Bạch Thoại Phật Pháp – Quyển 4

(白话佛法四)

Lời Mở Đầu

BẠCH THOẠI PHẬT PHÁP

Bài giảng Video
Quyển 4
Tác giả: Đài Trưởng Lư Quân Hoành

LỜI MỞ ĐẦU

Bạch Thoại Phật Pháp là cách Đài trưởng Lư sử dụng ngôn ngữ của cuộc sống để giảng giải Phật pháp uyên thâm. Giải thích triết lý của nhân sinh từ việc sử dụng các ví dụ đơn giản trong cuộc sống hàng ngày. Trong Bạch Thoại Phật Pháp lĩnh hội được các lý luận Phật học ở mức độ cao huyền bí. Khởi dậy Phật tánh của tất cả chúng sinh và sửa đổi số phận của chúng ta. Mời quý vị đón đọc bài giảng Bạch Thoại Phật Pháp của Đài trưởng Lư.

Để đạt được những hiệu quả nhất định, trước khi đọc Bạch Thoại Phật Pháp nên đọc lời cầu nguyện dưới đây:

“Cảm tạ Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Xin gia trì cho đệ tử __(họ tên) để con đọc và hiểu được nội dung của Bạch Thoại Phật Pháp, để năng lượng của Bạch Thoại Phật Pháp gia trì bổn tánh của con, phù hộ cho con khai sáng trí tuệ, tiêu trừ nghiệp chướng, mọi điều kiết tường. Con xin cảm tạ Bồ Tát”.

Tập 90
CÓ ĐƯỢC PHẬT TÁNH, TỰ NHIÊN GIẢI THOÁT

(20/06/2020)

Được rồi, hôm nay Đài trưởng sẽ tiếp tục giảng với mọi người về 《Bạch thoại Phật pháp》

Như tất cả chúng ta đều biết, pháp thân của Đức Phật ở nhân gian không chỗ nào là không có, khắp nơi đều có pháp thân của Đức Phật. Bất kỳ ai, chỉ cần trong tâm có được Phật pháp, có thể nói ra Phật pháp, và trong hành động có được Phật pháp, thì người ấy sẽ vượt qua được rào cản của thời gian và sẽ có Phật trong tâm. Chúng ta thường nói Phật giáo có ở khắp mọi nơi trong cuộc sống, trong cả đi, ở, ngồi, nằm. Phật giáo ở khắp mọi nơi đều đang giúp đỡ quý vị và ảnh hưởng đến quý vị. Pháp âm lưu truyền, thường xuyên nói Phật ngôn Phật ngữ sẽ giữ âm thanh của Pháp trong tâm quý vị, bởi vì âm thanh của Pháp sẽ không mất đi theo thời gian. Chúng ta học Phật pháp khi còn trẻ, đến khi tuổi tác cao trong tâm chúng ta vẫn có Phật pháp, và từ trong Phật pháp chuyển hóa ra Chân như cùng Đạo âm – nghĩa là âm thanh của Phật đạo. Có người trong lòng có Phật, lời họ nói ra tựa như pháp âm, chảy mãi trong lòng họ. Chỉ với nguyện lực vô thượng, con người mới có thể có được nguyện lực Phật pháp ở trong tâm, mới khiến quý vị từ bi với chúng sinh và giúp đỡ người khác. Tại sao một số người có thể giúp đỡ người khác và có lòng từ bi đối với tất cả chúng sinh trong suốt cuộc đời của họ? Bởi vì pháp âm và Phật pháp ở trong lòng họ giống như trước đây vĩnh viễn không ngừng. Vậy nên gọi là Như Lai Phật – Không từ đâu đến cũng chẳng đi về đâu. Như Lai Phật, không đến cũng không đi, nghĩa là Phật tánh vốn có sẵn trong tâm quý vị, chính là vốn dĩ quý vị đã sở hữu Phật tánh này rồi.

Người học Phật chúng ta phải biết cách đặt pháp tương ứng vào trong tâm, biến Phật tánh trong tâm mình thành chân đế của cuộc sống trên thế gian, để hiểu nó, để hiểu chân đế tồn tại thật sự của Phật pháp, để áp dụng nó. Ở nhân gian vận dụng chân đế của Phật pháp có thể hiểu hết thảy hình tướng đều không thể có được và tu chân thật trong ảo tưởng. Tại sao lại nói” trong ảo tưởng”? Bởi vì rất nhiều người cả đời giống như đang nằm mơ, hôm nay ở đây, ngày mai ở đó, trong mộng có thể là lúc đang còn trẻ, bây giờ soi gương đã già rồi, cả cuộc đời giống như đang nằm mơ, giống như ảo cảnh vậy. Giống như chúng ta nhớ lại những điều khi còn trẻ, thời thơ ấu, bây giờ nó giống như một giấc mơ. Khi một ngày nào đó quý vị phải ra đi, giấc mơ và ảo tưởng này của quý vị cũng sẽ kết thúc. Sống trong ảo giác này của chính mình, chúng ta không thể hoàn toàn thoát ly được, thế nên chỉ có thể tu chân trong ảo và thành đạo trong ảo.

Sư phụ mong rằng mọi người vĩnh viễn phải đặt Phật tánh vào trong tâm, phải hiểu rằng tu tâm của con người phải có một loại trợ lực, đó là động lực giúp quý vị thành công, đó là một sức mạnh chân thật. Động lực là gì? Bởi vì chúng ta hiểu được tinh tấn, bởi vì chúng ta hiểu được tâm nhẫn nhục, hiểu được chân đế của Phật, chính là để chúng ta hiểu được tất cả Khổ-Không-Vô thường của thế gian này, vì vậy chúng ta đối với quá khứ của thế gian này sẽ không sinh ra một loại cảm ứng đau khổ khác. Quá khứ của mỗi người đều rất đau khổ, nên phải có khả năng tiếp nhận nó, hiểu được nó, tiêu trừ nó và giải thoát nó. Phải dùng phán đoán chân thật để cảm nhận được tất cả những cảm xúc của mình trong thế giới con người. Trên thực tế, nên dùng phương pháp gì để cảm thụ và cảm ứng nó, để chúng ta có thể lìa khổ được vui đây? Chính là 2 chữ “trí tuệ”. Một người có trí tuệ, họ có thể dùng tâm bình thường nhìn thế gian, họ hiểu hết thảy đều là vô thường, thế gian này tất cả có được rồi cũng sẽ mất đi. Vì vậy, tâm bình thường nhìn thấu thế gian, tâm thái có thể an dừng – nghĩa là tâm của quý vị có thể được an định, mới có thể để ngăn chặn các loại suy nghĩ vô vị của mình (những suy nghĩ này làm cho bản thân đắm chìm trong ảo tưởng ảo giác của quá khứ và bị nó mê hoặc, khiến cho nội tâm sinh ra càng nhiều thống khổ). Vậy nên, Sư phụ muốn mọi người hiểu rằng, tu tâm tu pháp chính là thấu hiểu đời người, ly huyễn đắc chân. Tâm của chúng ta phải biết và hiểu được tâm của người khác, hiểu được tâm của chính mình, cảm ứng được tâm của người khác, biết cách khai ngộ tâm mình, không được để một số cảnh tượng của nhân gian làm mê hoặc. Con người chúng ta ngày nay, thậm chí mạng cũng không cần, bạt mạng theo đuổi danh lợi, sống một cuộc sống ngược đời, coi cuộc sống giả tạo là thật, khiến chúng ta lạc lối, khiến chúng ta lưu lạc trong thế giới đau khổ.

Phật pháp tại thế gian

Bất ly thế gian giác

Ly thế mịch Bồ đề

Kháp như cầu thố giác

Nghĩa :

Phật pháp nơi thế gian

Không lìa thế gian giác

Lìa thế tìm Bồ đề

Giống như tìm sừng thỏ.

Đây là điều quan trọng nhất của Phật giáo. Nó giúp chúng ta lìa khổ được vui và là một diệu pháp giúp chúng ta thoát khỏi phiền não trong cuộc sống hàng ngày. Phải luôn nhắc nhở bản thân quán chiếu pháp ngữ, phải có được giác ngộ tánh giác, phải hiểu rằng chúng ta có ngộ tánh. Pháp thế gian và pháp xuất thế gian là một chứ không phải hai, điều đó cho chúng ta biết rằng ở thế gian này, cho dù là quý vị muốn tu một phương pháp sau khi rời khỏi thế gian này, thì thực ra chúng là một chứ không phải hai, tức là nhất Pháp Như, nghĩa là chỉ có một phương pháp như thế. “Nhất Pháp Như” – nghĩa là tất cả Pháp Như đều giống nhau. Rời xa thế gian này hay ở thế gian này cũng giống nhau. Nghĩa là, nếu quý vị muốn rời xa thế gian này để tu hành hay khi quý vị đang ở trong thế gian này tu hành, thực ra cả hai đều là phương pháp tu hành giống nhau. Vì vậy quý vị nhận ra được rằng phiền não và Bồ Đề đều giống nhau (phiền não chính là Bồ Đề). Có đôi khi phiền não của con người sẽ mang đến cho quý vị Bồ Đề, không nên nói “Tôi muốn tìm Bồ Đề, nên tôi phải rời khỏi phiền não”, chính vì có phiền não mới giúp quý vị tìm được Bồ Đề. Cho nên nó là nhất Pháp Như, giống như sinh tử cùng Niết Bàn cả hai đều giống nhau. Bởi vậy chúng ta làm người, sinh tử và Niết Bàn kỳ thật đều là một. Sinh rồi sẽ chết, sau khi chết rồi lại tái sinh, thật ra là linh hồn của quý vị tái đầu thai, tạo nên sự tái sinh của quý vị, cho nên sinh tử và Niết Bàn không phải là hai. Cũng có nghĩa là khi quý vị đã khai ngộ, quý vị sẽ lại phạm sai lầm. Sau khi quý vị dần dần phạm sai lầm rồi sẽ lại khai ngộ. Cuộc sống của quý vị là một dòng chảy liên tục trong những sai lầm và khai ngộ.

Chúng ta là người học Phật phải học cách kết hợp tu hành và đời sống thực tế lại với nhau. Cuộc sống của chúng ta ngày nay không chỉ là sống, mà sống là để tu tâm. Vậy nên phải hiểu rằng tu hành trong cuộc sống và cuộc sống là tu hành của quý vị. Sư phụ lấy một ví dụ đơn giản, mỗi ngày vượt qua sự lười biếng của mình, dậy sớm để đọc kinh, dậy sớm để thắp hương, đây đều là sự tinh tấn của quý vị, là cuộc sống của quý vị. Khi quý vị đang cố gắng nỗ lực, Phật pháp ở trong tâm trí quý vị. Khi lòng từ bi của quý vị được lan rộng, thì pháp pháp của quý vị là tâm. “Pháp pháp là tâm, trần trần là đạo”, Hồng Trần cuộn cuộn, quý vị có thể trong Hồng Trần cuồn cuộn này tìm ra con đường lìa thế gian giác.

Mỗi pháp môn đều do tâm của quý vị tạo ra, vạn pháp duy tâm tạo. Tu hành tùy duyên là một loại trí tuệ. Ngẫu nhiên tham thiền chứng ngộ là một loại tùy duyên. Rất nhiều người nói: “Tôi muốn một kiếp tu thành, tốt nhất là phải có một môi trường đặc biệt và không tiếp xúc với trần thế bên ngoài”, hãy nghĩ xem bây giờ đâu có ai không tiếp xúc với trần thế bên ngoài? Chỉ có dựa vào lòng kiên định của bản thân, tâm như kim cang, pháp pháp là tâm. Hãy tu thiền giữa những phiền não của thế gian, trong thế giới phàm trần cuồn cuộn, quý vị không thể rời bỏ cuộc sống hiện thực để tìm đạo kiếm pháp. Muốn tìm một pháp môn để có thể có được giải thoát, thì pháp môn chính là giúp quý vị giải quyết những vấn đề trong phiền não của mình, nếu không có phiền não, thì quý vị sẽ không tìm được biện pháp giải quyết. Vì thế, trái lại quý vị sẽ cách đạo ngày càng xa hơn – cách Phật đạo càng xa hơn. Đây chính là “Phật pháp tại thế gian. Bất ly thế gian giác”. Nếu quý vị không ở thế gian này, chắc chắn quý vị sẽ không tìm thấy được sự giác ngộ ở trong thế gian. Vì vậy “Ly thế mịch Bồ Đề. Kháp như cầu thố giác”. Con thỏ có sừng không? Phật pháp là ở trong những phiền não của quý vị, Phật pháp không thể tách rời sự giác ngộ của quý vị trong những phiền não của thế gian.

Khi quý vị giác ngộ được thế gian, biết rằng mọi thứ trên thế gian này đều như ảo như hóa, nay có mai không. Sự tồn tại hôm nay không có nghĩa là tồn tại vĩnh viễn. Vậy nên, quý vị phải ở trong thế giới này mới cảm nhận được sự vô thường của nó. Nếu quý vị cả đời nhốt mình trong nhà, liệu quý vị có biết rằng thế giới này là vô thường không? Chỉ khi quý vị ở trong thế gian này, và quý vị biết rằng những gì có được hôm nay sẽ bị người khác phá hủy vào ngày mai. Hôm nay việc này là của quý vị, nhưng cuối cùng sẽ không còn là của quý vị nữa. Tiền tài mà hôm nay quý vị kiếm được đã bị người khác lấy cắp hoặc bị cướp trong vài ngày sau và nó sẽ không còn nữa – Mọi thứ đều vô thường. Hãy từ thế gian học cách làm thế nào để cảm nhận được phiền não của quý vị ở thế gian, đây chính là một loại giác ngộ siêu thoát thế gian. Khi quý vị giác ngộ được thế gian như ảo như hóa, quý vị sẽ dần dần nhận ra rằng thế gian và sự giác ngộ là không thể tách rời nhau. Không có thế gian thì làm sao quý vị giác ngộ được? Không có “thường” thì làm sao quý vị biết được vô thường là gì? Sư phụ đưa ra một ví dụ đơn giản, quý vị chưa từng ăn muối, làm sao biết được thứ này là mặn hay ngọt? Quý vị tìm Bồ Đề ở đâu? Toàn bộ Phật pháp chính là nói cho chúng ta biết, Bồ Đề cùng phiền não thực chất là giống nhau, không có gì khác biệt, tuyệt đối không nên rời khỏi phiền não của mình để cầu Bồ Đề.

Nếu một người học Phật, không có cách nào đưa Phật pháp thực tiễn vào cuộc sống đời thường, thì quý vị sẽ không thể từ trong tam nghiệp “Thân, Khẩu, Ý” của mình mà cảm nhận được “Miệng tôi lại nói sai, ý niệm của tôi lại nghĩ sai, hành vi của tôi lại làm sai”. Nếu quý vị vẫn chưa biết thức tỉnh và chưa biết bản thân cần cải sửa, vậy thì quý vị sẽ không thể đạt được giác ngộ và siêu thoát. Đây là điều Bồ Tát dạy cho chúng ta biết không thể rời thế gian mà có được giác ngộ. Nhiều người cả đời cho rằng mình đã đạt đến siêu nhiên nhờ tụng kinh và tu tâm: “Tôi đã được giải thoát rồi, cảnh giới của tôi không còn giống như những người khác nữa”. Thực ra là đã tiến vào một không gian hư vọng khác, mà loại không gian hư ảo hão huyền đó khiến quý vị tiến vào một giai đoạn cống cao ngã mạn khác.

Vậy nên, việc truy cầu Phật pháp của chúng ta không thể viển vông, mà chúng ta phải tìm thấy trí tuệ của đạo Phật trong cuộc sống. Nhiều người cho rằng, tu Phật, học Phật tu tâm, là tìm một nơi thanh tịnh, rời xa Hồng Trần thế gian này mới có thể tu được, hoặc là tự nhốt mình trong phòng thiền trường kỳ để bế quan (nhập thất), hoặc là xuất gia sẽ bảo đảm tu tốt. Kỳ thực họ không biết “Phật pháp nơi thế gian. Không lìa thế gian giác”, nghĩa là trong quá trình học Phật, chỉ cần quý vị ở trong Hồng Trần, bất cứ lúc nào cũng có thể rèn luyện quý vị tăng trưởng trí tuệ, từ bỏ tham sân si, rồi có được Giáo Pháp vi diệu của Phật trong tâm mình. Vì thế “Lìa thế tìm Bồ Đề. Giống như tìm sừng thỏ.”, nếu như hôm nay quý vị nói “Chỉ là tôi tự nhốt mình lại để tu tâm”, chẳng khác nào quý vị hoàn toàn đem cuộc sống hiện thực và cuộc sống tu hành chia làm hai phần rồi.

“Pháp pháp là tâm, trần trần là đạo”, người học Phật tu tâm thực sự sẽ không cố chấp như vậy, sẽ không chấp trước như thế: “Tôi nhất định phải trong hoàn cảnh nào, tôi nhất định phải như thế nào mới có thể tu tâm tốt được”. Người tu hành thực sự là tùy duyên tu tâm, ngẫu nhiên tham thiền chứng ngộ. Đây là lý do tại sao rất nhiều Bồ Tát của chúng ta đến nhân gian “Hành dã thiền, tọa diệc thiền, ngữ mặc động tĩnh thể an nhiên”. Nghĩa là hôm nay khi ngôn ngữ phát ra, nhất động nhất tĩnh, tất cả mọi thứ đều rất tự nhiên. Vì sao tự nhiên là một loại cảnh giới rất cao? Tại sao bây giờ chúng ta ăn những thứ tự nhiên? Bởi vì tự nhiên mới là đạo và bởi vì nó là tự nhiên nên nó mới có thể nuôi dưỡng ra một loại giác ngộ chân chính nên trong. Vậy nên, trong đi, ở, nằm, ngồi, thậm chí ăn cơm mặc quần áo, thậm chí làm việc hoặc là ở nông thôn trồng trọt đốn củi, cho dù du sơn ngoạn thủy, đều là tham thiền ngộ đạo. Tại sao nhiều nhà thơ nổi tiếng lại có thể viết được nhiều bài thơ hay khi du hành khắp núi sông? Chính là vì sự tự nhiên của họ. Vì vậy, rời khỏi cuộc sống hiện thực mà đi tìm đạo kiếm pháp, thì ngược lại sẽ cách đạo càng xa. Đạo ở trong tâm, giống như rất nhiều người nói “Tôi muốn tìm một người thầy tốt, thì tôi mới có thể tu tốt trong đời này”, người thầy tốt nhất của quý vị chính là sự giác ngộ trong tâm của quý vị, chính là bổn tánh Phật trong tâm của quý vị, tại sao quý vị lại cầm bát vàng đi xin cơm? Tất cả việc tu hành đều không thể rời khỏi thế gian, nếu tu hành mà rời khỏi thế gian thì không bao giờ thành tựu được.

 

Tập 91
PHIỀN NÃO TỨC BỒ ĐỀ

(20/06/2020)

Trong cuộc sống, cải sửa là điều quan trọng nhất.

Trong quá khứ tất cả Như Lai có thể trở thành Phật đều là do các Ngài thị hiện Bát Chánh Đạo mà thành Phật, hơn nữa Bát Chánh Đạo này đều dùng ở thế gian. Bát Chánh Đạo gồm có: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định. Những thứ “Chánh” này ở thượng thiên đã có thể đạt được từ lâu, tại sao Bát Chánh Đạo này lại ở nhân gian? Bởi vì nhân gian còn có hư ảo và vọng niệm. Vậy nên ở nhân gian quý vị chỉ cần có thể thực hành được Bát Chánh Đạo, thì quý vị nhất định một kiếp tu thành và quý vị liền có thể thành Phật. Rất nhiều Bồ Tát tại sao phải đến thế gian? Rất nhiều vị A La Hán, chư Thiên, Thánh nhân ở nhân gian, họ nhập thế vào nhân gian để độ chúng sinh và tìm kiếm Phật đạo. Có những vị Đại La Hán từ thượng thiên xuống phải trải qua tám mươi bốn ngàn đại kiếp. Nhiều đứa trẻ có thể đã từng là Bồ Tát hoặc Đại La Hán trong các kiếp quá khứ, những đứa trẻ này từ thượng thiên giáng trần từ rất sớm và luân hồi ở nhân gian từ kiếp này sang kiếp khác, trong đó có một kiếp những đứa trẻ này tu rất tốt và đã từng là đệ tử của Đại Bồ Tát, có một kiếp đã từng là vị nào đó hoặc có một kiếp là ai đó v.v.. Những vị này liên tục trải qua tám mươi bốn ngàn đại kiếp. Vì sao? Cho dù họ đã tu thành rồi, họ vẫn phải trở lại thế gian. Điều đó có nghĩa là cuối cùng họ muốn thành Phật thì nhất định phải nhập thế độ sinh, nghĩa là nhất định phải cứu độ chúng sinh ở nhân gian, mới có thể thành toàn Phật đạo. Nếu đã siêu thoát khỏi lục đạo đều ở thượng thiên, đều là Bồ Tát, đều là Phật, thì ở trên đó quý vị đi độ ai? Chúng ta thường nói: “Thoát ra ngoài Tam giới, không ở trong ngũ hành”, đúng vậy, quý vị độ tới độ lui, nhập thế để độ chúng sinh ở Tam giới.

Nếu ngay cả pháp thế gian quý vị cũng tu không tốt, thì làm sao quý vị có thể trở thành Phật đây? Quý vị ở nhân gian làm người cũng không giống người, ở nhân gian cư xử giống như ma, giống như kẻ ác, giống như súc sinh, thì làm sao có thể tu hành thành Phật? Quý vị không có khả năng thành Phật được. Nhiều người tu cả đời, nhưng ngay cả Người cũng chưa chắc đã làm được. Cho dù có đới nghiệp vãng sinh, đến thế giới Cực Lạc tu hành, cũng chỉ là để cho quý vị tạm thời có thể tiến vào thế giới Cực Lạc mà quý vị yêu thích, nhưng quý vị vẫn phải trả nợ cũ, mà nợ cũ này nếu như là đới nghiệp nhỏ, nghĩa là mang theo những nghiệp rất nhỏ, thì có thể ở trong Thất Bảo Trì, Bát Công Đức Thủy rửa sạch (hồ bảy báu và nước tám công đức). Nếu như quý vị có nghiệp chướng lớn, thì quý vị không thể thoát ra khỏi sáu cõi. Bởi vì thế gian này là cho quý vị đến để trả nợ, quý vị ở thế gian này chưa trả hết nợ thì không thể giải thoát khỏi phiền não của phàm trần nhân gian. Vậy nên, tuyệt đối không phải là hôm nay chỉ cần tu là có thể thành. Giống như một đứa trẻ, cho dù hôm nay nó có đi học thì không nhất định nó có thể tốt nghiệp, cho dù hôm nay nó học lên tiến sĩ, thì không nhất định nó có thể trở thành tiến sĩ. Vì vậy, tu tốt pháp thế gian là nền tảng vô cùng quan trọng, mỗi người chúng ta đều phải tu tốt pháp thế gian.

