng “thanh phúc”, không chịu ngồi yên. Người ta nói: “Bạn muốn thanh tịnh một chút không? Khó khăn lắm hôm nay mới được ngày nghỉ.” Thế nhưng trong tâm không sạch sẽ, thì trong ngày nghỉ quý vị cũng không thể tĩnh lại được: “Mình phải gọi điện thoại, mình phải làm cái này, mình phải làm cái kia.” Cho dù ở nhà trong một môi trường yên tĩnh, hôm nay không có ai quấy rầy quý vị, không ai làm gì, rất yên tĩnh, quý vị có thể ở nhà làm chút việc, muốn làm gì thì làm; nhưng lại luôn cảm thấy mình sẽ bị người ngoài xã hội lãng quên, rồi phải cầm điện thoại lên gọi: “Hello, bạn khỏe không?”, gửi một tin nhắn: “Bạn đang làm gì thế?” Cứ như thể bạn bè nhiều vô kể, điện thoại gọi không ngừng, tin nhắn trên điện thoại gửi đi không ngớt, sau đó còn muốn hàng xóm cũng phải biết “Tôi là ai ai ai”. Thực ra, dùng từ ngữ hiện đại mà nói, đó chính là liều mạng chứng tỏ sự tồn tại của bản thân. Quý vị thanh tịnh một chút không tốt sao? Thanh tịnh thì thời gian trôi qua rất nhanh. Ngồi ở đó niệm kinh, chớp mắt một cái đã một tiếng đồng hồ; vừa niệm xong một tiếng, cộng thêm chợp mắt một giấc là thành hai tiếng; vừa niệm vừa ngủ, năm tiếng trôi qua. Có thanh tịnh không? Rất thanh tịnh, không bị ai quấy rầy. Nhưng con người thời nay, quý vị bảo họ thanh tịnh, họ có chịu không? Quý vị cất điện thoại của họ đi, quý vị lấy máy tính của họ đi, họ sẽ liều mạng với quý vị. Đây chính là muốn chứng tỏ sự tồn tại, cảm giác rằng “Mình nhất định không được để xã hội lãng quên, không được để người khác coi thường”. Cho nên rất nhiều người là như vậy, buổi tối nếu không có lời mời party (tiệc tùng), họ cảm thấy khó chịu, họ vĩnh viễn không thể tận hưởng được cái thanh phúc này. Được người ta mời, quý vị khổ sở biết bao? Chạy đi xã giao, “Chào anh, chào anh…” Quý vị có thấy lãng phí thời gian không? Quý vị nói xem người học Phật làm sao lại cần những thứ này? Họ cần thanh phúc, phúc khí phải sạch sẽ. Có người phúc khí không sạch sẽ thì sẽ để lại hậu họa. Cho nên Sư phụ nói với quý vị, con người chúng ta đừng sợ bị người khác coi thường.
Nếu quý vị không học Phật, ở nhân gian quý vị sẽ không có phúc khí thực sự, bởi vì đằng sau “phúc” chính là bi thương, phúc khí đến rồi thì theo sau đó là tai họa, tai họa qua đi rồi lại có phúc khí. Đôi khi, bi ai của con người thế gian chúng ta chính là không hưởng được thanh phúc. Từng có một Phật hữu nói với Sư phụ: “Sư phụ, đứa con trai này của con sau này lớn lên, tốt nghiệp xong là con hết phiền não. Con chỉ lo cho mỗi nó thôi, sau này nó tốt nghiệp là tốt rồi.” Vài năm sau Sư phụ gặp lại vị ấy: “Con trai thì tốt nghiệp rồi, tìm được một cô bạn gái rồi, nhưng cứ cãi vã ầm ĩ, phải làm sao đây Sư phụ?” Sau đó một năm nữa lại gặp: “Tốt rồi, bạn gái cũ trước đây và nó đã chia tay, bây giờ nó đã tìm được bạn gái mới và rất yêu nó.” Sư phụ nói: “Thế chẳng phải rất tốt sao?” “Ây da, nhưng không có con, không sinh được. Lư Đài Trưởng, Ngài xem giúp nó với?” Đây chính là muốn nói với quý vị, cái phúc khí này luôn tiềm ẩn tai họa.
Thanh phúc sạch sẽ thực sự, thực chất là sự tận hưởng tĩnh lặng của thế giới nội tâm. Quý vị nói xem, một người được yên tĩnh tốt biết mấy, không có ai đến làm phiền tốt biết bao, đúng không? Cứ không ngừng tìm việc để làm, không ngừng tìm chuyện để nói, tìm việc để xông vào làm, cứ như bận rộn lắm, thời gian từng phút từng giây trôi qua mà chẳng học được gì. Học được cái gì? Học được sự gian xảo ở nhân gian, học được sự cống cao ngã mạn ở nhân gian, học được danh lợi, tham, sân, si nơi nhân gian. Cho nên tâm lý của tất cả mọi người trên thế giới, thực ra Đức Phật đã biết từ lâu rồi. Con người vốn dĩ là như vậy, Đức Phật làm sao lại không biết được con người chứ? Bởi vì con người coi những vật chất của thế giới hư ảo không chân thật thành hiện thực: “Tôi bận lắm, bận vô cùng.” Thực ra bận rộn qua đi, tất cả đều như mộng huyễn bào ảnh, như sương cũng như chớp, làm gì có thật? Vậy mà khi quý vị có được sự thanh tịnh thực sự, Bồ Tát nói cho chúng ta biết, quý vị lại lấy những vật chất và tình cảm không chân thật đó để dập tắt đi thanh phúc của chính mình. Những phiền não hư ảo đó có ý nghĩa gì chứ? Trước đây, có một ngôi sao đến tham quan một nhà máy. Một số nhân viên ngồi bên trong vừa thấy người nổi tiếng đến, liền tìm đủ mọi cách để thể hiện bản thân, tỏ ra vị trí công việc của mình rất quan trọng. Có một số nhân viên quản lý thì muốn bộc lộ chức trách và năng lực của mình trong công ty, thế là khi ngôi sao đó đi ngang qua, anh ta liền chỉ huy công việc: “Anh qua kia đi, anh đừng qua đây, anh làm việc lại không nghiêm túc rồi.” Anh ta mắng mỏ người khác để thể hiện mình thuộc tầng lớp quản lý. Quý vị nghĩ ngôi sao đi ngang qua liệu có nhớ quý vị không? Hành vi như vậy, quý vị không thấy có chút nực cười sao? Quý vị bị người khác khơi dậy cái thói sĩ diện, cái vật chất và tình cảm hư ảo không chân thật đó, thực ra là đang tự tay tiêu diệt đi phúc phận yên tĩnh của bản thân. Bởi vì đợi sau khi ngôi sao đi khỏi, người bị quý vị mắng đã kết oán với quý vị rồi, tiếp theo họ sẽ không ngừng gây khó dễ cho quý vị, quý vị có phải là đang tự phá hoại phúc khí sạch sẽ của mình không? Vốn dĩ người ta đối xử với quý vị rất tốt mà. Cho nên thanh phúc cũng là phúc, thanh phúc là phúc khí sạch sẽ. Sau khi học Phật đạt đến tánh Không, sự thanh tịnh vô vi trong bản tánh của quý vị chính là thanh phúc, và quý vị đã thụ hưởng được thanh phúc đó rồi.
“Vô vi nhi vô bất vi” (không làm gì nhưng không có gì không làm), chính là thành tựu của bậc đại trí huệ. Chúng ta dường như không đi làm, nhưng thực tế quý vị đã làm rồi. Người khác hỏi quý vị: “Chuyện này quý vị phát biểu chút ý kiến đi?” “Tôi không có ý kiến gì đâu, nghe theo mọi người vậy.” Quý vị không làm gì nhỉ? Vô vi phải không? Nhưng một câu nói, một cử chỉ khiêm tốn như thế, tuy quý vị không biểu đạt ý kiến cụ thể, nhưng thực tế quý vị đã biểu đạt rằng “mọi người quyết định” —— vô vi nhi vô bất vi, thực tế quý vị là “hữu vi” (có làm). Nhưng cái vô vi này được thiết lập trên một cảnh giới nội tâm cao quý, đây chính là cảnh giới mà Sư phụ đã giảng cho quý vị lúc ban đầu. Giống như tọa thiền, quý vị ngồi ở đó mà như không ngồi, quý vị không có cảm giác (khi ngồi thiền đến thời gian về sau thì sẽ không còn cảm giác gì, không còn thấy mình đang ngồi ở đó nữa). Thực ra cái quý vị có được là việc tiếp nhận được khí trường của Bồ Tát, giúp đả thông toàn bộ khí mạch, giúp quý vị tu luyện tinh – khí – thần của chính mình. Ngồi thiền, đã làm chưa? Chưa làm. Đúng vậy, làm đến sau cùng giống như không làm. Nhưng quý vị có làm không? Là có làm, ngồi ở đây không còn cảm giác nữa. Rốt cuộc quý vị là hữu vi hay vô vi? Vô vi nhi vô bất vi, vô vi mà hữu vi. Rốt cuộc là hữu vi hay vô vi? Thực ra là vô vi nhi vô bất vi. Đây chính là điều mà Phật Pháp dạy chúng ta: Chuyện nhìn có vẻ như không làm, thực tế quý vị lại đang làm. Người ta nói: “Cảm ơn bạn, bạn đã làm rất nhiều.” “Tôi có làm gì đâu.” “Làm rất tốt.” “Tôi có làm gì đâu.” Lấy một ví dụ đơn giản, khi quý vị trình một bản báo cáo lên trên, quý vị không còn việc gì để làm nữa phải không? Nhìn thì như không có việc gì, nhưng thực tế quý vị đang chờ đợi phúc báo này đến, bởi vì báo cáo trình lên rồi, quý vị hy vọng nhận được một sự hồi đáp, một phúc báo. Nhưng trong lúc chờ đợi phúc báo đến, có một số người sẽ cảm thấy phiền não, thấy sao thời gian trôi lâu thế, lãng phí thời gian; có những người trong quá trình chờ đợi lại “vô vi nhi vô bất vi”, giống như là “Tôi không làm chuyện gì cả, tôi đang chờ báo cáo, nhưng thực ra tôi ngày ngày niệm kinh, phát nguyện, phóng sinh, tôi đang làm —— trong tâm tôi đang làm, tôi hy vọng bản báo cáo này có thể được phê duyệt nhanh một chút”. Quý vị nói xem người đó là hữu vi hay vô vi? Giống như việc mong bản báo cáo đệ trình lên sớm được duyệt, tôi dùng chính tâm niệm của mình để cầu xin nhận được bản báo cáo này nhanh chóng.
Bồ Tát dạy chúng ta, một khi con người thực sự có được lúc thanh tịnh, lúc có thể không phiền não, quý vị liền đạt được sự thanh tịnh. Thế nhưng, khó khăn lắm con cái mới khôn lớn và rời xa vòng tay quý vị, khó khăn lắm bản thân mới được yên tĩnh một chút, thì người ta lại không buông bỏ được. “Ây da, con tôi rời xa tôi rồi, nó đến một nơi xa xôi như thế, nó có bị đói bị rét không? Có bị người khác bắt nạt không?” Quý vị không buông được cái này, không nỡ bỏ cái kia, toàn tự chuốc lấy phiền não, làm gì có thanh phúc chứ? Người ta bảo “Quý vị hết phiền não rồi, quý vị nên hưởng thanh phúc rồi nhỉ?” Nhưng thực ra vẫn khó mà thanh tịnh được.
《Tâm Kinh》 hay 《Kinh Kim Cang》 cũng vậy, đều là muốn dạy chúng ta phải hiểu đạo lý “Tam tâm bất khả đắc” (Ba loại tâm quá khứ, hiện tại, tương lai đều không thể đắc). Quý vị phải đạt đến cảnh giới tam tâm bất khả đắc này. Thử nghĩ xem, quý vị biết quá khứ rồi sẽ qua đi, nhưng tâm quý vị vẫn không thể kiểm soát được, vẫn còn vướng bận trong quá khứ, vậy thì cái tâm này của quý vị có thể thanh tịnh không? Quý vị lấy đâu ra thanh phúc? Người ta vừa nhắc với quý vị một câu, quý vị liền nói: “Ngày xưa tôi…” Lại khóc rồi. Vậy quý vị lấy đâu ra thanh phúc? Quý vị phải đạt được cảnh giới này —— qua rồi, hết rồi, kết thúc rồi. Rất nhiều người cả đời không quên được quá khứ của mình, họ vĩnh viễn không cảm thấy đó là quá khứ, đã qua rồi. Bởi vì họ không vượt qua được, họ không bước qua được, họ tự nói với mình: “Tôi không vượt qua được, chướng ngại này tôi thực sự không thể bước qua.” Chính là do bản thân quý vị không muốn bước qua, quý vị mãi ghim chặt trong lòng, quý vị để những phiền não này kích thích mình, khiến tâm hồn mình tổn thương.
“Hiện tại bất khả đắc”, rất nhiều người cảm thấy: “Hiện tại sao lại không thể đạt được? Hiện tại tôi không đạt được, thì còn đợi đến bao giờ? Lúc nào mới có thể đạt được?” Thực tế hiện tại quý vị có thể đạt được gì? Thứ quý vị vừa đạt được, chớp mắt một cái là hết rồi, đã trở thành quá khứ rồi. Ví dụ, quý vị vừa ăn một bữa cơm rất vui vẻ, rất ngon miệng. Quý vị bây giờ ngồi đây, mấy tiếng đồng hồ trôi qua, niềm vui sướng đó còn không? Quý vị nghĩ là có thể nắm giữ được không? Qua rồi, quý vị lại phải chuẩn bị cho bữa ăn sáng ngày mai. Từ tối nay phải đợi đến sáng mai mới được ăn, đối với một người ham ăn mà nói, đó lại là một khoảng thời gian chờ đợi đằng đẵng. Đời người mọi thứ đều bất khả đắc. Phải đợi đến sáng mai, mất một thời gian dài như vậy mới lại được ăn món ngon vật lạ, đó là “tương lai bất khả đắc”.
Tương lai mà bao nhiêu người mong cầu, thực tế là nó chưa đến. Lấy ví dụ đơn giản, quý vị đều từng ở khách sạn, trong khách sạn có bữa sáng, là bữa sáng buffet miễn phí, mỗi người đều nghĩ thầm: “Mười giờ là họ đóng cửa rồi, nhất định phải cố dậy lúc chín giờ hơn, xuống ăn một bữa sáng thật ngon lành.” Quý vị thử nghĩ xem, có bao nhiêu người có được cái tương lai này —— sáng mai có thể ăn một bữa sáng? Vừa đến sáng họ có dậy nổi không? Ngủ một mạch đến mười rưỡi luôn, vừa tỉnh dậy thì “Ây da, bữa sáng ngon như thế mất rồi.” Tương lai có đạt được không? Thời gian đã trôi qua lâu rồi. Cho nên tam tâm bất khả đắc. Quý vị phải có cảnh giới tam tâm, quý vị phải hiểu rằng đây đều là những phúc báo của quá khứ, đã qua rồi, mất rồi. Hôm nay Sư phụ bàn với quý vị về phúc báo, thanh phúc, trước tiên quý vị phải hiểu được “Tam tâm bất khả đắc” trong 《Kinh Kim Cang》, phải có được cảnh giới này.
Căn bản của việc học Phật là phải tu đến mức hiểu được “thân người khó được”, biết “Phật Pháp khó nghe”. Tâm thanh tịnh đối với người học Phật chính là sự khỏe mạnh. Một người có thể an tĩnh, đó chẳng phải là khỏe mạnh sao? “Quả dục” (ít dục vọng) chính là sự hưởng thụ của linh hồn. Một người không có dục vọng, mới hưởng thụ biết bao; có dục vọng thì đau khổ biết bao: “Tôi muốn có được cái này, tôi muốn có được cái kia, tôi không có được nó, tôi thật đau khổ.” Đôi khi quý vị nảy sinh cái dục vọng “muốn một người nào đó hồi âm cho mình”, nếu lúc đó tạm thời chưa nhận được, quý vị đã cảm thấy rất đau khổ. Phải quả dục, thân thể khỏe mạnh, linh hồn vô dục, đó chính là quý vị đã sở hữu được tâm thanh tịnh —— một cái tâm thanh nhàn. Vậy mà con người chúng ta lúc thanh nhàn, lại liều mạng muốn sở hữu nhiều hơn. Đây chính là con người không muốn thanh nhàn. Cho nên khi chúng ta chìm trong dục vọng, sẽ từ từ tiêu hao đi tinh – khí – thần chân chính của chính mình. “Ngày mai tôi muốn cái này, ngày kia tôi muốn cái kia”, thế là tinh – khí – thần từ từ tiêu tan. Quý vị không thể có được sự thanh nhàn hạ mãn, nói cách khác là quý vị không thể an tĩnh, quý vị cũng không thể đạt được nhiều sự thỏa mãn hơn. An tĩnh, không có dục vọng, quý vị mới có thể biết thế nào là đủ; những việc không làm được chỉ khiến bản thân chuốc lấy bi ai. Đức Phật giảng về “nhân sinh điên đảo”, chính là nói những chúng sinh đều điên đảo, cảm thấy bận rộn đến tối tăm mặt mũi mới là vui vẻ, nhưng thực tế thanh nhàn mới là vui vẻ thực sự. Cho nên Bồ Tát nói chúng ta là “chúng sinh điên đảo”, chính là đã rời xa phúc báo, rời xa thanh phúc, và vì thế đã rời xa trí huệ. Sư phụ giảng cho quý vị nghe những điều này, chính là muốn quý vị hiểu được những đạo lý đó.
Lần trước Sư phụ giảng cho quý vị về nghiệp chướng, phải “diệt trừ chướng cấu vô hữu dư” (diệt trừ chướng ngại dơ bẩn không còn sót lại), nay xin nhắc nhở mọi người một chút, học cách “diệt trừ chướng cấu vô hữu dư”, chính là khi quý vị muốn diệt trừ nghiệp chướng và sự dơ bẩn trong tâm, phải “vô hữu dư” —— không để nó chừa lại một chút xíu cặn bã nào, phải tiêu diệt toàn bộ. Khi đó, tâm thanh tịnh và tâm hổ thẹn của quý vị mới sinh khởi. Một sự việc, cần phải được triệt để sám hối. Tại sao Sư phụ bảo quý vị phải triệt để sám hối? “Sao mình lại làm ra chuyện tồi tệ như thế này? Mình thật sự quá xấu hổ.” Được rồi, sau khi quý vị sám hối xong, quý vị có tâm hổ thẹn rồi, thì tâm của quý vị sẽ trở nên sạch sẽ. Bởi vì quý vị đã mượn sám hối để gột rửa những thứ nhơ nhớp, nên nghiệp chướng đã bị quý vị nhìn thấu. Tại sao nhiều người lại có cảm giác nghiệp chướng này trong tâm? Bởi vì họ không cảm thấy mình làm sai. “Tôi hận người đó, người đó hại tôi mà”, là vì quý vị không cảm nhận được chính mình làm sai. Tại sao người ta lại hại quý vị? Lẽ nào quý vị không có trách nhiệm sao? Lẽ nào quý vị chưa từng đi làm tổn thương người khác sao? v.v… Chỉ khi quý vị nhìn thấu những nghiệp chướng xấu ác trên người mình, quý vị mới khiến nghiệp chướng không còn chỗ nào để lẩn trốn trên người mình nữa. Chỉ khi nhận rõ chính mình: “Tôi không nên làm chuyện này, lúc đó tôi làm thế là không đúng”, quý vị mới có thể thay đổi, quý vị mới có được tâm thanh tịnh, mọi hành vi tu tâm đến cuối cùng đều sẽ trổ ra thiện quả. Sư phụ hỏi quý vị, cái gì cũng là do mình không tốt, thì quý vị còn có oán khí không? Chuyện gì cũng là do tự mình làm sai, quý vị còn trách ai được nữa? Không trách người khác nữa, thì trong tâm có phải không còn oán khí không? Không còn nghiệp chướng nữa phải không? Quý vị hễ hận người khác, cảm thấy đều là người khác không tốt, thì có phải quý vị đang tự cản trở trí huệ của chính mình rồi không? Giống như lần trước Sư phụ đã giảng cho quý vị: “Bất vong sơ tâm, phương đắc thủy chung” (Không quên tâm ban đầu, mới được trọn vẹn trước sau). Thực tế Phật Pháp giảng, đừng quên đi những chuyện tốt và chuyện xấu mình từng làm. Nhớ chuyện xấu này là để quý vị ghi nhớ đừng bao giờ tái phạm lần nữa, nhờ đó quý vị sẽ có được diệu hạnh thiện quả; nếu đó là một cái tâm khởi đầu tốt đẹp, hãy ra sức vun trồng, tưới nước thật tốt cho nó, quý vị sẽ giúp nó đạt được thiện quả cuối cùng. Dùng lời hiện đại mà nói, điểm xuất phát ban đầu cũng chính là đích đến cuối cùng. Kết bạn cũng vậy, ví dụ khi kết giao bạn bè, tại sao có người chơi được với nhau mấy chục năm, còn có người chỉ làm bạn vài tháng? Bởi vì lúc mới quen, cảm thấy “bạn thật tốt”, hình bóng không rời; nhưng về sau tật xấu lộ ra hết, phiền não lộ ra hết, cuối cùng quý vị liền rất nhanh muốn rời xa người ta, cho nên hai người không thể làm bạn đến cuối cùng. Nếu quý vị nghĩ lại lúc mới quen được người đó không dễ dàng gì, quý vị sẽ không tùy tiện buông tay người bạn này, và sẽ “phương đắc thủy chung”. Học Phật cũng như vậy, làm người cũng như vậy, cái bình phàm nhất đôi khi lại chính là cái cao thâm nhất. Sự hiểu biết của con người chúng ta đối với Phật Pháp trông có vẻ rất đỗi bình thường, nhưng thực ra chỉ vài câu lại chính là “đại đạo lý” mà Sư phụ nói với quý vị. Đại đạo lý này không cần phải giảng giải quá mức phức tạp, vài câu là nói rõ rồi. “Quý vị có “chúng thiện phụng hành” không? Quý vị có “chư ác mạc tác” không?” Vài câu như vậy đã là “đại đạo chí giản” rồi. Một đạo lý rất đỗi đơn giản cũng có thể khiến quý vị hiểu ra được những Phật lý thâm sâu.
77. Suy tính thiệt hơn là chướng ngại
Tập 77
SUY TÍNH THIỆT HƠN LÀ CHƯỚNG NGẠI
(23/05/2020)
“Phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật” (Buông con dao đồ tể xuống, đứng ngay tại đó thành Phật), buông dao đồ tể chưa chắc đã lập tức thành Phật, nhưng quý vị buông dao đồ tể xuống thì sẽ có cơ hội thành Phật. Lão Tử từng nói “Thận chung như thủy”, nghĩa là quý vị cẩn trọng đến phút cuối cùng, giống hệt như lúc quý vị mới bắt đầu. “Thận chung như thủy” chính là nói với các đệ tử chúng ta rằng, quý vị hãy xem tất cả những gì khi mới bắt đầu như một nền tảng của nhân sinh, và quý vị có thể duy trì nó mãi cho đến tận cuối cùng. Con người có quyết tâm, có Kim Cang tâm, có Bồ Đề tâm, tất cả đều phải trước sau như một, đây chính là điều Lão Tử từng nói “Thận chung như thủy” — cẩn trọng giống như lúc ban đầu. Sư phụ lấy một ví dụ, giả sử một người vào công ty làm việc từ vị trí nhân viên lên đến giám đốc, nhưng luôn coi bản thân mình giống như người nhân viên ban đầu, vị giám đốc này cuối cùng nhất định sẽ thành công. Bởi vì anh ta duy trì được phong cách và thái độ thuở ban sơ, anh ta giữ được bản sắc của một nhân viên bình thường trước đây. Cho dù hiện tại anh ta đang giữ vị trí CEO quan trọng, nhưng vì trong tâm anh ta vẫn sở hữu nền tảng bình dị này, anh ta sẽ hiểu rõ nguyên nhân và kết quả, không vì sự thành công tạm thời hiện tại — làm CEO — mà đắc ý thỏa mãn, khiến đầu óc choáng váng mù quáng. Đây chính là “bất vong sơ tâm, phương đắc thủy chung”. Một người sống trên đời, bất luận làm đến vị trí nào, đều phải luôn giữ vững cái tâm thuở ban đầu ấy, thì điều chờ đón họ chính là thành công. Bởi vì quý vị không tự mãn, không kiêu ngạo, cảm thấy mình rất đỗi bình thường, quý vị chính là “thận chung như thủy, tắc vô bại sự” — không có một việc gì có thể thất bại. Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản mà chúng ta phải học từ lời dạy của Bồ Tát “bất vong sơ tâm, phương đắc thủy chung”.
Sư phụ kể cho quý vị nghe một câu chuyện được ghi chép trong 《Tạp Thí Dụ Kinh》. Câu chuyện này không dài, nhưng rất ý nghĩa.
Thuở xưa có một gã đồ tể giết cừu đến cầu xin vua A Xà Thế: “Muôn tâu Đại vương, nếu vào những dịp lễ hội (chẳng hạn như có một dịp lễ hoặc một đại hội), có cần làm thịt bàng sinh (như cừu, bò), xin Đại vương hãy giao phó thần”
Nhà vua cảm thấy rất kỳ lạ, liền hỏi: “Chuyện giết mổ người bình thường đều không muốn làm, tại sao ngươi lại tình nguyện làm việc giết mổ này?”
Gã đồ tể đáp: “Thưa Đại vương, kiếp trước thần là một người nghèo khổ sống bằng nghề mổ cừu. Nhờ quả báo của việc mổ cừu, sau khi chết thần được sinh lên trời Tứ Thiên Vương; sau khi thọ mạng trên trời kết thúc, thần chuyển sinh xuống nhân gian, thần lại làm nghề mổ cừu (lại sát sinh cừu); ở nhân gian khi mạng sống kết thúc, thần lại chuyển sinh lên trời Đao Lợi… Cứ như thế, thần qua lại giữa cõi trời và nhân gian đã sáu lần rồi. Nhờ công đức mổ cừu, thần lần lượt được tận hưởng niềm vui sướng vô tận trên cõi trời Lục Dục, cho nên hiện giờ thần vẫn nguyện ý làm đồ tể.”
Gã đồ tể kể rằng có một kiếp ông ta giết cừu, sau đó được sinh lên trời Tứ Thiên Vương, tức là thiên giới, rất được hưởng thụ; sau đó thọ mạng ở thiên giới kết thục, chuyển sinh xuống nhân gian, ông ta lại giết cừu; giết cừu xong, hết tuổi thọ lại chuyển sinh lên trời Đao Lợi. Người này giết cừu mà luôn được lên thiên giới, cho nên bản thân ông ta thấy rằng mình giết cừu là có công đức, sáu lần lên sáu lần xuống, hưởng niềm vui vô tận, vì vậy ông ta vẫn muốn tiếp tục làm việc này.
Vua liền hỏi: “Vậy làm sao ngươi biết được những nhân duyên này?”
Đồ tể đáp: “Thần có Túc mệnh thông.”
Sau đó nhà vua đối với chuyện này canh cánh trong lòng, ngài quyết định phải đi tìm Đức Phật để xin hỏi sự tình.
Đức Phật nói với nhà vua: “Ông ta quả thực có Túc mệnh thông. Thuở xa xưa ông ta từng gặp một vị Bích Chi Phật, lúc đó ông ta đã sinh tâm hoan hỷ đối với vị Bích Chi Phật, chí tâm đế quán, ngưỡng thị kỳ thủ, phủ sát kỳ túc” (quan sát một cách kỹ lưỡng với tất cả lòng thành, ngước lên chiêm ngưỡng dung nhan với lòng ngưỡng mộ, cúi xuống kính cẩn quan sát chân Ngài). Đức Phật nói với nhà vua, người này quả thực có thể nhìn thấy quá khứ của mình. Trong quá khứ ông ta từng gặp một vị Bích Chi Phật, ông ta đã sinh tâm hoan hỷ với vị Phật này, thực chất chính là cung kính lễ bái, sinh tâm hoan hỷ, có nghĩa là “tôi lạy vị Phật này”, bái Ngài làm sư phụ. “Chí tâm đế quan” chính là theo Ngài học hỏi một cách rất dụng tâm; “ngưỡng thị kỳ thủ” chính là rất sùng bái, nhìn Đức Phật ở trên cao đầy tôn kính; sau đó “phủ sát kỳ túc” chính là cung kính đảnh lễ, cúi đầu trước vị Bích Chi Phật, giống như nhìn chân Phật.
“Nhờ công đức này, ông ta được luân chuyển sinh lên các tầng trời Lục Dục, từ thiên giới giáng sinh xuống nhân gian, lại còn có khả năng biết túc mệnh (từ thiên giới đầu thai xuống nhân gian, ông ta vẫn còn giữ được Túc mệnh thông). Nhưng sau khi kiếp này kết thúc, ông ta sẽ bị đọa vào địa ngục, chịu tội báo mổ giết cừu, từ địa ngục thoát ra còn phải chuyển sinh làm cừu để đền mạng (nghĩa là kiếp cuối cùng ông ta sẽ biến thành cừu, hơn nữa trước tiên ông ta phải xuống địa ngục chịu quả báo). Do Túc mệnh thông của ông ta có hạn, ông ta chỉ có thể nhìn thấy những kiếp trước chuyển sinh lên cõi trời Lục Dục, mà không biết được việc ông ta đã gặp Bích Chi Phật ở thời gian xa xôi trước đó nữa, thế nên ông ta lầm tưởng rằng làm nghề mổ cừu là cái nhân để được thăng thiên.”
Tức là, quãng thời gian ông ta bái Phật, bái sư, học Phật trong quá khứ là chuyện rất lâu về trước, mà chuyện rất lâu trước đó ông ta không nhìn thấy được (bởi vì Túc mệnh thông có dài và ngắn, giống như năng lực và năng lượng của nhiều người trong chúng ta có lớn có nhỏ). Ông ta chỉ có thể nhìn thấy việc chuyển sinh lên cõi trời Lục Dục trong quá khứ, không nhìn thấy được việc từng gặp Bích Chi Phật để học Phật. Ông ta chỉ thấy bản thân ở trên trời, rồi xuống nhân gian, đến nhân gian giết cừu, lại về trên trời… Thực ra đó là vì phúc báo của ông ta vẫn chưa thọ hưởng hết. Việc ông ta không biết đến cái thiện nhân gốc rễ của mình, Đức Phật đã nói như vậy.
Câu chuyện này muốn nói với chúng ta rằng, nếu chúng ta dùng thần thông thông thường để tìm hiểu nhân quả, chúng ta sẽ chỉ hiểu biết nửa vời, thậm chí có thể còn đáng sợ hơn cả những người hoàn toàn không hiểu gì về nhân quả. Rất nhiều người không hiểu nhân quả, chỉ hiểu biết nửa vời. Có người nói: “Ôi chao, tôi từng nhìn thấy có một kiếp quý vị là Bồ Tát trên trời.” Vậy là quý vị liền tưởng mình là Bồ Tát rồi, quý vị trở nên cống cao ngã mạn. Quý vị không hề biết mình làm Bồ Tát từ bao nhiêu kiếp trước, có thể đã trải qua luân hồi không biết bao nhiêu đời rồi, quý vị phải nhìn lại bản thân mình ở hiện tại xem sao. Đây chính là hiểu biết nửa vời, cho nên nó đáng sợ hơn cả những người hoàn toàn không hiểu gì về nhân quả. Bởi vì quý vị chỉ biết được một chút xíu về nhân quả…Giống như người đồ tể kia, quy luật nhân quả mà ông ta thấu hiểu hoàn toàn bị sai lệch, ông ta tưởng rằng giết cừu thì có thể lên trời. Nếu ông ta giết cừu mà được vãng sinh thiên giới, vậy chẳng phải vô số kẻ đồ tể còn dễ dàng có được hạnh phúc, dễ dàng lên trời hơn cả những người tu hành thiện pháp hay sao? Sự thật hoàn toàn không phải như vậy, ông ta đã không nhìn thấy cái thiện nhân mà bản thân mình gieo trồng từ thuở trước. Sư phụ lấy một ví dụ ở thế gian cho quý vị nghe, có người đang làm việc ở cấp cao nhất của một công ty lớn, một tập đoàn, khi điều anh ta đến một đơn vị cấp dưới làm việc, anh ta đã phạm tội — không làm việc tốt ở đơn vị này, nhưng kết quả là đơn vị đó vẫn sắp xếp cho anh ta một vị trí lãnh đạo, hoặc cho anh ta làm một ông chủ nhỏ. Nhiều người liền thắc mắc: “Tại sao? Anh ta phạm lỗi rồi tại sao vẫn làm lãnh đạo?” Quý vị không biết được quả vị quá khứ của anh ta, anh ta vốn là Tổng giám đốc của một tập đoàn lớn, cho nên dù anh ta có xuống một xưởng nhỏ (đó chính là đang thọ báo), thì vị trí của anh ta vẫn cao hơn những người không tu hành.
Đây chính là điều Sư phụ muốn nói với quý vị, người bình thường không thể nhìn thấy nhân quả một cách toàn diện, nhiều nhất cũng chỉ có thể nhìn thấy một phân đoạn nào đó trong đó mà thôi. Ví dụ, trên thế gian có người nói: “Kẻ không hiếu thuận sẽ bị trời đánh thánh đâm” Thế thì có rất nhiều kẻ bất hiếu đến nay vẫn chưa bị sét đánh, cũng chưa bị trời đánh, vậy quý vị lại cho rằng hắn là người hiếu thuận sao? Có người bị sét đánh không? Có, người bị trời đánh sét đánh là có thật. Nhưng rất nhiều kẻ bị co giật, mắc bệnh ung thư, mắc đủ thứ bệnh ung thư quái ác không thể chữa khỏi, quả báo kéo dài của hắn chẳng phải cũng giống như bị trời đánh sét đánh hay sao? Quý vị không thể nói một cách phiến diện rằng hễ không hiếu thuận là nhất định phải bị sét đánh. Đây chính là điều Bồ Tát bảo chúng ta, nhân quả, thứ mà quý vị biết chỉ là một phần nhỏ mà thôi.
Chúng ta phải luôn luôn hiểu rằng, đôi khi có nhiều người thích cầu thần bói toán, hỏi về chuyện tương lai, hỏi hiện tại nên làm như thế nào. Nếu địa vị hoặc trình độ thông linh của người mà quý vị hỏi có giới hạn, họ sẽ chỉ cho quý vị biết một phần nào đó mà họ nhìn thấy. Quý vị lại tin là thật, quý vị tôn sùng cái giới hạn hạn hẹp đó như là chân lý, đến cuối cùng, bản thân họ bị lừa, và quý vị cũng bị lừa theo. Đây chính là ý nghĩa của câu chuyện hôm nay, bản thân người đồ tể này vì có chút Túc mệnh thông, nhìn thấy được quá khứ của mình, cứ ngỡ rằng giết cừu là có thể lên trời, quý vị nói xem ông ta có ngu muội không? Ông ta không hề nhìn thấy quá khứ của mình từng cung kính đảnh lễ dưới chân Đức Phật.
Trong câu chuyện này, Đức Phật nhắc nhở chúng ta, người học Phật không nên tùy tiện tin vào những lời nói bừa bãi về nhân quả của người thế tục. Bản thân chúng ta cũng không nên tự phán xét nhân quả, cũng đừng nên nói “cái này chắc chắn là đúng, cái kia chắc chắn là sai”, “làm thế này sẽ ra sao, làm thế kia sẽ ra sao” — quý vị đang quá độc đoán. Giống như Sư phụ vừa nói với quý vị: “Bất hiếu bị trời đánh thánh đâm”, thực sự có mấy người bị sét đánh chết? Rất nhiều kẻ đối xử vô cùng tồi tệ với cha mẹ mình, giết cha giết mẹ, phạm tội “ngũ nghịch đại tội” này, rất nhiều kẻ là trực tiếp tử vong — bị xe cán chết hoặc tai nạn giao thông. Vậy quý vị không thể nói một cách phiến diện rằng, cứ chờ hắn bị trời đánh thánh đâm. Cho nên những người có thần thông, cũng không thể khinh suất buông lời về nhân quả, không thể tùy tiện ăn nói lung tung về nhân quả được. Rất nhiều người biết được một chút về quá khứ của mình, miệng nói một cách tùy tiện, nói đùa cho vui, điều này là không được phép. Người bình thường thì lại càng phải chú ý, phải cẩn thận.
Người học Phật chúng ta cần phải biết nhân hiểu quả, giữ gìn giới luật cho thật tốt. Quý vị thấu hiểu quá khứ của bản thân, lại càng phải nắm vững sự tu hành cho tương lai của mình. Quý vị vì biết nhân quả, lại càng phải hiểu rõ nhân quả, lại càng phải sợ nhân sợ quả. Phải biết sợ, quý vị mới không đi sai đường. Hy vọng mọi người nhất định phải học Phật cho thật tốt, tu tâm cho thật tốt, nhất định phải biết rằng nhân quả một chút cũng không sai lệch. Nghiệp chướng của chúng ta giống hệt như một con cá mập vậy, suốt ngày cắn chặt lấy chúng ta, có bơi cũng không thoát được. Cho nên, không gieo cái nhân, thì sẽ không phải nhận lấy cái quả.
Do đó, Sư phụ mong quý vị những gì cần buông bỏ thì phải buông bỏ. Ở nhân gian, thứ gì càng không thể buông bỏ thì càng dễ đánh mất. Hãy nhớ rằng, thứ càng muốn nắm giữ lại càng biến mất nhanh chóng; thứ càng muốn có được thường lại không thuộc về quý vị; thứ càng muốn níu kéo thì thường đã vuột mất rồi, quý vị muốn nắm giữ sự việc này, thì sự việc này vốn dĩ đã không phải là của quý vị; thứ càng xem trọng lại càng không có được (quý vị thử nghĩ xem, trong cơ quan có rất nhiều người như vậy: “Tôi chính là muốn làm vị trí trưởng khoa này, làm trưởng phòng này”, cứ liều mạng thưa kiện với cấp trên “Tôi muốn làm, tôi muốn làm”, cuối cùng người ta lại không trao cho quý vị). Ở nhân gian, đôi khi sự việc quý vị càng để tâm lại càng không thể nắm bắt được. Đó chính là câu chúng ta thường nói: “Hữu ý trồng hoa hoa chẳng nở. Vô tình trồng liễu liễu xum xuê”.
Đời người luôn cho rằng việc thỏa mãn những dục vọng vô tận là đúng. Nhưng thực tế chúng ta không thể cứ mãi có những ham muốn vô tận: “Tôi muốn cái này, tôi muốn cái kia”. Cứ mải mê theo đuổi, lo được lo mất, chốc lát mất đi thì khóc lóc thảm thiết; lát sau có được lại vui mừng khôn xiết, đó gọi là lo được lo mất. Chỉ có hiểu được cách buông bỏ, mới có thể nắm bắt được thực tại.
Cho nên Sư phụ mong quý vị, thay vì oán trách về bóng tối, chi bằng hãy tự thắp lên ngọn đèn sáng trong tim mình để soi rọi bóng tối ấy. Làm người đừng nên nóng nảy, đừng phàn nàn, đừng để bản thân động một chút là không thể nhẫn nhục, không thể tinh tấn, như vậy trí huệ sẽ rời xa quý vị. Nhất định phải giữ cho tâm mình tĩnh lại, thì mới có thể lắng nghe được từng nhịp đập của trái tim. Quản lý tốt cái tâm của mình, quản lý tốt những ý niệm của mình, quý vị sẽ được thanh tịnh vô vi, dần dần sẽ thoát khỏi những phiền não chốn nhân gian. Sự tu tâm như vậy mới được gọi là tinh tấn tu hành.
Được rồi, hôm nay Sư phụ xin giảng đến đây, hẹn gặp lại quý vị trong chương trình lần sau. Cảm ơn mọi người.
78. Rộng lượng khoan dung chính là từ bi
Tập 78
RỘNG LƯỢNG KHOAN DUNG CHÍNH LÀ TỪ BI
(27/05/2020)
Chào quý vị, hôm nay chúng ta tiếp tục nói về 《Bạch Thoại Phật Pháp》
Học Phật độ chúng sinh, nếu quý vị muốn độ hóa người khác, thực ra đó hoàn toàn không phải là một việc dễ dàng. Bởi vì khi quý vị đi độ hóa đối phương, có đôi lúc quý vị không hiểu rõ họ, không biết lời nào họ nguyện ý muốn nghe, lời nào họ không muốn nghe. Cho nên trong giới Phật Pháp dạy chúng ta phải “diệu” — tức là khéo léo, “thiện xảo phương tiện”, phải dùng phương pháp thuận tiện thiện xảo phương tiện để độ chúng sinh. Thực chất, dùng ngôn ngữ hiện đại để giải thích chính là: Đừng để đối phương nảy sinh sự hoài nghi đối với quý vị — rằng quý vị đang có mục đích gì, quý vị có ý đồ gì, quý vị cố ý muốn làm gì… Tuyệt đối đừng để đối phương phải nghi ngờ. Khi quý vị không để đối phương có bất kỳ sự hoài nghi nào, họ sẽ cảm nhận được quý vị đang thật tâm thật ý giúp đỡ họ, từ đó họ sẽ dễ dàng tiếp nhận quan điểm của quý vị. Cho nên, việc hóa giải những hoài nghi của người khác là vô cùng quan trọng. Khi họ hỏi quý vị bất cứ điều gì, quý vị nhất định phải cẩn trọng trả lời. Chỉ cần vài câu nói đầu tiên khiến họ cảm thấy quý vị đã tháo gỡ được nghi ngờ trong lòng họ, thì họ sẽ sẵn sàng lắng nghe những câu tiếp theo của quý vị. Lấy ví dụ, khi quý vị đi độ hóa một người, quý vị nói với họ rất nhiều điều như “Học Phật tốt lắm…”, rồi họ hỏi lại: “Vậy tại sao bạn lại tìm đến tôi?”. Quý vị liền đáp: “Vì tôi với bạn có duyên phận, và vì chính bản thân tôi cảm thấy học Phật thực sự rất tốt, vì vậy khi tình cờ gặp bạn, tôi muốn chia sẻ một chút với bạn, xem bạn có duyên này hay không”. Quý vị nói những lời thật lòng, họ sẽ cảm thấy rất gần gũi, thân thiết. Ngược lại, nếu quý vị dùng những lời sáo rỗng, giả tạo như: “Thật là trùng hợp quá, đúng lúc tôi đang…”, quý vị vừa thốt ra, họ liền cảm thấy quý vị giả tạo. Một khi họ đã nảy sinh nghi ngờ, Phật tánh của họ sẽ không thể hiển lộ. Vì vậy, người thực sự muốn giúp đỡ người khác, muốn cứu người, muốn khơi dậy Phật tánh của họ, thì việc đầu tiên quý vị cần làm là giúp họ hóa giải sự hoài nghi.
Phật Pháp có mặt chính là để cứu độ chúng sinh ở thế gian, Phật Pháp ở thế gian này chính là để giúp chúng sinh phá mê khai ngộ. Khi quý vị không để chúng sinh si mê vào một việc nào đó, chính là quý vị đang độ hóa họ. Rất nhiều khuyết điểm, tật xấu của con người chúng ta chính là sự chấp trước: “Hôm nay tôi làm việc này, tôi nhất định phải làm cho bằng được, tôi nhất định phải thế này thế kia”, “Tôi nhất định phải mua được món đồ này, mua được căn nhà này”… Tất cả mọi thứ, hễ quý vị chấp trước thì sẽ dẫn đến sự si mê. Có rất nhiều người, khi quý vị đến khuyên bảo, khuyên mãi mà họ không tỉnh ngộ, tại sao vậy? Bởi vì họ đã si mê, đã lún sâu vào trong đó rồi. Người hút thuốc, quý vị không cho họ hút nữa, có được không? Người uống rượu, quý vị không cho họ uống nữa, có được không? Người đánh mạt chược, quý vị không cho họ chơi nữa, có được không? Người cờ bạc, quý vị không cho họ đánh bạc nữa, có được không? Những điều này đều là sự si mê.
Rời bỏ thế gian để đi cứu độ người khác, thì sẽ không có được sự giác ngộ nào cả. Tại sao vậy? Chính là vì ở thế gian vẫn còn rất nhiều người chưa giác ngộ. Cho nên hôm nay tôi giác ngộ rồi, tôi đi giúp đỡ người khác, điều đó sẽ khiến người khác giác ngộ, và cũng sẽ giúp chính bản thân mình giác ngộ sâu sắc hơn. Vì vậy, Phật Pháp ở thế gian là để giúp người khác giác ngộ; chỉ khi giác ngộ ngay tại chốn thế gian, mới có thể tìm thấy ý nghĩa đích thực của Bồ Đề. Nhiều người thường nói: “Sau này tôi ra đi, lên đến cõi trời, tôi chắc chắn sẽ minh tâm kiến tính” — Không thể nào đâu. Quý vị hãy nhớ kỹ, nếu ở nhân gian quý vị không giác ngộ, thì sẽ không lên được cõi trời; cho dù ở nhân gian quý vị làm tốt đến đâu, mà không giác ngộ, thì khi lên trời quý vị cũng không có phẩm vị. Muốn giác ngộ thì phải giác ngộ ngay hiện tại. Muốn “giác”, ngay lúc này quý vị phải có nhận thức, ngay bây giờ phải khai ngộ, chứ không phải đợi đến sau này. Giống như nhiều người nói: “Bây giờ khổ quá chừng, sau này tôi lên trời sẽ được hưởng phúc”. Bởi vì ở nhân gian quý vị còn chưa thụ hưởng được niềm pháp hỷ do chân lý Phật Pháp mang lại, thì làm sao lên trời quý vị có được pháp hỷ? Ở nhân gian quý vị vẫn nghĩ không thông, tinh thần ngày ngày vẫn phải chịu khổ chịu nạn, thì làm sao có thể đắc được chân nghĩa của Bồ Đề? Quý vị sẽ mãi mãi không giác ngộ. Cho nên, Đức Phật được sinh ra từ chốn thế gian, bởi vì ở thế gian có rất nhiều người cần chúng ta đi độ hóa, để chúng ta học hỏi, thế nên mới tu hành ở thế gian. Trong Phật Pháp có câu: “Phật Pháp không thể tách rời thế gian”. Muốn tìm được Chánh đẳng chánh giác (tìm chánh giác chính là tìm thấy sự giác ngộ chân chính), thì chỉ có thể tìm ở chốn nhân gian. Quý vị thử nghĩ xem, lên đến cõi trời, các vị Bồ Tát đều đã khai ngộ, đều siêu thoát Lục đạo, vị nào cũng có tu vi, cho nên chỉ có đến nhân gian mới tìm được chánh giác, chỉ có ở nhân gian mới tìm được cách làm sao để giúp đỡ người khác, bằng không thì rất khó tìm được.
Phật vô hình, Phật vô tướng. Phật là gì? Ngài không có hình, không có tướng. Cho nên nói vô hình vô tướng, tức là không có dấu tích; không có tướng, chính là ở ngay trong tâm quý vị. Rốt cuộc Đức Phật ở đâu? Đức Phật ở trong tâm quý vị. Cảnh giới của một người có cao hay không, chỉ cần nhìn vào tố chất của họ là biết. Hai người ở cạnh nhau, quý vị nhìn tố chất của người này, là biết người đó có phải là Phật hay không. Cho nên học Phật, điều thứ nhất là phải biến mình thành một người lương thiện và biết giúp đỡ người khác. Học Phật rồi thì sẽ có những biểu hiện cụ thể nào? Hôm nay Sư phụ sẽ giảng cho quý vị về những biểu hiện cụ thể.
Biểu hiện đầu tiên là: Quý vị phải học cách làm người thiện. Người thiện thì không phải là kẻ ác, người thiện chính là người hay giúp đỡ người khác, đây là điều thứ nhất. Điều thứ hai, phải biết cách làm việc thiện. Rất nhiều người ngày nào cũng ở nhà lo chuyện của mình, vĩnh viễn không quan tâm đến ai, chỉ lo cho cảm nhận của bản thân, không thấu hiểu người khác, thì việc thiện này của họ làm sao mà làm đây? Cho nên, làm việc thiện như thế nào lại là một điều vô cùng quan trọng. Điều thứ ba, nếu muốn thay đổi, thì trong tâm quý vị phải có nền tảng rõ ràng về cách thay đổi tâm tham – sân – si của chính mình. “Làm sao để tôi thay đổi tâm tham của mình? Tôi bố thí nhiều hơn thì sẽ không tham nữa.” Làm sao để thay đổi tâm sân hận của mình? Sân hận càng nhiều, quý vị sẽ dần dần cách trí huệ ngày càng xa. Vậy phải thay đổi thế nào? Hãy từ bi nhiều hơn một chút. Làm sao để không ngu si? Hãy nâng cao trí huệ. Trí huệ từ đâu mà đến? Từ chữ “Tĩnh”: yên tĩnh, tĩnh lặng, điềm tĩnh, trang trọng, nghiêm túc, túc tĩnh (yên tĩnh một cách trang nghiêm). Sau khi quý vị tĩnh lại được như vậy, là có thể thay đổi được tham – sân – si trong tâm, Phật tánh lúc đó mới từ từ hiển lộ trên con người quý vị. Sự khéo léo của việc học Phật, chính là nằm ở việc có thể thể hiện được Phật tánh từ trong tâm, để sau khi người khác nhìn thấy quý vị, họ cảm nhận được trên người quý vị có Phật tánh. Quý vị để người khác nhìn thấy mình, cảm nhận được quý vị là người có tố chất, có tu dưỡng, có phẩm hạnh; lời nói, hành vi và tư duy của quý vị phải khiến người khác nhận ra quý vị là người học Phật.
Cho nên phải nhớ kỹ: Hành Bồ Tát đạo, Bồ Tát đạo chính là tự lợi lợi tha, bản thân mình thường xuyên nhận được lợi ích, rồi sau đó đi làm lợi ích cho chúng sinh. Tiếp đó phải thiện xảo phương tiện, có thể dùng cách nào giúp người khác khai ngộ thì dùng phương pháp đó. Giả sử người này rất thích đồ quý vị nấu, vậy thì quý vị cứ nấu thức ăn mang biếu họ. Giống như tình làng nghĩa xóm, nhà quý vị làm món gì thì mang biếu họ một ít, sau khi ăn xong, về mặt tình cảm họ sẽ gần gũi với quý vị hơn. Lúc đó quý vị độ họ chính là thiện xảo, quý vị mang đến cho họ một phương tiện, để cuối cùng họ có thể ngộ đạo thành Phật: “Hóa ra Bồ Tát luôn giúp đỡ mọi người, đúng vậy, cho nên tôi cũng phải giúp đỡ người khác”. Cho nên, người học Phật không thể rời xa thế gian để đi tìm Bồ Đề, trí huệ Bồ Đề chính là bắt đầu thực hành từ ngay lúc này, bắt đầu tìm kiếm từ ngay lúc này. Nếu rời khỏi thế gian thì sẽ không thể tìm thấy. Quý vị đến cõi ngạ quỷ để tìm một người lương thiện, tìm được không? Nếu họ là người lương thiện, họ đã không rơi vào cõi ngạ quỷ. Đạo lý chính là như vậy.
Tu hành phải ở nhân gian. Tại sao tu hành lại phải ở nhân gian? Ngộ đạo cũng ở nhân gian, tại sao vậy? Bởi vì nhân gian có khổ có vui, hơn nữa khổ lại nhiều hơn vui. Quá sung sướng, quý vị sẽ hoàn toàn không muốn tu tâm. Ở cõi trời quá mức vui sướng, nên rất khó tu; còn ở cõi địa ngục, cõi ngạ quỷ, cõi súc sinh thì lại quá khổ, họ cũng không nghe được Phật Pháp, vô cùng đau khổ, cho nên không có cách nào tu. Ở nhân gian là tốt nhất, bởi vì có khổ có sướng. Mặc dù lúc hạnh phúc quý vị không nghĩ đến chuyện tu tâm, nhưng khi đau khổ, quý vị sẽ nghĩ: “Làm sao để tôi được giải thoát đây?”, đó chính là con đường giải thoát của quý vị.
Nhân sinh phải dùng diệu pháp để tu hành, để có thể thấu hiểu người khác, giúp đỡ người khác. Phải khắc phục các loại ác niệm trên người — bởi vì con người có liệt căn tính, ví dụ như ích kỷ, hại người lợi mình, hãm hại người khác, luôn nghĩ cho bản thân nhiều, nghĩ cho người khác ít. Những người như thế, thực ra dựa theo lý niệm của Phật Pháp, đó chính là ác niệm. Một người ích kỷ, sự ích kỷ đó sẽ làm tổn thương người khác. Sự ích kỷ giống như những cái gai trên người, sẽ đâm tổn thương người khác. Quý vị bảo vệ bản thân quá mức thì sẽ làm tổn thương người khác. Phải hiểu rằng tuyệt đối không được có tham – sân – si. Muốn kiến chứng được Phật tánh, thì bắt buộc phải vượt qua được ác niệm, ác hành, ác ý trên chính bản thân mình. Có người thường nói “Chuyện này tôi không hề có ác ý”, một số là cố tình dùng ác ý để tổn thương người khác, một số là không cố ý. Nếu quý vị quá ích kỷ và nói rằng: “Tôi không làm tổn thương anh, nhưng tôi ích kỷ, tôi không muốn nói cho anh biết”, người ta nghe xong có tức giận không? Chẳng phải Sư phụ đã từng kể cho quý vị nghe sao, có một người tự tìm một đại lý di dân và làm xong giấy tờ định cư, người khác hỏi họ làm ở đại lý nào, bản thân họ đã lấy được giấy tờ rồi mà họ không chịu nói, nhất định giấu giếm không chỉ cho người khác. Hôm nay quý vị làm xong việc rồi mới chịu nói cho người ta biết, quý vị đã thuộc dạng người ích kỷ rồi, rất nhiều người việc chưa xong đã chỉ cho người khác; đằng này việc của họ êm xuôi rồi mà vẫn không muốn chỉ cho ai. Nói thật lòng, hôm nay quý vị nấu một món ăn, mọi người đều nấu ngon y như quý vị, thế thì tốt biết mấy! Tại sao ngay cả chuyện nấu ăn làm sao cho ngon hơn một chút mà cũng không muốn chia sẻ với người khác? Cho nên con người cần phải thay đổi. Giống như tính cách của một đứa trẻ, lúc nhỏ vốn dĩ rất lương thiện, sao lớn lên lại càng ngày càng xấu đi? Vì nó đã thay đổi, thay đổi và trở nên xấu xa. Có người hồi nhỏ rất ích kỷ, nhưng lớn lên hiểu được làm sao để trở thành người có phẩm chất cao quý, họ cũng đang dần dần thay đổi theo hướng tốt đẹp.
Nhắc đến 《Bạch Thoại Phật Pháp》, chúng ta làm người cũng là như vậy. Xét về mặt công việc, đôi khi chúng ta phải buông bỏ thành tích của chính mình. Đừng bao giờ vỗ ngực cho rằng mình đã đạt được rất nhiều thành tích. Điều cần phải thường xuyên ghi nhớ chính là những khuyết điểm và thiếu sót của bản thân, có như vậy mới tiến bộ được. Trong cuộc sống, không nên có tham muốn quá mãnh liệt đối với tiền tài, danh vọng. Bởi vì dục vọng quá lớn sẽ làm tổn thương quý vị, sẽ kích hoạt lòng tự tôn của quý vị. Kích hoạt lòng tự tôn thực chất chính là một loại tham lam, là sự hoang tưởng rằng mọi thứ trên thế giới này — tiền tài, danh vọng… đều có thể thuộc về mình. Đó là một dạng tư duy thấp kém, kém cỏi, bởi vì tất cả đều là “bất khả đắc” (vốn dĩ không thể nắm giữ được). Cho nên cần phải cần kiệm và giản dị, trong tình cảm phải buông bỏ oán hận và đố kỵ. Kẻ suốt ngày đố kỵ người khác liệu có thể trở thành một người cao thượng được không? Người này suốt ngày đi ghen tị, suốt ngày oán hận người khác, hễ mở miệng ra không chê người này dở thì cũng chê người kia tồi tệ, người như vậy có thể làm việc tốt không?
Phải học cách hành thiện với đời, rộng lượng và bao dung. Đối nhân xử thế phải buông bỏ những ân huệ mình từng làm cho người khác — đối tốt với người ta rồi thì đừng có ghi nhớ trong lòng. Có một người từng nói với Sư phụ, sau khi giúp đỡ người khác xong, lúc nói chuyện cứ hay bảo: “Tôi đã giúp anh việc này, giúp anh việc kia”. Người này không phải là người học Phật, không phải là người có tấm lòng khoan dung khoan hậu. Một người thực tâm thường xuyên giúp đỡ mọi người, khi nói chuyện với người khác, liệu họ có mở miệng ra là nói: “Tôi từng giúp anh ta, tôi từng giúp người kia, giúp người nọ…” không? Trừ phi trong hoàn cảnh họ cần phải lấy đó làm bài học giáo dục người khác thì họ mới nói như vậy. Cho nên Sư phụ mong quý vị phải thấu hiểu, đừng thường xuyên nhắc lại ân huệ của mình đối với người khác. Ghi nhớ sự giúp đỡ của người khác dành cho mình, đó mới là điều quan trọng nhất. Giúp đỡ người khác, nếu việc đó từ miệng người khác nói ra, thì quý vị mới thực sự cao quý; nếu để từ miệng mình tự nói ra, thì nhân cách của quý vị vẫn còn khiếm khuyết. Trong cách đối nhân xử thế, nếu quý vị không chịu buông bỏ những gánh nặng, nuối tiếc và oán hận đó, quý vị sẽ chỉ tự đẩy mình chôn chân mãi dưới đáy vực của cuộc đời mà thôi.
79. Phi sắc phi không, vô trở ngại
Tập 79
PHI SẮC PHI KHÔNG, VÔ TRỞ VÔ NGẠI
(27/05/2020)
Rất nhiều người cả đời chỉ đứng ở dưới đáy vực sâu, tại sao vậy? Vì họ luôn cảm thấy không mãn nguyện, luôn cảm thấy oán hận, luôn cảm thấy cuộc đời mình là một gánh nặng, không vui vẻ. Như vậy thì sẽ không nhìn thấy ánh sáng, không nhìn thấy hy vọng, và sẽ luôn sống trong phiền não. Cho nên làm người phải nghĩ thông suốt, phải học cách buông bỏ. Buông bỏ chính là một thái độ sống tích cực: sao cũng được, mất thì mất rồi; thiệt thòi thì thiệt thòi rồi; bị người khác nói thì cũng nói rồi. Bị người khác mắng, quý vị vẫn là quý vị của ban đầu, quý vị có tổn thất thứ gì đâu? Cho nên tại sao người học Phật có thể thành công, còn một số người ích kỷ lại thất bại hết lần này đến lần khác? Mấu chốt nằm ở chỗ họ có thể buông bỏ được hay không. Đợi đến khi thực sự đạt được sự siêu nhiên (nghĩa là một loại khái niệm vượt qua bản thân, khoảnh khắc vượt qua chính mình và có thể vượt qua được chướng ngại), thì cùng sống trên thế gian, quý vị ở cùng người khác sẽ không cảm thấy người ta đang tức giận mình, sẽ không cảm nhận được sự ảnh hưởng của pháp thế gian đối với mình. Tại sao gọi là “sự ảnh hưởng của pháp thế gian đối với quý vị”? Rất đơn giản, pháp thế gian chính là phải đối mặt với sự thật tùy duyên này, người khác đối xử với quý vị có tốt hay không, duyên phận của quý vị có đủ hay không, thực ra đều là pháp thế gian. Phải làm sao để bản thân khai ngộ thấu hiểu, thì nội tâm của mình mới không có phiền não; bản thân phải biết cách điều chỉnh thế nào để trong lòng mình không phiền não. Quý vị ngay cả phương pháp để bản thân không phiền não còn không có, thì làm sao có thể vượt qua loại chướng ngại này để bản thân không phiền não đây? Điều Sư phụ giảng cho quý vị chính là đạo lý này. Bất cứ lúc nào cũng phải biết nhân hiểu quả — hôm nay gieo xuống cái nhân này, phải biết sẽ có quả báo gì đến. Không phiền não thì gọi là giải thoát, hôm nay quý vị có thể không phiền não, quý vị đã giải thoát rồi.