Ai cũng biết câu này trong những lời nói rất sâu sắc của Lục Tổ, đây chỉ là một câu trong số đó:

Phật pháp tại thế gian

Bất ly thế gian giác

Ly thế mịch Bồ đề

Kháp như cầu thố giác

Nghĩa :

Phật pháp nơi thế gian

Không lìa thế gian giác

Lìa thế tìm Bồ đề

Giống như tìm sừng thỏ.

Thật sự hiểu được đã rất khó rồi, để thực sự thực hành được nó lại càng khó hơn. Phật pháp thật ra là ở trong phiền não của quý vị, và nó không thể tách rời sự giác ngộ của quý vị về những phiền não của thế gian. Không biết câu này quý vị có hiểu được không, nhưng Đài trưởng xin nói lại lần nữa: Phật pháp chính là ở trong phiền não của quý vị, là không thể rời khỏi sự giác ngộ của quý vị trong phiền não thế gian – nghĩa là phiền não tức Bồ Đề. Quý vị giác ngộ được thế gian như huyễn hóa mộng tưởng, như huyễn như hóa, và chỉ trong thế giới mộng ảo, quý vị mới có thể cầu được sự giác ngộ thực sự. Bởi vì quý vị biết nó là giả, nên mới có thể tìm thấy thật. Nếu coi thế giới này là thật thì làm sao quý vị tìm được cái thật đích thực? Do đó, giác ngộ và thế gian là không thể tách rời, không thể rời khỏi. Lấy một ví dụ đơn giản, hôm nay có việc để làm, thì quý vị mới có thể nhìn ra được vấn đề, sau đó sẽ giải quyết những vấn đề này. Nếu như không có thế gian, nếu như không có việc gì cho quý vị làm, thì quý vị sẽ đi đâu để cầu cho chính xác đây? Người này rất có kinh nghiệm, là từ trong những vấn đề phát sinh mà họ có được kinh nghiệm này. Đã từng hỏi một người thành công: “Bạn có bí quyết gì không?”, họ nói: “Tôi không có bí quyết gì, bí quyết của tôi chính là trong vô số lần thất bại cuối cùng đạt được thành công.” Vậy nên một người thành công hay người giác ngộ thì họ sẽ không rời khỏi thế gian để cầu giác ngộ; Một người nghĩ rằng mình đã siêu thoát rồi, đã rời khỏi nhân gian rồi, không hít khói lửa nhân gian nữa, mọi người hãy nói xem phiền não của họ có còn không?

Họ có Bồ Đề không? Vì vậy đừng bao giờ rời khỏi phiền não của bản thân mà đi cầu Bồ Đề. Phiền não không là gì cả, phiền não chỉ là nền tảng để quý vị tìm được Bồ Đề. Cũng giống như muối, mỗi món ăn dù có chua ngọt thì nhất định cũng phải có muối, nếu không sẽ khiến quý vị cảm thấy rất khó ăn. Hỷ nộ ái lạc là để quý vị cảm nhận được niềm vui và sự tức giận là gì, bởi vì chỉ khi có được niềm vui, thì quý vị mới có thể biết tức giận là gì, và chỉ sau khi quý vị nổi giận, thì quý vị mới biết được niềm vui là gì. Vui buồn là gì? Thực ra đó chính là vì có niềm vui nên mới có đau buồn. Không có vấn đề thì làm sao có thể có được phương pháp? Phật pháp chính là ở thế giới con người để giải quyết cụ thể những vấn đề của con người, và chính là pháp môn tốt nhất để Bồ Tát giải quyết những phiền não của con người hiện đại. Đáng vui thì nên vui, đáng giận thì nên giận, xét cho cùng bổn tánh cùng căn đế hỷ nộ ái lạc đều là trí tuệ Bồ Đề.

Trong Kinh Phật dạy: Bồ Tát chưa thành Phật, lấy Bồ Đề làm phiền não; Khi Bồ Tát thành Phật, lấy phiền não làm Bồ Đề. Hà dĩ cố? (Tại sao?) Dĩ đệ nhất nghĩa bất nhị cố (nghĩa là không có lời giải thích thứ hai cho cái nghĩa lý và đạo lý này). Điều này cho chúng ta biết rằng khi con người chúng ta và Bồ Tát chưa thành Phật, vì quý vị là Bồ Tát nên quý vị vẫn chưa hiểu được đạo lý và nghĩa lý của Phật, cho nên lấy Bồ Đề làm phiền não (rõ ràng là có nhiều trí tuệ, nhưng quý vị vẫn coi đó là phiền não); Khi Bồ Tát thành Phật, tất cả phiền não cũng không phải là Phật không có, Đức Phật vĩ đại đã có biết bao phiền não khi cứu độ chúng sinh khổ nạn ở nhân gian, nhưng Đức Phật đã biến nó thành Bồ Đề. Tại sao? Bởi vì đây là “một” và không có lời giải thích thứ hai. Nói cách khác, nó cho chúng ta biết rằng chỉ khi gặp phiền não mới có thể tìm ra nghĩa lý đầu tiên của Bồ Đề. Khi nhìn thấy người xấu, quý vị phải nghĩ rằng sẽ có một ngày nào đó họ trở thành người tốt. Đây cũng là một nguyên lý, đây gọi là “Lãng tử hồi đầu kim bất hoán” (nghĩa là: Lãng tử quay đầu lại còn quý hơn vàng. Người lang bạt hư đốn đến tầm cỡ nào, nếu biết hồi tâm thức tỉnh, ăn năn hối cải thì phẩm chất đạo đức của người đó vẫn trở lại nguyên thể trong sáng, cao thượng). Nếu người này không quay đầu, không cải sửa thì tâm của họ sẽ tràn đầy phiền não, làm xằng làm bậy, bởi vì họ không có giác ngộ. Khi họ quay đầu là bờ, an phận thủ thường, giúp người làm niềm vui thì họ vẫn là họ như lúc ban đầu.

Cùng một người đó, nhưng lúc thì làm xằng làm bậy, lúc lại lấy việc giúp người làm niềm vui, điều này nói cho chúng ta biết, mọi thứ đều đang thay đổi. Cái nghĩa lý này nói cho chúng ta biết, chỉ khi Phật ở thế gian mới có thể hiểu được thế gian. Những gì quý vị đã làm trong quá khứ không có nghĩa là những gì quý vị sẽ làm trong tương lai: điển hình là nhiều vĩ nhân ngày nay đã phạm nhiều sai lầm trong quá khứ; Nhiều người chưa bao giờ phạm sai lầm khi còn trẻ, có thể sau này họ đã phải sống một cuộc đời rất thê thảm, bởi vì họ liên tục sai lầm. Cùng một người, cùng một việc, khi chúng ta sống ở thế gian này, phải coi sự vật này, sự việc này là một lối suy nghĩ non nớt. Khi quý vị dần dần hiểu rằng đây là một lối suy nghĩ chín chắn, thì thực ra quý vị đã biến phiền não thành Bồ Đề. Sư Phụ đưa ra ví dụ này với hy vọng mọi người có thể hiểu được người xấu này về sau họ sẽ trở thành người tốt, đó là một sự chuyển hóa, bởi vì phiền não này chính là “người xấu”, về sau đã thay đổi Bồ Đề tức là trở thành “người tốt” rồi.

Lục Tổ đã từng nói “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác”, nghĩa là đang nói với chúng ta rằng, chúng ta không bao giờ được rời bỏ thế giới này hay bỏ lại những phiền não của chính mình để tìm kiếm Phật pháp ở nơi nào khác, loại trí tuệ mà bản thân quý vị vốn có đã đi đâu rồi? Mỗi người đều có trí tuệ vô lượng vô biên – trí tuệ của Đức Phật xuất phát từ trong trường thức thứ chín, trong A Ma La thức của Ngài mà có được. Vì vậy, quý vị phải ở thế gian để nhận thức sâu sắc được chân lý của thế gian, quý vị phải đảo ngược tất cả phiền não thế gian này, biến tất cả phiền não của thế gian này thành Bồ Đề diệu dụng. Khi đó cả con người, cả cuộc sống của quý vị đều ở trong Bồ Đề. Lấy một ví dụ đơn giản, cả cuộc đời quý vị đã có kinh nghiệm trong lĩnh vực này và quý vị là chuyên gia trong lĩnh vực đó. Quý vị có quá nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này, vấn đề gì cũng gặp qua, cuối cùng vấn đề gì cũng có thể giải quyết được, thì có phải quý vị là chuyên gia Bồ Đề về phương diện này không? Nếu không có hỷ nộ ái lạc của nhân gian, thì Đức Phật lấy cái gì để thuyết pháp cho mọi người nghe? Đức Phật năm đó ở nhân gian dạy cho chúng ta biết rất nhiều về Phật pháp, là thông qua rất nhiều câu chuyện, rất nhiều khổ nạn và hỷ nộ ái lạc của nhân gian. Đức Phật dùng phương pháp gì để tiếp dẫn chúng sinh như chúng ta? Đức Phật chính là dùng những hỷ nộ ái lạc này nói cho chúng ta biết nhân sinh vô thường, nhưng ở thượng thiên có hạnh phúc, nhân gian có khổ nạn, những khổ đau và hạnh phúc này có thể làm cho chúng ta hiểu được: Muốn lìa khổ được vui, thì nên đến thượng thiên sống cùng với Bồ Tát. Pháp môn của đạo Phật là để Đức Phật, và nhiều vị Bồ Tát đến dạy cho chúng ta biết: “Quý vị muốn tu thành, thì Bồ Tát sẽ tới tiếp dẫn quý vị”.

Trên thực tế, chư Bồ Tát và chư Phật là chuyên gia nghiên cứu phiền não học, và họ là kỹ sư trong lĩnh vực về tinh thần. Họ là những tiến sĩ, giáo sư vĩ đại. Họ có thể giải thoát chúng ta khỏi những phiền não và giúp chúng ta nghĩ thông suốt. Bản thân Bồ Tát chính là từ trong phiền não đạt được trí tuệ, quán triệt phiền não, nên có thể hiểu được nỗi khổ và khổ nạn của tất cả chúng sinh. Vì thế các Ngài mới có thể thiết lập đủ loại cách thu phục phiền não và dùng diệu pháp để chuyển phiền não thành Bồ Đề. Có nhiều điều trong nhân gian. Lấy một ví dụ đơn giản, tòa nhà của chúng ta đã xảy ra chuyện gì mà bị vỡ ống nước hay dột nhà, quý vị nghĩ sẽ không thể giải quyết được nhưng khi quý vị tìm đến các chuyên gia như kiến ​​trúc sư, kỹ sư, họ bảo quý vị sửa chỗ này một chút, chỗ kia một chút, lập tức liền giúp quý vị giải quyết được ngay. Làm sao họ có thể giải quyết được như vậy? Nếu trước đây họ không xây nhà, không sửa chữa, thì sẽ không biết chỗ nào bị dột – nếu họ không từng gặp những phiền não trong quá khứ, thì hôm nay liệu họ có thể giúp chúng ta sửa nhà nhanh như vậy không? Nếu ngày nay chúng ta không hiểu Phật pháp và không hiểu nỗi đau khổ của chúng sinh, liệu chúng ta có thể giúp chúng sinh giải quyết những phiền não của họ không? Quý vị cũng không thể giải quyết nỗi đau khổ của chúng sinh với một cái đầu đầy kinh luận. Vậy nên, “Lìa thế tìm Bồ đề. Giống như tìm sừng thỏ.” Nếu quý vị rời khỏi thế gian này và nói: “Tôi muốn tìm Phật pháp”, thì chẳng khác nào quý vị đi tìm một con thỏ có hai sừng trên đầu trong nhân gian. Bởi vì thỏ không có sừng trên đầu nên quý vị không thể tìm thấy một con thỏ nào có sừng trong khắp thiên hạ. Câu này chính là đại cương chung của Thiền tông.

 

Tập 92
CẢNH CHUYỂN NHƯNG TÂM KHÔNG CHUYỂN

(20/06/2020)

Ở thế gian tu hành, không rời thế gian giác. Có người nói đến việc tu tập và luôn đi bế quan (nhập thất), tìm nơi thanh tịnh, nhưng có bao nhiêu người đã bế quan thành công? Cho nên xưa có câu nói: “Chưa phải là Bồ Tát, sẽ không toạ thiền trên núi; vẫn chưa khai ngộ không thể bế quan”. Chỉ những người thật sự khai ngộ mới có thể bế quan. Nếu chưa ngộ thì dù ngồi trên núi cũng chỉ có thể trầm tư suy nghĩ. Bế quan là chuyện mà chỉ những người có căn cơ vững chắc mới có thể làm được, không phải ai cũng có thể bế quan. Có một số người không hiểu Phật pháp ở thế gian, chỉ khi ở thế gian, quý vị mới có thể giác ngộ được. Nhiều người hoàn toàn không hiểu đạo Phật, cũng không biết trí tuệ bắt nguồn từ phiền não. Nếu dùng loại tư duy này mà đi bế quan, quý vị sẽ càng ngày càng tự kỷ, không muốn tiếp xúc với người khác, không thể hiểu được sự thức tỉnh của thế gian, và cuối cùng quý vị sẽ khép mình lại. Khi phiền não ập đến sẽ không tìm thấy được trí tuệ. Có vài người bế quan, lúc thì nhớ nhà, lúc thì nhớ bạn bè, lúc thì thích náo nhiệt, cuối cùng bế quan không được mấy ngày liền kết thúc. Nhưng có một số người lại muốn giữ thể diện và đã hứa sẽ bế quan bao nhiêu ngày: “Tôi nhất định phải có dũng khí để kiên trì”, kết quả là sau khi bế quan, nhiều người đã lạc lối và mắc bệnh. Còn có người bế quan trong thời gian dài, cuối cùng họ trở thành người không nghĩ tới bất kỳ điều gì và nói: “Tôi muốn trống không, tôi muốn trống rỗng”, họ đều không nghĩ đến bất cứ điều gì, hoàn toàn biến thành một người không có tư duy, thì họ lấy đâu ra trí tuệ Bồ Tát?

Bế quan là một đại trí tuệ, phải nhìn nhiều vào chính mình, nhìn những việc mình đã làm, nhìn những việc mình đã gặp phải ở nhân gian, vận dụng chúng để đối chiếu – đừng quán chiếu bản thân mà hãy quán chiếu tâm. Đừng quán chiếu bản thân nghĩa là gì? Đừng quán chiếu về thân thể của chính mình. Quý vị phải quán chiếu về sự trống rỗng của tâm mình và chiếu kiến ngũ uẩn giai không. Phật pháp thực chất chính là phương pháp Đốn giáo mà Đức Phật truyền lại cho chúng ta. Thế gian (“thế” thực chất có nghĩa là sự truyền bá của Phật giáo trên thế gian; “gian” chính là giới hạn), tức là lưu truyền ở thế gian này. Phật pháp ở tại thế gian không cần rời khỏi thế gian để đi cầu Chánh giác. Vậy nên, Nho giáo nói rằng: “Đạo bất viễn nhân. Nhân chi vi đạo nhi viễn nhân, bất khả dĩ vi đạo”. (đạo ở ngay bên cạnh chúng ta, người vì cầu đạo mà rời khỏi càng nhiều chúng sinh thì không thể thành công và sẽ không cầu được đạo)

“Đạo bất viễn nhân”, nghĩa là đạo ở ngay bên cạnh chúng ta; “Nhân chi vi đạo nhi viễn nhân” nghĩa là người vì cầu đạo mà rời khỏi càng nhiều chúng sinh; “Bất khả dĩ vi đạo” nghĩa là không thể thành công và sẽ không cầu được đạo. Vì vậy, những người thực sự muốn thành Phật nhất định phải ở trong chúng sinh, mà không phải rời khỏi chúng sinh, cũng như rời khỏi thế gian. Khi tu hành một mình trong núi, họ không gánh vác được trách nhiệm mà bản thân cần phải gánh vác, và không có được nhân, nghĩa, lễ, trí, tín mà họ cần phải có, họ nói: “Tôi muốn tìm kiếm giác ngộ, tìm Phật đạo”, cũng giống như muốn tìm thấy con thỏ có hai sừng trên toàn thế giới vậy, thực ra là họ đã rời xa tự tánh thực sự của chính mình.

Đức Phật đã từng giải thích cho chúng ta tất cả các pháp trên thế gian trong 《Kinh Pháp Hoa》 rằng: Như thị tướng, Như thị tính, Như thị thể, Như thị lực, Như thị tác, Như thị nhân, Như thị duyên, Như thị quả, Như thị báo và Như thị bản mạt cứu cánh đẳng – đây là câu cuối cùng, nghĩa là bắt đầu và kết thúc nhất định là như vậy. Bồ Tát thực ra là cho chúng ta biết, bổn tánh vốn đã có sẵn, tất cả những gì quý vị thấy: nhân, quả, duyên phận, thọ báo, tất cả đều vốn tồn tại, đây chính là tùy duyên. Sau khi học được 10 đại yếu lĩnh, quý vị sẽ có thể nhìn thấy hàng ngàn cái như vậy trong hàng trăm cõi, tức là có hàng ngàn loại “như thị” trong bất kỳ pháp giới nào, nhưng thực chất chúng đều giống nhau. Bất kể chúng ta muốn du lịch đến quốc gia nào, ngắm tới ngắm lui, không phải ngắm núi thì cũng là ngắm nước, không phải ngắm bãi biển thì cũng là ngắm bờ biển – như thế đó, hết thảy đều là như thế.

Điều mà thế gian thật sự giác ngộ thành tựu đó là Nhất Tướng Tam Muội và Nhất Hạnh Tam Muội, cho dù có cả ngàn hay chỉ có một cũng giống như vậy. Bất kể quý vị học Phật bằng pháp môn nào, cuối cùng đều là Nhất Tướng Tam Muội và Nhất Hạnh Tam Muội. Hôm nay vì thời gian có hạn, lần sau Sư phụ sẽ giảng và giải thích cặn kẽ cho mọi người về Nhất Hạnh Tam Muội và Nhất Tướng Tam Muội.

Cuối cùng Sư phụ kể cho mọi người nghe một câu chuyện. Sự vô thường của cuộc sống nhắc nhở mọi người về ý nghĩa thực sự của cuộc sống. Ý nghĩa thực sự của cuộc sống đúng là vô thường. Nhiều người sẽ sống nếu vượt qua được cửa ải này. Cửa ải này chết, thì họ cũng sẽ chết theo. Có bao nhiêu người đã rời khỏi thế giới này như thế đó, nào có cái gì có thể đi lưu luyến? Sinh không mang đến, chết không mang theo. Về cuộc sống, nó nhắc nhở chúng ta về cái chết, nên trên đời này không ai sẵn sàng nói về việc mình sẽ làm gì trong tương lai hoặc sau khi chết sẽ làm gì. Mặc dù cái chết là một quy luật không thể cưỡng lại được, nhưng sự xuất hiện của nó khiến con người không thể chối bỏ và chấp nhận được nên con người rất đau khổ.

Có một vị Tỳ kheo tu hành, tâm của ông thường bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh bên ngoài. Cũng giống như việc tu hành của chúng ta hiện nay, chúng ta cũng thường bị ảnh hưởng bởi danh, lợi, sắc dục bên ngoài. Đức Phật liền dạy cho vị ấy biết phương pháp tu hành: “Này Tỳ kheo, khi ông tu hành tâm dễ tán loạn, và ông không đặt chữ “chết” ở trong lòng. Nếu ông có thể hiểu được sự vô thường của cuộc sống thì mọi thanh sắc bên ngoài sẽ không cám dỗ được ông. Thực ra, ý của Đức Phật là muốn nói với ông: Nếu ông giữ cái chết trong lòng, ông sẽ không chấp nhận các loại cám dỗ của xã hội đối với ông. Bây giờ Đài trưởng giảng cho quý vị, nhưng có thể quý vị vẫn chưa hiểu. Hãy nghe Sư phụ giải thích từ từ.

Lời của Đức Phật tình cờ có một vị quốc vương nghe được, vị quốc vương này nghĩ thầm: “Chỉ cần đệ tử của Phật nhớ đến chữ “chết”, họ sẽ không bị thế giới bên ngoài lay chuyển, và tâm trí họ sẽ được an định, dễ dàng như vậy sao? Ông liền muốn thử xem. Chuyện xảy ra ở nước họ có một người vu khống các Tỳ kheo, người đó nói: “Các Tỳ kheo cũng là người, mặc dù xuất gia, chẳng lẽ trong lòng họ không tham muốn thú vui của ngũ dục vọng sao?” Vua bèn sai người: “Người đâu, hãy bắt lấy hắn.” Hắn ta bị kết tội xúc phạm thánh nhân nên bị kết án tử hình, và vua nói với hắn: “Nếu ngươi muốn được miễn án tử hình, bây giờ hãy lấy một bát đầy mật ong và đi quanh chợ. Nếu ngươi không làm nhỏ ra một giọt nào, ta sẽ tha thứ cho ngươi, bằng không sẽ không tha tội chết.”

Quốc vương đã bố trí rất nhiều âm nhạc, ca hát, nhảy múa, tiếng đàn ngọt ngào và nhiều mỹ nữ có vẻ đẹp như mây bên cạnh khu chợ nơi tội phạm đi qua để người khác khi nhìn thấy đều cảm động. Lúc này, tên tội phạm cầm lấy một bát mật ong, vì trong đầu hắn chỉ nghĩ đến chữ “chết”: “Nếu hôm nay một giọt mật nhỏ ra ngoài, thì mình sẽ chết chắc rồi”. Và hắn ta cứ nghĩ “ôi trời, đừng chết, đừng chết”, cứ như thế hắn ta đi hết con phố này.

Quốc vương hỏi: “Ngươi đã đi xong rồi, vì mật không nhỏ ra ngoài, nên trẫm tha cho ngươi tội chết. Nhưng trẫm muốn hỏi ngươi, ngươi có nghe thấy tiếng gì ngoài đường không?”

“Thưa bệ hạ, không.”

“Ngươi có nhìn thấy ai không?”

“Không.”

“Chẳng lẽ ngươi không nghe hay nhìn thấy âm nhạc và kịch ca múa trên đường phố sao?”

“Tâu bệ hạ, trong tay thần có một bát đầy mật ong. Chỉ cần nhỏ một giọt ra sẽ phải chết. Cho nên thần luôn ghi nhớ cái chết trong tâm, nên không biết bên ngoài đang xảy ra chuyện gì.”