Tâm linh của chúng ta trong quá trình học Phật, và sau khi học Phật, đều phải vượt qua chính mình. “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”, thế giới hữu sắc này rất nhanh sẽ không còn nữa. Quý vị vừa mới tức giận, lát sau cơn giận liền tan biến; vừa mới nổi giận, lát sau cơn tức liền hết; vừa mới cảm thấy chuyện này vô cùng nghiêm trọng, lát sau chuyện này cũng qua rồi. Cho nên “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Trước đây trong chùa có rất nhiều vị cao tăng, dùng tiếng gõ mõ để ví như tánh Không. Âm thanh của chiếc mõ này, có phải là từ một khúc gỗ được đục rỗng bên trong để tạo ra tiếng vang không? Âm thanh này là rỗng không. Gõ vào chỗ rỗng không mà phát ra tiếng vang, đó chính là “Không tức thị sắc”; bởi vì sự rỗng không đó bắt nguồn từ khúc gỗ, nên “Sắc tức thị không”. Gõ vào khúc gỗ đặc thì không thể phát ra tiếng, bởi vì nó chưa được khoét rỗng, chưa được đục rỗng. Mặc dù biết một khúc gỗ có thể đục rỗng, nhưng nếu không đục rỗng, khúc gỗ sẽ không gõ ra tiếng; chỉ khi đục rỗng nó rồi, mới có được âm thanh này. Điều này chính là nói cho chúng ta biết, bất cứ chuyện gì khi đã nhìn thấu đến cùng, thay đổi được nó, thì quý vị đã thay đổi được quan điểm, thay đổi được cách nhìn nhận. Sắc có thể biến thành không, và cũng có thể biến không thành sắc. Tự bản thân quý vị phải đạt được sự chuyển hóa cảnh giới — cảnh giới “không” rồi, thì sẽ nhìn sắc thành không. Khi chưa ngộ được trong sắc có không, khi cảm thọ, suy nghĩ, hành vi, ý thức của quý vị còn do dự giữa không và sắc, thì lúc đó đều không phải là “không”. Bởi vì quý vị không nhìn thấy được khúc gỗ có thể đục rỗng để phát ra tiếng, mà lại đi gõ trực tiếp vào khúc gỗ đặc, thì sẽ không có âm thanh. Cho nên nhìn nhận vấn đề phải nhìn thấy sự chuyển đổi của nó. “Thọ tưởng hành thức” của quý vị, sự tiếp nhận tư duy, ý thức, hành vi của quý vị, những hành vi trong tư duy, thực chất đều là không, bởi vì từng nói qua rồi, từng nghĩ qua rồi, đều là “không”. Sắc bất dị không, không bất dị sắc, nghĩa là những thứ rỗng không thực chất bắt nguồn từ khúc gỗ thực tại này, mà sự rỗng không của khúc gỗ là do đã trải qua điêu khắc; khi quý vị nhìn thấu khúc gỗ vẫn có thể trở thành tánh không, không coi khúc gỗ này là thứ vĩnh viễn không thể phát ra tiếng, thì quý vị sẽ có thể nhìn thấu được thế giới này. Đó chính là điều chúng ta thường nói, phải nhìn thấu “Ngũ uẩn giai không”. Nói về tính cách của một người: “Người này không thay đổi được đâu, người này hết thuốc chữa rồi”, đúng vậy, rất khó sửa, nhưng cuối cùng họ vẫn có thể sửa được, tùy thuộc vào họ tốn bao nhiêu công sức.
Cho nên đối với hai chữ “Sắc” và “Không”, cần phải hiểu được “phi sắc phi không”. Không phải nói thế giới này mọi thứ đều không thể thay đổi, cũng không phải thế giới này mọi thứ đều sẽ thay đổi; thực thực tại tại, lại “phi vô sắc, phi vô không”, không phải là không nhìn thấy, cũng không phải là có thể nhìn thấy. Vậy rốt cuộc là nhìn thấy hay không nhìn thấy? Chiếc mõ Sư phụ vừa nói với quý vị chính là như vậy. Khúc gỗ này rốt cuộc có thể gõ ra tiếng vang hay không? Gỗ làm sao mà gõ ra tiếng vang được? Gõ không ra tiếng vang, nhưng đem nó khoét rỗng làm thành chiếc mõ, thì nó có thể gõ ra tiếng vang được.
Phi tưởng phi vô tưởng. Con người cũng vậy, quý vị nói người này rốt cuộc là người tốt hay người xấu? Quý vị nói anh ta là người tốt, nhưng anh ta thường xuyên vô cùng ích kỷ, người như vậy sao được xem là người tốt? Quý vị nói anh ta là người xấu, nhưng anh ta lại thường xuyên giúp đỡ người khác. Rốt cuộc người này được xem là người tốt hay người xấu? Vậy thì “không phải là người tốt, cũng không phải là người xấu”, chính là như vậy. Cho nên phi tưởng phi vô tưởng. Chúng ta nói chiếc mõ được làm từ gỗ, chiếc mõ chắc chắn không thể tách rời khỏi gỗ; dùng cái tâm bình đẳng không phân biệt này để nhìn nhận thế giới một cách thực tại, quý vị sẽ hiểu tại sao Phật Pháp nói thế giới này ai ai cũng bình đẳng, tại sao Phật Pháp nói ai cũng có thể thay đổi, ai cũng có Bát Nhã, tại sao chúng sinh đều có Phật tánh. Dần dần khi quý vị ngẫm lại, quý vị sẽ thấu hiểu được chân lý này mà Đức Phật đã thuyết giảng.
Những bậc cao tăng đại đức ở cảnh giới cao thực sự đều nhìn nhận tất cả chúng sinh là những vị Phật tương lai, không hề coi quý vị là những khúc gỗ “gõ không vang”, quý vị đều là Phật tương lai. Thực tu mà không mang tâm phân biệt, đối xử với người khác giống như anh chị em ruột thịt của mình, đó mới là sự tu hành chân chính. Cảnh giới cao của người học Phật được sinh ra từ tâm bình đẳng. Quý vị thử nghĩ xem, một người không có tâm bình đẳng, làm sao có được Phật tâm? Nhìn nhận người khác với tâm bình đẳng, quý vị sẽ thấu hiểu điều giới Phật Pháp thường giảng “Vạn vật bản đồng nguyên, chúng sinh như thị” — chúng sinh cũng là như vậy, cùng chung cội rễ nguồn cội, chúng ta đều có sẵn Phật tính, chúng ta đều có thể trở thành những vị Phật tương lai. Kinh Phật có câu: “Đàn ông trong thiên hạ là cha ta, phụ nữ trong thiên hạ là mẹ ta”, với tâm thái ở cảnh giới cao như vậy, căn bản sẽ không nảy sinh tâm đố kỵ, tâm phân biệt của thế gian. Tại sao con người chúng ta lại tranh đấu lẫn nhau? Vì không có được cảnh giới này, nhìn người qua lăng kính có màu. Rất nhiều người coi quý vị là “khúc gỗ”, người ta bảo đầu óc quý vị như khúc gỗ, gõ cũng không vang, trong khi não bộ của nhiều người lại rất linh hoạt.
Hãy lấy tâm bình đẳng làm chiếc gương, thường xuyên soi lại xem những hành vi mình làm có coi thường người khác hay không, trong cách làm người của mình, quý vị có soi thấy được vô vàn những khuyết điểm ở bản thân hay không; những tham sân si mạn nghi không đáng có trên thân, tất cả đều phải soi chiếu cho rõ. Quý vị phải nhìn thấy được tư duy “Không quán”, nghĩa là quý vị có cảm giác vĩ đại về tương lai đó hay không, có nhìn thấy tương lai hay không. Quý vị có tư duy Không quán hay không, chính là quý vị có thể buông rỗng tâm thái của mình, đừng vướng mắc vào những phiền não nhỏ nhặt, một câu nói, hay một sự việc, thì tư duy của quý vị chính là Không quán rồi. Quý vị quan sát thế giới này toàn bộ đều là tánh không, nó sẽ không mang lại tổn thương cho quý vị, không mang lại phiền não cho quý vị. Chỉ vì tự quý vị nhìn thấy những phiền não và bi thương thực thực tại tại của nó, nên quý vị đã rời xa cái thực tướng nhìn thấu hồng trần, vì thế không thể soi chiếu được chính mình, cũng không quán chiếu được sự tham sân si mạn nghi trên người mình, để cho liệt căn tính của bản thân ẩn náu. Tại sao liệt căn tính của nhiều người lại nặng nề như vậy? Bởi vì họ không nhìn thấy thói hư tật xấu trên người mình. Khi một người thường xuyên bị phiền não quấy nhiễu, thường xuyên hận bản thân nghiệp chướng sâu nặng, thì khoảnh khắc đó chính là lúc đang tiếp nhận thử thách, chính là đang giải thoát khỏi sự trói buộc, và cũng chính là đang bước đi trong quá trình giải thoát khỏi sự trói buộc. Cho nên đôi khi thấy phiền não của mình kéo đến, liền cảm thấy rất vui vẻ: “Phiền não nhân gian đến rồi, tôi có cách rồi, tôi phải dùng trí huệ để khắc phục nó.” “Hôm nay tôi nghĩ thông rồi, tôi cười được rồi, không phiền não nữa, tôi lại chiến thắng được một kiếp nạn của bản thân.” Quý vị hãy nhớ kỹ, bất kỳ một cái “kiếp” nào cũng đều sinh ra “nạn”, cho nên mới gọi là “kiếp nạn”, có kiếp nhất định sẽ có nạn, vì vậy “kiếp” và “nạn” luôn đi liền với nhau.
Sư phụ bảo quý vị giải thoát xiềng xích cho chúng sinh, chính là ngoài việc tự giải thoát cho chính mình, còn phải đi giúp đỡ người khác. Muốn giải thoát xiềng xích cho chúng sinh, trước tiên phải giải thoát chính mình, thì mới có thể giúp chúng sinh thoát khỏi sự trói buộc. Giống như Sư phụ đã nói với quý vị, bản thân quý vị còn tu chưa tốt, làm sao giúp được người khác? Có người đi khuyên nhủ người khác, người ta khóc lóc ỉ ôi trước mặt họ, nói ra một đống những lời không tốt, họ không những không có cách nào giúp đỡ người đó, mà cuối cùng lại cuốn vào phiền não cùng với người ta. Đối với cảnh giới của chúng sinh phải có “Vô sanh pháp nhẫn” (Nhẫn đạt được qua hiểu biết rằng tất cả mọi hiện tượng đều không sanh), nói cách khác là đối với cảnh giới của người khác phải học cách bao dung, đừng sinh ra quá nhiều tâm phiền não. Quý vị không phiền não, dùng tâm bình đẳng, thì rất nhiều chuyện xảy ra với quý vị rồi sẽ trôi qua, giống như chưa từng xảy ra vậy. Con người đừng nên vướng mắc, người học Phật tinh tấn không thụt lùi, chính là dừng lại sự lười biếng trễ nải của bản thân, mãi mãi phải tiến về phía trước.
Phải tu pháp xuất thế. Sư phụ nói với quý vị, tu pháp xuất thế vô cùng quan trọng. Ví dụ, việc này ở nhân gian khiến quý vị vô cùng đau khổ, quý vị hãy nghĩ xem: “Tôi cũng chẳng muốn làm gì ở nhân gian, tôi có gì để mà tranh giành cơ chứ? Tôi cứ tu cái tâm của mình thật tốt. Vài chục năm, chớp mắt một cái là trôi qua. Sau này đi về đâu? Mọi người rồi mỗi người một ngả, đều không ai biết trước.” Tất cả thể diện, tất cả mọi suy nghĩ rồi cũng sẽ hóa thành tro bụi. Giống như khi còn nhỏ chúng ta có quá nhiều mong muốn, sống mấy chục năm, có quá nhiều suy nghĩ, nhưng bây giờ chẳng còn nhớ được gì nữa.
Phải học cách tu sự “tự tại thanh nhàn”. Thế nào gọi là tự tại thanh nhàn? An tĩnh, “thanh” chính là sạch sẽ. Chỉ khi tự quý vị được tự tại thanh nhàn, mới có thể tu được cõi Tịnh độ trong tâm mình, nếu không thì cả đời cũng không tu đạt đến Tịnh độ. Chúng ta không những phải tu Tịnh độ trong tâm mình, mà còn phải học “tướng hảo trang nghiêm” của Đức Phật. Đôi khi quý vị nói những lời kỳ lạ hoặc pha trò, quý vị không nhìn thấy khuôn mặt của mình rất kỳ quặc. Khi quý vị kể một câu chuyện cười, điệu bộ lúc quý vị tự cười trông rất hời hợt cợt nhả, quý vị cảm thấy mình vui vẻ biết bao, nhưng cái tâm của quý vị, khuôn mặt của quý vị chẳng có chút nào trang nghiêm, khiến người khác coi thường quý vị. Cho nên cõi Phật thanh tịnh trong tâm từ đâu mà có? Chỉ cần nói một câu và suy nghĩ xem, mình có giống Bồ Tát không? Khởi một tâm niệm, có giống Bồ Tát không? Làm một sự việc, có giống Bồ Tát không? Hôm nay mắng người là đúng hay sai? Có thể cãi nhau với người ta không? Muốn có được sự tướng hảo trang nghiêm ở nhân gian, phải hiểu rằng không đơn giản chỉ là dung mạo khác với người ta — quý vị xem có người trang điểm khuôn mặt rất đẹp, diện mạo khác biệt, có vẻ xinh đẹp hơn người khác, nhưng có trang nghiêm không? Có những cụ già khuôn mặt đầy nếp nhăn, nhưng khi họ bước ra, mọi người đều rất kính trọng. Tại sao vậy? Không phải vì họ đẹp, không phải vì họ phẫu thuật thẩm mỹ, mà đó là cảnh giới thiền tu pháp xuất thế được tu dưỡng từ trong nội tâm. Ánh mắt của họ khiến quý vị phải nghiêm trang kính phục, từ đó mà đạt được sự tướng hảo trang nghiêm.
80. Nhẫn nhục là một loại sức mạnh
Tập 80
NHẪN NHỤC LÀ MỘT LOẠI SỨC MẠNH
(27/05/2020)
Đôi khi quý vị ngắm nhìn tôn tượng của Bồ Tát nhiều một chút, quý vị sẽ hiểu thế nào gọi là “tướng hảo trang nghiêm”. Chúng ta tu tâm đến giai đoạn sau, từ sâu thẳm nội tâm phải thực sự toát ra một tướng mạo khác biệt với người thường. Tướng mạo này vô cùng thanh tịnh, vô cùng “không tham” (theo cách nói ngày nay). Trong ánh mắt của quý vị không có sự tham lam, không có sự hận thù, không có sự ngu si. Quý vị nhìn những người ngốc nghếch hay bệnh tâm thần mà xem, từ ánh mắt của họ, quý vị có thể nhận ra sự ngốc nghếch. Khi họ nhắm mắt ngủ, quý vị có nhìn ra được không? Không. Nhưng chỉ cần họ mở mắt ra, nhìn vào ánh mắt ấy, quý vị liền biết đó là một người khờ khạo. Cho nên, ánh mắt phải đoan trang, phải thanh tịnh, để tâm của chính mình đạt được sự thanh tịnh và trang nghiêm. Đừng làm ảnh hưởng đến sự tĩnh lặng trong tâm chúng sinh; khi chúng sinh nhận được ích lợi, thì bản thân quý vị mới có được “pháp ích” (lợi ích từ Phật Pháp). Khi quý vị mang đến cho người khác một hình tướng trang nghiêm, bản thân quý vị sẽ càng có được “pháp tướng trang nghiêm”. Một cô gái, khi thấy người ta kể những câu chuyện cười hạ lưu hoặc nghe những điều không tốt, cô ấy không thèm nghe, không thèm nhìn mà quay lưng bước đi, thì người khác tự khắc sẽ khởi tâm tôn trọng và thấy cô ấy thật trang nghiêm.
Làm thế nào để giải thoát cho chúng sinh? Trước tiên, để giải thoát những phiền não trên thân chúng sinh, chúng ta phải nói về thiện niệm. Quý vị muốn giúp đỡ người khác, trước hết quý vị phải gieo cho họ những thiện niệm, những chánh niệm. Phàm là những điều đúng đắn thì nói, những điều bất thiện thì tuyệt đối không nói, có như vậy quý vị mới có thể đến gần với Phật tịnh thổ thanh tịnh. Muốn cho chúng sinh trong thiên hạ đều có được lợi ích lớn lao, để tất cả mọi người đều đạt được lợi ích lớn nhất, thì thực chất, chính quý vị mới là người thụ hưởng lợi ích lớn nhất. Sư phụ lấy một ví dụ đơn giản: Có những vị lãnh đạo công ty rất biết suy nghĩ cho cấp dưới, luôn quan tâm gấp trăm lần đến phúc lợi của nhân viên. Kết quả là nhân viên làm việc vô cùng tận tâm, giúp công ty của ông ấy ngày càng phát triển lớn mạnh. Quý vị thử nói xem, cuối cùng ai là người hưởng lợi lớn nhất? Chính là bản thân ông ấy. Cho nên, Sư phụ khuyên quý vị phải biết buông bỏ cái tôi của mình, phải thiền tu thật tốt; phải hiểu được tầm quan trọng của pháp bố thí. Khi quý vị bố thí ra sự trang nghiêm, quý vị sẽ nhận được Phật tịnh thổ trang nghiêm. Hãy cố gắng thay đổi bản thân và chuyển hóa những ý niệm của chính mình cho thật tốt.
Được rồi, tiếp theo Sư phụ sẽ kể cho quý vị nghe một câu chuyện.
Vào thời Đức Phật, ở khu vực ngoại ô thành Xá Vệ có một vườn cây ăn quả, trong đó có một vị Tỳ kheo sinh sống tên là Y-cô-đạt-na. Vị Tỳ kheo Y-cô-đạt-na này chỉ thuộc nằm lòng được duy nhất một bài kệ tụng (tức là bài kệ ngữ) do Đức Phật truyền dạy, nhưng vị ấy lại thấu hiểu một cách triệt để đạo lý bên trong đó. Mỗi lần vị ấy đọc xong bài kệ này, mặc dù trong vườn không có bóng người, nhưng các vị thần cây đều nhiệt liệt vỗ tay và tán thán (Điều này quý vị không nhìn thấy, không nghe thấy được, nhưng thời xưa có rất nhiều người có thần thông, người có công năng thì sẽ nghe thấy).
Có một lần, có hai vị Tỳ kheo bác học đa văn và thường xuyên đi thuyết pháp dẫn theo một nhóm đệ tử đi ngang qua khu vườn này, liền hỏi: “Tỳ kheo Y-cô-đạt-na, ông thuyết pháp ở nơi hẻo lánh thế này, liệu có ai đến nghe không?”
Vị Tỳ kheo Y-cô-đạt-na rất thật thà, liền đáp: “Các vị thần cây trong vườn nghe tôi giảng xong, đều vỗ tay tán thán.”
Hai vị Tỳ kheo thầm nghĩ: “Ông đang nói cái gì vậy?”. Họ bèn nán lại trong vườn: “Nếu ông đã nói thần cây sẽ nghe, vậy thì chúng tôi cũng sẽ giảng thử xem sao.” Và họ bắt đầu thuyết pháp ngay trong khu vườn đó. Hai vị này bình thường vốn dĩ rất giỏi ăn nói, đi hoằng pháp khắp nơi, “thiệt xán liên hoa” (miệng lưỡi khéo léo như đóa hoa sen), giảng rất nhiều rất nhiều, thao thao bất tuyệt, như Trường Giang đại hà (Tại sao ngày xưa người ta khen ai đó giảng pháp hay lại dùng từ “thao thao bất tuyệt”? Quý vị hãy nhìn nước sông Trường Giang, hay nước sông nước biển mà xem, hết lớp sóng này đến lớp sóng khác, không bao giờ dừng lại). Họ giảng vô cùng hay. Nhưng sau khi giảng xong, không ngờ trong vườn lại im ắng tĩnh mịch, một chút âm thanh cũng không có, đến cả tiếng lá rơi cũng chẳng nghe thấy.
Họ liền nghĩ: “Không phải ông nói thần cây sẽ vỗ tay sao? Sao chẳng thấy gì cả?”
“Nào nào nào, Pháp sư Y-cô-đạt-na, mời ông lên thuyết pháp.”
Pháp sư Y-cô-đạt-na chỉ biết mỗi một bài kệ tụng, ông lại bắt đầu giảng. Sau khi vị ấy giảng xong, khu vườn lại vang lên những tràng pháo tay vang dội như thường lệ, kèm theo cả những tiếng hô lớn khen hay. Lúc này, các đệ tử của hai vị Tỳ kheo kia cũng nghe thấy (bởi vì các Tỳ kheo thời xưa đều có chút thần thông), họ cảm thấy các vị thần cây này có phần thiên vị: “Hãy xem sao họ lại đối xử tốt với Y-cô-đạt-na như vậy? Ông ấy chỉ giảng có một chút xíu, còn chúng ta giảng nhiều như vậy…” Họ cảm thấy ông ấy giảng rất đỗi bình thường, đâu có hay ho gì, vậy tại sao không vỗ tay cho họ? Tại sao lại vỗ tay cho Pháp sư Y-cô-đạt-na?
Về sau, khi Đức Phật nghe được chuyện này, Ngài liền dạy các đệ tử rằng: “Này các Tỳ kheo, Ta không cho rằng một người nghe nhiều kinh điển, thường xuyên thuyết pháp thì nhất định đã tinh thông Phật pháp.” Lời Đức Phật dạy có nghĩa là, không phải hôm nay quý vị thường xuyên thuyết pháp thì quý vị chắc chắn đã tinh thông Phật Pháp. “Ngược lại, tuy nghe không nhiều, nhưng lại có thể thể hội được chân lý (tức là thấu hiểu) và thường xuyên giữ gìn chánh niệm, đó mới là người thực sự tinh thông Phật Pháp.”
Cho nên từ lời khai thị của Đức Phật, chúng ta biết được cốt lõi của Phật Pháp nằm ở chỗ phải đích thân “thể chứng” (tự mình trải nghiệm và chứng thực). Cũng giống như Sư phụ giảng cho quý vị nhiều như vậy, tự bản thân quý vị phải đi thể ngộ (tự mình trải nghiệm và ngộ ra). Sư phụ bảo quý vị niệm kinh, quý vị đã niệm chưa? Niệm xong thấy có tốt không? Tốt. Có hiệu quả không? Có. Đó gọi là thể chứng. Quý vị thử xem, mỗi lần tổ chức pháp hội, phía trên có rất nhiều Phật hữu lên chia sẻ tâm đắc, đó đều là sự thể chứng của họ. Quý vị thấy họ kể hay như vậy, người nhà của họ thân thể đã chuyển biến tốt ra sao, Sư phụ vốn dĩ đâu có biết những chuyện này. Do đó, chính nhờ sự thể chứng đích thực của họ, mới có thể khiến cho đông đảo khán giả bên dưới cùng nhau vỗ tay và cảm tạ sự chia sẻ của họ. Điều này cho chúng ta biết rằng, người học Phật phải giữ được giác tánh, phải sống trong hiện tại. Nói cách khác, để thực sự có thể thấu hiểu Phật Pháp, thì trên thực tế chính là đang hành theo đạo Phật. Quý vị niệm kinh có nhiều đến đâu mà chẳng hiểu gì cả, không thông qua Phật Pháp để mang lại sự thọ dụng cho bản thân thì cũng vô ích. Cho nên, có rất nhiều người thường hay gọi điện thoại đến nói với Sư phụ: “Sư phụ ơi, con đã niệm được mấy nghìn Ngôi Nhà Nhỏ rồi đấy!”. Nhưng quý vị đã thực sự dụng tâm chưa? Quý vị có tâm lòng biết ơn không? Quý vị có tâm thể ngộ không? Không phải là quý vị chạy đua với thời gian, chạy theo số lượng, mà quý vị phải dụng tâm. Hơn nữa, phải mang tâm hộ trì Phật Pháp để niệm, như thế mới có thể thành công.
Câu chuyện này chính là nói với chúng ta rằng, con người bất kể làm việc gì cũng phải đích thân bắt tay vào làm. Đừng chỉ hoàn toàn nghe người khác nói, mà phải kiểm chứng, phải thể chứng và thể ngộ. Trong cuộc sống, con người chúng ta phiền não không ngừng, cho nên học Phật cũng phải dựa vào việc niệm kinh để thay đổi, phải thể ngộ xem: “Có phải sau khi mình niệm bài kinh này xong, hoàn cảnh của mình đã được cải thiện rồi không?”.
Con người không thể tách rời khỏi quần thể xã hội, thế nên muốn thay đổi thì phải luôn tử tế với mọi người. Nhiều người đến chữ “thiện” còn không làm được, vậy quý vị bảo họ học Phật thế nào đây? Hãy dùng sự khoan dung, rộng lượng để đối nhân xử thế. Hãy cố gắng hết sức mình, trên cơ sở không làm tổn thương lòng tự trọng của người khác, dùng sự chân thành, lòng từ bi và diệu pháp để hóa giải phiền não cho họ, khuyến khích họ thay đổi. Cho nên đạo lý mà Sư phụ giảng cho quý vị nghe chính là: Cố gắng hết sức đừng làm tổn thương lòng tự trọng của người khác. Mặc dù lòng tự trọng là điều không nên cố chấp giữ lấy, nhưng họ vừa mới bắt đầu tu, quý vị vẫn cần phải giữ thể diện cho họ. Đây chính là lý do tại sao Sư phụ lại đặc biệt nghiêm khắc với những đứa con ở bên cạnh mình, còn đối với những người ở xa Sư phụ một chút thì lại đặc biệt chiếu cố, mà không phải vừa gặp đã khiến họ cảm thấy mất mặt.
Phải hiểu rằng, để cứu người thì phải học cách chịu thiệt thòi, cho dù bị lừa gạt, quý vị chỉ cần dùng diệu pháp để cứu họ, ngay cả khi đối phương “ngựa quen đường cũ” đi chăng nữa – bởi vì con người thời nay khi làm sai, họ vẫn sẽ tái phạm, họ sẽ không chấp nhận thay đổi ngay đâu, đây là sự lặp đi lặp lại, và cũng chính là một vòng luân hồi. Sư phụ muốn quý vị phải ghi nhớ, vì mục đích cứu người, đừng để đến cuối cùng lại kết thành mối thù sâu hận lớn với đối phương. Hãy trao cho người khác một cơ hội để hối cải. Cho dù người đó đã từng làm tổn thương quý vị, dù là trong cuộc sống, trong gia đình hay trong công việc, họ từng gây tổn thương cho quý vị, quý vị cũng vẫn phải cho họ một cơ hội để sửa sai, đó cũng chính là chừa lại một lối thoát cho chính bản thân mình. Giả sử người khác đắc tội với quý vị, quý vị không so đo, không báo thù, ngược lại còn bao dung tha thứ cho họ, khi họ gặp khó khăn, quý vị vẫn nghĩ đến việc giúp đỡ họ. Đối phương chắc chắn sẽ bị quý vị làm cho cảm động. Đó chính là học theo lòng từ bi của Quán Thế Âm Bồ Tát.
Trên thế gian này, “Có công mài sắt, có ngày nên kim”, phải dựa vào việc quý vị kiên nhẫn từng bước mà làm. Trên đời này không có việc gì là không thể làm thành công, trừ phi quý vị không muốn làm, hoặc là bỏ cuộc giữa chừng; chỉ cần quý vị quyết tâm làm, nhất định sẽ gặt hái được thành công. Do đó, người học Phật phải tinh tấn, bỉ ngạn (bờ bên kia) đã ở ngay trước mắt quý vị. Cuộc sống của chúng ta chính là đang học Phật, chính là đang làm Bồ Tát. Phật không ở chân trời mà đang ở ngay trước mắt. Chúng ta phải nỗ lực tu tâm, hành thiện tích đức, như vậy chính là những vị Bồ Tát ở nhân gian. Chúng ta phải quảng độ hữu duyên, từ bi hỷ xả, như vậy chính là những vị Phật ở nhân gian. Cho nên, Sư phụ hy vọng quý vị hãy chăm chỉ học Phật tu tâm, cho bản thân mình thêm một cái tâm thanh tịnh, thêm một cơ hội để tạo dựng lòng từ bi.
Mỗi một ngày đều sống trong sự tinh tấn, mỗi một ngày đều sửa đổi đi một chút xíu những thói hư tật xấu trên người mình. Quý vị sẽ dũng mãnh tiến bước, quý vị sẽ nhìn thấy ánh Phật quang của Bồ Tát đang soi đường chỉ lối cho quý vị, đang dắt tay quý vị, mãi mãi tiến bước trên con đường Phật đạo. Xin cảm ơn quý vị.
Được rồi, chúng ta sẽ tiếp tục “Bạch Thoại Phật Pháp” vào lần sau. Hôm nay xin dừng tại đây, cảm ơn quý vị.
81. Thập niệm pháp (1)
Tập 81
THẬP NIỆM PHÁP (1)
(06/06/2020)
Được rồi, hôm nay Đài trưởng sẽ giảng cho đại chúng nghe về thập niệm Pháp (10 niệm Pháp).
Trước đây, khi Đức Phật hoằng hóa Phật giáo tại Kỳ Thụ Cấp Cô Độ Viên nước Xá Vệ (khi Ngài hoằng dương Phật pháp), Đức Phật có lần khai thị cho các Tỳ kheo: Nếu có người tu thập thiện pháp thì tương lai sẽ được vãng sinh lên thiên thượng. Nếu người phạm vào thập ác pháp thì sẽ đọa vào ác thú (tức là bị đọa vào ba đường ác ở dưới). Nếu thiện tu thập niệm pháp thì có thể chứng nhập được cảnh giới Niết-bàn. Hãy ghi nhớ, nói về ba điểm: nếu quý vị phụng hành Thập thiện pháp, quý vị có thể được tái sinh lên thiên thượng. Nếu tạo tác Thập ác pháp, quý vị sẽ rơi vào ba đường ác. Nếu quý vị tu Thập niệm pháp, quý vị có thể chứng nhập cảnh giới Niết-bàn. Đây là cảnh giới cao.
Tạo tác mười loại ác pháp nào sẽ bị đọa lạc đến ác thú? Nói đơn giản với mọi người một chút, mười ác pháp trên thực tế chính là: sát sinh, trộm cắp tài vật của người khác, tà dâm phóng đãng, nói vọng ngữ, khởi ngữ, ác khẩu (ngôn ngữ thô bạo mắng chửi người), hai lưỡi (đâm thọc ly gián), trong lòng thường sinh khởi đố kỵ với người khác, sân não (hận người khác), hưng khởi tà kiến (thường xuyên có tà kiến, thường xuyên nhìn không thuận mắt với người này, nói sai với người kia, có ý nghĩ sai lầm về người khác), sau đó tạo ra mười loại ác hạnh trên, vậy tương lai nhất định sẽ bị đọa lạc trong ba đường ác đạo: súc sinh đạo, ngạ quỷ đạo và địa ngục đạo.
Vậy làm thế nào tu Thập thiện pháp để được lên thiên? Thực ra, nó hoàn toàn trái ngược với các ác pháp.
Thân nghiệp phải thanh tịnh, thân không được tạo nghiệt, không tạo ác nghiệp, chẳng hạn, nếu nghề nghiệp không phải là nghề hạ lưu hay nghề sát, trộm, dâm, vọng và không làm hại người khác như: không sát sinh, không trộm cắp, không
tà dâm. Đây đều là thân nghiệp, phải sạch sẽ. Nếu một người phạm tội tà dâm thì trên thân thể liền tạo ra tà ác, nghĩa là thân đã không trong sạch.
Khẩu nghiệp phải thanh tịnh. Chúng ta thường nói: “Bạn nói chuyện miệng sạch sẽ một chút”, thực ra chính là: không vọng ngữ, không khởi ngữ, không ác khẩu, không hai lưỡi. Nói hai lưỡi nghĩa là gieo rắc bất hòa, làm người khác không vui, có ý kiến chống lại họ, hoặc quý vị khiêu khích đối phương để họ có ý kiến chống lại mình. Nói vọng ngữ là nói dối. Không nên chửi mắng. Đây đều là các vấn đề thanh tịnh của khẩu nghiệp.
Bất luận làm việc gì, “tam nghiệp” cũng phải trong sạch. Một điều nữa là ý nghiệp phải thanh tịnh. Ý nghiệp là đối phương không nhìn thấy được, bởi vì rất nhiều ý niệm của quý vị đối phương không nhìn thấy được, vậy thì quý vị phải giữ tốt tâm của mình. Thứ nhất, tuy người khác không nhìn thấy, nhưng trong tâm quý vị không được có đố kỵ, không được có oán hận. Hận thì người khác không nhìn thấy được, vì ngoài mặt quý vị có thể cười nhưng thực ra trong lòng quý vị hận vô cùng. Và còn đố kỵ người khác, người ta không thể nhìn thấy được, nhưng trong lòng quý vị thật khổ sở, thật thống khổ. Còn có một điều nữa là hãy tránh xa tà kiến. Tránh xa tà kiến là gì? Quý vị không thể làm theo nó với quan điểm sai lầm. Ví dụ, nếu ai đó nói rằng mọi người đều làm việc này, “Tại sao tôi không thể làm được?”, thì quý vị phải tránh xa tà kiến, bởi vì việc mà mọi người đều làm không nhất định là việc tốt, hiện nay mỗi người trên thế giới này đều tham sân si, nếu quý vị không tham, thì quý vị sẽ không rơi vào tà kiến, vì quý vị biết điều này là không tốt. Nếu quý vị có thể tu được mười thiện pháp này ngay bây giờ, thì quý vị sẽ được tái sinh lên thiên vào cuối đời.
Tiếp theo, Đài trưởng muốn tập trung vào việc giảng với mọi người về tu hành Thập pháp – tức là Thập niệm pháp, tương lai có thể chứng nhập Niết-bàn. Đây là một cảnh giới cao hơn, và nó không phải là nghiệp vọng ngữ, trộm cắp hay sát nghiệp thông thường nữa – những nghiệp này chúng ta đều nghe hiểu được,
nhưng làm sao chúng ta có thể “thập niệm” để chứng nhập Niết-bàn đây? Đây là điều quan trọng mà Sư phụ muốn nói với mọi người ngày hôm nay.
Trước hết tìm hiểu một chút về thập niệm là mười niệm nào: Niệm Phật, Niệm Pháp, Niệm Tỳ Kheo Tăng, Niệm Thiên, Niệm Giới, Niệm Thí, Niệm Xử Tịch Tĩnh, Niệm Xuất Nhập Tức, Niệm Thân, Niệm Tử. Chúng ta nên hiểu rằng khi nghĩ đến điều đó, lúc nào cũng suy nghĩ đến phải thoát ly và sanh ra ở cõi Trời, nói cách khác những ý niệm bình thường của chúng ta, hết ý niệm này đến ý niệm khác, chính là phải thoát ra khỏi Hồng Trần, thoát ra khỏi các loại ý niệm xấu của mình trên thế gian này, thì quý vị có thể được sinh ra ở cõi Trời. Nếu như quý vị còn giữ những ý niệm không tốt này, thì có thể sẽ tạo ra Nhân đọa vào ba đường ác, cho nên chúng ta phải phụng hành thiện tu. Mọi người biết, tu tâm cũng có ác tu, ác tu là gì? Tu lệch rồi, sau khi học được niệm kinh và tu tâm thì đi nguyền rủa người khác, dùng các loại phương pháp không tốt để đố kỵ người ta, bỏ bùa ngải người ta, những điều này khiến chúng ta không thể có được giải thoát. Cho nên chứng Niết-bàn phải có Thập niệm pháp.
Thứ nhất là niệm Phật. Luôn luôn ghi nhớ trong tâm Đức Phật thật vĩ đại, để lại cho nhân gian chúng ta biết bao thiện niệm, thiện đức, để chúng ta nổ lực thật nhiều, nỗ lực này chính là Công, và dùng phẩm chất đạo đức của bản thân chính là Đức, như vậy quý vị thường xuyên nghĩ đến “Tôi phải cố gắng để tinh tấn (tức là “Công”), dùng đạo đức trong bổn tánh của mình để làm nhiều việc, bởi vì đây chính là Phật”, nên quý vị liền có công đức, nếu có công đức thì quý vị chính là học tập ở Phật. Tấm gương của Phật chính là để cho chúng ta hiểu được nên dùng tâm ban đầu như thế nào để hoàn thiện nhân cách cao quý của mình, sau đó mới có thể xuất ly lục đạo, tiến nhập Niết-bàn. Chúng ta coi việc thành Phật làm mục tiêu của cuộc đời, khi chúng ta tu hành ở nhân gian, đầu tiên phải nghĩ đến “Tôi sẽ tu tâm để thành Phật trong đời này, và tôi nhất định phải thành Phật”. Rốt cuộc quý vị muốn gì khi tu Phật học Phật? Là để thành Phật. Nếu như không thể thành Phật, thì quý vị tu tâm gì? Niệm Phật mà chúng ta thường
nói đến, thực chất là nhớ về đạo lý của Phật, chính là mỗi một ý niệm đều phải nghĩ đến: Đạo lý của Phật thật sâu rộng, đạo lý của Phật thật vĩ đại, đạo lý của Phật chính là ngọn đèn chỉ đường giúp chúng ta thoát ly sáu cõi. Chúng ta cần phải học lý của Phật, còn phải học tướng của Phật. Tướng là gì? Quý vị hãy nhìn các vị Bồ Tát và chư Phật đứng đó, có trang nghiêm không? “Tướng hảo quang minh dĩ tự nghiêm”, đúng không? Quý vị hãy nhìn xem con người chúng ta, khuôn mặt của chúng ta khi tức giận, hung dữ như thế nào khi tràn đầy hận thù, chúng ta nhìn người khác với vẻ ghê tởm như thế nào. Đố kỵ người khác với dáng vẻ của ngũ quan nhăn nhúm lại, những điều này không thể trở thành Phật tướng. Vậy nên học Phật niệm Phật, phải niệm đạo lý của Phật, niệm tướng của Phật, thì quý vị sẽ không làm hành động “nháy mắt ra hiệu” rồi. Có một số người khi nói chuyện thích nháy mắt ra hiệu với người khác, có người nói chuyện hay có bộ dáng là lạ (trong cuộc sống đều có), có người thích nhìn trái nhìn phải, loại này đều thuộc về Tướng. Đây chính là điều thứ nhất của cảnh giới niệm Phật. Nếu như vậy, thì đạo lý, tướng và cảnh giới chính là cảnh giới Thể – Giai – Dùng mà Phật pháp giới nói đến và được dùng trong cuộc sống của chúng ta. Một người nhiễm Hồng Trần, một người phàm phu, khi họ niệm Phật, trong đầu một bên nghĩ đến Phật, một bên tạp niệm tán loạn, hoàn toàn không dừng lại được, dù có quỳ trước Phật nhưng trong đầu họ đều có tạp niệm tứ tung. Nếu quý vị có thể làm được tịnh tâm niệm Phật, tâm trong sạch, tâm thuần khiết, vậy thì quý vị chính là đang trong nhất niệm, một ý niệm nghĩ đến Phật thôi, thì tướng mạo cũng đoan trang rồi và lời quý vị nói ra câu nào cũng là đạo. Tiếp theo đó chứng đến Thánh vị, cũng có nghĩa là cảnh giới của quý vị đã đến vị trí của Phật rồi, đó chính là quả vị của quý vị. Đây là điều thứ nhất, niệm Phật.
Thứ hai là niệm Pháp. Pháp là gì? Pháp chính là đạo lý của Phật pháp, ví dụ như Phật pháp Đại Thừa, Phật pháp Tiểu Thừa đều có kinh văn, những kinh văn này đều là đạo lý, chính là Phật lý. Cho nên quý vị cần phải niệm Pháp, chính là
trong đầu thường xuyên phải nghĩ đến Pháp của Phật. Cái gì gọi là niệm Pháp? Nghĩa là đem tất cả các Pháp theo như lời Phật dạy nhớ mãi ở trong tâm. Sư phụ đưa ra một ví dụ đơn giản, Phật nói với chúng ta “Như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điện”. Rất nhiều người ra ngoài diễn thuyết, vắt cạn óc cũng không nói ra được gì, thực ra, chỉ cần quý vị học thuộc những câu ngắn gọn, rất hữu ích và vi diệu của Đức Phật thì điều quý vị đang giảng chính là Pháp. “Như lộ diệc như điện. Ưng tác như thị quán”, “Chúng thiện phụng hành, chư ác mạc tác”, “Bỏ đao đồ tể, thì sẽ thành Phật”… Tất cả mọi thứ, trong ý niệm của quý vị đã có loại pháp này (pháp của kinh Phật), nghĩa là đem tất cả pháp của Phật niệm ở trong tâm, luôn luôn nghĩ về nó trong tâm, “Vật chất là trống không, không gian vũ trụ đều là vô thường, Phật nói với chúng ta là vô thường, đừng đau khổ hay buồn phiền, nó sẽ thay đổi trong chốc lát và sẽ qua đi”, lúc nào cũng niệm Pháp, quý vị hãy ghi nhớ những câu pháp cùng pháp ngữ này trong lòng, và trong việc “hành” hàng ngày, quý vị đang làm theo Phật pháp, vậy thì quý vị chính là đang niệm Pháp.
Thứ ba là niệm Tăng. Niệm Tăng nghĩa là lúc nào cũng phải nhớ đến phạm hạnh thanh tịnh của hiền thánh tăng, “Hiền” tức là nhân sĩ hiền đạt, có trí tuệ, có văn hóa; “Thánh” là thánh nhân; “Tăng” chính là hòa thượng, pháp sư. Thường xuyên phải nhớ, tưởng nhớ đến họ, phải hoài niệm họ, phải biết ơn họ, trong quá khứ họ để lại cho chúng ta rất nhiều phạm hạnh thanh tịnh. Phạm hạnh gì? Nghĩa là hành hạnh Bồ Tát ở nhân gian, gọi là phạm hạnh. Bằng cách này có thể trau dồi tâm niệm xuất thế cho riêng mình: “Đời này tôi không nhất thiết phải ở nhân gian, tôi muốn tu xuất thế gian”. Tâm thái phải tốt, phải tôn kính hiền thánh tăng. Ví dụ như quý vị thường nghĩ đến câu chuyện năm xưa của Đức Phật, chuyện cứu người của Đức Phật, Bồ Tát, Tăng nhân. Kỳ thật mọi người đến chùa, vừa bước vào có năm trăm vị La Hán, vậy năm trăm vị La Hán làm sao có thể đắc được thánh quả? Mỗi vị Bồ Tát La Hán đều có câu chuyện riêng của mình, vô cùng kinh điển, và họ đều có những câu chuyện về việc họ đạt
được thánh quả. Vậy nên chúng ta phải biết ơn các vị, phải luôn nghĩ đến các vị Thánh đó, bắt đầu từ Đức Phật, kể cả tất cả các vị Hộ Pháp Bồ Tát đã cứu độ chúng ta. Lấy một ví dụ đơn giản, câu chuyện Tế Công Hoạt Phật mà mọi người đều biết, đúng không? Đạo Tế thiền sư. Quý vị xem Tế Công Hoạt Phật cứu thế cứu người như thế nào? Còn có Mục Kiền Liên Tôn Giả v.v.. Lần trước Sư phụ đã kể cho quý vị nghe một số câu chuyện, phải luôn ghi nhớ những câu chuyện này trong đầu, sẽ sách tấn quý vị tu tâm, sẽ sách tấn quý vị tiến bộ. Nghĩ về câu chuyện của Văn Thù Bồ Tát, câu chuyện của Quán Thế Âm Bồ Tát, câu chuyện của Đức Phật, đều là tấm gương của chúng ta, chúng ta phải kính trọng các Ngài, vững vàng noi gương theo các Ngài trong việc tu tâm và tu hành, thường nghĩ đến cảnh giới vĩ đại vượt qua phàm nhân của các Ngài để giúp đỡ chúng sinh và cứu độ chúng ta, đó gọi là “niệm Tăng”.
82. Thập niệm pháp (2)
Tập 82
THẬP NIỆM PHÁP (2)
(06/06/2020)
Thứ tư là niệm Giới. Khi Đức Phật sắp nhập Niết-bàn, các đệ tử của Ngài đều quỳ bên cạnh rất đau lòng và khổ sở: “Thưa Đức Phật, Ngài Niết-bàn rồi, vậy chúng con làm sao bây giờ?” Đức Phật liền nói với bọn họ: “Lấy giới làm gốc”. Vì vậy giữ giới chính là phẩm đức của con người, người có thể giữ giới là một người tốt, người có thể giữ giới là người có phẩm chất cao quý, điều đó chứng tỏ người này sẽ không làm điều xấu, sẽ không vọng ngữ, sẽ không tham sân si mạn nghi. Vậy nên hành vi giữ giới, phải được quy phạm nó trong thức thứ tám của mình, phải luôn giữ giới, và đừng quên những giới luật đó.
“Giới nãi vô thượng Bồ-đề chi bổn”, mọi người hãy nghĩ xem, giới chính là nền tảng của vô thượng Bồ-đề, cho nên phải luôn ghi nhớ một số giới luật mà Đức Phật đã đặt ra cho chúng ta. Quý vị xem, Bồ Tát bảo chúng ta đừng tham sân si, đừng sát, trộm, dâm, vọng, tửu, đây đều là những giới luật mà Đức Phật đã đặt ra cho chúng ta, mọi người chúng ta đều phải tuân thủ, phải đối chiếu hành vi của bản thân. Hôm nay quý vị có hành động tham lam không? Hôm nay quý vị có hành động thù hận không? Hôm nay quý vị có làm hành động gì ngu ngốc không? Nói lời không nên nói, gieo rắc mối bất hòa, có ý nghĩa gì? Giống như chúng ta bây giờ nghĩ lại chúng ta đã làm rất nhiều điều ngu ngốc khi còn trẻ. Luôn luôn kiểm tra hành vi và cử chỉ của mình, quan trọng nhất là khởi tâm động niệm. Mọi người đều biết tâm là khó khống chế nhất, người ta thường nói “Tâm viên ý mã”, tâm không thuận duyên, toàn bộ tâm không ngừng lay động. Mọi người thường hay nói “trái tim đập loạn nhịp”. Quý vị xem, có rất nhiều người làm quảng cáo với nội dung “tâm động không bằng hành động”. Khi quý vị vừa động tâm, là đã nghĩ đến hành động rồi, cho nên muốn giữ cho trái tim của quý vị không động, thì tay, chân, miệng của quý vị v.v.. Tất cả đều không được có hành động nào cả. Sư phụ bảo mọi người khởi tâm động niệm phải phù hợp với quy tắc của giới luật, giữ giới nghĩa là những việc không có ý nghĩa thì đừng làm. Ở trước mặt người khác phái cảm thấy mình rất có khả năng, biểu
hiện một chút, thú vị lắm sao? Việc giả vờ tham lam khi rõ ràng biết được thứ mình muốn không đạt được, có thú vị không? Quý vị hận người khác đến mức tức giận vô cùng, nhưng người khác không biết, điều đó có thú vị không? Quý vị hận người khác hận càng về sau, khi quý vị nói xấu họ sau lưng, cuối cùng bị họ phát hiện ra, họ sẽ tấn công quý vị không thương tiếc, cuối cùng quý vị bị thương tổn, có phải điều đó đã trở về bên quý vị rồi không? Có thú vị không? Cho nên niệm Giới này vô cùng quan trọng, lúc nào cũng giữ giới, từng giây từng phút sống trong giới luật, quý vị liền có thể thành công.
Thứ năm là niệm Thí. Niệm Thí là hồi tưởng nhớ lại hành động bố thí, có công đức lớn. Hãy luôn nghĩ “Tôi muốn bố thí, tôi muốn làm chút gì đó cho người ta ăn, tôi muốn đối xử tốt với mọi người”, bởi vì bố thí không đơn thuần là một loại xả bỏ mà quý vị còn nhận được. Quý vị nhận được gì? Khi quý vị cho đi, quý vị sẽ nhận lại được, quý vị đã xả bỏ được “quái tật sở phúc”. Nghĩa là gì? Quý vị từ bỏ tính đố kỵ với người khác và tính keo kiệt. Bởi vì người biết cho đi họ sẽ không keo kiệt, và người keo kiệt thì họ sẽ không biết cho đi. Chỉ có người thường bố thí mới không keo kiệt. Vì thế Sư phụ nói với mọi người rằng, bình thường chúng ta làm người, chúng ta nên luôn nghĩ đến việc đi tiếp tế người khác, giúp đỡ người khác và chăm sóc tất cả chúng sinh. Khi nghĩ đến việc bố thí, điều chúng ta nghĩ trong tâm là “Tôi muốn giúp đỡ người khác. Tôi có thể yêu thương và bảo vệ họ. Tôi muốn cho họ nhiều hơn một chút. Tôi muốn cho họ biết đến Phật pháp nhiều hơn. Bản thân tôi ăn không hết tôi nhường cho họ ăn, và những gì tôi dùng không hết tôi tặng cho họ nhiều hơn”. Vậy nên trong cuộc sống đã hình thành thói quen giúp đỡ người khác bất cứ lúc nào, bất cứ nơi nào. Dù là của cải hay Phật pháp mà chúng ta đã học được, chúng ta phải luôn nghĩ trong tâm rằng: “Chỉ cần người khác cần, là tôi nhất định phải giúp đỡ họ, đây chính là bố thí”. Đây là điều thứ năm, gọi là niệm Thí. Việc bố thí phải thường xuyên suy nghĩ trong tâm trí.
Thứ sáu là niệm Thiên. Thế nào là niệm Thiên? Nghĩa là luôn phải ghi nhớ trong tâm: “Tôi đã từng tu nhiều giới, và tôi cũng đã làm rất nhiều việc bố thí. Đó đều là thiện căn của tôi”. Phải thường xuyên nghĩ: “Có lẽ tôi đã ở trên thiên giới nhiều đời nhiều kiếp trước, hoặc là ở cõi Sắc Giới, hoặc là ở cõi Vô Sắc Giới, vì sự bố thí của tôi, để tôi được hưởng hạnh phúc ở Thiên Giới. Vậy nên cho tới hôm nay, những chuyện tôi làm phải được Thiên Giới ưng thuận”, Nếu có thể thỏa mãn ý trời thì tôi sẽ làm. Nếu không thuận ý trời thì có một số việc không thể làm được. Bởi vì Bồ Tát ở trên thiên bảo chúng ta phải giữ giới, nên tôi giữ giới. Bởi vì Bồ Tát ở trên thiên bảo chúng ta phải bố thí nên tôi sẽ bố thí. Bồ Tát bảo chúng ta phải giúp đỡ người khác, phải luôn quan tâm đến người khác, nên tôi sẽ thường xuyên quan tâm và giúp đỡ người khác, vậy thì cuối cùng quý vị sẽ được về trời. Nếu quý vị thường nghĩ “Tôi từ trên trời xuống” thì quý vị là một người cao quý. Ngày xưa có câu nói là “đập vỡ cái chén mẻ”, nghĩa là quý vị nói với người ta: “Anh tiêu rồi, anh hết thuốc chữa rồi, anh là đồ rác rưởi”. “Tôi là thứ rác rưởi, vậy bạn làm gì được tôi? Tôi là thứ rác rưởi, thì tôi làm chuyện rác rưởi”. Vì thế Sư phụ thường yêu cầu mọi người phải nghĩ đến việc niệm Thiên: “Tôi là con người ở cõi người và đã thoát khỏi ba cõi ác (vì con người thuộc về ba cõi thiện, cõi người xuống cõi tiếp theo là cõi súc sinh), nên hôm nay tôi vẫn được sinh vào cõi người, tức là tôi có một chút phước báo, có thể là phước báo từ kiếp trước của tôi và tôi còn có Thiên báo, nên tôi phải rất biết ơn. Kiếp trước của tôi còn có thể cho tôi đầu thai làm người, kiếp trước của tôi còn có thể cho tôi nghe được Phật pháp, kiếp trước của tôi còn có thể khiến tôi cảm nhận được tương lai tươi đẹp hơn”. Bởi vì thường hay nghĩ đến những việc thiện đã từng làm trên trời – Người ta thường nói: “Quý vị ở trên trời có phước, quý vị đến thế gian sẽ có đức. Quý vị ở trên trời có phước, quý vị đến thế gian sẽ có báo. Quý vị ở trên trời có phước, quý vị sẽ thuận buồm xuôi gió ở nhân gian” – Thường xuyên niệm Thiên, cảm nhận được những thiện lương trong đời trước của mình, quý vị sẽ trở nên càng ngày càng lương thiện.
Thứ bảy là niệm Anapana, dịch ra là niệm Xuất Nhập Tức. Xuất Nhập Tức là gì? Đó là những suy nghĩ của chúng ta. Chúng ta không biết rằng suy nghĩ có liên quan đến hơi thở, mọi người hãy nghĩ xem có phải như vậy không? Mỗi một hơi thở ra là có một suy nghĩ, và mỗi hơi hít vào là có một suy nghĩ. Vì vậy, hãy nhìn xem, hơi thở của nhiều người sẽ trở nên gấp gáp khi họ động não. Khi quý vị lo lắng, hơi thở của quý vị sẽ tăng tốc. Khi quý vị nói dối, hơi thở của quý vị sẽ nhanh hơn. Khi quý vị căng thẳng, quý vị muốn tập trung vào một điều gì đó, nhịp thở của quý vị sẽ đặc biệt nhanh. Niệm Anapana là niệm Xuất Nhập Tức chính là thường xuyên dùng phương pháp hít thở để làm cho tâm mình duy trì thiền định, đừng để nó căng thẳng, đừng để nó thở nhanh, đây là điều Sư phụ thường nói với mọi người, hít một hơi thật sâu rồi từ từ thở ra, làm như vậy huyết áp của quý vị sẽ không cao. Vì vậy, khi nhiều người bị cao huyết áp được khuyên rằng phải hít thở sâu. Khi não thiếu oxy hoặc tim thiếu oxy thì phải hít một hơi thật sâu rồi thở ra từ từ, lúc này quý vị đang ở trong trạng thái thiền định. Khi bắt đầu học thiền quý vị không thể định lại được, có thể dùng phương pháp đếm hơi thở, nghĩa là quý vị có thể chú ý đến hơi thở vào và thở ra của mình rồi từ từ sẽ an tĩnh lại.
Thứ tám là niệm Xử Tịch Tĩnh. Niệm Xử Tịch Tĩnh là gì? Nó có nghĩa là sự chấm dứt của ý niệm, sự tĩnh lặng của ý niệm và sự chấm dứt của ý niệm. Sư phụ nói với mọi người rằng tĩnh lặng và ngừng lại là để ngăn chặn việc truyền tải thông tin từ suy nghĩ của chính mình. Đừng nghĩ về điều đó nữa hãy dừng lại. Khi nghĩ đến sự tĩnh lặng, trong đầu sẽ nghĩ: “Tôi muốn tịnh tịnh tịnh…” Khi tôi tịnh lại, đầu óc tôi không còn nghĩ ngợi gì nữa, giờ đây tất cả đều trống rỗng, an tĩnh rồi đúng không? Tâm quý vị tĩnh lặng thì nó sẽ tĩnh lặng. Nếu trong tâm quý vị nghĩ: “Mình không làm được việc này, mình bị oan rồi, mình phải tranh luận ngay, nếu không chuyện này sẽ không ổn”, trái tim quý vị sẽ bắt đầu dâng trào và đập nhanh, và thế thì quý vị sẽ không thể giữ tĩnh lặng được nữa. Vậy nên, trước tiên là đừng nghĩ về nó thì những suy nghĩ sẽ dừng lại. Thứ
hai, hãy nghĩ về sự tĩnh lặng và trong tâm nghĩ, “Ồ, tôi muốn tịnh lại, tịnh lại” và sau đó đạt đến niệm diệt, sẽ không còn suy nghĩ gì nữa. Hãy kiểm soát hơi thở của quý vị, sau đó nghĩ về sự tĩnh lặng trong tâm trí của quý vị. Những suy nghĩ của quý vị, dù chỉ một ý nghĩ đều là sự diệt độ và tịch diệt, không còn nữa. Tất cả những suy nghĩ và tạp niệm trong tâm trí quý vị, hãy để tất cả chúng dừng lại và chấm dứt, thì đây chính là một cảnh giới thâm sâu trong giới Phật giáo. Quý vị thường nghe một câu nói trong giới Phật giáo gọi là “bước vào trạng thái Tam muội”. Điều mà hôm nay nói với mọi người chính là Tam muội – niệm dừng, niệm yên lặng, niệm diệt. Trạng thái Tam muội mọi người đã hiểu chưa? Là trí tuệ, Tam muội là gì? Thực ra là một trạng thái định, đã an định. Người đang muốn cãi vã bỗng nhiên định lại và nhập vào trạng thái Tam Muội, trạng thái tĩnh lặng. Vì định có thể sinh ra trí tuệ nên trí tuệ sẽ sớm xuất hiện, mọi người phải hiểu điều này.
Thứ chín là niệm Thân. Giới Phật giáo thường nói đến việc tu thân niệm xử nghĩa là gì? Tu thân niệm xử là phải duy trì việc tu thân, hôm nay quý vị đã ngồi yên tĩnh, đã ngồi thiền rồi, trên người quý vị cần phải biết được những suy nghĩ trong cơ thể mình đến từ đâu, tại sao có quá nhiều tạp niệm và tại sao lại có nhiều điều hạnh phúc đến vậy. Lấy một ví dụ đơn giản, quý vị đang ngồi đó rất vui vẻ thì đột nhiên có người khác giới đến, ngay lập tức quý vị có chút phấn khởi, bản thân quý vị cũng không biết điều đó nhưng quý vị đã bắt đầu phấn khởi rồi. Bồ Tát dạy chúng ta niệm Thân là để biết tại sao chúng ta bỗng nhiên phấn khởi, cần phải biết “Bởi vì tôi thấy một người đàn ông” hay “Bởi vì tôi thấy một cô gái rất xinh đẹp” tiếp đó vào lúc này “Tâm tôi đã lay động, bây giờ tôi không thể ngồi yên được và tôi biết tật xấu này của tôi”. Khi đó quý vị hãy nhanh chóng niệm Tam muội – định.
Trước tiên quý vị phải nhận biết thì mới có thể định lại được, nhiều người nhẹ dạ không biết mình đã làm sai điều gì thì làm sao họ có thể định lại được? Vì vậy, trước hết quý vị phải phân biệt được những hoạt động sâu thẳm trong tâm
trí của mình: Sự hưng phấn của tôi hôm nay, thân này từ đâu đến, phiền não của tôi hôm nay, thân này từ đâu đến? Tại sao trong cơ thể quý vị lại có những phản ứng này? Quý vị phải hiểu đất, nước, lửa và gió của bản thân. Tại sao? Vì quý vị đã phân biệt ra “Tôi không muốn phát điên” đó là gió nên quý vị phải kiềm chế bản thân, bình tĩnh và im lặng.
Còn có một loại, phải biết chính cơ thể mình rốt cuộc thiếu cái gì. “Tôi biết hôm nay cơ thể thiếu nước”, vậy trong cuộc sống hiện thực “Tôi uống nhiều nước”. Quý vị đang thiền, “Tôi phải làm gì khi cơ thể thiếu nước? Ở gần nơi có nước và nước là bình tĩnh. “Hôm nay tôi nên ngồi yên tĩnh. Tôi bốc hỏa nổi nóng rồi, ngồi xuống thì không dễ nổi giận, đứng thì dễ nổi giận hơn”. Trước hết, quý vị phải biết mình sắp nổi giận để có thể kiểm soát nó. Nếu quý vị không biết bản thân nổi giận thì quý vị sẽ không biết mình nên đứng hay ngồi là tốt hơn. Nếu quý vị đứng, quý vị sẽ dễ nổi giận. Khi nằm sẽ khó tức giận hơn, khi nằm sẽ bớt giận hơn, khi ngồi cũng sẽ bớt giận hơn và dễ nổi giận nhất là khi đứng. Quý vị đi xem những người cãi nhau, nếu nằm trên giường cãi nhau, thì họ sẽ nhanh chóng ngồi dậy. Nếu một người ngồi và cãi nhau với người khác, họ sẽ nhanh chóng đứng dậy. Vì vậy, quý vị phải hiểu rằng, Bồ Tát yêu cầu chúng ta niệm Thân, là để phân biệt cơ thể của mình đang làm gì. Nhiều người tự thân họ làm ra hành vi mà chính bản thân họ cũng không kiểm soát được. Giống như một tên trộm ăn cắp quen tay, hắn nhìn thấy đồ liền lấy, và đã không còn biết rằng mình đang ăn trộm nữa. Giống như rất nhiều người nhìn thấy người khác giới tính liền động đậy, không dừng lại được và cũng không biết tại sao mình lại như vậy. Vậy thì trường hợp này phải thường Niệm Thân.
Bên trong của Niệm Thân còn có niệm nội Thân, niệm ngoại Thân, niệm nội ngoại Thân. Đây là ý nghĩa gì? Nếu quý vị nhìn bề ngoài “Sao hôm nay cái chân tôi lại đi như thế này? Rất khó coi”. “Sao hôm nay tay tôi không có chỗ để?” Thì đây gọi là niệm ngoại Thân. Còn niệm nội Thân thì sao? “Thật xấu hổ. Chuyện này của tôi thật đáng xấu hổ. Cơ thể của tôi không thể làm được loại
hành động này. Nếu tôi làm loại hành động này, mọi người sẽ coi thường tôi”. – đây là niệm nội Thân. Ngoài ra còn có niệm nội Thân và ngoại Thân, nếu trong tâm lay động thì hãy nghĩ “tâm không được động. Khi tâm động thì tay chân sẽ loạn động, lúc đó quý vị có thể làm những việc không đúng đạo lý. Khi nghĩ đến “không được động, không được động” – thì đó là Niệm Thân bên trong và bên ngoài.