Quốc vương nói với tội nhân: “Đức Phật nói đúng. Nếu giữ cái “chết” trong tâm và biết đời là vô thường thì mọi thanh sắc đều không thể cám dỗ được người khác. Ngươi nói tu sĩ cũng là con người. Điều này đúng, nhưng vì trong lòng họ biết rằng thế gian là hư ảo, có sống tất có chết, thì họ tham luyến ngũ dục ở chỗ nào? Vậy tại sao ngươi lại phỉ báng các bậc Thánh giả?” Khi hắn ta nghe quốc vương giảng, giác ngộ sâu sắc, từ đó không còn phỉ báng Phật nữa.

Cuộc đời con người không phải lúc nào cũng ở trong hoàn cảnh và tâm tình giống nhau, nên đời người lận đận, không xảy ra chuyện này thì xảy ra chuyện khác và luôn không có được sự bình yên. Chúng ta phải hiểu rằng cuộc sống là vô thường. Con người không nên giữ quá nhiều nỗi khổ trong lòng. Ngoại cảnh đang thay đổi, nhưng tâm của chúng ta không nên thay đổi, đây chính là tu hành. Bởi vì không có gì đau đớn hơn cái chết, cho nên khi quý vị không chịu nổi sự cám dỗ, quý vị thử nghĩ xem, điều này còn đau khổ hơn cái chết sao? Quý vị có thể đã vượt qua được một kiếp nạn. Đừng coi những việc đơn thuần trên thế gian là rất nghiêm trọng, bởi vì như vậy quý vị sẽ sống rất đau khổ trên thế gian này.

Mỗi ngày quý vị có thể nhìn thấy rất nhiều lỗi lầm và sai lầm của chúng sinh, rồi quý vị sẽ giúp họ gánh chịu nghiệp chướng, và quý vị sẽ cảm nhận được bản thân đang rất đau khổ. Nếu đúng như vậy, quý vị hãy sám hối ngay lập tức, đó mới là tu hành. Khi con người sống trên thế gian, hạnh phúc và thanh tịnh, sẵn sàng chịu sự cô đơn, cốt lõi nhất đều là một loại cảm giác. Rời xa thị phi tự nhiên sẽ không có lỗi lầm, tai trong sạch, sẽ từ bỏ lời nói phù phiếm, thường niệm Phật hiệu để bịt miệng lưỡi, đại đạo vô ngôn tâm tự nhiên. Cho nên đừng nói bừa, đừng bình luận tùy tiện, đó là trí tuệ. Chúng ta, những người học Phật, phải vượt qua mọi phiền não, chỉ có những người thoát khỏi đau khổ và đạt được hạnh phúc mới được gọi là người trí. Người khôn ở trên, kẻ ngu ở dưới. Hãy học Phật cho tốt và chúng ta sẽ cùng nhau leo ​​lên Tứ Thánh. Cảm ơn đại chúng.

Đốn giáo có hai nghĩa:

Dạy cho thành tựu tức khắc.

Dạy cho bằng giáo pháp vắn tắt Đại Thừa.

Đốn giáo là phép dạy cho ngộ nhập mau chóng, tốc hành Phật quả.

Đối với hạng chúng sanh thuần dục, cơ duyên đều đủ rồi, liền thuyết cho giáo lý Đại Thừa, đưa thẳng lên ngôi vị Phật, đó là đốn giáo.

 

Tập 93
NHẤT TƯỚNG TAM MUỘI , NHẤT HÀNH TAM MUỘI

(27/06/2020)

Được rồi, hôm nay Đài trưởng tiếp tục giảng với mọi người về 《Bạch Thoại Phật Pháp》

Ở nhân gian chúng ta đều có rất nhiều dục vọng, bởi vì dục vọng giống như cá mập cắn chặt lấy chúng ta, cho nên mỗi ngày chúng ta sống trong dục vọng, cái này cũng muốn, cái kia cũng đoạt, cái khác cũng không nỡ buông. Cho dù quý vị có tâm thái như thế nào, thì cũng nên học cách “năng xả chi đạo” đối với ham muốn của mình. “Năng xả chi đạo” là gì? Nghĩa là từ bỏ và xả bỏ. Có được “năng xả chi đạo” tức là có thể buông bỏ và giải thoát bất kể thiện duyên hay ác duyên trên thế gian này. Đây là một khả năng đặc biệt của con người chúng ta. Nếu ngày hôm nay quý vị có thể giải thoát bản thân khỏi những dục vọng, nghĩa là quý vị đã có được một loại sức mạnh thần thông. “Tôi không bị dục vọng khống chế. Hôm nay tôi rất thích những thứ như thế này, nhưng tôi nói không mua là không mua; hôm nay tôi rất thích những thứ như thế kia, tôi nói bỏ là bỏ”, những thứ bản thân yêu thích, những việc thiện, ác, tất cả đều phải xả bỏ, bởi vì trên thế gian này, sinh không mang đến, chết không mang theo. Nhất là phải học cách xả bỏ, xả bỏ đi phiền não của bản thân, bởi vì phiền não sẽ làm quấy nhiễu tâm trí của quý vị, khiến quý vị không buông xuống được. Cắt bỏ đi nghiệp lực vướng mắc cũng là một loại buông bỏ. Đừng nghĩ rằng dường như dục vọng đang ám ảnh thân tâm quý vị khiến cho quý vị không thể buông bỏ được, vẫn có thể cắt bỏ được như thường, bởi vì sau khi xả bỏ liền đạt được giải thoát. Dùng cách gì để cắt bỏ đây? Đó là dựa vào tu hành mỗi ngày, ví dụ chúng ta tu tập mỗi ngày, lạy sám hối; có đôi khi nhận được sự gia trì của Cao Tăng Đại Đức, dù có được gia trì này quý vị cũng phải cắt bỏ; có khi dựa vào trí tuệ, cũng giống như nhiều người không thể giải thoát được ra khỏi lưới tình, nếu có một vị trưởng giả có trí tuệ nói với họ: “Hãy buông xuống, tất cả đều là trống không. Hãy nghĩ xem sau vài năm, người đó có còn sống cùng với bạn như thế nữa không?” Sau khi đó người này sẽ suy nghĩ lại, đã nghĩ thông, có được trí tuệ dần dần học cách xả bỏ, tu sửa tiêu hết đi nghiệp chướng của bản thân. Người như thế chính là người có năng lực.

Tu tâm phải có bền lòng cùng tâm Kim Cang bất hoại. Tâm Kim Cang bất hoại nghĩa là phải có căn nguyên và nhân duyên thiện nhất định, bởi vì người có được những nhân duyên này, họ có thể cảm ứng được chư Phật, chư Bồ Tát cùng các vị hộ pháp khác nhau, khiến họ đạt được sức mạnh của sự gia trì. Giống như khi chúng ta gặp chuyện gì đó cảm thấy vô vọng, nhưng tại sao có một số người có khả năng chiến thắng được phiền não của chính mình? Bởi vì họ biết “Quán Thế Âm Bồ Tát nhất định sẽ cứu tôi, tôi nhất định sẽ nhận được sự gia trì của Quán Thế Âm Bồ Tát”, từ trong tâm họ thực sự tiếp xúc với Phật tánh của chính mình. Quý vị có chư Phật Bồ Tát ở trong tâm hộ trì cho quý vị, thì quý vị đã có được tâm Kim Cang bất hoại, vì thế cảnh giới tu tâm của quý vị sẽ tăng lên càng lúc càng nhanh.

Đôi khi con người chúng ta không đủ trí tuệ, không thể phân biệt được thật giả ở thế gian này sẽ lầm đường lạc lối, chúng ta sẽ làm những điều tà, học tà pháp, và đi vào tà đạo. Vì sao? Sự chấp trước trong việc học Phật sẽ khiến quý vị không ngừng theo đuổi những gì mình cần đạt được, trong đó bao gồm cả những việc theo đuổi Thần linh. Điều đích thực là phải học cách tịch tĩnh. Tịch tĩnh theo cách nói ngày nay có nghĩa là “Tôi ở trong thế giới này cái gì cũng không nhìn thấy, cái gì cũng không nghe thấy, trong tâm bình thản như nước, tĩnh lặng như nước.” Bằng cách này, niềm vui của Pháp sẽ thường xuyên chuyển hóa nỗi buồn và phiền não của quý vị, quý vị sẽ đạt được thành tựu của việc học Phật. Rất nhiều người chỉ là không biết cách chuyển hóa nội tâm của mình. Họ cảm thấy rằng trên thế gian này, nên xem thì cần phải xem, nên được thì cần phải được, nên có cần phải có. Thực ra, nếu quý vị có được những gì quý vị không nên có, nó sẽ mang đến cho quý vị phiền não và đau khổ; nếu quý vị nhìn thấy những gì quý vị không nên thấy, quý vị sẽ cảm thấy khó chịu; nếu quý vị nghĩ về những gì quý vị không nên nghĩ tới, quý vị sẽ cảm thấy hoảng hốt và sợ hãi sau khi nghĩ về nó. Giống như khi chúng ta xem nhiều bộ phim, có một vụ án mạng xảy ra ở đó, có một người tình cờ đi ngang qua và nhìn thấy nó. Sau khi người đó bị kẻ sát nhân nhìn thấy, chúng sẽ bắt đầu truy sát. Nếu quý vị nhìn thấy điều gì đó mà quý vị không nên thấy, quý vị sẽ luôn bị nỗi sợ hãi chiếm hữu trong tâm mình. Làm sao chúng ta có thể tu tâm ở cõi người? Thật ra tu tâm chính là tu cho đến khi tâm yên tĩnh, tu cho đến khi tâm an lạc, tu cho đến khi tâm không tham, không bám chấp và có được pháp hỷ từ bên trong. Vì vậy, người thực sự có thể giải thoát là người có được Pháp hỷ; Người thật sự có thể giải thoát, người đó mới là người cả đời yên tĩnh và yên bình.

Phật không khác gì chúng sinh. Phật ở trong tâm chúng ta. Khi trí tuệ của chúng ta được nâng cao thì chúng ta chính là Phật. Vì vậy, đừng nghĩ rằng Phật cách chúng ta rất xa, dùng lời bây giờ mà nói, Phật chính là cảm ứng trong tâm chúng ta. Khi quý vị đã cảm nhận được Phật ở trong tâm mình, không khác gì chính mình, thì đó chính là “Nhất tướng” mà trong giới đạo Phật đề cập đến. Nếu không có gì khác biệt, vậy rõ ràng là cùng một tướng rồi.

Tam Muội là gì? Đó là dùng Chánh định nhận thức Nhất Tướng của pháp giới, không có gì khác biệt, để cho quý vị hiểu được chân lý không có gì khác biệt giữa Phật và chúng sinh: Phật và chúng ta đều giống nhau, không có gì khác biệt; Bởi vì trong tâm chúng ta có Phật, bởi vì trong thức A Ma La của chúng ta có Phật tánh, cho nên chúng ta và Phật không có bất kỳ sự khác biệt nào. Điều này trong Phật giáo gọi là Nhất Tướng Tam Muội. Đây là hai câu dụng từ mà Phật giáo thường nói đến: Nhất Tướng Tam Muội, Nhất Hành Tam Muội. Nói cách khác, niệm Phật tức tâm là Phật, nhiều người thường nói người trong lòng có Phật, khi họ vừa niệm Phật thì trong lòng liền có Phật. Nhiều người trong lòng có ma, “Tôi nhất định phải có được một thứ gì đó”, dục vọng của họ sẽ thúc đẩy họ liều lĩnh muốn có được rất nhiều thứ ở nhân gian, bao gồm tình cảm, vật chất, danh lợi, cuối cùng tâm niệm của họ trêu chọc ma, nên tâm của họ mới bị ma ám.

Vọng tưởng là phàm phu, Sư phụ nói cho mọi người biết thế nào gọi là vọng tưởng là phàm phu. Bởi vì quý vị suy nghĩ lung tung, không đáng nghĩ cũng nghĩ, chỉ cần suy nghĩ thêm một chút thôi là có thể hiểu rõ đạo lý, thế nhưng mỗi ngày đều suy nghĩ lung tung. Lấy một ví dụ đơn giản, một người thực sự có nhiều tiền sẽ không nghĩ đến việc mua vé số mỗi ngày. Nhưng những người muốn phát tài hàng ngày họ có thể liên tục mua nó trong mười hoặc hai mươi năm. Đây chính là điều chúng ta thường nói, nếu tâm niệm của quý vị muốn phát tài, thì quý vị sẽ bị tiền bạc và ma chướng tài lợi làm cho mê hoặc. Nói về Nhất Hành Tam Muội chính là diệu pháp trong tu hành tu trì, “Hành” nghĩa là quý vị nên tu hành như thế nào (Nhất Tướng Tam Muội nghĩa là cách hiểu như thế nào), “Nhất Hành” nghĩa là diệu pháp trong tu hành tu trì, quý vị dùng một phương pháp phi thường ảo diệu mà tu cho tốt, thì quý vị liền có được Nhất Hành Tam Muội. Vậy nên nói chung, Nhất Hành Tam Muội và Nhất Tướng Tam Muội, trong đó Nhất Tướng Tam Muội là nói về một số nền tảng theo phương diện lý luận, Nhất Hành Tam Muội là nói về thực tiễn; Nhất Tướng Tam Muội là nói về trí tuệ, Nhất Hành Tam Muội là nói về thiền định. Đây đều là trí tuệ vô cùng cao thâm của Phật pháp.

Có thể làm được tùy duyên tự tại, ở nhân gian nhất định phải tùy duyên, người tùy duyên chính là một người tự tại. Nếu không vặn vẹo với người khác, thì quý vị cũng rất tự tại. Người rất tự tại, vĩnh viễn là tùy duyên, người khác nói gì, họ đều là “Ồ, không sao đâu”. “Đến nhà hàng này ăn?” “Được được được, vậy cũng rất tốt, nhưng nhà hàng này chỉ có hai món là đặc sắc thôi.” “Hay là chúng ta đến nhà hàng kia đi.” “Được được được, nhà hàng kia có món ăn đó tôi cũng rất thích.” Loại người này có được sự tự tại không? Đi đâu cũng là nơi mà trong tâm họ muốn đi cả.

Phải có được thiện tâm, 《Kinh Kim Cang》 đã từng dạy chúng ta rằng khi làm bố thí, không nên luôn luôn ghi nhớ mình đã làm gì. Hôm nay quý vị đang làm việc thiện, đừng nhớ rằng “Tôi đang làm việc thiện”. Hôm nay quý vị đang giúp đỡ người khác, đừng nghĩ rằng “Tôi đang giúp đỡ người khác”. Quý vị không nên nhớ đã làm điều gì đó và giữ trong lòng chuyện vừa mới làm mà nhớ mãi không quên. 《Kinh Kim Cang》 dạy chúng ta làm việc thiện mọi lúc mọi nơi, bố thí bằng tâm, hoằng pháp bằng đạo đức, phải có được tâm “Không từ đâu đến cũng chẳng đi về đâu”. “Hôm nay tôi đã làm việc thiện như thể tôi chưa từng làm việc thiện”, việc thiện này tồn tại, nhưng nó trôi qua trong tâm quý vị. Việc thiện đó tồn tại, và nếu quý vị không bám vào sự tồn tại của việc thiện mà quý vị đã làm, thì quý vị sẽ có được một cảnh giới cao thượng. Người thường hay giúp đỡ người khác, không nên lúc nào cũng nói “Tôi thường xuyên giúp đỡ người khác”, cái tâm này đến và đi không dấu vết, bởi vì giúp đỡ người khác chính là một loại từ bi. Giống như rất nhiều nhà từ thiện, họ đi khắp nơi để làm từ thiện, họ đi khắp nơi để gieo hạt giống tình yêu thương và lòng nhân ái, nhưng họ không bao giờ cảm thấy rằng họ đang gieo hạt giống ấy. Trên thực tế, những hạt giống mà họ gieo sẽ khỏe mạnh và phát triển tốt hơn. Bởi vì khi người khác nhìn thấy hạt giống yêu thương này của quý vị, họ tin rằng đó là hạt giống duy nhất, bởi vì quý vị không có cái tâm nào khác ở bên trong, chỉ là một trái tim biết cho đi, “Tôi vô duyên đại từ, tôi vô duyên đại bi”. Tôi tin rằng đây chính là một trong những bất nhị pháp môn, toàn tâm toàn ý đi trợ giúp người khác chính là bất nhị pháp môn. Có đôi khi, chúng ta hiểu rõ một sự việc nào đó, giới Phật pháp gọi là “kiến địa”, là một loại lý luận. Thực ra Nhất Tướng Tam Muội là nói về một loại trí tuệ. Nhất Hành Tam Muội là nói về thiền định, phải định lại được. Dù sao đi nữa, thực tiễn và lý thuyết phải kết hợp với nhau. Giống như quý vị hiện tại đang nghe giảng pháp, đây chính là nền tảng của lý luận: sau khi nghe xong thì đi bố thí, khi bố thí thì không nên chấp tướng, cảm thấy đây là việc nên làm, đây chính là trí tuệ lớn nhất của Nhất Tướng Tam Muội.

Lục Tổ từng phối hợp Định và Tuệ. “Định” có nghĩa là tâm con người phải định lại được; “Tuệ” là một loại trí tuệ. Trí tuệ có thể chuyển động, nhưng tâm thì bất động, nên sự kết hợp giữa Định và Tuệ là pháp môn tu hành theo như lời lục tổ Huệ Năng đại sư nói – nhất thiền định. Thiền là một loại trí tuệ, Định là một loại tu dưỡng. Làm thế nào một người có thể đạt được Định và Tuệ đây? Đó chính là phải giữ Giới. Chỉ khi nào quý vị có thể giữ giới thì quý vị mới có thể định lại được; chỉ khi quý vị giữ giới thì quý vị mới có được trí tuệ. Lục Tổ kết hợp Định và Tuệ thành một để tu hành dựa trên nền tảng của giới luật. Thiền tu tạo ra trí tuệ như như bất động. Bề ngoài, có vẻ như như bất động, nhưng thực chất, trí tuệ bên trong giống như thủy triều cuồn cuộn, làm khuấy động trí tuệ Bát nhã vô tận trong lòng. Mọi người thử nghĩ xem, không có trí tuệ Bát nhã có thể tu tâm được không? Để thực hành được như như bất động là dựa vào trí tuệ mới có thể làm cho quý vị như như bất động. Người không có trí tuệ thì động đậy khắp nơi – nghĩa là thân thể họ đang chuyển động, tâm trí họ đang chuyển động, miệng họ đang chuyển động, mắt họ đang chuyển động, tai và tâm trí của họ cũng đang chuyển động. Họ rời bỏ trí tuệ Bát nhã bất cứ lúc nào. Phàm phu tục tử không thể đạt được Nhất Hành Tam Muội và Nhất Tướng Tam Muội vì tâm của họ bị dục vọng khống chế mỗi ngày, nên họ không có cách nào bài trừ yêu ghét cùng lấy hay bỏ của chính mình. Chỉ khi người học Phật thực sự quan tâm đến người khác hơn là bản thân mình thì đó mới đích thực là tu dưỡng công phu.

Mọi người phải luôn nghĩ rằng tất cả những điều chúng ta gặp trong đời này, dù là như ý hay bất như ý, đều là một loại thử thách đối với những người học Phật như chúng ta, và là kết quả của nghiệp mà chúng ta đã tạo ra từ vô thủy kiếp. Hãy suy nghĩ xem, nỗi khổ hôm nay chẳng phải là nghiệp chướng của kiếp trước sao? Quả ngọt của đời này chẳng phải là kết quả của những việc làm thiện ở đời trước sao? Vậy nên trên thế gian này, khi có tai họa và khó khăn ập đến, chúng ta phải học cách chấp nhận chúng mà không oán không hận. Trước hết, chúng ta có thể tiếp nhận nó và nên hiểu rằng tất cả đều do chính chúng ta gây ra, những đau khổ và hạnh phúc ở đời này đều do nhân của đời trước gây ra. Giống như một ngọn núi lớn, làm sao nó lại trở thành một ngọn núi lớn? Đó là sự tích tụ của bùn đất và đá chồng chất quanh năm. Một ngọn núi do chính chúng ta tự mình chất lên – đó là ngọn núi nghiệp chướng, nó cản trở chúng ta tu tâm tu hành nơi cõi người. Học cách chấp nhận sự tồn tại của nghiệp chướng cũng như chấp nhận “ngọn núi” này. Sự tồn tại của nghiệp chướng là điều tất yếu, nhưng những người học Phật như chúng ta phải tìm mọi cách để từ từ đào bỏ “ngọn núi” này. Muốn khai quật nó, trước hết trong tâm phải thừa nhận nó, và tin tưởng rằng “sẽ có một ngày núi nghiệp chướng này được đào bỏ”. Quý vị nghĩ xem ai mà không có nghiệp chướng? Tại sao nhiều người mắc chứng tự kỷ lại có cảm giác xấu hổ và luôn cảm thấy nhân cách của mình thấp kém hơn người khi nhìn thấy người khác? Bởi vì họ có nghiệp chướng, và nghiệp chướng của họ chồng chất lên người họ, khi họ nhìn thấy người khác cảm thấy bản thân xấu hổ, điều này không thể chấp nhận thử thách, điều kia không thể chấp nhận thử thách, khi gặp phải cảm xúc nhân gian, khi gặp phải cảnh giới nhân gian, ngay lập tức bị rối loạn.

Sư phụ nói với mọi người, phải thừa nhận rằng mọi người đều có nghiệp trong tâm. Khi quý vị nhìn vào tất cả mọi người, đừng nhìn họ nổi tiếng, giàu có và may mắn như thế nào mà chỉ cần nghĩ và thấy rằng họ đã tạo nghiệp tốt và xấu trong những kiếp trước giống như chúng ta, quý vị liền hiểu được kiếp này. Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên, chỉ cần quý vị tu tâm cho tốt và trau dồi thiện nghiệp ở kiếp này, thì khi tái thế quý vị sẽ giống như họ. Chẳng phải điều này sẽ loại bỏ được nỗi kinh hoàng và sợ hãi trong lòng quý vị rồi sao? Cần sĩ diện gì? Ai cũng như nhau. Điều đáng sợ nhất là nhiều người không thừa nhận mình có nghiệp, không nhìn thấy nghiệp của chính mình. Họ luôn cho rằng người khác sai còn bản thân họ đúng. Vô minh từ vô thủy kiếp tới nay, họ không những không phát hiện được nghiệp chướng của mình và đào bới phiền não của mình, mà ngược lại họ càng chất chồng thêm cộng nghiệp, chúng nghiệp, nghiệp của chính mình lên núi nghiệp đó, cái được nhiều hơn cái mất. Cũng giống như nhiều người, càng có được ít thì càng gây sự, càng gây sự thì càng không có được, càng có được ít thì càng gây sự… Cứ như vậy sống trong đống nghiệp chướng, khiến chúng ta phải liên tục chấp nhận những tư tưởng mà bản thân và cả người khác không thể chấp nhận được, chúng ta đào bới những đau khổ trong cuộc đời đầy những khổ đau, rồi lại tích lũy thêm những khối nghiệp chướng mà đáng lẽ ra chúng ta không nên có. Cứ như thế, nghiệp chướng của chúng ta lại to nặng như núi.

 

Tập 94
QUẢNG BỐ VÔ THƯỜNG TƯỞNG
(Truyền bá rộng rãi về tư tưởng vô thường)

(27/06/2020)

Người thực sự có trí tuệ phải hiểu được, mọi nỗi khổ đau day dứt gặp phải trên đời này đều là do sự biểu hiện nhất thời của nhân quả. Bởi vì sao? Đó cũng là khái niệm về thời gian, bởi vì quý vị đã không cẩn thận, bởi vì quý vị đã làm việc này, bởi vì quý vị đã làm việc này vào thời điểm này, nên mới hiện ra rõ quả báo này. Vì vậy sự hiển hiện của quý vị chỉ là một sát na, quý vị đạt được cũng là một sát na, quý vị mất đi cũng là một sát na, toàn bộ đều phải gánh chịu báo ứng.

Phải không lo, không hỷ, không sợ. Thế nào là không lo? Sống trên thế gian này biết nhân quả, sẽ không lo lắng, không trồng Nhân, sẽ không phải hứng chịu hậu Quả. Không hỷ, không có gì để vui, bởi vì hết thảy đều sẽ qua đi, cho nên vui cũng chỉ là tạm thời. “Tôi không có gì phải sợ, vì những gì tôi sợ thì nó cũng sẽ qua đi.” Đây chính là hai chữ mà người học Phật chúng ta thường nói đến, đó gọi là tùy duyên.

Người học Phật phải buông bỏ chấp trước và đừng cầu xin điều gì. Có gì mà phải bám chấp? Vì một câu nói, vì một động tác, vì lo âu, mà bám chấp vào nó không buông xuống được. Chấp trước: “Chấp” là cầm nó lên, “trước” là không ngừng nhìn nó. Vậy nên chúng ta thường nói “tập trung vào một sự việc nào đó”, nếu quý vị cứ ôm lấy phiền não hay nghiệp chướng không ngừng cầm lên và dán mắt nhìn chằm chằm vào nó, thì quý vị sẽ có điều mong cầu, tâm tùy duyên của quý vị sẽ hoàn toàn bị dục vọng phá hủy. Vì thế phải loại bỏ mọi tâm mong cầu, “Bất luận dục vọng gì tôi cũng không được có tham muốn nào cả”, bởi vì tất cả dục vọng đều sẽ mang đến cho quý vị tâm không tùy duyên, “Tôi không cầu gì, tôi buông bỏ mọi cố chấp của mình”. Chúng ta phải hiểu được có cầu chính là nguồn gốc của khổ đau phiền não, nếu không cầu thì khổ ở đâu ra? Tùy duyên chính là nguồn gốc của thoát ly lục đạo luân hồi. Vì vậy nếu quý vị có thể tùy duyên, tức là để cho bản thân hết thảy tự nhiên đến, tự nhiên đi, không có mong cầu gì. Đây là con đường dẫn đến giải thoát mà Đức Phật đã dạy. Đức Phật đã từng dạy với chúng ta về con đường giải thoát – người nào không có dục vọng thì tự nhiên được giải thoát, đó là phương châm của Sư phụ “Vô dục tâm tự nhiên như nước”.

Mỗi người chúng ta phải hiểu rằng khi thân tướng thanh tịnh và tâm thái thuần khiết thì nhân cách của người đó sẽ thăng hoa. Chúng ta dựa vào gì để phân biệt hai người khác nhau? Đó chính là dựa vào nhân cách-phẩm hạnh giữa họ để phân biệt. Làm sao phân biệt “Nhân Cách” của một ai đó cao hay thấp? Quý vị có biết “sách” trong thư viện sắp xếp ra sao không? Đó là theo từng ô, từng ô khác nhau theo các quy chuẩn khác nhau. Như vậy hôm nay Tâm quý vị đang đặt ở vị trí ô nào? Tâm quý vị thuộc về quy cách cao, quy cách trung bình, hay quy cách thấp, chính là dựa vào quy chuẩn đặt ra trong cái ô này? Nếu quý vị biết tu dưỡng tâm hồn, làm thanh sạch thân tâm khỏi những thú vui thấp kém tức là người có nhân phẩm trung bình. Nếu quý vị có thể mang những điều trong quá trình tu dưỡng và làm thanh sạch bản thân đi hướng dẫn mọi người và nhờ điều đó giúp đỡ người khác thoát khỏi khổ đau thì quý vị chính là người có nhân cách cao, đương nhiên phẩm hạnh của quý vị cũng cao. Quý vị cũng thấy có nhiều người lợi dụng và kiếm tiền từ người khác, nhất là kiếm tiền từ bạn bè, người thân. Những người này tất nhiên nhân cách sẽ rất thấp và phẩm hạnh cũng bị suy giảm nhiều. Làm thế nào để có thể nâng cao phẩm hạnh của chính mình? Đó là phải tiếp cận giáo lý của Phật Pháp! Tiếp cận những bậc hành giả ,những vị cư sĩ miên mật tu hạnh Phật, hạnh Bồ Tát hơn nữa những vị này phải luôn luôn thực hành quán chiếu bản thân theo như phẩm hạnh của Phật, Bồ Tát mà các vị ấy đang tu. Tất cả những điều này gọi là “Pháp Hành”. Người thường xuyên thực hành Pháp này và luôn luôn quán sát sẽ hiểu được “Tứ hạnh quán” là gì? Quý vị có làm gì thì cũng cần quán chiếu mọi việc sâu sắc thì mới có thể làm cho tốt cũng như viên mãn được. Muốn chấm dứt sanh-tử khổ đau, quý vị phải nỗ lực tiến tu nhận diện và chuyển hóa hết vô minh phiền não, có thế thì mới mong thành tựu được Phật quả

Một lần, Đức Phật du hóa đến vương quốc Kiều Tát La, thủ đô của thành Xá Vệ, Đức Phật sống trong vườn xoài của một Bà-la-môn tên là Đề-bà-đạt-đa, Tôn giả Upamana là thị giả của Đức Phật và chăm sóc Đức Phật. Lúc bấy giờ, Đức Phật bị cảm nhẹ, dẫn đến đau lưng (trước kia Đức Phật cũng mắc bệnh này), nên Đức Phật tìm Tôn giả Upamana và nói với Tôn giả: “Này Upamana, tôi bị cảm lạnh và dẫn đến bị đau lưng. Xin ông hãy mặc áo khoác vào và cầm bát khất thực đến nhà Bà-la-môn Đề-bà-đạt-đa xin cho tôi chút nước nóng.”

“Dạ được, thưa Đức Thế Tôn.”

Tôn giả Upamana đến nhà Bà-la-môn Đề-bà-đạt-đa, nhẹ nhàng gõ cửa rồi đứng ở cửa.

Lúc này, Bà-la-môn Đề-bà-đạt-đa đang cắt tóc trong phòng khách, ông nhìn thấy Tôn giả Upamana đang đứng ở cửa liền hỏi: “Này vị sư mặc áo cà sa đứng ở ngoài cửa kia, Ngài đang đứng im lặng ngoài cửa, là đang muốn xin gì phải không?”

Tôn giả Upamana trả lời: có “Bậc A-la-hán, Thiện Thệ sống ở vườn xoài bị phong hàn, đau lưng dữ dội. Ông có nước nóng hay thuốc men trị liệu gì có thể bố thí không?” Tôn giả hỏi vị Bà-la-môn.

Nghe Tôn giả Upamana nói, Bà-la-môn Đề-bà-đạt-đa đưa cho ông một bát đầy bánh ngọt, một chai dầu và một chai mật ong đá rồi nhờ người khác bưng nước nóng đi theo Tôn giả Upamana đến nơi ở của Thế Tôn. Tôn giả Upamana xức dầu lên thân Đức Phật, rồi rửa bằng nước nóng tiếp đó cho Đức Phật uống mật ong pha nước ấm. Với cách chữa trị này, chứng phong hàn và đau lưng của Đức Thế Tôn đã thuyên giảm.

Sáng sớm hôm sau, Bà-la-môn Đề-bà-đạt-đa đến viếng Đức Phật. Sau một phen ân cần thăm hỏi hàn huyên, Đức Phật liền hỏi: “Này các Bà-la-môn, các ông thực hành Pháp Bà-la-môn như thế nào? Ví dụ, bố thí cho người nào có thể đạt được đại quả báo? Bố thí vào thời điểm nào và bố thí cái gì, mới là phúc điền thù thắng?” (Quý vị xem Đức Phật khiêm tốn không? Ngài vẫn hỏi ý kiến các vị ​​Bà-la-môn.)

“Thưa Cù Đàm (thời đó Bà-là-môn đều gọi Đức Phật là Cù Đàm, tức là cách xưng hô với Đức Phật). Vị Thánh thành tựu nhất trong số những người Bà-la-môn chúng ta được gọi là Tam minh Bà-la-môn. Để trở thành Tam minh Bà-la-môn, cần có ba điều kiện: Thứ nhất, là một người thầy tốt có rất nhiều về kiến ​​thức và tri thức sẽ cho mọi người chánh tín chánh niệm; Thứ hai, có dòng máu Bà-la-môn thuần khiết; Thứ ba, tướng mạo đoan trang (quý vị hãy nhìn xem, trong xã hội nếu nhìn thấy một người có tướng mạo không đoan trang cho lắm thì sẽ cảm thấy trong lòng họ có tà niệm). Vậy nên người có thể bố thí Tam Minh Bà-la-môn thì có thể nhận được quả báo lớn, và bố thí cơm ăn, áo mặc bất cứ lúc nào chính là phước điền thù thắng nhất.”

Sau đó, Đề-bà-đạt-đa hỏi ngược lại Phật Đà: “Thưa Cù Đàm, Ngài nghĩ như thế nào mới là Bà-la-môn chân chính? Như thế nào mới là thành tựu Tam minh? Bố thí cho người nào để có thể đạt được quả báo lớn? Như thế nào mới là thời cơ thích hợp để bố thí? Bố thí như thế nào mới là phước điền thù thắng?”

Đức Phật nói: “Này Bà-la-môn, người thiện tri giải thoát, người có thể giải thoát tất cả tham, mới là Bà-la-môn chân chính (nghĩa là Phật Đà nói cho ông ấy biết, một người không tham chính là Bà-la-môn chân chính), người có được túc mệnh thông suốt ba đời (nếu người này có thể hiểu được kiếp trước, kiếp này và kiếp sau, có thể hiểu được những đạo lý này chính là túc mệnh thông), người có thể thấy được thiên nhãn thông của tất cả các chúng sinh (có thể biết được tất cả mọi thứ của tất cả chúng sinh ngày nay, niềm vui của quý vị hôm nay, nỗi buồn của quý vị hôm nay, phiền não của ngày hôm nay và hạnh phúc của ngày hôm nay, đều có thể nhìn rõ nhìn thấu, chính là người có được thiên nhãn thông), người lậu tận thông có thể đoạn hết phiền não (một người có thể đoạn hết phiền não, tức là người có thể loại bỏ hết tất cả phiền não. Chúng ta không cần phiền não, không sợ hãi, chúng ta không cần những thứ không phải là một phần năng lượng tích cực mà chúng ta nên có. Con người không nên có phiền não, không nên có bi thương, không nên khóc lóc, mà mỗi ngày nên sống trong tiếng cười. Tuy nhiên, con người chúng ta mỗi ngày đều mang trên mình đủ mọi khổ nạn. Những phiền muộn, ưu thương và thống khổ hàng ngày khiến chúng ta không thể tìm được cửa về nhà. Vậy nên chúng ta không thể trở thành người có được lậu tận thông), tức là bậc Thánh nhân đã đạt được Tam minh. (Nói cách khác, có thể dứt bỏ. Có được thiên nhãn thông, túc mệnh thông, quý vị chính là một vị Thánh giả. Thực ra dùng ngôn từ hiện tại mà nói, người có thể nhìn xa, nhìn thấu và người có thể buông bỏ, thì họ chính là siêu nhân và là một vị Thánh nhân.) Quý vị có thể bố thí cho một vị Thánh giả như vậy bất cứ lúc nào, đó là quả báo lớn nhất và là phúc điền thù thắng nhất. Nói cách khác, ngày nay có thể ở cùng với Thánh nhân và có thể hiểu được những điều này, nghĩa là quý vị đã có được vô thượng Quang minh Bồ Đề. Vì vậy, ai gần gũi với trí tuệ và trí tuệ Bát nhã đều có thể học hỏi thêm, thấy nhiều hơn, hiểu biết nhiều hơn, học cách buông bỏ và nghĩ đến vô thường, bởi vì trên thế gian này hết thảy đều là vô thường. Quý vị thường nghĩ rằng “Những gì tôi có hôm nay sẽ mang lại cho tôi sự mất mát vào ngày mai, và những gì tôi mất mát hôm nay sẽ mang lại những gì tôi có được trong tương lai”.

Đức Phật thường hoằng hóa cho chúng sinh ở vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc. Có lần Ngài dạy các vị Tỳ kheo: “Này các Tỳ kheo, các ông nên suy nghĩ về tính vô thường của tất cả các pháp, và truyền bá rộng rãi ý tưởng về vô thường (tức là Đức Phật dạy cho chúng ta: Này các hài tử, các đệ tử, các con phải luôn nghĩ rằng mọi vật trong thế giới này đều sẽ qua đi, mọi thứ đều vô thường và không tồn tại lâu dài, vì thế hãy nghĩ về vô thường). Nếu đã suy nghĩ về nó và truyền bá rộng rãi tư tưởng về vô thường, thì các con có thể cắt đứt được tham ái của mình về cõi dục.”

Điều Đức Phật đã nói với các đệ tử của Ngài là thế này: Nếu tâm quý vị luôn tràn ngập những ý nghĩ vô thường, quý vị có thể cắt đứt được sự tham ái trong cõi dục. Mọi người hãy thử nghĩ xem, có phải như thế này không? Chúng ta yêu thích một thứ gì đó, nhưng thật ra sau khi chúng ta yêu thích thì nó lại mất đi, thứ như thế này “Tôi muốn”, khi đòi cho bằng được về nhà thì lại đặt nó ở đó, thứ kia “Tôi cũng muốn”, khi lấy về lại để đó và nó sẽ biến mất, bởi vì khi muốn được rồi, thì bước tiếp theo là vứt nó đi, hoặc cho đi, hoặc là bị hỏng. Vì thế, người nghĩ đến vô thường, thì họ sẽ không tham lam mà đem cho người khác, không quan trọng nữa. Cho nên có rất nhiều nam, nữ xinh đẹp, họ chỉ có một loại tham niệm mà thôi. Sư phụ muốn đưa ra ví dụ cho mọi người: Nếu một người đàn ông đẹp trai, anh ta hy vọng rằng tất cả các cô gái ở trước mặt anh ta sẽ chú ý đến anh ta để thỏa mãn lòng tự trọng của anh ta; Nếu có một cô gái trông tương đối xinh đẹp, cô ấy hy vọng rằng tất cả các chàng trai sẽ chú ý đến cô ấy. Tốt nhất là hãy để mắt đến cô ấy và theo đuổi cô ấy. Đây là một loại tham ái, theo thời gian sẽ trở thành thói quen, chỉ cần có người không nhìn cô ta, thì cô ta sẽ lập tức trở nên không vui.

Vì vậy, lời dạy của Đức Phật cách đây 2500 năm đã dạy chúng ta điều chúng ta nên chú ý đến ở nhân gian là gì – chúng ta nên buông bỏ những phiền não trong lòng và cắt đứt sự dính mắc của mình vào các cõi Sắc và Vô sắc. Nghĩa là ở cõi người, thực ra chúng ta cũng có cõi Sắc và cõi Vô sắc. Hãy suy nghĩ mà xem, ở nhân gian có một số người sống rất hạnh phúc. Họ muốn thứ gì có thứ đó, họ muốn mua bất cứ thứ gì họ muốn, cần có thứ gì liền có ngay. Đây chẳng phải họ đang sống trong cõi Sắc giới rồi sao? Tưởng tượng đến thứ gì họ liền có thể có được thứ đó, họ đã sống trong cõi trời Vô sắc rồi. Khi ấy, Đức Phật yêu cầu tất cả chúng sinh hãy diệt trừ vô minh. Những sở hữu này đều đi kèm với vô thường, phải luôn luôn nghĩ đến vô thường. Nếu quý vị coi điều này như vật sở hữu vĩnh viễn của mình, thì quý vị sẽ có vô minh – tức là không hiểu biết.

Sự kiêu ngạo sẽ dẫn đến phiền não. Nhiều người cảm thấy rằng họ có thể coi thường người khác và cảm thấy mình cao quý hơn người khác một khi họ đã có danh có lợi và kiếm được nhiều tiền, điều này sẽ dẫn đến phiền não. Nếu một số người không tôn trọng người khác, họ sẽ đánh mất sự tôn trọng của người khác đối với họ và điều này sẽ dẫn đến phiền não; lòng kiêu hãnh của chính mình sẽ khiến người khác coi thường, điều này lại làm tăng thêm phiền não.

Tam minh là trí tuệ của một vị đã chứng Thánh Quả A La Hán. Sau khi tịnh chỉ hơi thở, nhập Tứ thiền thì người đó hướng tâm đến Tam minh. Tam minh là thành tựu cuối cùng của bậc đã chứng Thánh Quả A La Hán. Khi đã có Tam minh thì người đó đã hoàn tất việc tu tập của mình: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa” (trích Trung Bộ Kinh).

* Túc mạng minh: tuệ giác sáng suốt biết rõ các kiếp sống đã qua của mình và của tất cả chúng sinh.

* Thiên nhãn minh: tuệ giác sáng suốt biết rõ các kiếp sống tương lai của mình và của tất cả chúng sinh diễn biến sinh diệt như thế nào.

* Lậu tận minh: tuệ giác sáng suốt nhận biết nguồn gốc sinh ra lậu tận hoặc phiền não và đau khổ và các pháp giúp đoạn trừ lậu hoặc, phiền não và đau khổ của mình và của tất cả chúng sinh để giải thoát.

Tam minh xuất hiện cùng với Lục thông.

 

Tập 95
TRIỆT NGỘ LÀ QUÁN VÔ THƯỜNG

(27/06/2020)

Có một số người không tôn trọng người khác, sẽ mất đi sự tôn kính của người khác đối với mình, vì thế họ mới sinh ra phiền não. Lòng kiêu hãnh của chính họ sẽ khiến người khác coi thường, điều này sẽ làm tăng thêm phiền não cho họ. Có một nhạc sĩ rất nổi tiếng, từng nhìn thấy một người phụ nữ ăn mặc rất đẹp trong một bữa tiệc và thản nhiên nói một câu: “Này cô gái, cô thật là xinh đẹp”. Không nghĩ rằng người phụ nữ này lại vô cùng tự hào, mắt không thèm nhìn ông, liền đáp: “Thành thật xin lỗi, thưa ông, tôi không thể khen ngợi ông bằng những lời tương tự”. Nào ngờ sự kiêu ngạo của cô gái ấy đã khiến người nhạc sĩ này phản bác, người nhạc sĩ này rất hài hước đáp lại: “Này cô, xin cô hãy nhớ, cô cũng có thể dùng sự hài hước tương tự để nói điều này với tôi.” Cũng có nghĩa là “Tôi khen cô xinh đẹp không phải là thật, mà là tôi nói đùa”. Một khi quý vị không tôn trọng người khác, thì người khác làm sao có thể tôn trọng quý vị? Sự kiêu ngạo trong nội tâm của quý vị sẽ đốt cháy Phật tánh và trí tuệ trong tâm quý vị. Vì thế, nhiều người không có trí tuệ nên họ mới tự hào, và người tự hào thì nhất định sẽ không có trí tuệ. Sư phụ nói với mọi người, diệt tận phiền não trong tâm là dựa vào trí tuệ, đốt hết u buồn trong tâm cũng là dựa vào trí tuệ Bát Nhã. Một người có thể đoạn tuyệt tất cả tham ái, họ liền có cơ sở để loại bỏ kiêu ngạo và loại bỏ ngạo mạn. Tham ái là do thiếu hiểu biết về tính vô thường của tất cả các pháp trên thế gian này.

Đức Phật nói, tại sao người tu Quán vô thường (tức là quán chiếu được tự tính vô thường của vạn vật) lại có thể đoạn tuyệt được chấp trước tham ái đối với cõi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới? Điều đó có nghĩa là Phật Đà nói cho chúng ta biết, quý vị thường xuyên tu Quán vô thường (tức là thế giới này là vô thường, hôm nay có, ngày mai không, hết thảy đều sẽ qua đi), nó có thể đoạn tận được tham ái chấp trước đối với cõi Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới, vĩnh viễn loại bỏ được vô minh và kiêu mạn. Bởi vì khi tu Quán vô thường, trong tâm quý vị sẽ không có tham ái và chấp trước. Thầy đưa ra một ví dụ đơn giản, hôm nay quý vị làm một chức vụ chủ tịch, và quý vị muốn ở vị trí này mãi mãi, bởi vì quý vị cảm thấy “nó là của tôi”. Nếu hôm nay quý vị trở thành chủ tịch, quý vị biết rằng “Sẽ sớm thôi, trước sau gì tôi cũng bị thay thế”, thì quý vị sẽ không tham ái cái chức vụ này và cũng không bám víu vào những gì quý vị có được ngày hôm nay. Nếu trong tâm quý vị không có dục vọng thì có thể khéo phân biệt được các pháp, quý vị có thể biết được cái gì có thể làm, cái gì không thể làm, cái gì có thể dùng, cái gì không thể tham, quý vị liền tiến thêm một bước hiểu được tư duy và nghĩa lý của Phật pháp. Tại sao nhiều người lại lo lắng? Bởi vì họ cảm thấy “Tôi đang đau khổ, tôi phải làm gì với rắc rối này?”, và họ không nhìn thấy được sự vô thường. Rất nhiều người phiền não, bởi vì họ cảm thấy nỗi lo này sẽ luôn kéo dài. Quý vị hãy nghĩ về những nỗi lo của chúng ta khi còn nhỏ, bây giờ có còn nữa không? Rất nhiều người buồn rầu, họ cảm thấy “Cả đời tôi luôn khổ như vậy”. Vậy tại sao không nghĩ đến ngày mình sẽ đổi đời? Quý vị sẽ mãi mãi khổ sở như vậy sao? Điều này có nghĩa là quý vị chưa hiểu được nghĩa lý các pháp trong tư duy của Phật giáo. Có khả năng suy nghĩ theo chiều hướng tốt về bản chất của mọi pháp, nói cách khác, quý vị thường sử dụng năng lượng tích cực của mình để nghĩ, “Chuyện này tuy rằng gần đây không thuận lợi, nhưng nó cũng giúp tôi biết được càng nhiều phương pháp để làm tốt chuyện này, và học được rất nhiều tri thức, tôi có thể tiếp tục cố gắng hơn nữa vào lần sau”, bởi vì quý vị hiểu được yếu nghĩa (nội dung và ý nghĩa) của các pháp, có tiến bộ trong nhận thức và hiểu được nhiều điều ở nhân gian, thì quý vị mới không sinh ra ngu muội. Những hành vi sai trái đảo lộn chính là vì chấp trước và dục vọng của quý vị tạo nên.