83. Thập niệm pháp (3)
Tập 83
THẬP NIỆM PHÁP (3)
(06/06/2020)
Cuối cùng nói với mọi người, niệm thứ mười là Niệm Tử. Ai cũng biết kết cục cuối cùng của cuộc sống là cái chết nên Niệm Tử được xếp cuối cùng nhưng Niệm Tử cũng là bước quan trọng cuối cùng. Dù quý vị niệm chín niệm trên có tốt đến đâu, nếu niệm cuối cùng niệm không tốt thì chín niệm trước đó cũng không hoàn hảo. Nếu niệm hết chín niệm đầu, thực ra niệm cuối đối với quý vị mà nói mới là niệm xuất ly quan trọng nhất. Niệm Tử, khi mọi người nghe thấy từ “Niệm Tử”, dường như nghĩ rằng đó không phải là một từ dễ nghe lắm. Chẳng ai thường nghĩ “Ôi, tôi sắp chết rồi”? Họ cho rằng điều đó không tốt, thật là xui xẻo. Thực ra, nên thường nghĩ về sự vô thường của cuộc sống. Chẳng phải đó là Niệm Tử sao? Hãy nhìn xem mình bao nhiêu tuổi và đã sống được bao nhiêu năm rồi? Vậy nên, mỗi khi nghĩ về điều đó đều nghĩ về niệm Tử, thường xuyên ngẫm lại, đời người thật đáng thương, chỉ mấy mươi năm ngắn ngủi, có gì để mà tranh, có gì để mà giành, có gì để mà đố kỵ? Tự nghĩ thật đáng thương, sớm muộn cũng sẽ thành đồ cổ. Một cây gỗ lâu năm sau khi được chạm khắc, cây chết đi vẫn có thể trở thành món đồ cổ. Con người sau khi chết đi, chết là chết rồi, không còn lại gì cả. Vì vậy chúng ta thường nghĩ rằng cuộc đời là vô thường và ngắn ngủi. Có người nói: “Bây giờ tôi còn trẻ, không tu tập cũng không sao. Khi về hưu, tôi sẽ rảnh rỗi không có việc gì làm, tôi nhất định sẽ cố gắng tụng kinh và tu Phật”. Khi đó vô thường sẽ không cho quý vị tu, vì thời gian rất ngắn ngủi. Liệu quý vị có sống được đến ngày nghỉ hưu không? Thế nên, các hiền nhân Trung Hoa xưa kia thường nói “Trên sườn núi Hoàng Thổ không có già trẻ”. Điều đó không có nghĩa là người trẻ nhất định còn sống, người già nhất định phải chết, rất nhiều người chết khi còn trẻ, quá nhiều rồi. Vậy nên thường nghĩ về sự vô thường của cuộc sống và sự quý giá của cuộc sống: “Nếu tôi không trân quý nó thì tôi đang lãng phí cuộc đời mình, và tôi càng ngày càng đến gần cái chết”. Vì vậy, hãy tu hành ngay bây giờ, lập tức tu, gác lại mọi ưu phiền, gác lại những việc vặt vãnh và lo âu ở thế gian, rồi làm
những điều có ý nghĩa nhất trong cuộc sống – cứu độ tất cả chúng sinh, tu tâm thành Phật, quảng kết thiện duyên và chúng thiện phụng hành. Xưa kia, có một đại sư Phật giáo đã viết một chữ “Tử” thật to trong thiền thất của mình. Ngài nói: Con người chúng ta không quý trọng là chết, chúng ta quý trọng rồi cũng sẽ chết, kết quả cuối cùng cũng là chết, vì vậy chết không có gì đáng sợ, sợ nhất là sau khi chết quý vị không biết mình sẽ đi về đâu nên phải học cách trân quý nó.
Đức Phật có lần đã nói với các Tỳ kheo: “Bởi vì chúng sinh tạo ra căn nguyên của mười điều ác, cho nên tương lai sẽ phải chịu sự cằn cỗi và suy tàn của môi trường bên ngoài”. Dịch lại lời của Đức Phật lúc bấy giờ là như thế này: Bởi vì chúng sinh có căn nguyên của mười điều ác, cho nên đời sống sẽ cằn cỗi và suy tàn (rất đáng thương, nghèo, suy tàn), huống chi là ác báo của chính cá nhân mình? Cho nên báo ứng như hình với bóng. Đây chính là mười niệm mà Sư phụ hôm nay giảng cho mọi người. Lần sau thầy sẽ tiếp tục kể cho mọi người nghe về mười điều ác, phải xuống địa ngục, không được đầu thai làm người. Hy vọng mọi người cố gắng học Phật tu tâm. Đời người là chú trọng tìm kiếm ý nghĩa thực sự của cuộc sống, tìm kiếm cảnh giới vô ngã và tìm ra bổn tánh chân như.
Tiếp theo, Sư phụ sẽ kể cho mọi người nghe một câu chuyện nhỏ. Câu chuyện này rất thú vị, mọi người hãy chú ý lắng nghe, có thể phân biệt nó trong lòng. Có hai anh em từng có ước mơ đi xa để tu Đạo, nhưng tiếc thay cha mẹ đã già, các em còn nhỏ, còn người anh cả ở nhà có vợ ốm đau, con yếu ớt nên không thể đi được.
Có một ngày, có một cao Tăng đi ngang qua nhà bọn họ, hai anh em vừa thấy Cao Tăng Đại Đức đến, bèn mời vào nhà, quỳ lạy trước mặt ông và nói “Con muốn bái Ngài làm thầy”, và kể lại những khó khăn trong nhà. Hai tay cao Tăng chắp trước ngực, khẽ nhắm hai mắt, sau đó tự lẩm bẩm: “Xả đắc xả đắc, không có xả, thì lấy đâu ra đắc? Hai người các ngươi ngộ tính đều không đủ, mười năm sau ta sẽ quay lại”. Sau đó lướt qua và bỏ đi.
Người anh đốn ngộ, và dứt khoát rời đi với cuốn kinh sách trên tay. Anh trai liền bỏ tất cả ở lại và dứt áo ra đi. Còn người em trai nhìn cha mẹ, rồi lại nhìn chị dâu bị bệnh và em gái nhỏ của mình (anh trai đi rồi, còn chị dâu bị bệnh này và đứa em gái nhỏ tuổi của cậu ấy), cuối cùng không thể bỏ được, cậu ta không nỡ.
Thời gian như thoi đưa, mười năm sau người anh quay về, miệng tụng kinh Phật, thao thao bất tuyệt, tiên phong đạo cốt, lược kiến bất ban (dựa vào chuyện nhỏ suy ra chuyện to). Nhìn lại người em, dáng người lom khom, khuôn mặt già nua, đờ đẫn, phản ứng chậm chạp. Vị cao Tăng xưa kia đến như đã hẹn (mười năm rồi, cao Tăng vẫn giữ nguyên lời, ông ta lại quay trở lại), hỏi hai người: “Đã mười năm trôi qua, các ngươi thu nhận được gì?”
Người anh nói: “Thưa Sư phụ, trong vòng mười năm, con đã du hành khắp núi sông, viếng thăm chùa chiền và Đạo giáo, thuộc lòng hàng ngàn quyển kinh, và cảm ngộ được vô số điều”.
Người em nói: “Thưa Sư phụ, trong vòng mười năm con đã tiễn đưa bố mẹ con, sức khỏe chị dâu đã hồi phục, em gái con đã thành gia lập nghiệp. Nhưng vì lao lực nên con không có thời gian đọc tụng kinh điển, con sợ không có duyên được với đại sư”.
Cao Tăng mỉm cười nhẹ, đột nhiên quyết định nhận người em làm đệ tử. Lúc này, anh trai cảm thấy kỳ lạ: “Tại sao không thu nhận con? Em trai ở nhà, tại sao lại thu nhận nó?” Sau đó liền hỏi nguyên do: “Thưa Sư phụ, tại sao lại như vậy?”
Cao Tăng nói: “Phật ở trong tâm, không ở trong danh sơn đại xuyên. Trong lòng có thiện, hơn đọc chân kinh ngàn quyển. Cha mẹ còn không yêu thương, nói gì đến phổ độ chúng sinh? Bỏ gốc lấy ngọn, thì cuối cùng cũng không có duyên với Phật.
Câu chuyện này cho chúng ta biết rằng con người phải chân tu. Con người không chỉ đơn thuần là học Phật mà còn cần áp dụng những điều sau khi học. Bổn tánh con người là thiện lương, nếu chúng ta xa rời bổn tánh của mình thì chúng ta đặt Phật ở bộ phận nào trên thân mình? Cho nên người thật sự có thể học Phật phải có căn cơ tốt. Cũng giống như người học Phật tu tâm nhập định, sau khi nhập định, trong tâm có nhớ nhung hay không? Nhiều người nói: “Tôi đã nhập định và đầu óc đã trống rỗng rồi”. Sai rồi, quý vị vẫn có chứ ! Tại sao? Mặc dù đã nhập định rồi, cảm thấy mình không còn tưởng niệm, không có ý niệm, trên thực tế quý vị không có ý niệm cũng là một tưởng niệm nên gọi là “tư duy định hậu”. Sau khi không còn chỗ cho trí tưởng tượng, vẫn còn một chút suy nghĩ cuối cùng sau khi định. Trong cách hiểu về nhân tính và Phật tính từ kinh điển Phật giáo có “tư duy định tiền” (suy nghĩ trước khi nhập định). Bởi vì trước khi quý vị nhập định thì đã có suy nghĩ rồi, nên dù cho sau khi nhập định đã loại bỏ được những suy nghĩ lúc khi nhập định, thì việc nhập định của quý vị cũng là một loại suy nghĩ
Thế giới Phật giáo dạy chúng ta rằng nhìn thấu và suy nghĩ, nhìn thấu mà nghĩ, nhìn trúng mà nghĩ, chính là trí tuệ. Nói cách khác, nhìn thấu và buông bỏ ngày hôm nay cũng là một loại tưởng niệm. Đối với việc của ngày hôm nay, hãy nói “Tôi đang suy nghĩ về nó, tôi chưa hoàn toàn buông bỏ, và tôi đang tu tâm” – quý vị cũng đang nghĩ về nó, cho nên sự khác biệt về bản chất chính là trí tuệ. Bởi vì tư duy là dựa theo trí tuệ phát ra âm thanh, nên quý vị có bao nhiêu trí tuệ sẽ dẫn đến mức độ mà suy nghĩ của quý vị có thể đạt tới. Lấy một ví dụ đơn giản, quý vị là người suốt ngày làm những điều tốt cho người khác và giúp người khác làm điều gì đó. Cảnh giới của mọi người đều thấp hơn quý vị: “Cảm ơn bạn, bạn đã làm rất tốt và luôn làm điều tốt cho mọi người”. Và tự bản thân quý vị nghĩ: “Tôi đã làm gì đâu? Đây vốn là điều nên làm. Tôi đã làm từ nhỏ, bố mẹ tôi cũng không nói tôi tốt, bố mẹ tôi cảm thấy tôi nên giúp đỡ người khác làm rất nhiều việc tốt”. Đây là sự khác biệt trong cảnh giới. Tùy ý hết thảy
không ngại, nói cách khác, một chuyện tốt đã ăn sâu trong tâm quý vị, hết thảy không có chướng ngại. Và nếu quý vị muốn làm một điều tốt thì “Tôi muốn làm”, bản thân điều này đã là có sự tưởng niệm, và sẽ tạo ra một rào cản trong tâm quý vị. Vậy nên mang theo tâm để tu tâm, rất khó tu thành chân tâm. Vô tâm để tu tâm, mới có thể tu ra chân tâm.
Một khi quý vị nhìn thấu nó và thấy nó trống rỗng, quý vị sẽ bước vào cảnh giới “như thực tướng”. Có nghĩa là quý vị đã nhìn thấu nó, quý vị đã nhìn nó trống rỗng, thực sự không còn cảm giác gì nữa và quý vị đã bước vào cảnh giới của “Tướng chân thực Như Lai”. Nếu quý vị nắm lấy tính chân thực của giới chân thật, kiên trì quan niệm nhìn rỗng không, nhìn thấu, buông bỏ, sau đó gặp phải tất cả vấn đề của nhân gian, thì quý vị nhất định sẽ có được quan niệm này làm điểm chống đỡ, sẽ không sợ hãi bất cứ chướng ngại nào của nhân gian và quý vị sẽ đạt được đại tự tại. Vì thế có câu nói “Tất cả cảnh giới vô ngại là trí tuệ, vô vi và chuyển hóa của Phật giáo Đại thừa”. Cuối cùng, Sư Phụ muốn nói với mọi người rằng trí tuệ của Phật giáo Đại thừa mang đến cho quý vị vô ngại. Sự vô vi của Phật giáo Đại thừa mang đến cho quý vị sự khai giải và giải thoái. Sự chuyển hóa của Phật giáo Đại thừa mang đến cho quý vị lý ngộ và giác ngộ.
Hy vọng mọi người sẽ học Phật và tu sửa tâm mình thật tốt. Bài giảng hôm nay về《Bạch Thoại Phật Pháp》với đại chúng xin tạm dừng tại đây. Chúng ta hẹn gặp lại vào lần sau.
84. Thập thiện là căn nguyên của huệ mệnh
Tập 84
THẬP THIỆN LÀ CĂN NGUYÊN CỦA HUỆ MỆNH
(10/06/2020)
Được rồi, hôm nay chúng ta tiếp tục nói về “Bạch Thoại Phật Pháp”.
Lần trước chúng ta nói về Thập Thiện, hôm nay chúng ta tiếp tục nói về Thập Ác bao gồm: sát, trộm, dâm, vọng, khởi ngữ, ác khẩu, hai lưỡi, ghen tị, oán hận hại, tâm mang tà kiến. Trên thực tế đây chính là những gì mọi người quen thuộc, sát, trộm, dâm, vọng ngôn (nghĩa là vọng ngữ), khởi ngữ, ác khẩu, hai lưỡi (nghĩa là đâm thọc ly gián, gây chia rẽ), ghen tị, sân oán (nghĩa là hận), tâm mang tà kiến. Đối với người khác có ý nghĩ không tốt, kỳ thực đây cũng là có tội, nếu người ta rất tốt, quý vị nghĩ người ta không tốt, vậy thì nếu có tà kiến này là đã phạm tội rồi. Trước đây mọi người căn bản không biết, cho rằng: “Tôi có ý kiến về anh ấy”. Nếu cái nhìn này đúng thì quý vị sẽ không phạm tà kiến. Nếu hôm nay quý vị có cái nhìn sai về người khác, vậy thì quý vị đang làm tổn thương người khác và quý vị đang phạm tà kiến.
Nghiệp báo của việc sát sinh là mạng sống ngắn ngủi. Có một số người mạng sống rất ngắn, do sát nghiệp đời trước của họ và cộng thêm sát nghiệp đời này, nên thọ mạng của họ đặc biệt ngắn. Sau này quý vị chỉ cần thấy ai đó ra đi khi còn trẻ, vậy thì người đó chắc hẳn đã có nghiệp sát, bởi vì đây là quả nghiệp của thọ mạng cực ngắn chiêu cảm.
Nếu lấy đồ của người khác mà không có sự đồng ý của họ thì đó là chiếm giữ, là trộm cắp. Mọi người có biết quả báo của tội trộm cắp là gì không? Là nghèo hèn và một đời nghèo khổ. Nghèo cả đời, có muốn giàu cũng không phát tài được. Mọi người thấy đấy, một số em học sinh khi còn nhỏ đã thích trộm đồ của người khác, như bút chì, những thứ rất nhỏ phải vậy không? Như lấy một cục tẩy, nhìn xem trong túi của ai đó có gì rồi lấy trộm thước dây. Quý vị phải biết rằng làm như thế khi lớn lên mọi việc sẽ không suôn sẻ và sẽ không kiếm được tiền. Đây chính là quả báo. Vì vậy, không được ăn cắp tài sản của người khác.
Không được làm những việc mà không có sự đồng ý của người khác, rất nhiều người đều không biết điều này.
Dâm dục mãnh liệt là nhân, nếu hôm nay quý vị lăng nhăng và là kẻ háo sắc, ham muốn vô cùng mãnh liệt (dục vọng vô cùng mạnh mẽ), sẽ dẫn đến người mà quý vị thích hoặc là bạn đời, hoặc là bạn bè sẽ không chung thủy với quý vị. Vậy nên hãy nhìn mà xem, một người suốt ngày có ý nghĩ dâm dục thì bạn đời, vợ chồng hay bạn bè sẽ không mấy chung thành với họ. Hơn nữa họ sẽ không có suy nghĩ khiết tịnh, chắc chắn sẽ sai lệch.
Người thích nói dối (người suốt ngày nói dối), ngoài việc người khác căm ghét họ, còn có một loại báo ứng về thân thể. Bồ Tát nói, loại báo ứng này là hôi miệng, khẩu khí thối uế, quanh năm hôi miệng. Chúng ta thường nói hôi miệng đôi khi là do tình trạng đường tiêu hóa không tốt hoặc đánh răng không kỹ, có thể có một số lý do dẫn đến việc này, nhưng nếu như luôn có mùi hôi, thì quý vị phải cẩn thận, đây là có vấn đề rồi.
Thường xuyên nói khởi ngữ, ngôn ngữ không bình thường, nói lung tung, thì vùng đất nơi lớn lên sẽ không bằng phẳng. Nếu đất không bằng phẳng, sẽ làm cho tâm thái của người sống ở nói đó bị ảnh hưởng, loại địa phương này nói chung sẽ không giàu có lắm.
Về nghiệp nhân của hai lưỡi, một người nếu như hai lưỡi – đâm thọc ly gián hai bên, thì dẫn đến họ làm bất cứ chuyện gì cũng sẽ gặp phiền não và “gai nhọn”, nghĩa là sẽ có trở ngại. Lấy một ví dụ đơn giản, người thường xuyên gây xích mích chia rẽ sẽ không có chướng ngại trong công ty sao? Họ không có phiền não sao? Người khác sẽ không nhìn ra sao? Cho nên làm như vậy rất ngu ngốc, gây xích mích chia rẽ đến cuối cùng bị người ta phát hiện, người chịu thiệt vẫn chính là mình. Vậy nên không nên gây chia rẽ.
Ác khẩu, nghĩa là mắng chửi người. Nguyên nhân mắng chửi người chính là giữa hai người với nhau vì ngôn ngữ, khái niệm, tư duy bất đồng, không có giao tiếp thiện lương tốt đẹp. Vậy nên người ác khẩu sẽ không được người khác hiểu họ. Người suốt ngày thích mắng chửi người sẽ không gặp được thầy tốt bạn hiền. Quý vị nghĩ xem có phải như vậy không? Nếu một người suốt ngày mắng chửi người, động một chút là không nói đạo lý, thì làm sao có người tốt kết giao bằng hữu với họ?
Còn có một loại người có lòng đố kỵ nặng nề. Người lòng đố kỵ nặng nề sẽ dẫn đến họ làm chuyện gì cũng không đạt được thành quả viên mãn. Trước đây từ nông thôn mà nói, sẽ không được mùa ngũ cốc, loại tâm tính này sẽ không dẫn đến mùa màng bội thu về mọi mặt. Ví dụ như nhà quý vị vừa trồng ngô, rồi trồng lúa, lại trồng rau, không phải tất cả đều được mùa, luôn luôn có một hai loại không được mùa. Dùng lời hiện tại mà nói, người ghen tị với người khác sẽ không đạt được thành quả viên mãn.
Tâm oán thù, hận người khác, tâm trí sẽ hình thành loại khái niệm giận dữ và ác niệm. Bởi vì quý vị hận rồi, nên sẽ tức giận, sau đó càng ghét, thì môi trường xung quanh càng tồi tệ, càng tệ quý vị càng hận, hận càng về sau, hoàn cảnh xung quanh chính là nguyên nhân khiến quý vị không có một việc nào có thể thuận lợi. Vì vậy, những người thường hay hận người khác, môi trường xung quanh nhất định sẽ không tốt.
Quả báo tà kiến, ngoại trừ tà tri tà kiến, không chính niệm, không chính kiến mà Sư phụ vừa mới nói với mọi người, thật ra người tà tri tà kiến vào những năm cuối đời, sẽ tự nhiên sinh ra trong tám đại địa ngục. Nghĩa là quanh năm suốt tháng tà tri tà kiến, không chính kiến, họ sẽ bị đọa vào địa ngục. Cho nên mọi người hãy nghĩ xem, tà tri tà kiến đáng sợ cỡ nào. Có nghĩa là rõ ràng người này là người tốt thì quý vị coi người đó là người xấu. Rõ ràng người này là người xấu thì quý vị nói đó là người tốt. Sự hiểu biết về Phật Pháp, rõ ràng người khác
nói là đúng, nhưng quý vị bẻ cong lại nói. Sư phụ đưa ra một ví dụ để mọi người có thể hiểu rõ hơn. Quý vị đi thuyết phục người ta ăn chay, đừng sát sinh, họ hỏi: “Cây thực vật có sự sống hay không?” “Có, thực vật cũng có sự sống vậy” “Rau xanh củ cải bạn đừng ăn luôn đi, chúng cũng đau vậy, sao bạn giết chúng, ăn chúng?” Loại này gọi là tà tri tà kiến, người dùng loại ngôn ngữ này để chống lại chính tri chính kiến, sẽ bị đọa địa ngục, họ tìm ra lý do không thiết thực, hoặc dùng một khái niệm khác để thay thế hay bác bỏ một tư tưởng đúng đắn. Đó là “cái thấy” dẫn đến đọa địa ngục, bởi vì bản thân họ hoàn toàn bị đảo lộn giữa đúng và sai.
Chúng sanh vì tạo ra mười nghiệp ác mà Sư phụ vừa nói (tạo là đã làm rất nhiều rồi). Vừa nãy Sư phụ nói mười nghiệp ác, mọi người có phải đã tạo ra rất nhiều rồi không?) dẫn đến hoàn cảnh nơi sinh ra khắc nghiệt. Thử nghĩ xem, quý vị ghen tị với người khác, sân hận người khác, ác khẩu, hai lưỡi, hoàn cảnh này có tốt cho quý vị không? Quý vị đã tạo ra nhiều nghiệp như vậy, liệu người khác có thích quý vị không? Quý vị đi đến đâu, người ta sẽ bỏ rơi quý vị đến đó. Nếu quý vị đã tạo ra mười nghiệp ác này thì môi trường sống của quý vị chắc chắn không tốt, nên ngày nào quý vị cũng sống một cuộc sống bất mãn, chưa nói đến ai cũng phải chịu quả báo xấu do thân xác gây ra. Quý vị nghĩ xem, trên cơ thể quý vị vẫn còn rất nhiều cảm giác không thoải mái, quý vị nói: “Tôi không tham sân si, tôi không oán giận, nhưng tại sao thân tôi lại cảm thấy đau đớn?” Đó là quả báo xấu do thân xác gây ra, là quả báo xấu do những việc xấu mà quý vị đã làm ở kiếp trước gây ra. Nên đức Phật đã nói với mọi người rằng: “Này các Tỳ kheo, nên từ bỏ mười pháp ác, tu hành mười pháp thiện”. Mọi người đều rất cảm động khi nghe Đức Phật nói những lời thân thiết như vậy. Mặc dù đó là những thứ nhỏ nhặt trong cuộc sống của chúng ta, nhưng trên thực tế, mọi người đều phải tuân theo. Những sai lầm của một người được hình thành từ thời thơ ấu, và lòng tốt của một người cũng được hình thành từ mỗi điều nhỏ nhặt, vì
vậy hãy để chúng học tốt ngay từ khi còn nhỏ. Khi ấy, sau khi các Tỳ kheo nghe được lời khai thị của Đức Phật, mọi người đều tràn đầy Pháp hỷ.
Vừa rồi nói với mọi người về Thập Ác. Lần trước đã nói về Thập Thiện và Thập Niệm. Điều vừa nói với mọi người hôm nay là trong kinh Phật “Kinh Tứ Thập Nhị Chương” đã từng nói “mười việc như vậy không thuận với Thánh đạo, gọi là mười hạnh ác”, đó là mười sự việc vừa mới nói trên là không thuận theo Thánh đạo. Thế nào là Thánh đạo, thế nào là Thánh nhân, thế nào là Thánh? Ngày xưa chữ “Thánh”《聖》, có nhĩ(耳)bên trái và khẩu(口)bên phải, nếu quý vị nghe tốt, nói tốt, thì quý vị sẽ có được “vương” (王)
Từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, tức là quý vị sẽ là một vị Thánh nhân. Vì vậy, giữa người với người khác nhau, tức là những gì họ nghe và nói ra đều không giống với người khác, đó chính là vua của loài người. Vì vậy, phải hiểu rằng “mười việc như vậy không thuận với Thánh đạo, gọi là mười hạnh ác”. gọi là mười pháp ác, tức là mười ác hạnh. “Thị ác nhược chỉ”, nghĩa là nếu dừng lại tất cả mười ác pháp này và làm cho chúng không hoạt động nữa thì gọi là “Thập thiện hành nhĩ”, tức là Thập thiện hành. Vì vậy, trong mười ác nghiệp và mười thiện nghiệp, chỉ cần ngăn chặn các ác nghiệp thì sẽ trở thành người có mười thiện đó là Thánh nhân.
Mục đích tối hậu của sự tu tập của chúng ta là gì? Chính là nhập Bồ Đề Niết Bàn. Là ý nghĩa gì? Mục đích tối thượng của chúng ta là có trí tuệ, hiểu biết vô ngã, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, vô nhân tướng, vô ngã tướng, nghĩa là hiểu được Niết-bàn, nghĩa là đã triệt ngộ (là sự giác ngộ hoàn toàn). Vì vậy, quý vị không thể hiểu được mục đích và sự giác ngộ trọn vẹn khi đến thế giới này, thì quý vị không thể làm tốt mọi việc nhỏ nhặt trên thế giới này. Khi xây nhà mỗi một viên gạch không được đặt lệch, vì nếu đặt viên gạch nào lệch, ngôi nhà sẽ đổ khi đã xây rất cao. Vì vậy, trong giới Phật giáo thường có câu nói: “Vạn trượng cao lầu bình địa khởi”. Hôm nay quý vị có thể lên được thượng
thiên, về sau có tu thành Chánh đẳng Chánh giác hoặc vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chính là dựa trên mỗi lời nói và hành động hiện tại của quý vị để đạt được “phụng hành thập thiện, không tạo thập ác làm nền tảng” của Bồ Tát.
Mười điều ác và mười điều thiện đối với chúng ta mà nói thật khó biết bao. Xem ra ai cũng biết nói “không nên trộm, tôi đâu có trộm”. Nếu cứ lấy đồ của người khác mà không nói cho họ biết thì có gọi là ăn trộm không? Vì khi lấy quý vị không có cảm giác. Quý vị có thể thành Phật nếu quý vị cứ gieo rắc sự chia rẽ một cách tùy tiện không? Còn miệng lưỡi xấu xa của quý vị thì sao? Chửi mắng người thì sao? Mỉa mai người khác thì sao? Quý vị nói lời thêu dệt thì sao? … Tất cả thân khẩu ý này đều phải giống như Phật. Vậy nên phải giác chiếu, luôn luôn giác chiếu – nghĩa là phải giác ngộ và quán chiếu bản thân. Quán chiếu gì? Quán chiếu ngũ uẩn giai không. Đừng có những suy nghĩ xấu, đừng có các loại suy nghĩ xấu trong tâm. Phải tự kiểm điểm và xem xét lại chính mình, không để bất kỳ ý nghĩ hay nghiệt chướng dư thừa cặn bã nào còn sót lại trên người hay lưu lại trong tâm mọi lúc, thì quý vị sẽ thanh tịnh vô ngại.
85. Tâm, Phật, Chúng sanh cả ba đều không có sự khác biệt
Tập 85
TÂM, PHẬT, CHÚNG SINH CẢ BA ĐỀU KHÔNG CÓ SỰ KHÁC BIỆT
(10/06/2020)
Nếu quý vị có thể thanh tịnh không chướng ngại, thì quý vị sẽ tiến thêm một bước nữa đó là tu thiện – bởi vì lòng tốt của con người rất quan trọng – hãy thường xuyên tu thiện mà không dính mắc vào điều thiện. “Hôm nay tôi làm việc thiện rồi”, thì không nên dính mắc, người thiện lương đương nhiên làm việc thiện lương, người ác đương nhiên làm việc của kẻ ác, quý vị tinh tấn vô vi, vô sở trụ tâm, lập tức sẽ được tự tại giải thoát. Cho nên học Phật làm người, chỉ cần quý vị không chấp trước tất cả những gì mình làm, có thể buông bỏ, tinh tấn vô vi, và không bị dính mắc từng chút một về những gì quý vị đã có được và sở hữu, thì quý vị sẽ không trụ vào đâu, cũng có nghĩa là không có thứ gì có thể gây trở ngại trong tâm của quý vị, thì tất nhiên quý vị sẽ được tự tại giải thoát.
Hôm nay Sư phụ đã giảng cho mọi người về Thập Ác Pháp, Thập Thiện Pháp và Thập Niệm Pháp, tiếp theo Sư phụ sẽ giảng cho mọi người biết, tại sao học Phật lại chú trọng đến vô ngã. Thật sự không dễ để tu đến cảnh giới vô ngã, nếu quý vị tu đến một giai đoạn nhất định đã hoàn toàn “Ngã không” và không mang danh lợi của mình để ở trong lòng, thì đó chính là vô ngã. Hôm nay người khác nói người này thăng chức hoặc trở nên giàu có, quý vị đã không còn vướng mắc gì ở nhân gian nữa, quý vị sẽ không đố kỵ, sẽ không phiền não, sẽ không sinh tâm sân hận, sẽ không sinh ra các loại tâm tham như: “Tại sao tôi không có, họ có?” Người như vậy gọi là vô ngã. Nhưng cảnh giới vô ngã trong Phật giáo lại tuyệt đối không phải là trống rỗng. Quý vị nói, vô ngã có phải trống rỗng rồi không? “Tôi vô ngã rồi, không có con người này nữa, cái gì tôi cũng không quan trọng nữa”, trống rỗng rồi sao? Không trống rỗng. Tại sao? Quý vị ở trong “Bất Không” tu thành vô ngã, vậy thì cái Không này vẫn còn hay không? Vẫn còn, bởi vì trong Sắc của quý vị có Không, trong Không có Sắc. Trong thế gian ở cõi người này, người khác đều có danh lợi, quý vị nghĩ thông suốt rồi, không tranh danh tranh lợi với ai nữa, có phải quý vị đang ở trong “Không” hay
không? Sắc tức thị không. Thế nhưng người ta nói: “Con người bạn cái gì cũng trống rỗng, nghĩ thông suốt rồi”, trên thực tế những tài, sắc, danh, thực, thụy mà quý vị nhìn thấy ở nhân gian toàn bộ đều có, quý vị không có trống rỗng, quý vị nhìn thấy được, chỉ là sau khi quý vị nhìn thấy rồi, quý vị không hành động, quý vị đã giải quyết nó rồi, buông xuống rồi.