Ý tưởng của nhiều người không ngừng thay đổi, cũng như ý niệm của họ đang thay đổi và lý luận của họ cũng đang thay đổi. Đức Phật đã từng khai thị: Bởi vì các bậc hiền sĩ này không tu tập Quán vô thường và không truyền bá Quán vô thường, nên không hiểu được nguyên lý vô thường của các pháp. Vì vậy mới có phát sinh đấu tụng (dịch lại theo cách nói văn chương gọi đó là “đấu tụng”, thực ra theo cách nói ngày nay, đó là một cuộc tranh đấu). Khi tranh luận với nhau, họ không thể nhìn ra được nghĩa lý chân thật (những người không nhìn rõ con đường phía trước thì họ không thể nhìn thấy được mục tiêu của mình) nhất định họ sẽ có tâm mê hoặc (những người không hiểu được nghĩa lý chân thật của đạo Phật, họ sẽ cảm thấy đạo Phật là hư vô mờ ảo. Nhiều người học Phật học càng về sau, họ nghĩ: “Vốn dĩ đã có kiếp sau, vốn dĩ phải nhìn thấu nó, vốn dĩ phải buông bỏ, vậy thì đơn giản con người ta cũng không nên sống nữa”, đây chính là một loại mê hoặc), và sự mê hoặc này một khi xuất hiện trong suy nghĩ của con người, thì họ sẽ chấp vào sự mê hoặc này (tức là họ sẽ luôn bám chấp vào trong sự mê hoặc ấy). Hãy nghĩ xem, đó là một con đường không bằng phẳng nếu quý vị đi sai đường và liên tục đi sai vào con đường đó, điều mà quý vị tạo ra là sự mê hoặc và điên đảo – tức là ngu muội, mê hoặc và đảo lộn). Đây là lý do tại sao có những người khi còn sống họ không tìm được con đường tu tập cho riêng mình, sau khi chết sẽ đọa lạc vào ba đường ác ngạ quỷ, súc sinh và địa ngục.

Nếu không muốn đọa địa ngục thì phải tu Quán vô thường. Nhìn thế giới này không có gì có thể tồn tại được lâu dài. Nếu truyền bá rộng rãi ý tưởng về vô thường, trong đầu thường nghĩ về vô thường, giúp đỡ người khác cũng thường truyền đạt với họ về ý tưởng vô thường, thì quý vị mới có khả năng thuyết phục được người khác. Lấy một ví dụ đơn giản, người này bị lừa tiền, quý vị hãy nói với họ rằng: “Bạn đừng suy nghĩ nhiều nữa, tiền vẫn có thể kiếm được. Sức khỏe của bạn quan trọng hơn. Nếu bạn không có sức khỏe thì sau này làm sao kiếm được tiền?” Quý vị nói với họ nếu mất tiền vẫn có thể kiếm lại được. Đó chính là quý vị đã truyền bá về tư tưởng vô thường và hết thảy đều là vô thường. Nếu hôm nay bạn bị lừa, sức khỏe không tốt lại đau buồn tột độ, điều đó sẽ gây thêm phiền não cho bạn, chẳng hạn như sức khỏe không tốt, tim mạch không tốt hoặc bạn đang tranh chấp với người khác và mời luật sư, thì không phải là bạn đã tạo thêm phiền não cho bản thân rồi sao? Hơn nữa trong tâm sẽ thường nảy sinh ý nghĩ sân hận hoặc ngu muội, chẳng hạn như “Tôi không muốn sống nữa”. Đây là lý do tại sao nhiều người tự tử vì họ không biết nghĩ đến Vô thường. Vậy nên, những người thực sự có trí tuệ họ thường nghĩ rằng không có gì là không thay đổi và mọi thứ trên thế gian này đều sẽ thay đổi. Nếu quý vị khéo quán nhân duyên, quán tất cả các pháp và quán ý nghĩa vi diệu của chúng, thì quý vị sẽ hiểu được đời là vô thường, rằng tất cả các pháp đều vô ngã và mọi hành động đều vô thường. Nếu quý vị tu tập như vậy, sau khi mệnh chung mới có thể đi vào ba cõi thiện, mới có thể sinh lên thượng thiên, cõi người và cõi A-tu-la. Người biết nghĩ thấu đáo, họ sẽ dễ dàng tìm được con đường Niết-bàn. Khi con người chúng ta ra đi gọi là Niết-bàn; khi chúng ta đã suy nghĩ thấu đáo và hiểu rõ: “Trên thế giới này, lộ trình của tôi đã đi hết, tôi cũng đã buông bỏ”, vậy thì đã đạt đến Niết-bàn. Bởi vì điều này là vô thường và sẽ không bao giờ cho quý vị có được bất cứ thứ gì trên thế gian này. “Vậy nên, này các Tỳ-kheo, các ông nên học theo cách này.” Đức Phật nói rất khiêm tốn, là nên học theo cách này. Hy vọng mọi người phải thật sự tu sửa cho thật tốt. Khi ấy, chư vị Tỳ-kheo nghe được lời khai thị của Đức Phật đều cảm thấy vui mừng và tuân theo lời dạy.

Sự vô thường của vạn vật chính là quy luật sinh tử (biết vạn vật trên đời này đều vô thường nghĩa là hiểu được quy luật sinh tử). “Sinh diệt diệt kỷ, tịch diệt vi lạc”, nghĩa là khi cả cái sinh và cái diệt đều đã bị diệt rồi thì lúc bấy giờ, sự tịch diệt, sự vắng lặng đó chính là niềm vui chân thật. Tịch diệt vi lạc là Niết Bàn. Niết Bàn mới là niềm vui rốt ráo. Muốn được Niết Bàn thì phải sinh diệt diệt kỷ, tức là đối với các Pháp ta phải nhìn là nó biến hóa vô cùng. Hạnh phúc của con người nằm ở đâu? Một khi đã nghĩ thông, đã nghĩ minh bạch, đã suy nghĩ thấu đáo mọi chuyện và đã nhìn thấu nó thì sẽ hiểu được quy luật sinh tử. Vì sự bám chấp và đảo ngược trong nỗi đau khổ lớn lao của luân hồi trong ba cõi, nên tất cả chúng sinh đều vui thú với những đau khổ nhỏ nhặt của ngũ dục và các cõi trần tục khác (Hãy nhìn xem nhiều người đã kiếm được một số tiền sau một ngày bận rộn, họ hạnh phúc vô cùng. Đây chính là “lấy nỗi khổ nhỏ làm niềm vui”, họ không cảm thấy đau khổ mà ngược lại cảm thấy “cũng khá hạnh phúc”. Con người chúng ta thường muốn chiếm đoạt ưu thế nhiều hơn người khác, và họ cảm thấy “cũng khá vui đấy” nếu kiếm được thêm tiền của người khác thì “khá vui”. Lấy khổ đau nhỏ làm hạnh phúc nên một khi vô thường đến, sẽ tùy theo nghiệp lực của bản thân mà bị báo ứng. (Một số doanh nghiệp nhỏ mỗi ngày làm rất nhiều việc sai trái. Họ cảm thấy rất vui khi kiếm được nhiều tiền hơn từ khách hàng và lừa gạt được người ta một ít tiền; một khi nghiệp chướng bùng phát, bị các cơ quan chức năng điều tra và bị phạt, với mức phạt hàng trăm nghìn. Lúc này, họ đem số tiền 2 đồng, 4 đồng, 6 đồng mà họ kiếm được từ người khác dồn hết vào để nộp phạt. Tất cả niềm hạnh phúc nhỏ đấy đều tích tụ hết vào nỗi đau lớn), vô thường đã đến, và rồi cùng với nghiệp báo này họ sẽ lại tiếp tục trôi vào biển khổ sinh tử.

Vô thường có thể đến bất cứ lúc nào. Mong rằng người học Phật chúng ta hãy tinh tấn thực hành lời Phật dạy. Đức Phật dạy chúng ta tinh tấn tu tập Quán pháp vô thường. Khi quý vị cãi nhau hãy nghĩ: “Sẽ không lâu đâu, cãi nhau xong sẽ hết thôi”; khi không vui hãy nghĩ “Sau một thời gian nữa mình lại cười như một kẻ ngốc, sao bây giờ mình lại buồn làm gì? Có gì mà có thể làm cho mình nghĩ không thông? Thế là quý vị đã đạt đến thuyết vô thường của vạn vật. Thực ra, mọi chuyện đều ở thì quá khứ, chuyện gì cũng sẽ qua, quá khứ bất khả đắc, biết rằng không thể có được, tại sao quý vị vẫn cố níu kéo quá khứ mà không buông bỏ. Nhiều người vừa mở miệng là nói về chuyện của người khác và nói về quá khứ của chính họ. Nói về quá khứ của người khác sẽ làm tăng thêm hận thù, nói về quá khứ của mình sẽ làm tăng thêm sự thiếu hiểu biết; nói về tương lai của mình và tương lai của người khác sẽ làm tăng thêm sự kiêu ngạo. Đây là những điều mà nhân gian chúng ta cần khắc phục và cần buông bỏ điên đảo mộng tưởng.

Trong cuộc sống hàng ngày, con người thường: “Ngày mai tôi cần làm gì? Ngày mốt tôi cần làm gì? Và họ cảm thấy thật hạnh phúc. Chúng ta đã từng có được hạnh phúc, và khi còn nhỏ chúng ta cũng từng rất hạnh phúc, nhưng mọi chuyện rồi cũng sẽ qua – nghĩa là phải biết Quán vô thường. Vậy nên, chúng ta phải chuyển hóa “tam độc” tham, sân, si trong lòng. Có Chánh tri Chánh kiến ​​và thực sự quán chiếu cái tâm của mình. Quân tử ái tài, thủ chi hữu đạo” ý nói: Người quân tử coi trọng của cải nhưng phải lấy sao cho đúng đạo lý. Điều này là muốn nói với mọi người rằng hôm nay tôi sẽ kiếm những gì tôi nên kiếm, còn những gì không nên kiếm thì tôi không kiếm. Bằng không, tiền mà tôi kiếm được đó là đồng tiền bất chính. Tu hành như thực, có nghĩa là thực hiện những thay đổi thực sự. Phải tiết ngộ chân tâm bất sinh bất diệt, nói cách khác cần phải thực sự hiểu được cái tâm chân thật không sinh không diệt, nghĩa là trong tâm mình cần phải hiểu rõ cái tâm này là tự sinh ra, và cái tâm này cũng có thể tự hủy diệt nó. Vốn dĩ có thể hủy diệt được cái tâm không vui này, vậy tại sao quý vị lại phải sinh ra nó? Vốn dĩ biết được nổi giận cuối cùng cũng vô ích, vậy thì tại sao quý vị phải sinh ra cái tâm ấy? Đấy gọi là tiết ngộ chân tâm bất sinh bất diệt. An trú vào một niệm giải thoát tối thượng bất sinh của mình và không có bất kỳ suy nghĩ nào, thì quý vị sẽ được giải thoát, nếu cái gì cũng muốn, quý vị sẽ bị mắc kẹt trong tham, sân, si, mạn, nghi. Vậy nên, quý vị phải buông bỏ, phải học cách suy nghĩ thấu đáo mọi thứ, và phải học cách buông bỏ mọi thứ. Sự giàu có của con người không phải vì họ có nhiều mà vì nhu cầu của họ rất ít. Một khi quý vị có nhu cầu ít đi, thì quý vị sẽ cảm thấy mình rất giàu có.

Cuộc đời của mỗi con người chúng ta đều đã được trời xanh vẽ lên một điểm khuyết, tức là trên đời này không có việc gì có thể làm được một cách hoàn hảo, nhưng trong tâm của chúng ta phải hoàn hảo, và đừng nên nghĩ đến điều đó, thì chúng ta mới không cắt thêm một nhát dao vào vết thương trong tâm ta một lần nữa. Nếu quý vị không tha thứ cho người khác và không tha thứ cho chúng sinh, thì quý vị đang làm khổ chính mình. Đôi khi chúng ta dành quá nhiều thời gian để tự hỏi việc này nên làm thế nào, việc kia nên làm ra sao. Trên thực tế, trí tuệ thực sự không phải là suy ngẫm mà là thực hành. Nếu một người không thể dùng lòng từ bi trong tâm mình để tha thứ cho người khác, thì họ sẽ không bao giờ cảm thấy an tâm thoải mái được. Tất cả chúng ta đều mắc nợ người và hầu như rất ít người hiểu được điều này. Hãy luôn nghĩ rằng người khác luôn đúng còn bản thân mình luôn sai thì quý vị sẽ không bao giờ gặp phiền não.

Mong rằng mọi người sẽ học Phật tốt, tu tâm tốt, một kiếp tu thành, hiểu đời, không tủi thân mà luôn Quán vô thường, buông bỏ chấp trước. Một mình tu hành thì rất đáng thương. Chỉ khi hòa nhập tâm mình vào tâm chúng sinh, thì quý vị mới có thể giúp tất cả chúng sinh lìa khổ được vui, và chỉ khi đó quý vị mới có thể leo lên chiếc thuyền Pháp của Phật. Cảm ơn đại chúng.

 

Tập 96
KHÔNG SINH KHÔNG DIỆT , KHỔ LẠC NIẾT BÀN

(01/07/2020)

Được rồi, hôm nay thầy sẽ tiếp tục giảng với đại chúng về “Bạch Thoại Phật Pháp”.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là vị thầy vĩ đại của chúng ta, đã xuất gia ở tuổi 29, Ngài hoằng pháp và giác ngộ chỉ mới 35 tuổi, khi đó rốt cuộc Ngài ngộ ra được gì? Điều mà Đức Phật chứng ngộ thực ra là “Tánh không duyên khởi”. Chính xác thì chúng ta học Phật là học những gì? Thực ra mục đích học Phật là để cho chúng ta biết:

Tất cả con người và vạn vật trên thế gian đều được sinh ra từ sự hội tụ và phân tán của nhân duyên, sự hòa hợp và hài hòa của nhân duyên sẽ dần dần hội tụ và phân tán. Vô thường là một hiện tượng biến đổi, rằng cho chúng ta hiểu được trên đời này, khi quý vị có được nó, thì đồng nghĩa với sự mất mát sẽ đến.

Tánh không duyên khởi cho chúng ta biết mọi sự xuất hiện của vạn vật ở nhân gian đều sẽ thay đổi. Nhiều khi người ta cho rằng một sự việc không thay đổi nên mới bám chấp vào nó. Bồ Tát dạy chúng ta mỗi một sự việc và mỗi một con người đều sẽ thay đổi bởi vì đây chính là nhân duyên. Từ có tất cả mọi người cuối cùng biến thành không còn ai cả: khi “Duyên khởi”, tức là con người này của quý vị được sinh ra, cuối cùng con người này của quý vị cũng không còn nữa, vậy thì cũng sẽ mất đi. Từ có rất nhiều việc đến không có việc gì: Sự việc này bắt đầu xảy ra và cuối cùng nó biến mất. Từ chỗ ban đầu có chữ “tôi” (sau khi sinh ra quý vị sẽ có tên, tên quý vị là gì? Đây chính là chữ “tôi”), cuối cùng nó trở thành không có “tôi” nữa – Một cái tên không còn nữa. Nó đều tồn tại trong sự biến đổi. Đây là điều mà Bồ Tát dạy chúng ta, khi sống ở thế gian, con người phải hiểu được nhân duyên quả báo của sự vật, bởi vì mọi thứ đều ở trong Tánh không duyên khởi và tồn tại trong quá trình biến đổi. Phật Đà dạy chúng ta rằng không có sự việc nào và không có ai trên thế giới này mà không thay đổi. Ngày nay thế này, ngày mai thế kia, không có ngày nào là không thay đổi, không có sự việc nào mà không thay đổi. Đây là điều mà Phật giáo thường nói đến: khi Duyên khởi rồi, thì Tánh liền trống rỗng; khi Tánh trở nên trống rỗng, thì Duyên lại bắt đầu khởi. Dạy cho chúng ta biết nguyên lý này là để cho chúng ta hiểu được nếu chúng ta có Duyên đến rồi thì chuyện này nhất định sẽ sớm kết thúc vào một ngày nào đó. Cho dù có duyên phận hay không, trên thực tế, chỉ cần có duyên khởi, thì bản tánh của nó cuối cùng sẽ trống rỗng và nhất định sẽ kết thúc. Vì vậy, nhiều người ở thế gian cảm thấy rằng “Tôi đã đạt được vị trí này và tôi có thể tiếp tục ngồi ở vị trí này mãi mãi”, không phải vậy; “Hôm nay tôi đã có được thứ này và tôi có thể có được nó mãi mãi”, cũng không phải vậy. Nhiều thứ trên thế gian này đến cuối cùng nó đều hiển hiện sự trống rỗng.

Vậy nên Phật pháp dạy chúng ta, đối với khổ, vui sướng, thuận cảnh, nghịch cảnh, vinh nhục của nhân gian, không nên nhìn quá chân thật, nó đều sẽ có chuyển biến, nó đều là vô thường. Vì vậy “Kinh Kim Cang” dạy chúng ta hãy xem đó là mộng huyễn bào ảnh, giống như nằm mơ, tỉnh lại thì không thấy đâu nữa, tất cả đều đang trong quá trình biến hóa, nghĩa là nói cho chúng ta biết, tất cả mọi thứ ở nhân gian đều không thể có được. Trong quá khứ, khi quý vị còn trẻ, quý vị đã có rất nhiều thứ mà người khác không có, đã từng làm rất nhiều việc mà người khác không làm được, nhưng tất cả những điều này giống như mộng huyễn bào ảnh, bởi vì dựa theo căn bản mà nói nó chính là vô thường. Tại sao Phật Đà bảo chúng ta là nên Quán vô thường? Thực ra là để cho chúng ta trong tu hành thực tế có thể nhận thức được mọi thứ trong nhân gian không có ý nghĩa chân thực, hết thảy đều là hư ảo. Quý vị thấy đấy, nỗi thống khổ của con người chúng ta chính là ở chỗ chúng ta cho rằng sự việc này có thể kéo dài rất lâu, cuối cùng sau khi sự việc phát sinh biến hóa thì khóc lóc thảm thiết. “Tại sao lại thay đổi? Tại sao một người tốt lại trở nên như thế này? Tại sao trước khi ra ngoài cô ấy không có chuyện gì, nhưng sau đó lại bị tai nạn xe tông tử vong? “Tại sao người này sống với tôi nhiều năm như vậy, đột nhiên anh ấy lại bỏ rơi tôi?” Tất cả “tại sao” này, nó đều không có ý nghĩa đích thực của sự tồn tại, bởi vì định nghĩa này phụ thuộc vào sự vô thường.

Điều này khiến chúng ta phải học buông xả, kinh Phật chính là giúp chúng ta học cách buông bỏ. Nếu đã biết thứ này là giả, nó sẽ không tồn tại lâu dài, vậy tại sao không thể buông bỏ nó? Con người nên nâng cao cảnh giới của mình, không nên chấp trước đối với mọi sự vật ở nhân gian và cảm thấy “cái này nhất định là của tôi”, hơn nữa phải học cách tùy duyên tiêu nghiệp cũ. Hôm nay quý vị đã là một người trưởng thành, thì không nên tính toán chi li hoặc là không thể quên được nghiệp chướng do vô tri tạo thành khi còn trẻ. Bây giờ quý vị đã trưởng thành, không được tiếp tục làm những việc vô tri của tuổi trẻ, đây chính là tùy duyên tiêu nghiệp cũ. Không tạo tai ương mới, suy cho cùng là hãy hiểu và đúc kết cho chính mình: Dù thế giới này có mang đến cho quý vị duyên phận nào đi chăng nữa thì cuối cùng nó cũng sẽ trống rỗng. Nỗi đau nó mang lại cho quý vị cuối cùng sẽ biến mất; hạnh phúc nó mang lại cho quý vị cuối cùng cũng sẽ biến mất. Đừng bám víu vào những mối nhân duyên mà quý vị đã có lúc đó.

Tất cả mọi thứ mà chúng ta cho là có thể tồn tại, đều sẽ biến hóa. Khi yêu, người ta luôn nói “sông cạn đá mòn, chứ lòng này không bao giờ thay đổi”, quý vị có biết “sông cạn, đá mòn nghĩa là gì không? Quý vị đã bao giờ trải nghiệm qua chưa? Trong sự trống rỗng của bổn tánh này, tất cả chúng đều tạo ra sự thay đổi. Tất cả các pháp vạn hữu, tất cả hiện tượng vũ trụ, tất cả những việc quý vị nhìn thấy, quý vị nghe thấy, quý vị đã từng làm, là vì không mà có, cuối cùng đều sẽ mất đi, sau khi mất đi lại được sinh ra. Phật pháp cho chúng ta hiểu được, thế giới này sinh không mang đến, chết không mang đi, nếu chúng ta không chấp trước vào vạn vật và con người ở nhân gian, thì chúng ta sẽ tránh xa được phiền não, và liền rời xa điên đảo mộng tưởng. Giống như một ngôi nhà, nếu trống rỗng, mới có thể lưu trữ được vạn vật. Nếu nó không hoàn toàn trống rỗng, vậy thì ngôi nhà này sẽ không chứa đựng được nhiều thứ, và sẽ không có duyên khởi của vạn vật. Chỉ khi có Tánh không rồi thì mới có Duyên khởi, và chỉ khi diệt trừ đi tạp niệm trong tâm mình, thì mới có nhân duyên khác phát sinh. Thực ra nhân duyên đến cuối cùng là trống rỗng, sau khi trống rỗng lại bắt đầu có nhân duyên khác đến. Tâm không trống, thì tâm không thể dùng. Tâm rỗng rồi, mới có thể trống không, khi đó mới có thể thiện dụng bổn tánh của mình, mới tìm được Phật tánh của A Ma La Thức, thức thứ chín trong nội tâm quý vị.