Người phàm phu luôn cho rằng, trên thế gian này có một cái “tôi” thật tồn tại – là chân ngã, “cái này là của tôi, cái kia là của tôi, tại sao bạn không cho tôi?” Thật ra mọi thứ trên thế giới này có gì là của tôi và của bạn? Tất cả mọi thứ là của thế giới này, và ngay cả quý vị đến thế giới này cũng không phải là của quý vị, cơ thể của quý vị là vay mượn, và linh hồn của quý vị cũng là vay mượn. Phật đã sớm nói cho chúng ta biết, khi thân thể chết đi, linh hồn này sẽ vĩnh viễn rời đi. Cho nên cái “tôi” từng có ở nhân gian chính là một cái tôi giả. Mọi người có nghe Đức Phật nói chưa? Đây là một cái tôi giả, thể xác không còn, linh hồn rời khỏi thể xác, như vậy cái còn lại chính là “tôi” của một linh hồn, bởi vì không tìm thấy một cái “tôi” thật sự của thể xác, vậy đó chính là cái tôi giả.
Linh hồn là thực thể tồn tại trong cảnh giới ý thức của chính mình. Câu này tương đối sâu, Sư phụ sẽ giải thích cho mọi người hiểu. Ý thức chính là mờ ảo, tưởng tượng, tư duy, là thuộc về ngũ uẩn. Linh hồn là một thực thể có thật trong lĩnh vực ý thức của bản thân, nó là một linh tính và linh hồn trong tâm hồn của quý vị, nó là tồn tại và có một linh thể như vậy ở trong cơ thể quý vị. Trên thực tế Bồ Tát nói với chúng ta, thể tồn tại này không phải là quý vị thật, không phải là chữ “tôi” thật, chỉ là khi quý vị sinh ra ở nhân gian và sau khi có được thân thể này rồi, quý vị đã triệu kiến cái linh hồn này, khi linh hồn này muốn tiến nhập vào thân thể của quý vị nhất định phải có một cái tôi giả, chính là cái tên giả. Ví dụ như con người quý vị vốn tên là gì đó, nhưng sau khi đặt cho quý vị một cái tên, thì quý vị liền biến thành một cái tên mới, ví dụ như tên: “Lão Trương”. Có người không đặt tên cho họ, bởi vì họ là đứa con thứ sáu trong gia
đình, nên từ nhỏ đã gọi là “Tiểu Lục”, mãi cho đến khi về già, người ta còn gọi người đó là “Tiểu Lục”, lúc chết còn gọi là “Vương Tiểu Lục”, chính là ý nghĩa này. Trên thực tế, khi anh ấy đi được nửa đường đời, nếu anh ấy đổi tên, mọi người sẽ nói với anh ấy rằng: “Anh không gọi là Vương Tiểu Lục? Vậy anh tên gì? Vương Phú Quý”. “Được rồi, vậy thì gọi Vương Phú Quý đi”. Như vậy từ đó về sau “Vương Tiểu Lục” sẽ không còn nữa, bởi vì cái thân thể giả này của anh ta chính là “Vương Phú Quý” rồi.
Người bình thường nhìn thấy thân thể, tin rằng có một chữ “tôi” tồn tại. Các vị bình thường nhìn thấy người này, lập tức liền nhớ tới “Tôi biết cậu ấy, cậu ấy là bạn của tôi, cậu ta tên là Vương gì đó (hoặc Trương gì đó hay Lý gì đó)”, thực ra cảnh giới của quý vị đã sai lệch rồi, bởi vì quý vị nhìn thấy là một cái tôi giả. Còn Bồ Tát thì nhìn thấy khác, ví dụ như người này mắng quý vị, quý vị liền biết “Đây là một cái tôi giả, ngay cả chính tôi cũng tìm không ra tôi là ai, người mà họ mắng tôi, nói tôi, họ là một cái tôi giả”. Tại sao nhiều người lại sĩ diện? Bởi vì họ coi mình là một cái tôi thật sự: “Ôi, tôi mất mặt rồi”, “Ôi, tôi xấu hổ quá”, “Ôi, mọi người nghĩ gì về tôi? Tương lai tôi làm việc ở đây có phải là điều đáng xấu hổ không?” Chữ “tôi” này tồn tại trong thân xác của quý vị. Lấy một ví dụ đơn giản, quý vị đeo một chiếc mặt nạ giả và khoác lên khuôn mặt của người khác, khi người khác nói về quý vị, có phải quý vị cảm thấy “Anh ta đâu có nói về tôi, mà người họ nhìn thấy lại là một người khác?” Cái ngã tướng này của quý vị liền biến mất rồi.
Vậy nên cái ngã hư vọng trống rỗng ở cõi người thực chất là tứ đại giai không. Tại sao lại tứ đại giai không? Đó là sự tồn tại của ý thức. Đất, nước, lửa, gió, gió có thổi đi không? Đất cũng sẽ không có, nước cũng sẽ chảy đi, lửa cũng sẽ cháy hết, gió cũng sẽ không còn. Con người là như vậy, chúng ta thường nói con người là sự kết hợp của bốn cái thân giả lớn: Đất là xương cốt. Gió chính là nói ví dụ như một người bị cảm mạo, trên thân thể người đó có phong hàn. Còn nước là máu, là các loại nước trên thân thể và nước bọt. Hỏa, thường xuyên nói
bốc hỏa khí, thực ra hỏa chính là máu lưu thông tương đối nhanh, khiến tuần hoàn máu tăng tốc, từ đó gây ra tắc nghẽn ở một mức độ cụ thể, không thể điều chỉnh trở lại mức bình thường ban đầu, thì hỏa liền phát sinh, khi nổi giận, lửa đốt gan, nên nói hay nóng giận sẽ sinh ra cãi vã, tính khí cũng nóng theo. Cho nên đây đều là giả, là một ý thức, quý vị có thể nổi nóng, cũng có thể lập tức không nổi nóng. Không phải Sư phụ đã từng nói với mọi người rồi sao, có một người nằm ngủ trên ghế trong công viên, cuối cùng có một người đi tới, ngồi lên người anh ta, anh ta tức giận đứng lên, vừa định mắng thì nhìn thấy đối phương là một người mù, cơn giận lập tức hạ xuống. Vì sao vừa mới vài giây trước còn có hỏa khí, vài giây sau hỏa khí liền tan biến? Bởi vì anh ta biết “đây là giả, người ta không phải thật sự muốn làm như vậy, không phải cố ý ngồi trên người tôi”, vì hiểu rõ đạo lý này, trong nháy mắt chuyển đổi nhân duyên, vậy thì tứ đại giai không, đều là trống rỗng.
Ý thức đều là trống rỗng. Quý vị vừa mới muốn làm chuyện này, nhưng tại sao đột nhiên ngừng làm việc đó? Có một số người đang nói chuyện với người khác và khi muốn tấn công, thì đột nhiên hệ tư tưởng của anh ta đã thay đổi. Ví dụ, chúng ta đã từng làm một việc gì đó mà bản thân không thể làm được, nhưng quý vị tưởng tượng “Tôi đã làm được, tôi đã hoàn thành, tôi đã thành công trong việc này”, và cuối cùng chính mình cũng không thể nhớ được việc đã từng hoàn thành là thật hay giả. Ví dụ hôm nay tôi bảo quý vị đi mua đồ, quý vị không đi mua, trong đầu quý vị tưởng tượng “Tôi vừa mới đi ra ngoài, đi bộ vất vả, vừa lúc trời lại mưa, một lát sau, mưa cuối cùng cũng tạnh, tôi đã mua được đồ về, xách rất nặng, sau đó tôi đi về rồi”, chỉ cần ý thức này của quý vị còn tồn tại, trải qua sau một tuần, hai tuần hoặc một tháng, đột nhiên có người hỏi quý vị: “Lần trước bảo cậu đi mua đồ cậu mua chưa?”, “Hình như đi rồi, còn gặp mưa nữa”, chính là ý nghĩa này. Nói cách khác ý thức của con người là tồn tại, chỉ cần con người tưởng tượng ra một chuyện nào đó thì nó sẽ tồn tại. Con người từ bỏ ý thức này, không có tưởng tượng này, vậy thì ý thức này sẽ không tồn tại.
Quý vị tưởng tượng người khác sẽ cười quý vị, sẽ bị đỏ mặt tía tai, cùng tranh cãi với người khác. Đợi đến khi quý vị tưởng tượng người khác không coi trọng quý vị đến như vậy, quý vị là ai? “Người ta cũng sẽ không coi tôi ra gì đâu”, thì khi đó cơn giận lắng xuống. Đây là điều mà Phật pháp cho chúng ta hiểu được tứ đại giai không.
Khi tu đến nhân tướng, ngã tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, thì nó cũng phải trống rỗng. Tứ đại (bốn tướng) giai không này cùng tứ đại giai không kia thật ra đều là rỗng không. Người rỗng không rồi, lúc rời đi chúng sinh cũng sẽ trống rỗng, thọ giả cũng sẽ trống không, ngã tướng cũng sẽ rỗng không. Vậy nên quý vị phải tìm được một cái “tôi” nguyên thủy trong cuộc sống, và cái “tôi” đó thực ra chính là cái “tôi” mà quý vị đã tìm thấy trong tâm hồn mình, và quý vị gọi là “ngã”, cái “tôi” này cũng là cái “tôi” giả hợp, nào có cái “tôi” chân chính? Sư phụ đã từng nói với mọi người, nếu một người tạo nghiệt rất sâu, bị phán xuống địa ngục, sau khi đánh tan hồn phách của họ, thì cái “tôi” này sẽ không còn nữa, từ nay về sau sẽ không còn cái “tôi” này nữa. Vì thế không ai có thể nghĩ rằng có một “tôi” thực sự trên thế giới này. Ý thức của chúng ta trong trường thức thứ chín, đó mới là Phật tánh, là linh hồn thực sự, cũng không thể nói là một cái “tôi”, mà là linh hồn của quý vị, có thể gọi nó là bổn tánh và Phật tánh trong trường thức thứ chín, quý vị gọi nó cái gì cũng được, chỉ là một cái tên. Quý vị gọi nó là cái gì cũng không chính xác, vì nó đều là một ý thức và linh thể thật không có tên.
《Kinh Kim Cang》đã từng nói rằng: “Tu Bồ Đề, phàm phu giả, Như Lai thuyết tức phi phàm phu, thị danh phàm phu”, câu này có ý nghĩa gì? Đức Phật nói với đệ tử là ông Tu Bồ Đề rằng: Phàm phu giả, Như Lai thuyết tức phi phàm phu. Nghĩa là Đức Phật nói rằng: Con người của ông là phàm phu, thực ra ông cũng không hoàn toàn là phàm phu, chỉ là cái danh xưng nói ông là phàm phu. Lấy một ví dụ đơn giản, tôi nói quý vị là người suốt ngày lười biếng, sự lười biếng này có tên là lười biếng, không phải là sự lười biếng thực sự của quý vị, bởi vì
sau này quý vị không lười biếng nữa, thì cái tên này sẽ không còn tồn tại nữa. Mọi người hiểu không? Đây chỉ là một cái tên, “tên lười biếng”. Vậy nên tại sao Đức Phật lại nói vừa là phàm phu lại không phải phàm phu? Bởi vì chỉ là trên danh xưng gọi là phàm phu. Nếu lúc nhỏ quý vị được gọi là “tiểu lười béo” hay “tiểu lười biếng”, đến khi lớn lên đã trở nên rất siêng năng, liệu quý vị có còn là một “tiểu lười béo” hay “tiểu lười biếng” nữa không? Lười biếng chỉ là một cái tên đã từng của quý vị mà thôi.
Vậy nên thực ra phàm phu trải qua học Phật tu tâm, có thể biến thành phi phàm phu. Ai nói quý vị là phàm phu? Ai nói quý vị là tục tử? Quý vị đã thay đổi rồi, quý vị đã không phải là phàm phu nữa. Quý vị đã thay đổi, quý vị không phải là tục tử nữa. Người học Phật ở trong Hồng Trần lại không phải xuất gia, cho nên danh là phàm phu, chúng ta không xuất gia, ở nhà, vậy nên nói chúng ta là phàm phu. Nhưng cảnh giới của chúng ta lại thoát ly phàm phu tục tử, vậy nên chúng ta là phi phàm phu.《Kinh Kim Cang》đặc sắc ở chỗ này. Người học Phật và phàm phu tục tử, Thánh nhân và Bồ Tát, thật ra đều là một cái tên giả, bởi vì phàm phu có thể biến thành Thánh nhân, Thánh nhân có thể trở thành phàm phu. Tục tử có thể trở thành Bồ Tát, Bồ Tát có thể trở thành tục tử. Đây chính là nói cho chúng ta biết, trên thế giới này không có phàm phu thật sự, chỉ là trên danh xưng gọi là phàm phu, trên danh xưng gọi là Bồ Tát, trên danh xưng gọi là Phật mà thôi. Một phàm phu tìm được bổn tánh của mình, tức phi phàm phu. Quý vị đã tìm thấy bổn tánh, quý vị có còn là phàm phu không? Một đứa trẻ rất lười, từ nay về sau nó biết không được lười biếng nữa, phải cố gắng thật tốt, nó đã không còn là một người béo lười nữa. Một cư sĩ có thể có được Phật tánh, thì họ chính là Phật, tức là họ không phải phàm phu tục tử.
Chúng sinh bình đẳng. Sư phụ đem những ngôn ngữ kinh điển của Thiền Tông nói với mọi người rằng chúng sinh bình đẳng. Thiền tông cho rằng văn hóa thiền đó là trí tuệ. Tâm, Phật, chúng sinh cả ba đều không có sự khác biệt. Tâm của quý vị, tâm Phật, và tâm chúng sinh, đều không có sự khác biệt. Tâm là gì?
Tâm đã khai ngộ, nó chính là Phật, tâm chính là Phật, cho nên tâm và Phật cùng nhau, nên gọi là tâm Phật hợp nhất. Nếu tâm này là Phật, nếu Phật còn chưa ngộ đạo thì chỉ là phàm phu, sẽ giống như chúng sinh. Bởi vì phàm phu và chúng sinh giống nhau, cho nên cả ba không có sự khác biệt. Chúng ta thường nói: Bạn hãy tu cho tốt, thì bạn chính là Phật. Bạn hãy tu cho tốt thì bạn chính là Bồ Tát. Bạn vốn là Bồ Tát từ trên trời xuống đây thừa nguyện tái lai, bạn không nỗ lực tu, thì bạn chính là phàm phu tục tử.
Đức Phật đã từng nói qua, chúng ta không có độ chúng sinh – năm đó văn tự này được dịch như vậy, vậy thì vì sao Phật nói chúng ta không có độ chúng sinh? Khi quý vị đã khai ngộ và vô ngã, thì là ai sẽ đến độ chúng sinh? Không phải quý vị, vì vô ngã rồi, vậy ai đến để độ chúng sinh? Vì không phải là quý vị, vậy nên đó chính là vô ngã. Khi quý vị đã tu trì chứng được Vô ngã thực sự, thì người đang độ chúng sinh là ai? Không có ai độ chúng sinh cả. Bởi vì đã vô ngã, vậy chúng ta đi đâu mất rồi? Không còn nữa. Nghĩa là “Hôm nay tôi đã làm một việc tốt cho người khác. Sau khi tôi làm việc đó, tôi hoàn toàn quên mất việc đó và tôi hoàn toàn đã quên việc đó rồi, vô ngã rồi”. Vậy thì quý vị còn nhớ việc tốt mà quý vị làm không? Không nhớ nữa. Làm xong việc tốt này thì nó đã tồn tại trong không gian, mà không gian là sự trống rỗng. Vì vậy, nhiều người làm việc thiện đã không để lại tên tuổi, nên cảnh giới của họ rất cao, khi làm việc tốt mà nói rằng: “Tôi đã làm điều này, tôi đã làm điều kia”, vậy thì cảnh giới của người này không cao nên họ chưa thể chứng đắc được Tánh Không. Bây giờ mọi người có hiểu điều Sư phụ đang nói không? Vậy nên Sư phụ bảo mọi người hãy hiểu Phật là gì, Phật chính là đã loại bỏ ngã tướng, không có hình tướng nữa thì quý vị chính là Phật và đã chứng được Tánh Không của chứng ngộ.
86. Tinh tấn là căn nguyên để thành Phật
Tập 86
TINH TẤN LÀ CĂN NGUYÊN ĐỂ THÀNH PHẬT
(10/06/2020)
Hôm nay quý vị chứng được Phật tánh, thì đã khẳng định được quý vị là Vô ngã. Đã Vô ngã, tự nhiên sẽ không có chúng sinh, Vô chúng sinh, Vô thọ giả, cho nên cảnh giới Vô ngã chính là cảnh giới của Phật. “Chúng ta” có phải là “chúng sinh” hay không? Quý vị nói “chúng ta” cùng nhau làm việc tốt, “chúng ta” không còn nữa, “ta” không còn nữa, thì “chúng ta” ở đâu ra? Chúng ta, “ta” cũng không còn nữa, thì “chúng” ở đâu ra? Phải hiểu được cảnh giới của Phật. Tất cả phàm phu đều có ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng, “Đây là ta làm”, “Người này lợi hại”, “Người này tu rất tốt” v.v.. Tất cả đều là tướng chúng sinh và tướng thọ giả. Trên thế gian, những người đó dốc sức bám víu vào mọi quan niệm, dính mắc vào tất cả sự việc ở đời. Rất nhiều người bởi vì có ngã tướng, cảm thấy “sự việc này là tôi làm”, “sự việc này đáng lẽ phải là của tôi”, cảm thấy có “bản ngã” ở trong đó, cho nên họ không thể thực sự tìm được cảnh giới Vô ngã. Tôi tin rằng mọi người đều đã từng có kinh nghiệm này, mọi người đi tìm một đồ vật gì đó: “Tôi nhớ rõ ràng là để ở chỗ này”, quý vị sẽ dốc sức tìm kiếm ở chỗ đó, bởi vì quý vị có ngã tướng, trên thực tế ký ức này của quý vị là sai lầm. Quý vị nhớ để ở đó, quý vị đã tìm ở chỗ này vô số lần rồi, nhưng bảo quý vị xem xét lại một lần nữa, tìm lại lần nữa, quý vị vẫn tìm ở chỗ này, đây chính là bởi vì ngã tướng và chấp trước vào: “Rõ ràng tôi nhìn thấy ở chỗ này”. Cho nên quý vị phải làm cho bản thân trở nên Vô ngã: “Dường như tôi chưa từng nhìn thấy qua, tôi sẽ ở trong phòng tìm lại lần nữa”, quý vị sẽ tìm được rất nhiều chỗ không đáng tìm hoặc là trong tưởng tượng của quý vị không muốn tìm, thì quý vị sẽ tìm được đồ vật mà quý vị cần tìm.
Hai chữ “Vô ngã” nghe có vẻ trống rỗng, nhưng không có cái “tôi”, tại sao lại dùng cái “tôi” để làm việc? Cho nên con người chúng ta cần một cái tên đúng không? Gọi là cõi người. Còn giới động vật thì sao? Gọi là cõi súc sinh, nó cũng cần có một cái tên. Như vậy rất nhiều súc sinh đầu thai thành người, rất nhiều người tu thành Bồ Tát, vậy người này từ nay về sau liền không còn nữa, động
vật này cũng từ nay về sau cũng không còn nữa, có phải là Vô ngã tướng rồi không? Đó là tướng của một cái “tôi” mà thôi.
Quan niệm trống rỗng về “có tôi” chỉ là vì “tôi nghĩ vậy”. Cũng giống như người khác không biết quý vị, thì dù sao người ta cũng phải gọi quý vị bằng một cái tên đúng không? Khi quý vị đi trên đường, người ta không biết quý vị, dù sao cũng phải gọi là “ông” hay “bà” đúng không? Có một danh xưng để chỉ một người cụ thể. Nếu như người khác gọi quý vị là “ông”, quý vị không còn có cái tôi nữa, bởi vì họ chưa từng gọi tên quý vị, và thậm chí quý vị còn không biết họ gọi “ông” là đang gọi quý vị, thì có phải quý vị đã buông xuống rồi không? Bởi vì người ta không gọi quý vị. Ngay cả khi người này la mắng quý vị hoặc nói những điều tốt đẹp với quý vị, điều đó sẽ không ảnh hưởng chút nào đến quý vị, quý vị sẽ không bị làm phiền bởi tiếng kêu của họ. Vì sao có người lại bị người khác làm phiền? Tại sao có người lại bị người khác quấy rầy? Bởi vì tâm của họ đang lay động, cho nên khi gặp phải chuyện gì họ lập tức động tâm. Tật xấu của con người là cái gì cũng phải quản, cái gì cũng phải nghe. Thánh nhân là gì? Nếu quý vị kiểm soát được tai và miệng của mình, quý vị chính là vua của nhân loại, tức là Thánh. Cho nên Sư Phụ khuyên mọi người đừng bận tâm bởi tiếng nói của người khác hay những hình tướng giả dối của thế gian này, đây chính là điều mà Kinh Phật muốn chúng ta học được: “Tri vô ngã tức buông xả”, biết rằng đã không có “bản ngã”, thì quý vị nên buông xả Ngã tướng. Chỉ bằng cách này, mới có thể siêu thoát khỏi Tự ngã, và tìm thấy Phật tánh.
Được rồi, đó là tất cả cho buổi nói chuyện ngày hôm nay về《Bạch thoại Phật pháp》, sau đây Đài trưởng sẽ kể cho mọi người nghe một câu chuyện ngắn.
Xưa kia ở Thành Xá Vệ có một phú ông, sở hữu vô số tài sản, ông ta còn có một đứa con trai duy nhất tên là Nan Đà. Khi Nan Đà còn nhỏ, cậu ta rất lười biếng không phấn chấn, thích nằm trên giường ngủ. Lúc đó đừng nói xuống giường đi lại, cho dù có kêu cậu ta đứng dậy ngồi một lát cũng không chịu. Mặc dù bản
tính Nan Đà lười biếng, nhưng cậu có trí tuệ thông minh tuyệt luân, cậu ta nằm ở trên giường nghe người giảng giải kinh thư, hoàn toàn có thể hiểu hết những gì đang được giảng.
Phú ông rất vui khi thấy con trai mình giỏi giải kinh luận như vậy. “Các ông thấy đấy, đứa con trai này tuy lười, nhưng cái gì nó cũng hiểu, cái gì nó cũng nói được”. Ông liền mời ngoại đạo lục sư, những người như Phú Lan, đến nhà để dạy Nan Đà. (Phú Lan chính là nhà tư tưởng tôn giáo cấp bậc rất cao năm đó, mời những người đó đến dạy cho Nan Đà). Sau một bữa tiệc thịnh soạn mỹ vị, phú ông liền nói rõ tình huống đứa con trai duy nhất của mình với đám người Phú Lan: “Hy vọng các ông có thể giúp ta dạy dỗ đứa con trai trời sinh lười biếng này” (Thời xưa lười biếng không gọi là lười biếng, gọi là đãi nọa, tức là từ đãi của giải đãi, người này tương đối lười biếng giải đãi). Vì thế mấy vị sư ngoại đạo cùng theo phú ông đến phòng của Nan Đà, không ngờ Nan Đà nằm ở trên giường và phớt lờ bọn họ. Phú ông thấy con trai mình không thụ giáo (không thụ giáo nghĩa là không lễ phép, không nghe giáo huấn), ông vô cùng buồn rầu, đưa tay ôm hai gò má và nói: “Ôi ! làm thế nào cho phải đây!”
Đây là thời kỳ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đang độ hóa tất cả chúng sinh, và cũng là thời điểm Đức Phật còn tại thế. Đức Phật luôn quan sát tất cả chúng sinh ngày đêm. Chỉ cần thấy chúng sinh đang khổ nạn, Đức Phật liền từ bi đến đó và thuyết pháp cho họ, để họ có thể tâm khai ý giải (có thể nghĩ thoáng và hiểu rõ), để tránh xa những phiền não và đau khổ. Điều Đức Phật thích làm nhất là giải thoát người khác khỏi những phiền não và đau khổ, cũng là đại từ đại bi.
Lúc này, Đức Phật nhìn thấy phú ông ở đằng xa đang lo lắng cho đứa con của mình. Bởi vì Đức Phật có khả năng nhìn từ xa nên từ xa Ngài có thể nhìn thấy phú ông này suốt ngày nghĩ: “Con tôi phải làm sao đây, con tôi phải làm sao đây?” Sau đó, Đức Phật và chư Tỳ-kheo đến nhà vị phú ông này. Điều kỳ lạ là ngay khi Nan Đà nhìn thấy Đức Phật, cậu ta liền đứng dậy và trải dụng cụ ngồi
cho Đức Phật (ngày xưa, tất cả những chiếc ghế dùng để ngồi đều được phủ bằng những thứ như chăn bông và chăn len), và đảnh lễ Đức Phật một cách chân thành kính trọng. Khi thấy Đức Phật đến, cậu ta liền đi xuống trực tiếp khấu đầu đảnh lễ. Vì vậy, Đức Phật đã khai thị cho Nan Đà đủ loại pháp yếu (Pháp yếu là yếu lĩnh của Phật pháp), trách móc cậu ta một cách gay gắt, mắng nhiếc và bảo cậu ta không được nằm trên giường, tham ngủ, không được giải đãi và nhiều lỗi lầm khác. Đức Phật đã trực tiếp nói Nan Đà. Vì Nan Đà rất kính trọng và tin tưởng Đức Phật nên cậu ta tự trách mình vô cùng về một số thói xấu trong quá khứ, cảm thấy xấu hổ và ăn năn.
Cuối cùng, Đức Phật tặng cho Nan Đà một cây trượng đàn (là một cây trượng gỗ đàn hương đỏ) đồng thời bảo cậu ta: “Này con trai, nếu sau này con có thể tinh tấn, thì chỉ cần con dùng tâm gõ nhẹ vào cây trượng đàn, nó sẽ phát ra tiếng nhạc tuyệt vời, và khi tiếng nhạc kết thúc, con sẽ có thể nhìn thấy tất cả các kho báu được chôn dưới lòng đất”. Chính là cây gỗ này. Con chỉ cần gõ vào nó sẽ phát ra âm thanh tuyệt vời, rồi đột nhiên con sẽ nhìn thấy rất nhiều kho báu chôn dưới lòng đất. Nan Đà sau khi nghe lời dạy của Đức Phật rất tò mò, liền thử gõ nhẹ vào cây trượng gỗ đàn hương. Sau một cú búng tay, quả nhiên nghe thấy tiếng nhạc tuyệt vời và nhìn thấy kho báu chôn dưới lòng đất. Cậu ta vui mừng vô cùng liền tự nghĩ: “Bây giờ mình chỉ cần chăm chỉ một chút thôi mà có thể được nhiều lợi ích như vậy! Sau này nếu nổ lực, nhất định mình sẽ được vô thượng đại lợi ích”. Người thời xưa đều nói “Vô thượng”, chính là vô cùng vô tận đại lợi ích, đạt được càng nhiều.
Kể từ lúc này, Nan Đà thay đổi thói quen ngủ nướng và tham ngủ, thậm chí còn kêu gọi mọi người ra biển thu thập bảo vật (ngọc trai, mã não, ngọc bích, v.v.). mỗi lần đi đều bình an thu hoạch lớn trở về, thậm chí còn cúng dường nhiều loại thức ăn và đồ uống cho Đức Phật và các vị Tỳ-kheo khác, trở thành một đứa con rất cần cù. Đức Phật vì thế mà một lần nữa thuyết giảng nhiều đạo lý khác nhau của Phật giáo cho Nan Đà, Nan Đà nghe được pháp hỉ tràn ngập, tâm khai
ý giải (nghe Phật pháp đến mức tâm khai ý giải, là người đó có thể tiếp nhận được pháp từ vị Sư phụ đó dạy cho họ rồi, “tâm khai” là vui mừng “ý giải” có nghĩa là hiểu được ý nghĩa, mà hiểu được ý nghĩa bên trong, thì tất nhiên là tâm sẽ được khai mở), liền cúi sát đất lễ lạy Đức Phật và phát đại thệ nguyện. Cậu ta nói: “Nguyện từ đây cúng dường thiện căn công đức, làm vị lai thế mê ngu si ám chúng sinh chi nhãn mục”. Nghĩa là nguyện từ nay cúng dường, lấy thiện căn công đức này làm tai mắt cho tất cả chúng sinh đang mê lầm, ngu si và có những suy nghĩ tiêu cực trong tương lai. (“mê ngu si ám” tức là không rõ thực lý, trong lòng có ngu si, nghĩ không thông; “ám” là năng lượng tiêu cực mà hiện nay chúng ta đang nói đến, trong lòng đen tối, nghĩa là trong lòng có rất nhiều năng lượng tiêu cực), “chúng sinh chi nhãn mục” – tức là con mắt, dẫn đường cho chúng sinh. “Vô quy y giả, vi tác quy y (nếu những người này chưa quy y, thì hãy làm cho họ quy y); Vô cứu hộ giả, tác vị cứu hộ (không có ai giúp đỡ họ, thì hãy giúp đỡ họ); Vô giải thoát giả, lệnh đắc giải thoát (nếu người này đang đau khổ và phiền não, hãy giúp đỡ họ và để họ được giải thoát); Vô an ẩn giả, lệnh đắc an ẩn (những người không an ổn, không có nhà cửa, trong tâm không có chỗ nương tựa, không có đạo tràng, làm họ có được sự an ổn); Vô Niết-bàn giả, lệnh chứng Niết-bàn (người hoàn toàn suy nghĩ không thông suốt, con muốn họ thông qua việc bố thí và đại thệ nguyện này của con, để cho họ chứng thực Niết-bàn, hoàn toàn nghĩ thông suốt). Các vị hãy nghĩ xem, các vị thường hỏi Sư phụ: “Thưa Sư phụ! Con phát nguyện rất nhiều rồi, còn có thể phát thêm nguyện gì nữa?” Quý vị hãy nhìn người ta mà xem, tuỳ ý cũng có thể phát nhiều nguyện lực như vậy. Quý vị còn hỏi Sư phụ: “Thưa Thầy, con gần như đã phát hết nguyện rồi. Cá con cũng đã phát nguyện thả rồi, Ngôi Nhà Nhỏ con cũng đã phát nguyện rồi, phát nguyện việc này việc kia rồi, không còn điều gì để phát nguyện nữa”. Con hãy nhìn người ta mà xem, chỉ cần con có phát tâm thì con có thể phát ra rất nhiều nguyện lực. Sau khi Nan Đà phát hoằng nguyện xong, Đức Phật mỉm cười nhẹ và từ miệng Ngài tỏa ra ánh tường quang ngũ sắc. Khi Đức Phật mỉm cười, từ trong miệng Ngài tỏa ra tường quang ngũ sắc, đó chính là
những đám mây ngũ sắc tuyệt đẹp lạ thường, đẹp như những đám mây đầy màu sắc trên bầu trời.