Vạn pháp đều từ rỗng không sinh ra, nhiều sự việc đều từ rỗng không mà bắt đầu. Chẳng phải con người là như vậy sao? Chỉ khi nào trống rỗng rồi thì mới sinh khởi – ví dụ bây giờ quý vị đói bụng thì quý vị mới nghĩ đến ăn cơm và mới sinh ra nhiều thức ăn; nếu hôm nay quý vị mệt mỏi thì sẽ sinh ra uể oải và buồn ngủ; Nếu quý vị thiếu về một phương diện nào đó, quý vị mới đi nghiên cứu nó và sở hữu nó. Vạn pháp phát sinh từ sự trống rỗng và cũng chấm dứt từ sự trống rỗng. Quý vị có được nó, quý vị đã tìm thấy nó, và nó sẽ sớm biến mất – nó lại biến mất từ sự trống rỗng. Từ trống rỗng sinh ra và cũng từ sự trống rỗng diệt vong, từ khi sinh ra đến khi bị hủy diệt, rồi lại từ hủy diệt đến khi được sinh ra. Nó không phải là không có, mà là nó có sinh có diệt, đến và đi tự do. Thử nghĩ xem, chúng ta đang sống trên thế giới này, chỉ cần quý vị vừa nghĩ đến một chuyện vui là quý vị liền cười ngay, chuyện này đã đi vào trong tâm trí của quý vị, chỉ cần nghĩ đến nó là quý vị sẽ thấy vui, có phải là từ Không mà Có rồi không? Khi quý vị nghe điều gì đó không vui, trong chốc lát quý vị sẽ cảm thấy đau buồn. Nỗi buồn này vốn dĩ không có trong tâm quý vị, và cũng là do quý vị sinh ra; nhưng một khi quý vị đã nghĩ thông rồi, nó sẽ tự sinh tự diệt, và tự do sinh diệt.

Vậy nên “hết thảy do tâm tạo” nghĩa là nói chính bản thân con người đang tạo Nhân, chính mình đang tạo nghiệp quả, chính mình sinh ra nó, lại chính mình hủy diệt nó. Nhiều người hỏi, cái gì gọi là Tánh không? Cái gì gọi là từ Không mà sinh ra. Thực ra, một người khi đến thế giới này, trước đây vốn dĩ không có họ, đột nhiên có một người như vậy xuất hiện, rồi đặt tên, tìm cha mẹ, sau đó bắt đầu sống trên thế giới này, và cứ thế họ được nuôi dưỡng, tức là một sinh vật từ Không đến Có trong thực thể. Đây chính là điều mà Phật Đà nói với chúng ta, thực ra chúng ta rời khỏi thế giới này hay ở thế giới này đều giống nhau, đây chính là nói cho chúng ta biết không sinh không diệt.

Tại sao con người lại khó chịu? Sư phụ đưa ra một ví dụ đơn giản, trước đây trong văn phòng làm việc có năm người, đột nhiên có một trưởng phòng rời đi, còn lại bốn người và bốn người này đều nghĩ mình có thể làm trưởng phòng, sau đó trong suốt ba tháng tranh đua để được bầu chọn, họ đã làm rất nhiều công việc, mỗi người ai nấy đều vui có, buồn có, khổ có. Cuối cùng có ba người rất đau khổ vì không được chọn, người còn lại sinh tồn trong đau khổ, có được một chút tưởng chừng như hạnh phúc nhưng thực ra lại là một loại khổ lạc. Từ đó về sau, ba người này không nói không rằng. Như vậy buồn và vui này đều là do chính họ sinh ra, cho đến khi 3 tháng bầu chọn kết thúc, buồn và vui này liền chấm dứt, liền kết thúc. Con người không phải như vậy sao? Vừa mới nghĩ không thông, đột nhiên nghĩ: “Tôi như vậy không phải rất tốt sao? Tôi thế này thế nọ v.v..”, lập tức “Hi hi” liền bật cười. Cho nên mới nói tự thuyết tự thoại, tự suy tự nghĩ, tự nói một mình, tự thuyết tự thoại tức là tự nói tự trả lời thực ra là một quá trình đấu tranh tâm lý và ngụy biện, bao gồm quá trình xoa bóp tâm lý trong lòng mình.

Bồ Tát dạy chúng ta rằng đôi khi chúng ta phải nhìn thấy sự tồn tại thực sự của thế giới này và đôi khi chúng ta phải tưởng tượng sự vô ngã sau khi rời khỏi thế giới này. Thế giới này nhiều phiền não như vậy, nếu quý vị tưởng tượng một ngày nào đó quý vị sẽ rời khỏi thế giới này và không còn bản ngã nữa, liệu quý vị có còn phiền não nữa không? Nếu quý vị nghĩ về nó theo cách này, thì quý vị sẽ không còn lo lắng nữa. Cũng giống như bây giờ, “Mặc dù sống trên thế gian này, nhưng tôi không phiền não, bởi vì tôi đã rời khỏi hồng trần”. Khi quý vị thật sự nghĩ rỗng không, rằng: “Tôi đã rời khỏi hồng trần rồi”, thì thực ra từ sâu thẳm trong trái tim quý vị cũng không phải là không có dấu vết quý vị đã từng đến thế gian này, mà quý vị đã từng đến rồi, cũng đã từng có phiền não, chỉ là nó đã chấm dứt, mọi chuyện đã kết thúc, đã đạt được cảnh giới cao hơn, nên quý vị không chấp trước vào những phiền não này nữa.

 

Tập 97
TỰ TÁNH ĐƯƠNG KHÔNG , CHÂN KHÔNG DIỆU HỮU

(01/07/2020)

Nhiều vị Cao Tăng Đại Đức thường mỉm cười với cuộc đời, họ biết rằng con người đến và đi đều phải tự làm tự chịu nhân quả mà bản thân đã tạo ra. Bởi vì tự mình tạo nghiệt, tự mình phải gánh chịu, nhưng tự mình lại nghĩ ra rất nhiều cách để khiến bản thân đau khổ, khi nghĩ đến là cảm thấy khó chịu, tất cả đều do chính mình gây ra Nhân, nên tự nhận lấy nhân quả và tự tồn tại, nhân quả là tự mình gánh và tự mình chịu đựng. Vì thế “tự do sinh diệt” dần dần xuất hiện trong Phật giáo. Khi quý vị đã nghĩ thông suốt, tâm trí quý vị liền được tự do; nếu quý vị nghĩ không thông, tâm quý vị liền bị phiền não. Lấy một ví dụ đơn giản, khi sức khỏe kém, quý vị nghĩ không thông, cho rằng: “Tại sao người khác không bị bệnh, mà tôi lại bị bệnh?” Và khi quý vị đã nghĩ thông thì: “Khi họ bị bệnh tôi đâu nhìn thấy, khi họ bị bệnh họ còn đau khổ hơn tôi, là do tôi không cảm nhận được mà thôi”. Lúc này, quý vị đã nghĩ thông liền cảm thấy thoải mái. Trước tiên, hãy chữa lành những căn bệnh về thể chất và tinh thần của quý vị; rồi dần dần khi những lo lắng của quý vị được loại trừ, bệnh tật sẽ rời bỏ quý vị mà đi. Nếu quý vị ôm nỗi phiền muộn trong lòng không thể buông bỏ và cố chấp nghĩ rằng: “Người khác không bệnh, chỉ mình tôi bệnh nhiều như thế này”. Thì quý vị càng nghĩ sẽ càng đau khổ và bệnh tật sẽ ngày càng đến gần quý vị hơn, quý vị sẽ không thể loại bỏ cái Nhân gây ra bệnh và tiêu trừ nó, nên quý vị mới sống trong cái Nhân gây ra bệnh này.

Đạo Phật dạy chúng ta, sau khi quý vị loại bỏ được ý nghĩ này liền được hạnh phúc; nhưng sau một hoặc hai giờ xoay chuyển, thì ý nghĩ này có thể bắt đầu tự sinh khởi; sau khi ý nghĩ tự nghĩ ra xuất hiện, quý vị lại dựa vào loại trí tuệ “tự do sinh diệt” trong tâm để tự mình tiêu diệt nó, gọi là tự sinh tự diệt. Sự sinh khởi của tâm cũng như “Như Lai giả” dường như đã đến rồi. Khi phiền não đến, chúng ta nên làm sao đây? “Vô sở tòng lai, vô sở tòng khứ, tự tánh bổn không”, nghĩa là nói với chúng ta rằng: Phật tánh “vô sở tòng lai” chúng ta không biết nó từ đâu đến; “vô sở tòng khứ” chúng ta vốn dĩ đã có Phật tánh rồi, không phải đi tìm mà có được, nó đã có sẵn trong bổn tánh của chúng ta. Nhiều người tu tâm đi tu học khắp nơi. Thực ra, nếu quý vị tu dưỡng lương tâm tốt thì sẽ có được bồn tánh của Phật. Hãy đối chiếu với Phật ngôn Phật ngữ mà Phật thuyết, có phải đã phản ánh chân thực lương tâm bên trong của chúng ta không?

Nếu chúng ta có Phật tánh, chúng ta sẽ có được nhân tính và trí tuệ, vậy thì chúng ta liền có được bổn tánh. Thực ra, bổn tánh trong tâm chúng ta chưa bao giờ bị mất đi và cũng chưa bao giờ sở hữu nó, bởi vì nó vốn dĩ đã tồn tại. Giống như một người khi sinh ra thì mũi, tai và mắt luôn ở vị trí đó. Ví dụ, quý vị chưa bao giờ nhìn thấy sự tồn tại của chiếc mũi. Nhưng khi quý vị dùng hai tay bịt mũi lại, thì lúc này sẽ cảm nhận được tầm quan trọng của chiếc mũi vì quý vị không thể thở được. Thực ra, chiếc mũi vốn dĩ đã tồn tại, không phải vì quý vị không chú trọng đến nó mà nó đã từng bị mất đi. Cũng không phải vì quý vị chú trọng đến nó mà chiếc mũi mới tồn tại trên khuôn mặt quý vị. Cũng giống như Phật tánh trong tâm của chúng ta vậy, nó chưa bao giờ bị mất hay được sở hữu, bởi vì trong tự tánh của nó là Tánh không, nên Phật giáo mới gọi những điều này là Tánh không duyên khởi.

Tâm Kinh dạy chúng ta rằng “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Thực ra trong Không sinh Không diệt, khi sinh ra cũng là từ Không mà biến thành Sắc và từ Sắc lại biến thành Không, cũng có nghĩa là tuy có trống rỗng, nhưng thực chất không trống rỗng. Vậy là ý nghĩa gì? Chẳng hạn, trong tâm quý vị biết rằng hôm nay quý vị sẽ nghe Sư Phụ thuyết giảng, quý vị nghĩ: “Bây giờ tôi không được có bất cứ tạp niệm nào trong đầu. Tôi phải trống rỗng, trống rỗng, trống rỗng… ” Vậy quý vị đã trống rỗng chưa? Nếu trống rỗng rồi, thì khi nghe Sư phụ thuyết giảng, đương nhiên là quý vị sẽ chăm chú lắng nghe theo lời Sư phụ giảng. Vậy trong tâm quý vị đã trống rỗng chưa? Nó trống rỗng rồi. Nhưng thực chất tâm của quý vị có một điều kiện đó là quý vị không phải “hoàn không” – nghĩa là không hoàn toàn trống rỗng, bởi vì trước khi bước vào, quý vị vẫn đang suy nghĩ: “Tôi phải chăm chú lắng nghe, tôi cần học thêm nữa, và sau khi nghe tôi phải ghi chép lại, tôi phải thực hành Phật pháp vào trong cuộc sống hàng ngày”, đây là những gì quý vị đã từng nghĩ, nó không hoàn toàn trống rỗng. Đây là sự trống rỗng trong tự tánh, tuy có trống rỗng, nhưng thực chất trong tâm vẫn chưa hoàn toàn trống rỗng. Mặc dù có dập tắt, nhưng thực chất không dập tắt. Hôm nay quý vị đến đây và nghĩ: “Tôi nhất định phải chăm chú lắng nghe Sư phụ giảng.” Câu nói “Tôi nhất định phải chăm chú lắng nghe Sư phụ giảng” của quý vị, có phải đã phản ánh lên bản chất thực sự trong suy nghĩ của quý vị là vẫn còn nghĩ ngợi không? Có phải đã thực chất Vô diệt rồi không? Nếu quý vị thực sự trống rỗng, thì khi quý vị bước vào, ngay cả nghĩ cũng không nghĩ, không hề có bất cứ suy nghĩ gì cả, tức là đã Chân không – đã thực sự trống rỗng rồi; còn khi bước vào mà nghĩ “Tôi phải trống rỗng, tôi phải trống rỗng”… thì cũng giống như Thầy dạy mọi người tụng kinh vậy, nếu thật sự không thể trống rỗng được thì quý vị có thể niệm thầm trong tâm “Tôi phải trống rỗng, trống rỗng, trống rỗng…” Sau khi niệm mười lần, trong đầu quý vị thực sự đã trống rỗng rồi. Nhưng sự trống rỗng này là ép buộc bản thân không được tưởng tượng một vật nào đó hay một ý nghĩ nào đó trong tâm, là để kiềm chế bản thân không để những tạp niệm xâm nhập vào trong tâm mình và duy trì tính trong sạch của nó. Đây chính là thực chất Vô diệt, mặc dù là trống rỗng nhưng vẫn có Sắc trong sự trống rỗng đó, cho nên Không tức thị Sắc.

Thực ra không có sự khác biệt giữa Không và Sắc. Sư phụ tiếp tục đưa ra ví dụ này. Hôm nay quý vị đến nghe thuyết giảng và nói: “Tôi nhất định phải chăm chú lắng nghe và giữ cho đầu óc trống rỗng”. Suy nghĩ này thực ra cũng là một loại trống rỗng, và nó chỉ kiểm soát ngôn ngữ và hành vi của quý vị. Vì vậy, khi quý vị thực sự trống rỗng ngồi xuống và không nghĩ về những điều này, nhưng thực ra là vì trong tâm trí quý vị đã từng có suy nghĩ: “Tôi nhất định phải trống rỗng để chăm chú lắng nghe bài giảng của Sư phụ”, nên nó vẫn còn có Sắc ở trong đó.

Như thuyết duy thức đã nói, ý thức của quý vị và mọi thứ quý vị tưởng tượng hôm nay đều do tâm quý vị tạo ra. Hôm nay tâm tôi nghĩ gì, thì tâm tôi liền phát hiện ra điều đó. Lấy một ví dụ đơn giản, nội tâm giống như một tấm gương, nếu quý vị tưởng tượng một vị Phật, Bồ Tát nào đó, thì trong tấm gương nội tâm này sẽ xuất hiện một vị Phật, Bồ Tát và quý vị sẽ rất hạnh phúc, trong tâm có Phật, nhìn thấy vị Phật này dường như là có, nhưng thực chất là do quý vị tưởng tượng ra. Đây chính là Không tức thị Sắc, và đây cũng chính là tâm có thể tạo ra vạn vật. Nếu quý vị tưởng tượng trong tâm trí: “Hôm nay tôi bị quỷ ám rồi”, thì một tấm gương sạch sẽ trong tâm quý vị sẽ phản chiếu hình dạng và diện mạo của một con quỷ, và rồi quý vị bắt đầu tưởng tượng ra loại tóc rối bù đó… liền sinh ra sợ hãi. Đây chính là tâm có thể tạo ra tất cả mọi thứ. Nhưng sau khi tạo ra vạn vật, tâm cũng có thể hủy diệt vạn vật.

Vậy nên, Bồ Tát dạy chúng ta, hà cớ gì mà phải tạo tác ra pháp Không và Sắc? Hết thảy để nó tự nhiên đến, tự nhiên đi, đừng ép buộc bản thân đi làm một việc gì đó. Bởi vì cái ý thức này ép buộc nó, nên trong đó cũng có Sắc. Cái thế giới có Sắc này khiến quý vị bám chấp vào nó, khiến quý vị không thể giải thoát và khiến cho quý vị tạo tác ra hết thảy mọi sự vật, mọi hiện tượng trong Không và Sắc. Không và Sắc là gì? Vốn dĩ bản chất con người là trống rỗng, nhưng nó cũng có Sắc. Nếu quý vị nghĩ “Hôm nay mình nhất định không được suy nghĩ lung tung”, tức là đã có Sắc. Nếu tánh Không đến cuối cùng mà thật sự trống rỗng, thì thậm chí, cái ý nghĩ “Tôi không muốn nghĩ” cũng không nghĩ đến, cũng như chưa từng suy nghĩ về nó. Quý vị nghĩ cái gì? Có gì mà phải suy nghĩ. Chẳng lẽ khi quý vị đi ngang qua trước cửa ngân hàng, rồi nghĩ: “Tôi không thể trộm cướp như kẻ xấu”? Nếu một người tốt đi ngang qua ngân hàng, họ chưa bao giờ nghĩ đến đi trộm cướp đồ, đây chính là vốn dĩ trống rỗng. Vì thế, theo Phật giáo, thực ra mọi Sắc tướng và tánh Không đều chứa đựng diệu pháp. Diệu pháp là làm thế nào để chuyển hóa ý thức. Thuyết duy thức là nói đến chuyển hóa ý thức để ý thức của quý vị có thể trở thành một loại cảnh giới của Phật giáo Đại thừa, chỉ những người có thể vượt qua chính mình, có thể nâng cao cảnh giới, có thể quên mình, có thể vô ngã và có thể loại bỏ ngã tướng, thì người đó mới có thể được tính là cảnh giới Đại thừa.

Hà vi không? (Thế nào là Không?) Chúng ta thường nói “trống rỗng rồi”, vậy trống rỗng là gì? Đó là những tư tưởng trong quá khứ của quý vị đã từng nghĩ đến, tư tưởng mà trước đây nghĩ đến bây giờ không nghĩ đến nó nữa, đã quên đi những chuyện đã từng nghĩ, nó đã trở thành quá khứ, nó không còn tồn tại trong trường ý thức thứ tám của quý vị nữa, vậy thì nó là quá khứ rồi, đó chính là điều mà chúng ta nói “Hà vi không” (thế nào là Không?) – thì nó liền trống rỗng.

Lấy một ví dụ đơn giản, người mà quý vị đã từng yêu khiến quý vị đau lòng như vậy. Khi quý vị bảy, tám mươi tuổi, vì những điều này đã từng nghĩ tới, đã là quá khứ, đã quên rồi và nó không còn tồn tại trong tâm trí của quý vị nữa thì lúc này nó được xem là rỗng Không, vì quý vị đã quên chuyện đó rồi. Tương tự như vậy, dùng sự trống rỗng này, quý vị nghĩ về “Tôi có thể làm gì trong tương lai? Sau này già đi tôi phải làm thế nào?” Điều mà quý vị tưởng tượng ra như vậy có phải là trống rỗng không? Bởi vì “sau này” của quý vị chưa đến, bởi vì tương lai chưa đến, nên tương lai cũng là trống rỗng. Đây là lý do tại sao Kinh Kim Cang nói rằng tương lai không thể có được, quá khứ không thể có được. Tất nhiên, nếu quý vị tưởng tượng về một người hoặc vật nào đó trong tương lai thì nó cũng không tồn tại nữa, vì nó không có. Lấy một ví dụ đơn giản, nhiều người có trí tưởng tượng khi đi xe buýt, nhiều bạn trẻ sẽ tưởng tượng rằng “bên cạnh mình còn một chỗ trống, chốc nữa nếu có một bạn trẻ nào đó đến ngồi cạnh thì tốt biết bao và tốt nhất là người khác giới”. Đây là suy nghĩ của con người, suy nghĩ của họ đang đấu tranh với sự trống rỗng. Họ cảm thấy không có sự trống rỗng, hiện tại họ vẫn còn ở trong trạng thái không có sự trống rỗng. Họ đang bám chấp vào sự tồn tại của một số trí tưởng tượng và ý thức. Tất cả những việc chúng ta đang làm hiện tại thực ra đều không có hiện tại, bởi vì chỉ cần vừa nói đến “hiện tại” thì cũng giống như Sư phụ đang nói với quý vị bây giờ “bông hoa này đẹp lắm”. Cái ví dụ thực tế bông hoa này vẫn chưa trôi qua, nhưng câu nói này có phải đã trở thành quá khứ rồi không? Vì Sư phụ vừa nói điều đó trong ba giây trước. Tương tự quý vị biết rõ nhất khi sử dụng điện thoại, vừa gửi tin nhắn cho người bạn hai giây trước là bạn ấy đã trả lời ngay lập tức trong một giây. Vì thế mọi thứ đều trống rỗng.

Kinh Kim Cang nói rằng tương lai là trống rỗng, hiện tại cũng là trống rỗng và quá khứ lại càng trống rỗng hơn. Kinh nghiệm cho chúng ta biết rằng không có quá khứ trong không gian vũ trụ. Chúng ta sống đến hôm nay, chúng ta không nên nghĩ về những chuyện quá khứ nữa, bởi quá khứ chỉ là một khoảnh khắc. Cũng giống như bây giờ, quý vị biết rằng nếu quý vị mơ về kiếp trước thì đó chỉ là một khoảnh khắc, và đó đã là sự trống rỗng rồi. Không có tương lai cũng không có hiện tại, bởi vì sự trống rỗng này không đại diện cho hiện tại của quý vị, hơn nữa hiện tại lại nhanh chóng trở thành quá khứ. Vì vậy, con người không thể nắm bắt được trạng thái của mình trong sự trống rỗng này. Tại sao con người lại mơ hồ? Đôi khi họ hạnh phúc như mơ, và đôi khi họ đau khổ như sống trong địa ngục, vì họ không thể nghĩ đến tương lai, quá khứ và hiện tại. Hãy để tư tưởng con người chúng ta dần dần trôi vào tánh Không. Tại sao nhiều người lại nói “Tẩu nhập không môn, ly khai Hồng Trần”? (Bước vào cửa Phật, rời bỏ phàm trần), bởi vì điều này là Không tướng. Nếu có suy nghĩ “Tôi đã hoàn toàn tuyệt vọng với thế giới này và không muốn sống ở thế gian này nữa” v.v. thì đây chính là cơ sở khiến cho con người mê hoặc điên đảo. Đó là bởi vì họ không hiểu được cấu trúc của tương lai, hiện tại và quá khứ thực sự đang chảy trong tâm mình.

 

Tập 98
NHỮNG NHÂN DUYÊN PHÁT SINH, PHẬT DẠY ĐÓ LÀ TÁNH KHÔNG

(01/07/2020)

Vì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni hiểu được con người và vạn vật trong vũ trụ đều không có sự chi phối, không ai có thể trường tồn và không ai có thể thống trị được thế gian, không gì có thể không thay đổi nên không có cách nào kiểm soát được nó. Theo thuật ngữ hiện đại thì nó có nghĩa là “Tôi không có cách nào kiểm soát được người này, và tôi cũng không có cách nào kiểm soát được thứ này” bởi vì nó không tự nhiên mà có. Vạn vật đều do “nhân duyên sở sinh pháp” (nghĩa là tất cả đều do nhân duyên, vì hôm nay quý vị làm việc này nên mới tạo nên mối duyên này, và mối duyên này lại khiến quý vị sinh ra một mối duyên khác, gọi là “tục duyên” là sự nối tiếp liên tục của các nhân duyên với nhau. Vì thế mà con người sống trong duyên sinh duyên diệt, đây chính là Quán vô thường). Vậy nên “Ta nói mọi thứ đều là trống rỗng”, và Tánh không là bản thể của vũ trụ. Hãy thử nghĩ xem, khi quý vị cảm thấy khó chịu và nhìn thấy món đồ nào đó mà quý vị yêu thích bị người khác mua mất hoặc sự việc gì đó bị thất bại, lúc này nếu quý vị nhìn lên bầu trời sẽ cảm thấy mình thật nhỏ bé, và quý vị sẽ cảm thấy mọi thứ trong vũ trụ đều Không tướng, nghĩa là mọi hình tướng đều trống rỗng. Trên đời này có gì là sĩ diện, có gì mà không thể buông bỏ được? Hãy nhìn lên không gian vũ trụ, nó bao la và hùng vĩ biết bao, hãy nhìn lại mình xem trong lòng ta nhỏ bé đến nhường nào. Thực ra, phiền não của con người chỉ là do những nhân duyên khởi lên gây ra một số làn sóng trong lòng quý vị. Trong quá trình điều khiển các mối nhân duyên này, chỉ là chúng có một số tác động lên bản thể (bản chất con người) mà thôi. “Bạn làm tôi kích động, khiến tôi nảy sinh ngũ dục lục trần”, đó là một quá trình. Đó là lý do tại sao giới Phật giáo gọi đó là Tánh không duyên khởi.

Nếu duyên phận đã bắt đầu, quý vị phải hiểu rõ bổn tánh của nó đến cuối cùng nhất định là vô thường, là trống không, thế nên Tánh không mới có thể Duyên khởi. Giống như chúng ta đi giúp đỡ một người, chúng ta với người này nhất định là có duyên phận. Quý vị đi độ một chúng sinh, nhất định là quý vị với chúng sinh này có duyên với nhau.

“Bởi vì tôi muốn học Phật, bởi vì tôi là người học Phật, tôi học Phật giáo Đại Thừa, nên tôi nhất thiết phải đi cứu độ chúng sinh”. Vậy nên quý vị sẽ dùng trí tuệ, thời gian và năng lực của mình để giúp đỡ họ, giúp cho họ có được nhận thức rõ ràng hơn về ý nghĩa chân thật của Phật pháp. Đôi khi quý vị sẽ dùng tài vật để bố thí cho họ, sau đó nói pháp cho họ nghe, để họ được giải thoát, loại nhân duyên được sinh ra như thế chính là “Nhân duyên sở sinh pháp”, là các pháp do nhân duyên sinh ra. Một người không quen biết, cuối cùng sẽ trở thành bạn tốt của quý vị. Một người mà quý vị đã từng độ họ, họ sẽ coi quý vị là Phật, đây chính là một pháp do nhân duyên sinh ra. Tuy nhiên, sau khi duyên sinh chính là Tánh không duyên khởi, bởi vì họ dần dần hoàn thiện, dần dần hiểu được rất nhiều, dần dần càng học càng thông suốt, vì quý vị đã từng trợ giúp họ, khi quý vị làm xong chuyện này, là duyên đã từng khởi qua rồi, đến cuối cùng họ có thể ngộ ra được cái đạo lý này, khi quý vị làm xong, duyên cũng liền trống không, quý vị không thể nào cả đời dìu dắt họ như vậy. Cũng giống như những người biết lái xe như chúng ta bây giờ, ai còn có thể nghĩ đến người thầy đã từng huấn luyện chúng ta lái xe trước đây? Không nghĩ đến nữa. Duyên phận chính là một quá trình dạy cho quý vị biết, khi đã biết rồi thì nó sẽ kết thúc. Mối duyên giữa người với người đã khởi lên rồi, quý vị phải hiểu rõ đến cuối cùng bổn tánh là trống rỗng. Rất nhiều người học Phật không thể hiểu được những điều này. “Ta nói tức là không”, cũng chính là Bồ Tát đã nói rồi, Phật đã nói rồi, ngay cả lời nói đã từng nói qua cũng đều trống rỗng. Đó là lý do tại sao rất nhiều vị Đại Phật nói: “Tôi đã thuyết pháp nhiều năm như vậy, như tôi chưa từng thuyết gì cả”. Đã từng thuyết giảng qua chưa? Đã từng thuyết giảng rồi. Đã từng thuyết giảng qua vậy nó đâu rồi? Không còn nữa. Tôi đã từng giúp bạn đúng không? Đã giúp rồi. Vậy sau khi giúp rồi thì sao? Lại không còn nữa. Đây chính là Tánh không duyên khởi.

Hôm nay chia sẻ cùng đại chúng về Tánh không duyên khởi đến đây, cám ơn đại chúng.

Tiếp theo Thầy sẽ kể cho mọi người nghe một câu chuyện. Ý niệm của con người vô cùng quan trọng, nếu như quý vị có một niệm thành kính, một niệm này Nhân tuy nhỏ nhưng có được Quả lớn. Vậy nên nhiều người đừng cho rằng một ý niệm giúp đỡ người khác là tạo ra “một Nhân rất nhỏ”, thật ra là sẽ có được quả báo lớn vô cùng.

Có một lần Đức Phật đến kinh thành của một vương quốc, nơi toàn những người thuộc chủng tộc Bà-la-môn (Ấn Độ có rất nhiều kinh thành. Quốc vương và quốc dân trong thành này về cơ bản đều là Bà-la-môn giáo). Vị lãnh đạo kinh thành nghe nói sức nhiếp thụ của Đức Phật rất lớn (nghĩa là rất có sức ảnh hưởng), ông nghĩ rằng người ở thành này được Đức Phật giáo hóa vô cùng nhiều, nên trong lòng vô cùng hoảng sợ, sợ rằng vì nguyên nhân này mà giáo lý Bà-la-môn không còn áp dụng được nữa (vì giáo lý của mỗi giáo phái đều không giống nhau). Để ngăn chặn tình trạng này xảy ra với kinh thành của họ, nên ông đã ban hành trước một mệnh lệnh: “Bất cứ ai đi cúng dường và tiếp thu giáo pháp của Đức Phật sẽ bị phạt nặng năm trăm lượng bạc.” Sau khi mọi người nhìn thấy pháp lệnh, đều tiếc năm trăm lượng bạc (là một số tiền lớn vào thời đó). Thế nên, khi Đức Phật cùng các đệ tử của mình vào thành, nhà nhà ai nấy đều vội vàng đóng cửa lại. Và cứ như thế liên tục ba ngày liền, tất cả Tăng chúng đều trở về với bát rỗng vì không có ai cúng dường.

Đến ngày thứ tư, có một người hầu lớn tuổi của một vị trưởng giả Bà-la-môn, từ trong nhà bưng ra một ít thức ăn đã thối rữa chuẩn bị đổ đi, liếc mắt nhìn thấy hình tướng uy nghi trang nghiêm của Phật Đà, bỗng nhiên sinh lòng cung kính. Bà rất muốn cúng dường Phật Đà, nhưng khi thấy những đồ vật mình có trong tay thô ráp, ôi thiu, hư hỏng, làm sao bà có thể cúng dường một vị Phật cao quý như vậy, bà đang nghĩ: Mình phải làm sao đây?

Đang lúc bà do dự, Phật Đà mỉm cười tỏa sáng (nụ cười của Phật Đà, trong ánh mắt sẽ tỏa ra loại Phật quang này), Đức Phật vui mừng dùng bát đựng thức ăn thiu trên tay bà lão, và quay đầu nói với A Nan: “Này A Nan, bà lão này một lòng thành kính, do công đức thành kính cúng dường Phật nên sẽ được sinh lên cõi trời trong mười lăm kiếp để hưởng lạc, và sau mười lăm kiếp sẽ tái sinh vào cõi người với nhân duyên xuất gia tu hành.” (Phật Đà nói về nhân duyên)

Chủ nhân của bà lão này tình cờ nghe thấy, lập tức từ trong nhà bước ra và nghĩ: “Những điều Đức Phật nói thật là bất khả tư nghị!” (Có mấy ai có thể biết được rằng mười lăm kiếp sẽ được lên thiên giới và sau mười lăm kiếp lại xuống trần gian. Cuối cùng, bà ấy còn được thành toàn xuất gia?)

Đức Phật hỏi vị trưởng lão Bà-la-môn: “Này ông, ông đã bao giờ thấy những điều khó tin khác chưa?” (Đức Phật rất dễ thương, nên hỏi ông ta: “Ông đã bao giờ nhìn thấy những điều khó tin khác chưa? Ông vừa nghe điều này, liền cảm thấy không thể tin được rồi à!”)

Trưởng lão đáp: “Có đấy, có một lần chúng tôi cùng nhau đi du lịch với năm trăm cỗ xe. Vì thời tiết oi bức nên chúng tôi tìm được một cây cổ thụ để làm bóng mát. Cây này đủ lớn để chứa năm trăm xe ngựa và che mát cho cả đoàn. (Cái cây lớn đến mức năm trăm xe ngựa có thể nhét vừa dưới bóng cây đó, mà vẫn còn dư chỗ để che mát) kích thước của cây cổ thụ thật không thể tin được!” thưa Đức Phật. Người đàn ông này thưa với Đức Phật như vậy.

Đức Phật vội hỏi: “Vậy ông có biết hạt của cái cây lớn này to cỡ nào không?”

Trưởng lão đáp: “Nhỏ như hạt cải.”

Đức Phật dạy: “Đúng vậy. Đây là đạo lý Nhân nhỏ mà có được Quả lớn”. Quả báo mà bà lão nhận được cũng giống như vậy.

Nhân bố thí cúng dường chư Phật của người học Phật tuy nhỏ nhưng lòng tin trong sạch thành kính của họ lại rất lớn nên sẽ nhận được quả báo to lớn như vậy. Chúng ta khấu đầu một lạy ở Quan Âm Đường, việc này có vẻ như là một việc nhỏ, nhưng quý vị có biết rằng một lạy đó có thể phù hộ cho gia đình, cho bản thân và người mà quý vị cảm thấy cần được bảo vệ. Nếu quý vị khấu đầu vài lần và thành tâm cầu nguyện Bồ Tát, Bồ Tát đều sẽ đáp ứng tâm nguyện của quý vị. Vì một cái Nhân nhỏ như vậy — nếu hôm nay thắp đèn dầu, có thể mắt quý vị liền được miễn một nhát dao phẫu thuật hoặc mổ vì đục thủy tinh thể; nếu hôm nay thành tâm khấu đầu lạy Phật, có thể gia đình quý vị liền tránh được nhiều tai họa. Đây chính là Nhân nhỏ Quả lớn.

Sau khi nghe lời Phật dạy, trưởng lão cảm thấy lời Phật nói rất có lý, lời Phật nói không dối nửa lời. Ông lại được nhìn thấy thân Phật tỏa sáng rực rỡ và vô cùng uy nghiêm nên nhanh chóng kêu gọi mọi người xung quanh đó: “Ôi! Thiên nhân đạo sư, Phật đã xuất hiện trước mặt chúng ta. Lời dạy của Ngài có thể dẫn dắt chúng ta thoát khỏi phiền não, mọi người hãy mau chóng đến đây!” Bởi vì khi vị trưởng lão này (một vị lớn tuổi, nói chung là một người rất có uy tín trong kinh thành) kêu gọi mọi người, thì tất cả mọi người liền bước ra khỏi nhà, đồng thời bị thu hút bởi ánh sáng và sự uy nghiêm của Đức Phật (tức là khi quý vị nhìn thấy một người rất trang nghiêm, thì quý vị sẽ rất kính trọng họ), Đức Phật liền ngồi xuống và giảng pháp cho họ.

Mọi người có mặt ở đó ai nấy đều pháp hỷ xung mãn sau khi được nghe pháp và tiếp đó họ lần lượt đi nộp phạt. (Cho nên tại sao ngày xưa, khi vừa nghe được pháp rất nhiều người liền chứng đắc quả vị? Bởi vì con người ngày xưa họ rất thành thật và tốt bụng. Ngày xưa đâu cần luật sư? “Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy” (quân tử nói một lời, bốn ngựa khó đuổi). Chính là nói một lời khi đã phát ra thì không thể thu lại, cũng ý rằng, lời nói của người quân tử rất uy tín, không dễ đổi thay. Con người thời nay luật sư ký tên rồi mà họ vẫn còn chối, không thừa nhận, không thành thật. Những người ở đó lần lượt đi nộp phạt để cúng dường Phật và nghe lời Phật dạy. Lãnh đạo kinh thành Bà-la-môn cảm thấy rất kỳ lạ: “Tiền là thứ mà người người đều yêu thích, vì sao mọi người lại sẵn lòng chịu tổn thất nhiều tiền nộp phạt như vậy để được cúng dường?” Việc này nhất định phải có nhân duyên lớn.” (Vì bản thân ông cũng chưa từng được nghe qua Đức Phật thuyết pháp.) Lúc bấy giờ, vị lãnh đạo kinh thành cũng cảm động trước sự việc này, ông kính cẩn mời Đức Phật đến cung điện thuyết pháp, nên toàn thể người dân trong kinh thành đều được thọ nhận lời dạy của Đức Phật.

Vì lòng thành kính của bà lão nên Đức Phật đã bố thí với nụ cười tỏa ra ánh sáng (Nụ cười của Đức Phật có thể khiến tất cả chúng sinh nhiếp thụ và cảm nhận được lòng từ bi), nhất là vì nhân duyên tỏa ra ánh sáng của Đức Phật, nên xóa bỏ được sự nghi ngờ của mọi người (có người khi nói chuyện, người khác liền tin họ, vì tia sáng phát ra từ mắt họ là sự chân thật và không dối lừa. Đức Phật dùng ánh mắt và nụ cười của Ngài để giải tỏa những nghi ngờ của mọi người về Phật về Pháp. Đây là cách giảng dạy tùy theo tình huống mà dùng phương tiện thiện xảo (chúng ta đi vào chùa nhìn tôn tượng của Đức Phật rất trang nghiêm. Chưa từng có một bức tượng nào mà nhìn thấy Đức Phật cười. Nhưng quý vị thấy đấy, để cứu độ chúng sinh Đức Phật liền mỉm cười). Tiếp theo đó, Đức Phật tiếp tục rải mưa pháp và dạy cho tất cả chúng sinh con đường đi đến giải thoát, đây chính là phá hoặc trừ nghi, từ thể khởi dụng (diệt trừ mê lầm nghi ngờ bắt đầu từ thân).

Câu chuyện này dạy chúng ta rằng nếu muốn cứu người, chúng ta phải nhìn thấy tính hiền lành vốn có thực sự trong lòng người khác. Đừng nhìn những suy nghĩ khiến quý vị không vui trong tiềm thức thứ bảy và thứ tám của họ, và đừng cố tình đoán xem người khác nghĩ gì. Nếu quý vị chưa có trí tuệ, kinh nghiệm và khả năng phán đoán đúng đắn, thông thường chắc chắn quý vị sẽ đoán sai. Đức Phật muốn chúng ta biết có lòng từ bi và bản thân không cố chấp để giúp chúng sinh hóa giải những chấp trước trong lòng họ. Vì sự hợp tan chia ly là điều không thể tránh khỏi, đừng lãng phí cuộc đời mình vào những việc mà việc đó chắc chắn sẽ làm mình hối hận. Đến thời điểm hiện tại chúng ta không cố gắng học Phật, đã làm lãng phí biết bao nhiêu tuổi thanh xuân của mình. Ngày ngày chúng ta sống trong khóc than, truy cầu và tham muốn, rốt cuộc những gì chúng ta nhận được là sự mất mát và tuyệt vọng. Vì vậy người học Phật đừng lãng phí cuộc đời mình vào những việc mà việc đó chắc chắn sẽ làm mình hối hận. Đừng làm những điều mà bản thân không thể làm được. Nếu một người cứ nhất quyết làm cho mình đẹp đẽ hoàn hảo thì đó chỉ là vẻ ưa chuộng bề ngoài. Danh tiếng cùng tôn quý đến từ tài năng thực sự và kiến ​​thức thực tế, khi có được đức hạnh rồi thì tự nhiên sẽ được hoan nghênh.

Hy vọng mọi người cố gắng học Phật, tu tâm cho tốt, thật thà chất phác, từng bước vững chắc để dấn thân vào cuộc hành trình vĩ đại hướng về Phật của chúng ta. Cảm ơn đại chúng.

 

Tập 99
BÀN VỀ KIẾN PHẦN VÀ TƯỚNG PHẦN

(04/07/2020)

Được rồi, hôm nay Thầy sẽ tiếp tục giảng cho mọi người về “Bạch Thoại Phật Pháp”.

Sư phụ nhớ lần trước Thầy có khai thị cho quý sư về tâm lý học của Phật giáo. Trên thực tế, quan điểm triết học và tâm lý học của Phật giáo đã được hình thành cách đây 2.500 năm. Từ xa xưa, vì chúng sinh có sự huân tập cũng như đã trải qua một sự thẩm thấu, một quá trình xông ướp bởi nghiệp vô minh và hạt giống này do tác dụng của tự tâm gieo sâu trong thức, nên dần dần tạo ra rất nhiều nghiệp vô minh. Thế nên liền phát sinh thuyết Nhất nguyên là “Năng” duyên và thuyết Nhị nguyên là “Sở” duyên, trong đó mê hoặc đối lập với thuyết Nhị Nguyên này. “Năng” có nghĩa là tôi có khả năng cảm nhận và tôi có khả năng làm, nó là chủ thể có tác dụng nhận thức; “Sở” có nghĩa là trạng thái và hoàn cảnh mà tôi cảm nhận hôm nay, nó là khách thể (đối tượng) bị nhận thức. Thật ra, nhiều người học Phật vì muốn loại bỏ đi mê hoặc đối lập với thuyết Nhị nguyên này, nên họ dùng cảm giác “Năng” kiến trong tâm mình (hôm nay tôi có khả năng cảm nhận được một điều gì đó, họ dùng tâm “tôi có khả năng” của chính họ để làm điều này) và hoàn cảnh “Sở” kiến tôi cảm nhận (tức là tôi có thể cảm nhận được những thay đổi trong hoàn cảnh này và tôi có thể cảm nhận được những thay đổi trong tâm mình). Giữa hai sự đối lập này biến sinh ra con đường Thiền tu đều trống rỗng, phải cả hai đều trống rỗng. Nói cách khác, tâm của quý vị phải rỗng Không ngay cả khi quý vị đang làm việc gì đó và quý vị cũng phải cảm thấy trống rỗng khi tiếp xúc với môi trường bên ngoài. Sư phụ sẽ tiến hành phân tích sâu hơn với mọi người về vấn đề này.

Phật giáo Đại Thừa có hai tông phái tư tưởng: một là Duy thức, một là Trung quan. Duy thức chính là kiến giải của Duy thức tông, họ cho rằng vạn vật trên thế gian đều do ý thức điều khiển chính, điều này trên thực tế liền phù hợp với kiến giải đầu tiên của Phật giáo Đại Thừa. Phật Đà đã từng khai thị với chúng ta rằng “vạn pháp đều do duy thức mà thay đổi”, bởi vì ý thức của quý vị đã thay đổi, nên tâm của quý vị mới có thể thay đổi. Lấy một ví dụ đơn giản, hôm nay quý vị nghĩ “Tôi mua thứ này giá rất hời”, tiếp theo đó tâm quý vị liền biến đổi, liền cảm thấy rất vui; Nếu hôm nay quý vị cảm thấy tốn rất nhiều tiền để mua một món đồ mà giá không hời, vậy thì tâm của quý vị liền sinh ra một loại biến hóa khác. Trên thực tế, sự theo đuổi ý thức chủ quan của con người là rất mãnh liệt, luôn cho rằng ý thức chi phối toàn bộ những thay đổi trong tâm thái của chính mình. Nếu con người chịu thiệt, ví dụ như bị tổn thất tiền, có người sẽ hối hận cả đời “Ai da, lúc tôi bao nhiêu tuổi đã từng mất hàng chục nghìn”; Vậy thì có người liền trả lời: “Ai da, chi tiền để loại bỏ thiên tai”, ý thức của họ chuyển đổi thì cuộc sống và toàn bộ quan niệm về con người của họ cũng sẽ thay đổi. Vậy nên Phật Đà nói vạn pháp đều là do Duy thức mà thay đổi, hết thảy mọi thứ đều do tâm thái của quý vị phát sinh biến hóa.

“Tam giới đô duy tâm sở hiện” (Tam giới đều do tâm biểu hiện) cũng có nghĩa là, ngày nay bất kể chúng ta sống ở cõi nào trên thế giới này, thì tâm hiện tại, tâm tương lai và tâm quá khứ của quý vị, thực ra tất cả mọi thứ đều do tâm thức của quý vị đang chuyển biến. Đây chính là “Tam giới duy tâm sở hiện” mà Sư phụ lần trước nói với mọi người, nghĩa là việc nâng cao cảnh giới cũng phụ thuộc vào ý thức của quý vị để thay đổi. Hôm nay vạn pháp – bất luận là pháp gì, tất cả vạn vật ở nhân gian đều là sự thay đổi trong ý thức của quý vị, và nó làm thay đổi tâm thái của quý vị. Quý vị cảm thấy điều này làm cho quý vị hạnh phúc, trên thực tế thì điều này rất đau khổ, nhưng ở thực tại thì quý vị lại cảm thấy hạnh phúc. Hôm nay quý vị cho rằng sự việc này là một điều xui xẻo, theo cách nhìn nhận của mọi người thì họ rất hâm mộ quý vị về điều này, nhưng bản thân quý vị lại cảm thấy không vui, thực ra quý vị đang tiếp nhận cảm giác không vui này. Có người rất không thích làm lãnh đạo, cảm thấy rất phiền phức, họ cho rằng làm một người quần chúng bình thường thì sẽ không có phiền não gì, nhưng một khi họ được bầu chọn làm người gương mẫu hay lao động gương mẫu, ý thức của họ thay đổi liền cảm thấy rất phiền phức, nên mỗi ngày đi làm đều xụ mặt không vui, khác hẳn với trước đây thường hay cười. Tất cả mọi thứ đều do ý thức của quý vị tạo ra.

Hôm nay Thầy lại tiếp tục nhấn mạnh một số khai thị về thuyết Duy thức cùng quý vị, cũng là để nói cho mọi người biết, Tam giới không phải do một môi trường đặc biệt nào đó tạo ra, chúng không được hình thành bởi một loại Vô duyên thể, tức là không phải do một khối không duyên không phận vô điều kiện mà được hình thành như vậy, thực ra nó cũng là do nội tâm nội hàm của chúng sinh biến hiện, bởi vì đó là nghiệp lực trong bổn tánh của chúng sinh. Vì sao thường hay nói người này thiện có thiện nghiệp, ác có ác nghiệp? Nghiệp lực này không có nghĩa là hoàn toàn đều là ác hoặc hoàn toàn đều là thiện, mà do tâm của quý vị tạo ra hoàn cảnh bên ngoài. Lấy một ví dụ đơn giản, cái tâm này của quý vị là một tấm gương, hôm nay quý vị chiếu kiến điều thiện, thì trong tâm liền có thiện. Chiếu kiến điều ác, trong tâm liền có ác niệm.