Lúc này, Tôn giả A Nan ở bên cạnh (A Nan luôn đi theo Đức Phật) nhìn thấy Đức Phật mỉm cười, liền cung kính hỏi: “Thưa Đức Như Lai tôn quý trang trọng, xưa nay Ngài không bao giờ cười tùy tiện, hiện tại là nhân duyên gì khiến Đức Phật mỉm cười như vậy? A-nan thưa với Đức Phật: Thưa Đức Phật, Ngài thật tôn quý trang trọng (chúng con vừa đến chùa thấy Đức Phật ngồi ở đó, mọi người vội vàng khấu đầu, trang nghiêm vô cùng), xưa nay Ngài không bao giờ cười tùy tiện (tượng Như Lai và Phật hiếm khi cười, rất trang nghiêm), bây giờ là nhân duyên nào khiến cho Đức Phật mỉm cười vậy?
Đức Phật hỏi A Nan: “Con có bao giờ thấy Nan Đà lười biếng đi xuống biển thu thập kho báu, mang đầy đồ trở về, còn cúng dường thức ăn và đồ uống cho Đức Phật và chư Tăng chưa?”
“Đúng vậy, con đã nhìn thấy.” A Nan nói.
Đức Phật tiếp lời: “Nan Đà trong tương lai sẽ thành Phật sau Tam A Tăng kì kiếp, với Phật hiệu là “Tinh Tấn Lực” và sẽ cứu độ vô lượng chúng sinh, vậy nên ta mới mỉm cười!” Điều này có ý nghĩa gì? Đức Phật đã nhìn thấy sau này Nan Đà thành Phật, nên Đức Phật rất hạnh phúc. Bởi vì Đức Phật thấy ai có thể trở thành Phật, thì từ trong tâm Ngài rất vui mừng. “Tam A Tăng kì kiếp” được đề cập trên là thuật ngữ Phật giáo, từ một vị Bồ Tát tu hành đến khi thành Phật, phải trải qua 3 “A Tăng kì kiếp”, thời gian dài như thế, tức là một thời gian rất, rất dài. Đó là lí do tại sao Phật mỉm cười. Sau khi nghe lời dạy của Đức Phật, các Tăng chúng có mặt ở đấy nghe được lời khai thị lần này, ai nấy đều hiểu được tầm quan trọng của tinh tấn. Họ đều vui mừng, tin tưởng và làm theo.
Câu chuyện này cho chúng ta biết rằng chỉ cần có ý chí thì ai cũng có thể thành Phật, và Phật ở trong tâm chúng ta. Nếu hành động theo lòng từ bi và ánh sáng
trong tâm thì Bồ Đề thuộc về tất cả chúng sinh, vì trí tuệ của Đức Phật thuộc về tất cả chúng sinh. Nếu không có chúng sinh, tất cả Bồ Tát sẽ không bao giờ có thể đạt được Vô thượng Chánh giác. Nếu không có chúng sinh thì làm sao có Bồ Tát? Bồ Tát muốn tuyên hóa Phật pháp Phật lý, Bồ Tát cần có khả năng giúp đỡ cứu độ khổ nạn, nếu không có chúng sanh, thì làm sao thành tựu được Phật Bồ Tát?
Vì vậy, “Dĩ thân như đắc giáo, tắc giáo tha bất nan. Dục giáo tha nhân, tiên tu tự giáo” (Nếu có thể dạy được chính mình thì dạy người khác không khó, muốn dạy người khác thì trước hết phải dạy chính mình)”. Kinh Phật thường nói với chúng ta rằng “Dĩ thân như đắc giáo”, nếu đã cứu độ được thân xác và tâm hồn của chính mình thì “tắc giáo tha bất nan”. Tức là quý vị đi cứu người khác sẽ không khó, chính bản thân quý vị còn chưa giác ngộ, thì quý vị dạy người khác sẽ rất khó. “Dục giáo tha nhân”, nếu quý vị muốn giúp đỡ người khác, cứu độ người khác thì phải “tiên tu tự giáo”, nghĩa là quý vị phải tự học trước, bản thân phải được dạy dỗ trước. Tu hành chính là sửa đổi quan niệm sai lầm của mình. Đôi khi quý vị đừng nghĩ rằng học Phật rất khó, vì Phật là ở trong tâm. Khi chúng ta gặp khó khăn, có người lười biếng, có người phiền não chồng chất mà quên mất đi bổn tánh của mình. Chúng ta nói “quên mất gốc rồi” là ý nghĩa này (“gốc” ở đây mà nói đó là bổn tánh). Thực ra, đôi khi quý vị gặp phiền não khi học Phật, nếu quý vị dừng lại một lúc, rẽ một vòng, quý vị có thể dễ dàng vượt qua được những trở ngại, nếu thành công thì quý vị sẽ đi đến đích. Vì vậy, Phật giáo dạy rằng để kỷ luật tốt bản thân, quý vị phải chăm sóc tốt bản thân và bổn tánh của mình. Đừng lúc nào cũng quản người khác, hãy quản bản thân mình trước rồi mới quản người. Đây là chân lý chân thực nhất, chân thành nhất mà Bồ Tát dạy chúng ta: “Nhược chân tu đạo nhân, bất kiến thế gian quá” (Nếu thật sự tu Đạo, thì sẽ không nhìn thấy lỗi lầm của thế gian). Nếu như quý vị thật sự muốn mình một kiếp tu thành thì trước tiên phải tự độ bản thân cho tốt, mới có thể độ hết được chúng sanh có duyên trong thiên hạ.
Được rồi, đó là tất cả bài giảng cho ngày hôm nay. Chúng ta sẽ tiếp tục nói về “Bạch Thoại Phật Pháp” trong chương trình tiếp theo. Cảm ơn đại chúng.
87. Hiểu được vô ngã chính là buông bỏ
Tập 87
HIỂU ĐƯỢC VÔ NGÃ CHÍNH LÀ BUÔNG BỎ
(13/06/2020)
Lần trước Đài trưởng nói với mọi người về Vô ngã, hôm nay Đài trưởng sẽ nói về Vô ngã theo cách hơi mở rộng một chút.
Tất cả quan niệm của người học Phật (tức là tưởng niệm và quan niệm), tất cả người và sự việc ở nhân gian mà quý vị chấp vào nó, chỉ cần cảm thấy có cái “tôi” ở trong đó, thì quý vị sẽ không thể thực sự tìm được cảnh giới Vô ngã. Mỗi một việc và mỗi người mà quý vị tiếp xúc, chỉ cần quý vị còn cảm thấy có cái “tôi”, thì quý vị sẽ có tâm ích kỷ trong vấn đề này. Lấy một ví dụ đơn giản, hôm nay quý vị muốn giúp đỡ người khác, nhưng quý vị nói “Tôi đang giúp đỡ người khác”, với khi quý vị chỉ đơn thuần là giúp đỡ người khác, thì đó là hai khái niệm khác nhau. Vô ngã đi giúp đỡ người khác, đó chính là thuần thiện. Nếu như mang cái “tôi” đi giúp người khác, vậy thì quý vị cũng có mục đích tối thiểu khiến họ cảm ơn và biết ơn quý vị, nếu quý vị nói: “Hôm nay tôi đang giúp đỡ bạn”, vậy thì cảnh giới này sẽ bị rơi xuống rồi.
Hai chữ “Vô ngã” nghe có vẻ trống rỗng, bởi vì không có bản ngã nữa liền cảm thấy trống rỗng. Nhưng không có “bản ngã”, thì “bản ngã” này có tồn tại không? Vẫn còn. Vậy làm thế nào để đem cảnh giới Vô ngã của mình để dùng cho việc và người mà có bản Ngã trong đó? Chính là phải biết cách dùng cảnh giới của mình để làm việc. Nói đến đây, nói ở mức độ rất sâu sắc, thực ra khi mỗi người làm một việc gì đó, có người làm với tướng của bản thân, tướng chúng sinh, tướng thọ giả v.v., và nhiều chấp tướng khác để làm việc. Thực ra nên dùng cảnh giới, khi cảnh giới càng cao, thì quý vị sẽ rời khỏi Ngã tướng và làm việc một cách Vô ngã, như vậy chữ “ngã” này chính là một hình tướng rỗng không. Tuy nói có “bản ngã”, nhưng “bản ngã” không được sử dụng, vậy thì đó chỉ là một cái tên mà thôi.
Cho nên, quan niệm về Không Vô nhưng có bản ngã đã được hình thành như thế. Không có cái tôi thì Không Vô (trống không và không tồn tại). Nhưng lại
có cái tôi và cái “tôi” này chỉ là một quan niệm, chỉ là một cái tên mà thôi, đây chính là tinh túy của đạo Phật. Cũng giống như đi trên đường, người ta không biết quý vị, nhưng họ có thể gọi quý vị là “ông hay bà”, hơn nữa việc gọi ông hay bà này, không phải ám chỉ một người cụ thể nào đó, không phải là một đối tượng cụ thể hay nhắm vào quý vị, mà chỉ là một cái tên chung thôi, ai cũng có thể gọi được. Nếu như người khác gọi quý vị là “ông”, có thể quý vị sẽ không còn có cái tôi nữa, bởi vì quý vị không biết liệu họ có biết mình hay không, chỉ là người ta gọi quý vị bằng một cái tên ngẫu nhiên, quý vị có thể nhìn chung quanh, không phải tôi. Bởi vì họ không gọi đích danh quý vị, cho nên quý vị có thể bỏ qua. Khi ai đó gọi tên người khác, thì tất nhiên quý vị sẽ không để tâm rồi. Có thể quý vị sẽ không chấp vào việc người khác gọi quý vị là “ông” hay “bà”. Nhưng khi họ gọi đích danh quý vị, quý vị sẽ không thể không quan tâm. Vậy cái tên của quý vị được gọi có phải là cái tên giả không? Phải, là cái tên giả. Nếu cảnh giới đã cao, biết đó chỉ là một cái tên giả thì quý vị sẽ không bị phiền não ở nhân gian và cái tên được người khác gọi này quấy nhiễu nữa rồi. Giống như rất nhiều người tố chất tâm lý rất tốt, khi người khác đang mắng chửi, người có tố chất tâm lý tốt sẽ không thêm tên mình vào. Nhưng có một số người liền thêm tên mình vào những câu mắng chửi đó, rồi nhảy thót lên: “Anh ta đang mắng tôi, chắc chắn là đang nói về tôi”. Đây chính là tố chất tâm lý cùng cảnh giới trong tâm.
Vậy nên, kinh Phật dạy chúng ta phải học “buông bỏ khi biết không có ngã”. Để tìm ra nguồn gốc của sinh mệnh, chúng ta phải thấy rõ “bản ngã” này chỉ là một Ngã tướng của sinh mệnh, nó không phải là “bản ngã” trong cảnh giới Phật, mà là một cái “tôi” giả danh, nào có cái “tôi” đích thực? Kinh Phật có mười hai bộ Tam Tạng, rất nhiều kinh văn là dựa vào sự tu tâm của bản thân mà từ từ được khai ngộ, là dựa vào sự tu trì của chính mình. Nếu một người có thể quên mình và chỉ nghĩ đến người khác, thì họ đã Vô ngã rồi, họ nào có chính mình? Nếu như một nhóm người chỉ vì người khác mà không nghĩ đến bản thân, vậy thì
nhóm người này chính là chúng sinh Vô tư (Vô tư là không nghĩ đến lợi ích riêng tư), bởi vì tâm trí đều nghĩ đến người khác, chính là chúng sinh Vô ngã, đây là cách mà cảnh giới được nâng cao.
Đức Phật thuyết pháp 49 năm, Thích Ca Mâu Ni Phật nhận thức được thế gian hết thảy đều là vô thường, đều sẽ biến tới biến lui, thế nhưng đến cuối cùng hết thảy đều không thuộc về “Tôi”. Điều đó có nghĩa là cái “tôi” mà quý vị nghĩ thực ra chỉ là một cái tên giả, trống rỗng và không tồn tại. Nếu quý vị sống cuộc sống của mình theo quan điểm này, thì quý vị sẽ không tức giận nhiều đến như vậy. “Cậu ta đang mắng tôi”, có ngã tướng rồi thấy không? “Tôi chịu thiệt rồi, tôi không có được, trong lòng tôi không vui”, khi bỏ đi cái “tôi” này, chủ ngữ này không còn nữa, thì tất cả đều ở trong Tánh không. Vậy nên cuối cùng chữ “tôi” này đều trống rỗng.
Tương tự như vậy, tất cả đau khổ trên thế gian này thực ra đều trống rỗng. Tất cả pháp hỉ, khoái lạc, hạnh phúc trong cuộc sống cũng là trống rỗng. Bởi vì chủ ngữ “tôi” là trống rỗng, cho nên không có niềm vui thực sự, cũng không có hạnh phúc tối thượng. Hạnh phúc là gì? Phải vĩnh viễn hạnh phúc mới là hạnh phúc, hạnh phúc ngắn ngủi chỉ mang đến cho quý vị sự thống khổ vô hạn, không có một đạo tràng nào có thể lưu trữ hạnh phúc mãi mãi, bởi vì cõi người là nơi không thể lưu trữ cuộc sống hạnh phúc vĩnh viễn đến cuối cùng. Vậy nên hết thảy đều sẽ qua đi, như giới Phật giáo nói hết thảy đều trống không, trên thế gian này hết thảy đều trống không, nên hạnh phúc sẽ không tồn tại mãi mãi, và đau khổ cũng không thể nắm bắt được. Quý vị có thể nắm bắt được đau khổ không? Có quá nhiều kiếp nạn, khiến quý vị đắm chìm trong thống khổ mà không thể xuất ly. Hôm nay quý vị khổ rồi, quý vị có biết vài ngày nữa sẽ có chuyện gì xảy ra không? Hôm nay quý vị đã xảy ra chuyện gì, một tuần trôi qua, một tháng trôi qua, lại xảy ra điều gì? Hết thảy đều ở trong đau khổ và không có gì tồn tại mãi mãi.
Trong sự biến hóa, chúng ta muốn nắm bắt hạnh phúc cũng không nắm bắt được. Trong đau khổ, chúng ta muốn thoát khỏi nó cũng không thoát khỏi được. Muốn thoát khỏi Khổ-Không-Vô thường, Vô ngã, phải hiểu rằng đó chỉ là một cái tên, chỉ là một danh xưng mà thôi. Phật Pháp nói khổ cũng là rỗng Không, vui vẻ cũng là rỗng Không, bởi vì chúng ta đang thực hành Tánh Không. Nếu thật sự muốn rời khỏi, thì phải xuất ly giải thoát, phương pháp tốt nhất chính là phải ghi nhớ: vốn đã đến thế giới này, chỉ là cho quý vị một cái tên, chỉ là một cái “tôi” hư ảo, chỉ là một khái niệm “có tôi”. Trước đây người ta nói mượn xác hoàn hồn, cái “tôi” này liền biến mất, khi vong hồn này nhập lên thân thể của người đó, liền biến thành “họ” rồi. Cho nên có nhiều người thật đáng thương, cả đời nắm lấy chút tiền mình kiếm được, cả đời nắm lấy một chút danh lợi mình có, “Cái này là của tôi, cái kia là của tôi”. Thậm chí cái tên cũng không phải là của quý vị, ngay cả xác thịt của quý vị cũng không phải là của quý vị, đó chỉ là một khái niệm mà thôi.
Khi Đức Phật còn tại thế, rất nhiều đệ tử của Đức Phật y giáo phụng hành (dựa theo giáo lý của Đức Phật mà phụng hành), bọn họ đều chứng được cảnh giới Vô ngã. Nói cách khác, hiện nay người học Phật phải chứng được cảnh giới Vô ngã. Vậy thì làm sao chứng được đây? Không tranh giành với người khác chính là Vô ngã, bởi vì còn có cái “tôi” mới đi tranh giành với người ta – “tôi muốn tranh giành với anh ta, tôi muốn đọ sắc với họ, tôi muốn đọ với họ v.v..”, có cái “tôi” – nó không thể tách rời. Khi có được Vô ngã rồi, quý vị có còn náo loạn với người khác nữa không? Có cãi nhau với người khác nữa không? Vô ngã rồi, không còn trói buộc. Không tranh cãi với người, bởi vì không có cái “tôi” nữa. Người ta đang la mắng, nếu đã Vô ngã rồi, quý vị sẽ không biết họ đang mắng ai. Người ta tính toán chi li với quý vị, nếu đã Vô ngã rồi, quý vị sẽ không tính toán chi li với họ nữa. Có phải đã giảm bớt đau khổ không? Bởi vì chứng đắc Vô ngã, hiểu được cái “tôi” này chỉ là một cái tên ở nhân gian mà thôi. Hôm nay có thể gọi là Nguyễn Thị A, ngày mai có thể gọi là Trần Văn B. Trong việc
tu hành theo đạo Phật, người tu hành chỉ là một danh hiệu. Vì sao pháp sư sau khi xuất gia phải có một cái tên mới? Bởi vì cái “tôi” ban đầu đã thay da đổi thịt, đã không còn nữa, cho nên có một cái tên mới, tu tâm với cái tên mới, đó mới là linh hồn thực sự. Mặc dù là một cái tên giả, nhưng trong tu hành quý vị đã tìm được Phật tánh đích thực, và đó mới là đích đến của cảnh giới linh hồn. Cảnh giới linh hồn của một người có đích đến hay không? Có đấy. Rốt cuộc quý vị muốn trở thành loại người nào? Quý vị muốn học Phật như thế nào? Nếu cảnh giới linh hồn thực sự của một người trong sạch thì cuộc đời của người đó sẽ không sống vô ích. Nhiều người đã sống cả đời, nghiên cứu Phật Pháp, học nhiều pháp môn khác nhau nhưng vẫn chưa đạt được đích đến thực sự của cảnh giới linh hồn. Rốt cuộc quy y gì, đây là điều rất quan trọng.
Khi Đức Phật thọ 80 tuổi, vào đêm trước ngày nhập Niết-bàn do tuổi già sức yếu, Đức Phật dạy các đệ tử hãy học cách sống Thường-Lạc-Ngã-Tịnh. Đức Phật thường dạy các đệ tử về Khổ-Không-Vô thường. Nhưng cuối cùng, Đức Phật bảo các đệ tử hãy học cách sống Thường-Lạc-Ngã-Tịnh. Tại sao Đức Phật lại nói với chúng ta những điều này? Bởi vì “Khổ”, đó là vô thường, cho nên “Không” nghĩa là phải học được hạnh phúc, cả hai là đối trị nhau. “Vô” chính là vì có một chữ “tôi” nên mới đau khổ, nếu học được Vô ngã, Phật sẽ nói với quý vị rằng, quý vị liền được hạnh phúc. “Thường” có nghĩa là lâu dài, và “vô thường” có nghĩa là chúng ta phải học cách có tâm thanh tịnh và làm quen với thế giới vô thường này, để chúng ta có thể tu tập đến mức Vô ngã, thế giới này vô thường, như thế mới có khả năng tu được Vô ngã tướng, Vô nhân tướng, Vô chúng sinh tướng và Vô thọ giả tướng, đây chính là Vô tứ tướng. Điều này khuyên chúng ta nên coi mọi thứ trên đời là trống rỗng, hiểu được thế sự vô thường và cũng phải biết chuyển hóa khổ đau thành hạnh phúc. Phải biết cách loại bỏ Ngã tướng và sự tồn tại của bản ngã giả là dựa trên bản ngã của mượn giả tu thật, để quý vị tu dưỡng tự tánh của mình và trở nên trong sạch, đó là Thường-Lạc-Ngã-Tịnh.
Sư phụ yêu cầu mọi người nhìn mọi thứ đều trống rỗng và học cách buông bỏ, quý vị đang làm một vị Bồ Tát ở nhân gian, trống rỗng đến mức không thể tìm thấy chính mình. Nhiều người khi nói chuyện thuận theo lời người khác, không có ý kiến riêng, nếu không xúc phạm người khác cũng tốt (nhưng không được vô kỷ luật). Khi học Phật, chúng ta phải trống rỗng đến mức không thể tìm thấy chính mình, nghĩa là gì? Nghĩa là Vô ngã tướng. Hãy nhìn vấn đề của con người hiện nay: Thể diện quan trọng quá rồi, thể diện của chúng ta có buông bỏ được không? Thầy bảo nhiều bạn Phật tử hãy buông bỏ nó, họ đều hiểu rằng buông bỏ sẽ giảm bớt đau khổ, nhưng hễ làm điều gì là họ lại có chữ “Tôi” ngay: “Tôi phải làm gì đây, tôi phải làm gì đây?”, và rồi họ đau khổ. Vì thế, một người học Phật chân chính phải không tìm được bản thân, thì mới có thể thật sự tìm được nguồn gốc của sinh mệnh. Cần sĩ diện đó làm gì? “Bệnh sĩ chết trước bệnh tim”, từ nhỏ đến lớn, cả đời cần sĩ diện bao nhiêu năm? Đến giờ mà còn cần sĩ diện, sửa chút khuyết điểm cũng muốn giữ thể diện. Không có chuyện gì mà quý vị không có lý do cả. Đây chính là quý vị đã gieo trồng Ngã tướng vào trường thức thứ tám của mình. Tại sao Đức Phật bảo chúng ta phải đoạn trừ bốn tướng? Phật muốn chúng ta tìm Phật tánh trong trường thức thứ chín, Amala Thức, vì chỉ có Phật tánh là Vô tướng, vì chỉ có Phật tánh ở trong bổn tánh của chúng ta là vĩnh cửu và bất biến.
Chữ “Thường” mà Đức Phật nói là tương đối với Vô thường. “Lạc” không phải là khổ (hạnh phúc không phải là khổ), và người có được nó sẽ không còn đau khổ, bởi vì chỉ có người thoát khỏi đau khổ mới có được hạnh phúc. Những lời này mọi người nhất định phải ghi nhớ, “Lạc không phải khổ”, khoái lạc không phải khổ. Ai đạt được nó thì lìa khổ rồi, lìa khổ có phải là có được hạnh phúc không? Người lìa khổ mới có được hạnh phúc và hạnh phúc sẽ không bao giờ là khổ. Nhiều người nói: “Tôi rất khổ nhưng tôi cũng rất hạnh phúc”, điều này vốn dĩ là mâu thuẫn. Người thực sự hiểu Phật giáo phải biết cách thoát khỏi khổ đau
để được hạnh phúc. Chỉ khi hôm nay quý vị buông bỏ, buông bỏ phiền não, buông bỏ tham, sân, si thì quý vị mới thực sự có được hạnh phúc.
88. Bất sinh bất diệt trong Phật pháp
Tập 88
BẤT SINH BẤT DIỆT TRONG PHẬT PHÁP
(13/06/2020)
Người thực sự hiểu Phật Pháp phải biết cách thoát khỏi khổ đau để được hạnh phúc. Chỉ khi hôm nay quý vị đã buông bỏ, từ bỏ những phiền não trên thân, từ bỏ tham, sân, si thì quý vị mới có thể thực sự hạnh phúc. Nhiều người nói: “Tôi ổn, tôi rất hạnh phúc” – tất cả đều trống rỗng và giả dối. Bởi vì quý vị sẽ không bao giờ có được hạnh phúc thực sự trong tham, sân, si. Ví dụ, một người bị tật ở chân không còn đi lại được nữa và phải chống nạn. Một ngày nào đó, họ thoát khỏi đau khổ và không còn chống nạn nữa, thì tất nhiên họ sẽ hạnh phúc, nhưng sau khi họ hạnh phúc thì họ sẽ không còn cảm giác nữa, họ quên mất cơn đau mà đôi chân đã gây ra cho mình, nên họ sẽ phải chịu một loại đau đớn khác do cơn đau ở những bộ phận khác trên cơ thể gây ra. Ví dụ này nhằm nói với mọi người rằng, chỉ cần còn đau khổ trên thân thì quý vị không thể có được hạnh phúc, bởi vì đau khổ và hạnh phúc không nhất thiết phải tuyệt đối mà là tương đối. Sau khi lìa khỏi khổ nhỏ, lại có khổ lớn, sau khi lìa khỏi khổ lớn, lại có khổ nhỏ.
Làm thế nào để chúng ta có thể hoàn toàn thoát khỏi đau khổ? Nghĩa là, chúng ta phải lìa khổ được vui. Chỉ khi loại bỏ được mọi phiền não, tham, sân, si v.v., những thứ thực sự gây ra đau khổ, thì chúng ta mới có thể có được Pháp lạc đích thực. Nếu quý vị đối với bất kỳ sự đau khổ nào đó mà chấp vào hình tướng, thì quý vị sẽ không biết thế nào gọi là hạnh phúc. Ví dụ, khi khát nước, chỉ cần có nước thì quý vị sẽ cảm thấy rất vui. Bình thường khi không khát, quý vị cũng không cảm thấy vui nếu xung quanh có đủ các loại nước và đồ uống. Đây là điều tuyệt vời của đạo Phật. Ngay cả khi có nước và các loại đồ uống khác nhau, vì quý vị không khát nên quý vị sẽ không cảm thấy vui mừng cho lắm, nếu quý vị khát, cho dù chỉ có được một chút nước cũng sẽ khiến quý vị cảm thấy rất vui. Điều này cho chúng ta biết người học Phật nên hiểu thế giới quan về đau khổ và hạnh phúc như thế nào. Mặc dù hôm nay chúng ta chưa hoàn toàn đau khổ, nhưng chúng ta biết rằng những thói hư tật xấu của chúng ta sẽ khiến
chúng ta rất đau khổ. Giống như Sư phụ đã nói với mọi người, mặc dù xung quanh quý vị có rất nhiều đồ uống và nước, nhưng hiện tại quý vị không khát, quý vị hãy nghĩ tới việc phải làm gì khi khát, vậy nên quý vị phải chuẩn bị sẵn sàng mang theo nước khi khát. Nói cách khác, bây giờ khi tu tâm, chúng ta cần hiểu vô thường, nó sẽ thay đổi, nỗi khổ và niềm vui này là vô thường, sau khi đau khổ qua rồi chúng ta sẽ lại hạnh phúc, và sau khi hạnh phúc chúng ta sẽ lại đau khổ. Làm sao chúng ta có thể nắm bắt được nỗi đau và niềm hạnh phúc này? Cách tốt nhất là: trước hết chúng ta phải hiểu thế nào là đau khổ, thế nào là hạnh phúc, vì đó là cảm giác. Thứ hai, chúng ta phải biết trân trọng và hạnh phúc khi đau khổ vẫn chưa đến. Cũng giống như thân thể quý vị tuy không có vấn đề gì, rất yên ổn, nhưng quý vị phải biết trân quý nó: “Tôi rất hạnh phúc vì bây giờ tôi không còn bị đau răng hay đau chân nữa. Cơ thể tôi vẫn khỏe và tim tôi vẫn còn tốt”. Đây là phải biết hạnh phúc thì mới có thể lìa khổ, con người sẽ đau khổ nếu họ không biết đủ. Sư phụ đã đảo lộn lý luận Phật học và triết học này để giảng dạy cho mọi người đến tận bây giờ, để mọi người hiểu rằng đau khổ và hạnh phúc chỉ là tương đối. Làm thế nào quý vị có thể duy trì được hạnh phúc của mình? Cách tốt nhất là thoát khỏi đau khổ.
Bồ Tát sẽ không tham chấp, nếu Bồ Tát tham chấp, sẽ trở thành chúng sinh. Hạnh phúc là một khoảnh khắc ngắn ngủi, nếu quý vị rất thanh tịnh, quý vị luôn muốn được hạnh phúc, điều đó có phải là đã lìa khổ rồi không? Người hạnh phúc không phải là đã rời khỏi nỗi khổ rồi sao? Vì vậy, cần thực sự tiêu diệt nổi khổ của mình, mới có thể sản sinh ra hạnh phúc vĩnh cửu. Hạnh phúc vĩnh cửu là sự hài lòng mỗi ngày, quý vị sẽ rời khỏi được khổ nạn. Sư phụ lấy một ví dụ đơn giản, hôm nay quý vị có một chỗ ngồi trong phòng làm việc, đáng lẽ quý vị nên cảm thấy rất hạnh phúc mỗi ngày: “Tôi còn có một chỗ ngồi, trong khi nhiều người vẫn chưa có chỗ”. “Hôm nay tôi còn có thể làm công đức, còn có thể độ chúng sinh và giúp đỡ người khác trong xã hội này, tôi có tay có chân, nên tôi có thể giúp đỡ người khác”, có phải rất hạnh phúc không? Đúng vậy.
Nếu quý vị luôn duy trì loại hạnh phúc này, quý vị có còn đau khổ nữa không? Không còn nữa. Trước đây có những người khuyết tật, mặc dù họ khuyết tật, nhưng họ đã dùng bàn tay và bàn chân khuyết tật của mình để phục vụ chúng sinh mỗi ngày, họ rất hạnh phúc. Họ vì người khác mỗi ngày, dùng tay và chân khuyết tật của mình để giúp người khác làm việc, họ rất hạnh phúc. Thầy hỏi mọi người, trong khi họ đang hưởng hạnh phúc thì có phải họ đã rời khỏi đau khổ rồi không? Điều này nói với chúng ta rằng, nếu quý vị muốn tìm kiếm hạnh phúc vĩnh cửu, quý vị phải tránh xa điên đảo mộng tưởng, tránh xa phiền não và tránh xa đau khổ.
Thực sự không phải là tránh xa đau khổ, Phật Pháp giúp chúng ta tránh xa sinh tử, Sư phụ giảng nó từ nông đến sâu cho mọi người hiểu, tức là phải tránh xa sinh tử. Bởi vì quý vị phải hiểu rằng thân thể con người, Huệ mệnh con người và sinh mệnh con người đều là bất sinh bất diệt. Thật sự hiểu được Ngã tướng, thì quý vị sẽ không mang Ngã tướng cùng sống chung trong thế giới này. Thật ra phải hiểu: “Cần gì sĩ diện? Sĩ diện chỉ làm tổn thương tôi và làm tổn thương người khác”, trong trường hợp này, nếu quý vị thực sự sống trong thế gian này, có phải người khác tôn trọng quý vị, bản thân quý vị cũng sống rất vững vàng không? Chỉ những người loại bỏ được Ngã tướng, mới có thể sống trong thế giới thực.
Bởi vì có “cái tôi”, chúng ta mới đau khổ, nào là “phiền não của tôi, danh của tôi, lợi của tôi… tất cả của tôi đều không còn nữa”. Quý vị xem những người đau khổ, có người nào mà không nói: “Bởi vì tôi mất đi cái gì, tôi mất đi cái gì…” Họ cảm thấy mất đi quá nhiều, nên mới sinh ra phiền não và đau khổ. Bởi vì có cái “tôi” này, mà khi ra đi quý vị sẽ không nỡ buông bỏ, nên quý vị mới đau khổ. Nếu quý vị Vô ngã rồi không có cái tôi này nữa, cảm thấy “con người vốn là một loại cảm giác, bây giờ tôi đi đến một nơi khác để cảm nhận xem sao”, biết nghĩ như vậy thì quý vị sẽ không đau khổ. Cho nên dùng phương pháp này để nhìn tất cả mọi thứ trên thế gian, quý vị sẽ buông bỏ tất cả danh lợi,
vinh dự, vật chất, tài sản đã đạt được, quý vị sẽ hiểu được cái gì gọi là xả bỏ, bởi vì chúng không có ý nghĩa gì. Thế nên hãy sống trong sạch, hãy sống xứng đáng với người khác, đừng sống trong cái tôi giả dối. Nhiều người muốn giữ thể diện. Họ cư xử kiểu này trước người khác và cách khác sau lưng người ta. Họ là những người hai mặt và họ sống rất đau khổ.
Cho nên Phật Pháp thực sự là để cho chúng ta hiểu được Vô ngã, chính là trong tâm linh con người phải có được một cảnh giới Phật, mới có thể rời xa thống khổ, rời xa ưu thương. Sư phụ đã từng nói với mọi người, vì sao bầu trời lại trong xanh như vậy? Bởi vì bầu trời không có chấp tướng, bởi vì bầu trời là hư không, là không có vật chất cùng danh tiếng tồn tại. Cho nên mới gọi là không thiện cũng không ác, không khổ cũng không vui, đó mới thật sự là hạnh phúc. Bởi vì không có khổ nạn thì quý vị sẽ hạnh phúc, vì hạnh phúc này rồi cũng sẽ qua đi, cũng không có được hạnh phúc gì, như thế quý vị mới thật sự hạnh phúc. Cho nên hạnh phúc trong sáng, hạnh phúc tột cùng, đó chính là thanh tịnh Vô ngã. Tại sao pháp sư ngồi thiền niệm kinh trên núi? Vì họ chính là thanh tịnh Vô ngã, dùng lời nhân gian mà nói, đã đến cảnh giới “Bình an chính là phúc” rồi. Bởi vì quý vị không cảm nhận được có phúc báo, không cảm nhận được có thống khổ, cũng không cảm nhận được hạnh phúc, mà đây là một loại hạnh phúc thuần khiết, loại này gọi là bình an và khoái lạc, đây mới là cảnh giới của Phật.
Hôm nay nói với mọi người về tu tâm tu tánh, tu thành Phật tánh. Chúng ta tu tâm, thực ra là chúng ta đang tu sửa bổn tánh của mình, phải tu thành Phật tánh, tịch diệt hết thảy tự tánh. Nghĩa là người tu tâm cuối cùng phải tu đến Phật tánh trong tâm sâu thẳm nhất của mình. Quý vị không ngừng tu vào bên trong, tu đến bổn tánh của quý vị rồi, thì sẽ tìm được Phật tánh của quý vị. Lấy một ví dụ đơn giản, quý vị phải đào một thứ gì đó, liên tục đào, tìm được rồi, đó là đào đến nội tâm rất sâu bên trong và tìm được Phật tánh của quý vị. Như vậy lúc này sẽ tịch diệt hết thảy tự tánh. Cái gì gọi là tịch diệt hết thảy tự tánh? Cái tâm mà quý vị
muốn đào bới, tìm kiếm lúc đó đều không còn nữa, bởi vì khi quý vị tìm được rồi, quý vị đã quên mất toàn bộ quá trình này, cho nên tịch diệt hết thảy tự tánh trong nhân gian. Đây là tu tâm chân chính, là một loại cảnh giới cao của Phật.
Cảnh giới cao cuối cùng chính là vô sinh diệt. Thế nào là vô sinh diệt? Chính là không phiền não, không sinh diệt. Quý vị thử nghĩ xem, tâm phiền não của chúng ta là tự sinh ra phải không? Tâm hạnh phúc cũng tự sinh ra phải không? Khi quý vị không sinh tâm phiền não, cũng không sinh tâm hạnh phúc, có phải là không nảy sinh ra không, không Sinh thì nào có Diệt? Bởi vì khi quý vị sinh ra hạnh phúc, sau một thời gian, hạnh phúc này mất đi, quý vị sẽ đau khổ. Nếu quý vị sinh ra tâm phiền não, thì quý vị sẽ phải chịu đựng rất nhiều đau khổ. Quý vị đang chờ đợi những phiền não của mình biến mất, nhưng có thể quý vị sẽ cảm thấy thời gian trôi qua rất lâu. Vậy nên quý vị không nghĩ tới – không nghĩ tới vui sướng, không nghĩ tới đau khổ, như vậy vô sanh vô diệt, sau đó vô phiền não, thì quý vị có thể tìm được chân tịnh sâu thẳm của tâm hồn – nghĩa là thanh tịnh đích thực và an tịnh đích thực, thì quý vị mới có thể tìm được tự tánh thanh tịnh vốn có – đó là bổn tánh thanh tịnh. Cho nên người không tham rất tĩnh lặng, “Không sao cả, quý vị có được, tốt cho quý vị, tôi rất vui”, hết thảy đều là tự tánh thanh tịnh, vậy trong giới Phật giáo thuyết giảng, được gọi là chân như chân tánh.
Như vậy chân như chân tánh tu đến về sau chính là muốn thành Phật. Nhiều người hỏi Sư phụ: “Sư phụ, chúng ta học Phật, muốn thành Phật, có bao nhiêu chủng loại?” Sư phụ hỏi các con có chủng loại không? Đương nhiên là có, hơn nữa còn nói cho các con biết, có ba loại phương pháp thành Phật và chủng loại thành Phật.
Thứ nhất, “khắc kỳ thủ chứng”, tức là pháp thân đạt được đại viên mãn khi thân thành tựu Phật quả. Cũng có nghĩa là, khi tất cả mọi nhân duyên đã chín muồi và quý vị đạt được sự viên mãn của Phật tánh, quý vị dùng trí tuệ và Pháp thân
ở nhân gian, dựa vào sức mạnh của chính mình để đạt được thành tựu Phật quả ở nhân gian. “Khắc kỳ” nghĩa là gì? “Khắc” chính là quy định, “kỳ” chính là thời gian, thực ra “Khắc kỳ thủ chứng” chính là cho quý vị trong khoảng thời gian nhất định để thành Phật. Nhiều người không biết điều này và nghĩ rằng họ có thể liên tục trì hoãn, nghĩ rằng họ có thể thành Phật khi thời cơ đến. Quý vị phải ấn định thời gian, hạn định ngày tháng cho mình để thành Phật. “Khắc kỳ thủ chứng” nghĩa là giới hạn thời gian cho bản thân, học Phật tu tâm, sau đó thành đạo, đạt được Phật quả trong một thời gian giới hạn nhất định. “Thủ chứng” chính là đạt được chứng ngộ, đạt được chứng quả.
Điều thứ nhất “khắc kỳ thủ chứng” là ấn định thời gian để thành Phật. Tại sao nhiều người nói: “Tôi tu tâm và chuẩn bị một kiếp tu thành”? Đây có phải là thời gian hay không? Quý vị nhất định phải tu hành trong kiếp này và một kiếp tu thành, tức là trong những năm quý vị còn sống, không phải là “khắc kỳ” sao? Hãy dành thời gian cho bản thân. Cho nên dù tụng kinh hay học Phật, nếu muốn thành Phật, quý vị hãy dành thời gian cho mình: “Từ nay về sau tôi sẽ không bao giờ lãng phí thời gian nữa. Tôi phải tụng xong số biến kinh văn này trong vòng vài tháng”. Đây đều là “khắc kỳ” và phải có thời gian nhất định. Khi bạch với Bồ Tát, nhiều người sẽ nói: “Con đã phát nguyện với Bồ Tát nhiều như vậy, tại sao không linh ứng?” Quý vị khấn nói rất nhiều, nhưng lại không cho mình mốc thời gian cụ thể nên không được công nhận. “Bồ Tát, con nhất định sẽ thay đổi”. “Bồ Tát, tương lai con nhất định sẽ ăn chay”. Mọi người nghĩ đây là lời nguyện sao? Vậy lời nguyện nào có nhiều khả năng giúp quý vị nhận được sự gia trì từ các vị Hộ Pháp và sự chấp thuận của chư Bồ Tát? Đó là “Khắc kỳ” – Cần có thời gian nhất định, kể cả việc một kiếp tu thành, nó cũng cần có thời gian nhất định. Quý vị đã bận rộn trong một thời gian dài và nói: “Tôi chắc chắn sẽ ăn chay trong tương lai”. Vô dụng, điều này không được tính là nguyện lực, vì không biết tương lai đó là năm tháng nào. Người muốn thành Phật phải có
mốc thời gian nhất định, gọi là “khắc kỳ”, định giờ định điểm làm giống như Phật, sau đó đạt được viên mãn thành Phật.
Thứ hai, “mệnh chung đăng vị”. Khi một người thành Phật, trước khi người ấy rời đi, Phật tổ và nhiều vị Phật, hoặc Đại Bồ Tát hay vị Phật nào mà quý vị có duyên phận với họ. Khi đó chư Phật Bồ Tát sẽ từ thượng thiên hạ thế tiếp dẫn Báo Thân này của quý vị, dùng sức riêng của quý vị và của Bồ Tát tiếp dẫn để thành Phật. Bởi vì cả đời của quý vị đều tu sửa rất tốt nên khi lâm chung quý vị thăng thiên.
Thứ ba, “trung ấm chuyển thành”. Ứng thân “Trung ấm” chính là Thân Trung Ấm. Loại thứ ba thành Phật tương đối khó hơn, nó chủ yếu là dựa vào sức mạnh Pháp giới của cõi người, còn con người dựa vào sức mạnh của Pháp giới. Hôm nay quý vị ở nhân gian là người đại thượng căn khí, là Bồ Tát thừa nguyện tái lại, sau đó quý vị luôn làm việc thiện, luôn tu tâm, luôn giúp đỡ chúng sinh, dần dần quý vị có được Thiên Thức Pháp. Thiên Thức Pháp nghĩa là gì? “Thiên” có nghĩa là chuyển động, chuyển động ý thức của quý vị, thay đổi ý thức của quý vị. Nghĩa là một người muốn thành Phật thì phải chuyển hóa ý thức của mình ở nhân gian, bởi vì ý thức ở nhân gian đều là thức thứ tám có rò rỉ và chưa viên mãn, trường thức thứ tám của con người thì không được viên mãn. Lấy một ví dụ đơn giản “Tôi giúp bạn có mục đích”, quý vị nghĩ nó có thể viên mãn được không? “Giúp bạn” có phải là nên làm các việc thiện không? Đúng vậy. Quý vị nói: “Anh ấy cũng có thể giúp tôi trong tương lai”. Sự “giúp đỡ” này không phải là thuần thiện, đúng không? Vậy nên Sư phụ bảo quý vị phải thay đổi ý thức và nói: “Hôm nay tôi đang giúp bạn và tôi không có mong cầu bất cứ điều gì cả”. Chỉ khi đó tự tánh của quý vị mới có thể được giải thoát và thành Phật. Thực ra, sự chuyển hóa Trung ấm thứ ba là về sự giác ngộ của quý vị, bởi vì quý vị không cần phải trải qua Thân Trung Ấm để đạt được nó. Nói cách khác, khi muốn ra đi, linh hồn của quý vị có thể trực tiếp thăng thiên mà không cần phải xuống âm gian địa phủ dạo một vòng. Lúc này, hóa thân hồng quang của quý vị
giống như một thân thể cầu vồng, có thể tự chủ sinh tử, nhờ đó quý vị sẽ bước vào cõi tịnh độ an lạc và Niết-bàn trong thường tịch thiên. Nói cách khác, quý vị dựa vào sự giác ngộ, trong sạch của chính mình để trở thành một vị Phật.
89. Quán thân bất tịnh lìa dục sinh liên
Tập 89
QUÁN THÂN BẤT TỊNH, LÌA DỤC SINH LIÊN
(13/06/2020)
Luân Hồi và Niết Bàn thực chất đều giống nhau, nhưng một bên là giác ngộ, một bên là chưa giác ngộ, và chưa giác ngộ thì luân hồi, đã giác ngộ thì Niết-bàn. Như vậy, đối với những người đã chứng ngộ được Phật đạo mà nói, nếu một người đã chứng ngộ rồi, vì nguyện lực của mình mà dù cho có thể sẽ phải đối mặt với vòng luân hồi, thì họ vẫn cho rằng đó mới là Bồ Đề, “Vì tôi biết mình không thể luân hồi nên tôi mới học Bồ Đề”. Họ sẽ không bị nghiệp lực của tất cả chúng sinh lôi kéo, và sẽ không thăng trầm trong biển nghiệp. Khi con người vướng vào nghiệp chướng, đôi khi có những điều tồi tệ xảy ra, giống như bị nghiệp lực lôi kéo vậy, muốn thoát cũng không thể thoát ra được, và phải trải qua sinh tử. Vì vậy, muốn tu sửa tham ái, vô minh, tà kiến của tánh người, thì con người phải tụng kinh để chuyển đổi tư duy và ý nghĩ của mình, để công đức của bản thân được viên mãn.
Hôm nay Đài trưởng xin xen vào một câu, tại sao gọi là công đức viên mãn? Nhiều người đã làm được rất nhiều công đức nhưng chưa viên mãn. Khái niệm về chưa viên mãn và viên mãn là gì? Lấy một ví dụ đơn giản, nếu quý vị trì tụng một biến Chú Đại Bi được một nửa hoặc hai phần ba mà dừng lại, điều này được gọi là chưa viên mãn. Nếu quý vị trì tụng xong một biến Chú Đại Bi, điều này được gọi là viên mãn. Công đức cũng vậy, nếu quý vị làm công đức này một cách viên mãn thì năng lượng này có lớn không? Nếu quý vị chỉ làm được hơn một nửa công đức so với đã làm xong tất cả, hơn nữa làm có đầu có đuôi, thì loại nào có được công đức hơn? Hãy nỗ lực tu sửa đi lòng tham, và sự không chánh kiến của bản thân (đó chính là luôn nhìn người khác theo chiều hướng xấu), hãy tụng kinh và nỗ lực thay đổi quan niệm của chính mình, bằng không thì “Chết không phải là hết”, mọi người hãy ghi nhớ câu này, vậy “Chết không phải là hết” nghĩa là gì? Quý vị nghĩ rằng sau khi chết thì mọi chuyện sẽ ổn sao? Sau khi chết, có người còn phải xuống địa ngục, có người còn phải chịu trừng phạt.
Triệt ngộ có nghĩa là giải thoát khỏi sáu cõi luân hồi. Cầu xin Quán Thế Âm Bồ Tát, mới có thể thoát khỏi sinh tử. Pháp Môn Tâm Linh chính là lòng từ bi của Quán Thế Âm Bồ Tát. Dùng ngôn ngữ của thời đại này thì, cõi người chính là trạm trung chuyển để về với Phật, quý vị bây giờ đều đang ở trạm trung chuyển này. Nói theo ngôn ngữ hiện đại nghĩa là cõi người là một trạm trung chuyển trên đường đến với cõi Phật, và bây giờ tất cả mọi người đều đang ở trạm trung chuyển. Nếu làm bài thi tốt và sửa đổi tốt ở trạm trung chuyển này thì quý vị sẽ được chuyển đến thượng thiên và tiến vào cõi Phật, bằng không có thể quý vị sẽ bị chuyển đến sáu cõi luân hồi, có thể là cõi súc sinh, cõi người, cõi ngạ quỷ hay cõi địa ngục, điều đó tùy thuộc vào con người hiện tại của quý vị có làm tốt hay không.
Chúng ta học Phật phải tu đến mức độ viên mãn. Nghĩa là gì? Khi tu tâm hay làm một việc gì đó đều phải viên mãn. Khi xem ti vi, quý vị luôn mong rằng bộ phim truyền hình sẽ có được một cái kết có hậu phải không? Nếu kết thúc không có hậu, quý vị có cảm thấy uất ức trong lòng không? Khi còn nhỏ, chúng ta xem phim, nhân vật trong phim trải qua biết bao khó khăn, nguy hiểm, cuối cùng gia đình cũng tìm thấy anh ta, nhưng sau đó anh ta lại bị mất tích, bộ phim cuối cùng chiếu xuống một đồng cỏ mênh mông, không thấy bóng dáng, chỉ thấy người mẹ nhìn về phía xa, như thể nhìn thấy đứa trẻ đang bước đến, lúc này trên màn ảnh xuất hiện đứa con của bà. Gọi “Mẹ ——“ chạy tới như thế, nhưng lúc đó chỉ là ảo giác của người mẹ. Quý vị có hài lòng với kết cục của thể loại phim như thế này không? Chắc chắn quý vị sẽ rời rạp trong tiếc nuối. Do đó, tu đến mức độ viên mãn có nghĩa là cần phải tu cảnh giới viên mãn của Bồ Tát, tu các cấp độ viên mãn và tu lên từng cấp độ một. Đó là khi làm một việc gì đó phải làm nó một cách viên mãn, làm một việc tốt thì tốt đến cùng, giúp người khác thì giúp đến cùng, không nên giúp nửa chừng rồi quên. Nhìn chung sẽ bị rò rỉ, đây chính là chưa viên mãn. Nếu quý vị có thể tu đến một cấp độ viên mãn, chắc chắn quý vị sẽ có Ba-la-mật và trí tuệ Bát nhã của quý vị sẽ được sinh ra.
Sự biến đổi của vạn vật trên thế gian không thể tách rời khỏi Thành – Trụ – Hoại
– Không, nó vốn là hiện tượng sinh tử. Khi một người sinh ra và sống trên thế gian này, cuối cùng thì họ cũng bắt đầu bị hủy hoại và chết đi, họ cũng trở thành trống Không. Không ai không trải qua bốn giai đoạn này. Ngay cả ngôi nhà đã được xây dựng và hoàn thiện, sau đó mọi người vào ở và sử dụng nó, rồi dần dần ngôi nhà cũ đi và hư hỏng, tu bổ lại ở được thêm ba năm, cho đến về sau ngôi nhà không thể ở được nữa và bị phá bỏ, vậy thì nó cũng trở nên trống không rồi. Con người cũng vậy. Đó là một hiện tượng sinh diệt, không phải vì quý vị lạc quan và cho rằng “Ôi chao, con người sẽ không chết”, hoặc người khác đều nói quý vị sống lâu trăm tuổi, quý vị sẽ sống được 150 hay 200 năm
— không có nghĩa là nó sẽ thay đổi vì quý vị lạc quan, cũng không có nghĩa là cuộc sống của quý vị sẽ thay đổi nếu quý vị không phải là người học Phật. Nhiều người nói rằng: “Khi tôi chưa học Phật thì sao tôi không có nhiều chuyện xảy ra, khi học Phật rồi thì lại có nhiều chuyện xảy ra như vậy”. Hãy đi hỏi xem, người không học Phật có phải có nhiều chuyện xảy ra hơn so với người có học Phật không? Quý vị cần phải hiểu và sửa đổi, đó mới là ý nghĩa thực sự của việc học Phật. Đến cuối cuộc đời, ai cũng sẽ chẳng được gì, vĩnh hằng sẽ không hạ cánh ở nhân gian, chỉ có tu sửa chân như bổn tánh của quý vị đến cùng, thì quý vị mới có thể đạt được pháp tánh tràn đầy, trí tuệ tràn đầy và công đức viên mãn của quý vị.
Cuối cùng, Đài trưởng kể cho mọi người nghe một câu chuyện khá thú vị. Nói chung, khi Sư Phụ kể cho mọi người nghe những câu chuyện của Đức Phật năm đó, trong đó luôn có quan niệm Phật giáo và triết học. Câu chuyện Phật giáo mà Sư phụ kể hôm nay thực chất là “Quán Bất Tịnh”. Trong thiền quán Phật giáo (Thiền quán là dùng trí tuệ Thiền để quán tưởng và quan sát), có một phương pháp tu trì quan trọng gọi là “Ngũ Đình Tâm Quan”. Trên thực tế, phương pháp Ngũ Đình Tâm Quan này là để kiểm soát ý niệm của quý vị và không được suy nghĩ bừa bãi. Có một loại quán gọi là Bất Tịnh Quán, nghĩa là nhìn bất cứ ai
cũng không được có loại dục vọng nam nữ này, vì con người thì không được sạch sẽ, khi nhìn vào họ sẽ cảm thấy khó chịu. Còn có một loại là Từ Bi Quán, nhìn người khác rất đáng thương. Và còn Nhân Duyên Quán, Niệm Phật Quán và Sổ Tức Quán, Sổ Tức Quán tức là đếm hơi thở, quán từng hơi thở ra và hít vào của mình. Sau này Sư phụ sẽ giảng từng loại một cho mọi người nghe.
Câu chuyện Sư phụ kể cho mọi người hôm nay là về Bất Tịnh Quán. Thực ra, Bất Tịnh Quán và Sổ Tức Quán (Sổ Tức Quán tức là đếm hơi thở là: thở ra hít vào, tự cảm giác được hơi thở, một, hai, ba, bốn… Lúc này tâm trí quý vị sẽ trong sáng và quý vị sẽ không nghĩ đến những chuyện nam nữ hay những dục vọng đó. Bất Tịnh Quán nghĩa là những gì quý vị nhìn thấy trên thân người đều rất bẩn thỉu) được gọi là hai Cam lộ môn trong giới Phật giáo – hai cánh cửa Cam lồ (Cam lộ là nước cam lồ của Quán Thế Âm Bồ Tát), “Môn” là cánh cửa làm cho tâm trí quý vị trong sạch — Pháp môn. Quán thân bất tịnh là một trong bốn loại niệm trụ.
Bất Tịnh Quán là loại bỏ dục vọng và tham ái của bản thân bằng cách quán tường tất cả các loại tạp chất trong cơ thể của chính mình và cơ thể của người khác. Đây là một phương pháp then chốt để chống lại lòng tham. Đối với nhiều Pháp sư, để đoạn trừ dục vọng trong tâm, họ cần phải Quán hơi thở và Quán bất tịnh. Nghĩ mà xem, đàn ông hay đàn bà, chỉ cần là con người, thì có rất nhiều thứ bẩn thỉu! Có rất nhiều chất dơ chảy ra từ mỗi cái lỗ. Kỳ thực, đây là bất tịnh, và con người cũng không sạch sẽ. Một phương pháp hành trì rất quan trọng trong Thiền tông là Quán bất tịnh. Đây là một câu chuyện rất thú vị về Đức Phật cách đây 2.500 năm. Sư Phụ sẽ kể cho mọi người nghe.
Tôn giả A Nan là một trong mười đại đệ tử của Đức Phật, có dáng dấp vô cùng đoan chính (nói theo cách hiện tại là rất đẹp trai), có tướng mạo trang nghiêm. Mặc dù đã cạo đầu đi tu, nhưng Ngài có 30 tướng (Đức Phật có 32 tướng, tương truyền A Nan có 30 tướng, tức là có 30 tướng Phật). Có một lần tổ chức pháp
hội, Đức Phật đưa nhiều đệ tử của mình đến thụ cung (tức là tiếp nhận cúng dường). Lúc này A Nan không theo kịp mà bước đi chậm chạp, Đức Phật và các vị đệ tử khác đã đi xa. A Nan đơn độc một mình cầm bát khất thực (là cầm một cái bát), và đi bộ về phía Tây, đi một lúc lâu, đến một bộ lạc, bát của Ngài vẫn trống không, chưa nhận được bất kỳ sự cúng dường nào. Lúc này A Nan vừa nóng, vừa đói và khát, thực sự trời rất nóng và miệng khô.
Vừa đúng lúc Ngài đi tới một cái giếng cổ phía trước, có một người phụ nữ đang múc nước ở đó. A Nan liền đi tới bên giếng. Người phụ nữ này ngẩng đầu lên, nhìn thấy người xuất gia này, ánh mắt sáng lên, trong lòng phát ra tán thán: “Chao ôi, một vị Tỳ kheo thật là trang nghiêm!” Cô không nói ra chỉ tán thán trong lòng. Người phụ nữ này có tên là Ma Đăng Già Nữ, ngay khi cô nhìn thấy A Nan, một tình yêu mãnh liệt nảy sinh trong trái tim cô và cảm thấy yêu mến vô cùng nên cô bèn vui vẻ đổ gàu nước vào bát của A Nan và mở to mắt nhìn chằm chằm vào A Nan, cho đến khi A Nan rời đi.
Ngay khi Ma Đăng Già Nữ trở về đến nhà, cô rất vui mừng và yêu cầu mẹ mình tìm cách để có được A Nan. Người mẹ biết rằng Tỳ kheo là đấng thiêng liêng bất khả xâm phạm và không thể yêu thương Pháp sư, nên tình yêu say đắm này của con gái hoàn toàn không thể thực hiện được. Nhưng con gái sống chết cầu xin, một lòng chỉ yêu vị Tỳ kheo này, người mẹ thương yêu con gái nên nóng lòng đành phải nghĩ biện pháp đi thành toàn cho cô. Bà ta mời một người có thể đọc thần chú và bùa chú (theo cách nói hiện nay của chúng ta, có thể là một thầy phù thủy), ông thầy phù thủy đã đã dùng tà thuật để quyến rũ A Nan. Bởi vì trước đây có một loại ma thuật tà ác, sau khi niệm những câu thần chú này, có thể dùng ý niệm của mình để dẫn dắt người bị phù chú ám thân theo ý niệm của mình và mơ mơ màng màng tiến về phía trước. Trên thực tế, theo thuật ngữ ngày nay, nó giống như một chiếc máy điều khiển từ xa (như máy bay điều khiển từ xa hiện nay, chính là loại điều khiển từ xa này).
Lúc này A Nan mơ mơ màng màng, từng bước một rời khỏi Đức Phật. Trời vừa rạng sáng, khi Đức Phật đang chuẩn bị thuyết pháp thì chợt phát hiện ra A Nan đã mất tích. Đức Phật biết A Nan đã gặp nạn, vội vàng phái Văn Thù Bồ Tát đến gần nhà Ma Đăng Già Nữ tìm A Nan về, Đức Phật biết A Nan ở gần đấy, hơn nữa yêu cầu tất cả các Tỳ kheo hãy toàn tâm nhất ý trì tụng《Chú Lăng
Nghiêm》. Lúc này A Nan đang ở trong phòng của Ma Đăng Già Nữ, đúng lúc
sắp phá giới thì A Nan chợt tỉnh dậy, lập tức rời khỏi Ma Đăng Già Nữ, chạy về nơi tu hành của Đức Phật. Lúc này Ma Đăng Già Nữ thấy A Nan đột nhiên đứng dậy rời khỏi nàng, trong lòng vô cùng đau khổ, bởi vì cô rất yêu A Nan, cô liền điên cuồng đuổi theo suốt con đường, cho đến khi chạy đến nơi của Đức Phật, “huỵch”, lập tức cô quỳ xuống trước mặt Đức Phật và nói: “Thỉnh cầu Đức Phật thành toàn cho con”.
Đức Phật nói: “Này cô Ma Đăng Già Nữ, cô thật sự rất yêu A Nan sao?”
Ma Đăng Già Nữ nói, “Thưa Sư phụ, con thực sự rất yêu A Nan, con yêu A Nan rất nhiều”.
Lúc này A Nan đang tắm trong phòng, vừa tắm xong, Đức Phật liền bảo người bưng chậu nước tắm của A Nan ra, tiếp tục hỏi Ma Đăng Già Nữ: “Cô thật sự yêu A Nan sao? Không bao giờ hối hận sao? Cô yêu A Nan chỗ nào?”
Cô gái nói: “Con yêu toàn thân A Nan, con yêu tất cả”.
Đức Phật nói: “Cô đã yêu A Nan như vậy, chậu nước này là nước A Nan vừa mới tắm xong, cô hãy uống nó đi”.
Ma Đăng Già Nữ giật mình: “Đức Phật ơi, Ngài là bậc đại từ bi, nước bẩn như vậy sao lại bảo con uống”, Đức Phật nói: “Thân thể của mỗi người vốn dĩ đều bẩn như vậy, lúc A Nan khỏe mạnh thì cô đã chê Ngài ấy bẩn rồi, vậy tương lai khi Ngài ấy già chết bại hoại thì cô sẽ nghĩ như thế nào?” Và cô lại phải làm sao?
Ma Đăng Già Nữ nghe Đức Phật nói xong, bỗng nhiên cô có thể quan sát được sự bất tịnh trên thân thể con người, cô có thể nghĩ đến và nhìn thấy sự ô uế trên thân thể con người, cô không thể nào yêu nổi nữa. Cô nghĩ: “Thì ra thân thể của A Nan lại bẩn thỉu như thế, vậy thì còn gì để yêu nữa?”, từ đó toàn bộ ái niệm tham niệm của cô đều bị tiêu trừ, đột nhiên khai ngộ và chứng ngộ sơ quả.
Đây chính là Bất Tịnh Quán, vậy nên Bất Tịnh Quán có thể trị lòng tham của quý vị. Chỉ bằng cách thực hành Bất Tịnh Quán, nếu có thể thiện dụng Bất Tịnh Quán thì những nhiễm ô và ái dục của quý vị đối với Hồng Trần nhân gian sẽ bị tiêu diệt.
Người học Phật, mỗi lời Phật dạy đều phải ghi nhớ trong lòng, để những giáo lý Phật pháp chân thật bất biến có thể tồn tại lâu dài trên thế gian và ở trong tâm hồn mỗi chúng ta, để chúng ta có được đạo tràng của Phật trong tâm, để có thể chống đỡ những phiền não trên thế gian. Vậy nên hy vọng mọi người hãy tu tâm và học Phật cho tốt, quán sát bản thân và hiểu rằng con người sẽ thay đổi, nhưng thay đổi là đau khổ, giống như hoa sen phải thay đổi. Chúng ta nhất định phải học được tánh Không – Vô tướng – Vô nguyện, mới có thể siêu thoát được lục đạo và đạt đến Phật đạo.
Được rồi, đó là tất cả cho buổi thuyết giảng ngày hôm nay. Hẹn gặp lại đại chúng trong chương trình lần sau. Cảm ơn đại chúng!