Điều này nhằm nói với mọi người rằng, tâm sẽ thay đổi, tâm sẽ tạo ra nghiệp cho quý vị. Vậy nên cho dù Tam giới có hiển hóa ra sao trong tâm quý vị, thì cũng do chính quý vị tạo thành. Đây là điều mà Sư phụ thường nói với mọi người, đau khổ cũng là do quý vị tạo thành, hạnh phúc cũng là nghiệp của chính quý vị tạo thành. Nhiều người đau khổ trách móc người khác, chính mình làm sai lại đi trách người khác, còn khi hạnh phúc đến thì đều nói mình làm đúng. Thật ra đúng hay sai chỉ là những khái niệm trừu tượng. Bởi vì có một số sự việc đúng với hiện tại nhưng trong quá khứ lại là sai, do thời đại hiện nay đã khác nên sự việc này đúng với hiện tại. Có một số việc là sai ở hiện tại, nhưng đúng vào thời đại quá khứ. Nhiều điều là như vậy đấy, chỉ là do tâm thức của quý vị thay đổi mà thôi. Ví dụ, bây giờ Thầy nói với quý vị việc này có thể làm, và tâm thức quý vị nói: “Được rồi, tôi đang làm việc này”. Một lát sau Thầy lại nói việc này không thể làm, lúc này bổn tánh của quý vị đã và đang thay đổi, thảy đều do tâm tạo ra, quý vị liền cảm thấy: “Đây là sai, tôi không thể làm”. Rõ ràng trước đây có thể làm, hiện tại lại không thể làm, đây chính là ý thức của quý vị đã và đang thay đổi.

Vì vậy, những biểu hiện trong Tam giới đều là nghiệp do bản thể tạo ra, hay còn gọi là tự tướng – là chân tướng của chính mình; chúng ta biểu hiện nó theo cách thông thường ở bên ngoài của mình (tức là nếu hôm nay nội tâm quý vị có ý niệm, thì nó sẽ xuất hiện ở hoàn cảnh bên ngoài trong nội tâm của quý vị), nó được gọi là cộng tướng hay còn gọi là phổ quát. Phần trước Sư phụ đã nói với mọi người về sự đối lập của thuyết Nhị nguyên. Thuyết Nhị nguyên này là “Năng” và “Sở”. Lần trước Thầy đã nói với mọi người rằng những thay đổi trong hoàn cảnh là tồn tại một cách khách quan, còn những thay đổi trong tâm là tính năng động ​chủ quan. Môi trường tồn tại một cách khách quan gọi là Tướng phần (khách quan); nếu tâm của quý vị là tính năng động chủ quan thì quý vị đã hiểu nó, gọi là Kiến phần (chủ quan). Ví dụ: “Ồ, sao hôm nay trời lại mưa rồi?” Nhiều người tưởng rằng mưa thì không tốt; nhưng vì nơi này hạn hán và đã lâu không mưa. Đối với người khác họ sẽ nghĩ là “Trời mưa là điều tốt, được tưới nước cam lồ rồi”. Thế thì tâm là kẻ chủ quan. Nếu quý vị cho rằng hôm nay mưa là tốt thì nó là cam lồ, nhưng nếu tâm quý vị cho rằng hôm nay mưa là xấu, thì đó là Kiến phần (chủ quan), bởi vì chính quý vị có thể nhìn thấy được quan niệm, những gì thấy và làm của bản thân. Điều tuyệt vời của thuyết Duy thức là ở chỗ nó chia Tâm thức của con người thành nhiều loại: những gì quý vị nhìn thấy bằng mắt, những gì quý vị nghe bằng tai, những gì quý vị cảm nhận bằng mũi, lưỡi, cơ thể, ý thức của chính mình, cũng như ý thức Mạt-na (thức thứ bảy) và ý thức A-lại-da (thức thứ tám). Thực ra, những điều này sẽ trở thành một kiểu nhận biết cá thể, hoặc cũng có thể trở thành một kiểu nhận biết tổng thể, nó chính là Tướng phần và Kiến phần

Nhìn từ một góc độ thống nhất, dù là Kiến phần hay Tướng phần thì tất cả đều là một thân tâm biến hiện ra. Đôi khi là tâm bên ngoài đóng vai trò, đôi khi là tâm bên trong đóng vai trò. Tâm bên ngoài là điều kiện để thay đổi, còn tâm bên trong là cơ sở để thay đổi. Lấy một ví dụ đơn giản, hai người bạn thường cãi nhau về một số việc nào đó, vậy họ có muốn làm bạn với nhau tiếp tục nữa không? Hình tướng bề ngoài cho mọi người biết là họ “cãi nhau”; còn hình tướng bên trong thì: “Ai da, vấn đề là không có tính nguyên tắc, chỉ là một số quan điểm bất đồng mà thôi”, cuối cùng sẽ không có thay đổi cơ bản nào khởi lên trong tâm họ, điều đó có nghĩa là hai người bạn có thể tiếp tục là bạn của nhau. Dù tình trạng bên ngoài có gây nhau, cãi nhau đến mấy, nhưng bản thân vẫn cho rằng điều đó không quan trọng: “Chúng ta vẫn là bạn tốt của nhau”. Đây chính là Nội tướng tức là hình tướng bên trong của quý vị.

Vì thế, cái thấy và hình tướng thực ra là do tâm hành động, và tâm là một thể. Tâm bên ngoài quý vị nhìn thấy màu sắc, hình dạng, quan điểm hoặc kích thước của một vật nào đó, hoặc mắt quý vị thấy vật này thật khủng khiếp, và tai quý vị nghe người khác nói, “Ồ, thật xấu hổ, tất cả mọi người đang nói về tôi.” Đó là phần thị giác, chỉ là một phần trong Kiến phần và Tướng phần của quý vị mà thôi. Điều thực sự làm thay đổi quý vị chính là phần chủ quan trong nội tâm của quý vị. Nếu quý vị cho rằng vấn đề này quan trọng thì nó quan trọng. Vì vậy, dù người khác có nói với quý vị những lời độc ác bao nhiêu đi nữa, hay họ có nói gì về vấn đề này, nếu tâm quý vị không coi trọng nó, thì chuyện này sẽ không được coi trọng. Cũng giống như trước đây nhiều người từng làm trong công xưởng đã đến gặp xưởng trưởng và nói: “Thưa xưởng trưởng, tình trạng dột nước trong xưởng rất nghiêm trọng”. Nếu xưởng trưởng không để ý đến vấn đề này thì sự việc này cũng không quan trọng. Nếu xưởng trưởng nói: “Ồ, sao để như vậy được?” Vậy thì chuyện này lập tức được xem trọng. Thực ra là một tâm, Kiến phần và Tướng phần đều thuộc về một thể. Vì vậy, cũng giống như nằm mơ, trong giấc mơ con người chúng ta sẽ theo bản năng cho rằng những thứ mình nhìn thấy là thật, và cho rằng những thứ này tồn tại độc lập với nhau. Theo tâm lý học, nếu hôm nay quý vị có một giấc mơ đẹp, đi đến một nơi nào đó và cảm thấy rất hạnh phúc thì quý vị cho rằng đây là điều tồn tại trong giấc mơ; thực ra khi quý vị tỉnh dậy, chuyện vui vẻ mà quý vị nhìn thấy trong mộng cùng cảnh giới nhìn thấy toàn bộ đều đã bị biến mất, không còn nữa. Vậy thì giấc mơ này và trước khi quý vị tỉnh giấc, nó là một tổng thể không thể tách rời. Hãy thử nghĩ xem, nếu giấc mơ không tiếp tục thì quý vị sẽ thức dậy rồi; nếu giấc mơ này có thể tiếp tục và khiến quý vị luôn vui vẻ thì quý vị sẽ rất hạnh phúc trong hoàn cảnh đó, và đó cũng là “Kiến phần” của chính quý vị. Bởi vì kiến ​​giải của quý vị đã làm cho quý vị vui và quý vị cho rằng đây là thật nên quý vị liền hạnh phúc.

Tướng chỉ là một vẻ bề ngoài, để cho quý vị hiểu, để cho quý vị biết. Lấy một ví dụ đơn giản, quý vị thấy người này nhìn chằm chằm vào mình và quý vị cảm nhận anh ta rất thích quý vị, chỉ cần quý vị có cái Tướng phần này, (tức là có đối tượng nhận biết này), dùng Kiến phần của chính mình để lý giải nó, “Tôi biết anh ta thích tôi”, khi đó quý vị sẽ sinh ra một loại yêu thích, đây chính là biện chứng, là một khái niệm trong tâm lý học. Khi còn bé Thầy từng nghe qua một câu chuyện cười, nói một người đàn ông có rất nhiều vết rỗ trên mặt, không biết đã tìm bao nhiêu cô bạn gái rồi, nhưng đều bị người ta bỏ. Kết quả là vào một ngày nọ, có người giới thiệu cho cậu ấy một giáo viên mẫu giáo, sau khi hai người gặp nhau, cậu ta liền nói với cô: “Ngày mai chúng ta còn có thể gặp nhau nữa không?”, cô giáo viên đáp: “Được rồi, tối mai được không? Đừng quá muộn, trước khi trời tối chứ? 5 giờ. Chúng ta vẫn gặp nhau ở chỗ cũ”. Người đàn ông kia mừng như mở hội. Trên thực tế về tâm lý học mà nói, tâm ý của cậu ta đạt được thỏa mãn, cậu ta nhìn thấy cái tướng này, tức là tai nghe được cô giáo viên muốn hẹn với mình và mắt đã nhìn thấy “Cô ấy nhìn tôi hài lòng, nên tối mai mới đồng ý hẹn gặp lại”, cái Tướng phần và Kiến phần này, chính là “Tôi nghĩ cô ấy vẫn còn chấp nhận tôi”. Qua ngày hôm sau, trời còn chưa tối, cô giáo dẫn theo một đám học trò ở trường mẫu giáo tới, người đàn ông kia vừa nhìn cô liền thốt lên: “Cô dẫn theo nhiều học trò như vậy tới đây làm gì? Chúng ta yêu đương…” Cô giáo không thèm đếm xỉa tới cậu ta, liền hướng về phía các bạn nhỏ và nói: “Các em hãy ngẩng đầu lên nhìn chú này một chút.” Sau khi bọn nhỏ nhìn xong, cô giáo nói: “Nếu bây giờ các em không chịu tiêm phòng, sau này lớn lên, sẽ giống như chú này có đầy vết rỗ trên mặt.” Cái Tướng này của cậu ta là cái Tướng mà làm cho cậu ta hiểu lầm, là cái Tướng không có nhận biết; Phần tức là ý thức phân biệt nội tâm của cậu ta sinh ra ảo giác. Đây chính là tâm lý học, cậu ta là ý thức trực quan, không có khúc chiết – tức là ý thức khúc quan.

Vậy nên Sư phụ nói với mọi người, Phật Đà dạy chúng ta rằng ngoại tướng có thể làm ảnh hưởng đến nội tâm của chúng ta, tức là tâm quý vị đang chuyển động, thì những gì quý vị nhìn thấy cũng đang chuyển động trong tâm quý vị, và những gì quý vị không thấy cũng đang vận hành trong tâm quý vị. Phật Đà dạy cho chúng ta biết: “Tâm sinh tắc cảnh sinh”, chỉ cần tâm có sinh khởi, cảnh giới liền sinh khởi, hôm nay quý vị khởi sinh phiền não, liền có phiền não; “Tâm diệt tắc cảnh diệt”, hôm nay quý vị nghĩ chuyện này không còn nữa, thì nó sẽ biến mất. “Cảnh sinh tắc tâm sinh”, khi quý vị nhìn thấy hoàn cảnh này, tâm của quý vị sinh khởi ra một số ý tưởng, vậy thì tâm của quý vị liền khởi sinh ra; “Cảnh diệt tắc tâm diệt”. Lấy một ví dụ đơn giản, buổi tối ở một nơi nông thôn vắng vẻ, quý vị không nghe thấy tiếng động gì, đột nhiên từ một nơi rất xa có một chiếc xe ô tô chạy tới, đường nông thôn rất tối, và không có ánh đèn nào cả, quý vị nhìn từ xa thấy chiếc xe hơi này chỉ có một bóng đèn, bởi vì bóng đèn còn lại đã bị hỏng, quý vị chỉ nhìn thấy một ánh đèn từ rất xa cứ chập chờn, hơn nữa vì khi xe chạy ven đường có rất nhiều cây cối, nên ngọn đèn này lúc sáng lúc tắt, trong tâm quý vị có thể sẽ khởi sinh: “Ôi chao, có phải là đã nhìn thấy vong linh gì rồi không?” Thật ra đó chỉ là một chiếc xe ô tô có một bóng đèn, chạy ngang qua rất nhiều cây cối nên nó nhấp nháy – đây chính là tâm quý vị khởi sinh ra. Khi nó chạy đến trước mặt quý vị: “Ôi, là một chiếc xe chỉ có một bóng đèn”, cảnh không còn nữa, tâm cũng diệt mất rồi. Cũng giống như mối hận thù của quý vị đối với một người ngày hôm nay vậy: quý vị hận họ, đợi đến khi họ bước tới và nói: “Chuyện này không phải tôi nói mà người khác nói đấy, bạn đừng hiểu lầm tôi”, cái cảnh này của quý vị liền bị tiêu diệt.

Vì vậy Đức Phật nói tâm con người: “Tâm tức là cảnh, cảnh tức là tâm”. Hoàn cảnh chính là tâm của quý vị, và tâm của quý vị chính là hoàn cảnh. Nên khi chúng ta chú ý đến một điều gì đó trên thế gian này, có thể tâm chúng ta vẫn còn đó. Khi mắt chúng ta nhìn thấy, tâm liền rung động; khi tai chúng ta nghe thấy, tâm lại rung động. Đó là lý do tại sao nói “Nếu không nhìn thấy, thì sẽ không cảm nhận được”. Vậy nên không nhìn thấy thì tâm sẽ không bị vướng mắc, nếu không nghe người khác nói, quý vị liền có cảm giác trống rỗng, trong tâm liền có sự trống rỗng. Hơn nữa cảm giác trống rỗng trong một thời gian dài sẽ tạo ra một môi trường tích cực với năng lượng tích cực trong tâm quý vị, đó gọi là Không cảnh. Mặc dù Không cảnh không giống với Sắc cảnh ở phàm trần, Sắc cảnh tức là hôm nay tôi đã thấy rất nhiều bữa tiệc, rất nhiều người, rất nhiều cửa hàng và ánh đèn neon, nên tôi rất hạnh phúc, nhưng Không cảnh là một cảnh giới cao quý ở trong tâm. Bởi vì khi một người thường để tâm ở trạng thái trống rỗng sẽ không gặp phiền não, còn một người lăn lộn trong thế giới phàm trần phiền não sẽ không rời họ. Vậy nên, chúng ta cam nguyện tu tâm tu đến trạng thái Không cảnh, vì loại cảnh giới này mới là căn nguyên siêu thoát lục đạo trong tương lai của chúng ta.

 

Tập 100
TÂM VẬT NHẤT NGUYÊN, PHẢN QUY BỔN TÁNH
(Khi tâm và vật tập trung thống nhất sẽ quay về tính cách vốn có ban đầu)

(04/07/2020)

Điều quan trọng nhất trong việc tu tâm là trau dồi cương lĩnh. Bận rộn tu tâm cả buổi, vậy rốt cuộc cương lĩnh của tu tâm là gì? Đó là như như bất động. Theo truyền thống cổ xưa đã từng có câu: “Cảm nhi toại thông, tịch nhiên bất động”. Thực ra là để cho chúng ta hiểu: ngày nay, đối với mọi sự việc, trước tiên chúng ta phải có cảm giác và phải dụng tâm mà làm, chỉ cần chúng ta chậm rãi cảm nhận, chậm rãi làm thì suy nghĩ của chúng ta sẽ dần trở nên nghiêm túc, ý nghĩ sẽ thay đổi và làm sáng tỏ mọi việc; “tịch nhiên bất động”, nghĩa là tâm quý vị sẽ như như bất động sau khi yên lặng. Vậy nên, một người có thể yên tĩnh thì họ sẽ không có hành động gì; nếu tâm của một người đã rung động thì họ sẽ có hành động. Hai câu này thực chất đã tóm tắt lại lý luận cơ bản về “Tâm vật nhất nguyên” trong triết học văn hóa truyền thống cổ xưa. “Tâm vật nhất nguyên” là gì? Nó có nghĩa là tâm lý và vật thể thực ra được kết hợp thành một, cả hai đều xuất phát từ tâm, đây là lý luận cơ bản. Trên thực tế, điều này nói về tự tánh và bản tánh của sinh mệnh, nó là tịch nhiên bất biến và nó là như như bất động. Nghĩa là nói cho chúng ta biết bản chất nội tại của con người vốn là bất di bất dịch, lẽ ra chúng ta nên giữ vững và không nên ồn ào. Người như như bất động sẽ không cãi vã, người như như bất động sẽ không giở trò hay xích mích với người khác. Vậy nên phải hiểu rằng bổn tánh sẽ không bao giờ thay đổi. Chỉ khi quý vị tịnh lại, quý vị mới cảm nhận được sự tồn tại của bổn tánh. Khi quý vị gặp phiền não sẽ không thể tìm thấy được bổn tánh của mình. Khi dục vọng của quý vị phình trướng, quý vị sẽ mất đi bổn tánh và Phật tánh của mình. Vậy nên chỉ có sự yên lặng mới có thể làm cho người ta bất động.

“Như như bất động, cảm nhi toại thông”. Sư phụ đưa ra một ví dụ, khi chúng ta để mắt và lực chú ý vào một vật thể nào đó, chúng ta sẽ thấy được vật thể này vô cùng rõ ràng tường tận. Lỗ tai của chúng ta cũng sẽ “cảm nhi toại thông”, nói cách khác thực ra chỉ cần quý vị dụng tâm, quý vị muốn nghe giọng nói của ai thì có thể nghe được giọng người đó nói chuyện, mắt của quý vị muốn nhìn ai, quý vị có thể nhìn thấy được người đó. Lấy một ví dụ đơn giản, trước đây chúng ta muốn xem một ai đó thật không dễ dàng, hiện tại có dễ dàng không? Bây giờ quý vị muốn nhìn ai, chỉ cần lên mạng, cái gì cũng thấy được. Quý vị nghĩ đến ai, chỉ cần mở mạng Internet ra lập tức có thể nhìn thấy. Đây không phải là “cảm nhi toại thông” sao? Tai chúng ta có thể lắng nghe bất cứ ai chúng ta muốn, “Hôm nay tôi không muốn nghe bạn nói, bạn không dễ thương, tôi không nghe nữa. Tôi muốn nghe Sư phụ giảng, nên tôi nghe Sư phụ thuyết giảng”, quý vị liền có thể nhắm vào giọng nói của người mà quý vị muốn nghe. Thực ra là để nói cho chúng ta biết, khi chúng ta dùng nội tâm chú ý vào một việc nào đó, chỉ cần dụng tâm cùng thành ý đạt tới trình độ nhất định, sẽ có một loại năng lực nhận thức. Đây chính là lý do chỉ cần tâm thành tắc linh. Ngày nay chúng ta quỳ trước Bồ Tát, chỉ cần thành tâm thành ý, thì chúng ta sẽ có khả năng cảm nhận được rằng Bồ Tát biết chúng ta đang cầu xin Ngài, khi đó chúng ta liền có thể hiểu được “cảm nhi toại thông”. Mọi người có hiểu Sư phụ nói gì không? Đó là khi quý vị đã cảm nhận được một điều gì đó, khi toàn bộ tinh thần và sinh lực của quý vị đều tham gia, toàn bộ sự chú ý đều dùng để phán đoán một điều gì đó, thì sự nhạy cảm của quý vị sẽ đến. Ví dụ, khi quý vị không bao giờ đề phòng người bạn này, thì quý vị sẽ không có chút nhạy cảm gì. Nhưng nếu có người nói với quý vị: “Hôm nay bạn phải cẩn thận, anh ấy sẽ nói xấu bạn trước mặt nhiều người, cho nên hôm nay bạn tuyệt đối không nên xúc phạm với anh ấy. Nếu bạn nói hơi xúc phạm tới anh ấy, anh ấy sẽ ngay lập tức mắng bạn trước mặt mọi người”. Lúc này đến bữa tiệc quý vị sẽ đặc biệt cẩn thận, sợ chọc giận anh ta, vì thế cũng không dám nói chuyện với anh ta. Có phải quý vị có cái “cảm nhận” như vậy rồi không? Đây chính là điều Sư phụ nói với mọi người, một người chỉ khi có được tĩnh lặng mới có thể phát hiện ra bảo bối, một người chỉ khi sinh lực của họ đều chú tâm vào một điểm nào đó, họ mới có thể cầu xin Bồ Tát quan tâm từ bi đối với họ, họ có thể cảm nhận được.

Sư phụ đã từng kể một câu chuyện nhỏ trong Pháp hội, kể rằng có một người cha trước khi đi làm không còn kịp giờ, ông ta vì tìm đồng hồ đeo tay, tìm tới tìm lui không thấy, nên nổi giận ném đồ đạc tứ tung. Con trai ông sợ hãi đến nỗi ngồi một góc không dám lên tiếng. Cuối cùng đứa trẻ nói: “Bố ơi, đồng hồ ở đây ạ.” Ông bố đáp: “Bố vừa mới tìm ở chỗ này mà!” Ông cảm thấy kỳ lạ, chiếc đồng hồ bị đè dưới bộ quần áo, làm sao đứa trẻ này biết được nhỉ? Người cha hỏi: “Con trai à, làm sao con biết được chiếc đồng hồ ở đây?” đứa trẻ nói: “Bố ơi, con ngồi đây yên lặng không nói gì, vì vậy con mới nghe được tiếng kim giây đang chạy.” Đó là những gì nói với chúng ta, một người tĩnh lặng có thể sinh tuệ và yên tĩnh mới có thể khám phá được hoạt động bên trong nội tâm của chính mình. Trong lòng quý vị đang suy nghĩ gì, có đôi khi quý vị không thể nào khống chế được. Chỉ có sự yên tĩnh, mới có thể biết được mình đang suy nghĩ điều gì. Có đôi khi yên tĩnh lại, cảm thấy “Sao mình có thể nghĩ như thế? Sao mình lại nghĩ lung tung thế nhỉ? Sao mình lại nghĩ về người khác như vậy?”, chính mình cũng cảm thấy hổ thẹn, bởi vì trí tuệ đã xuất hiện sau khi quý vị đã an tịnh. Vậy nên để nghiệm chứng Phật pháp, quý vị chỉ có thể cảm nhận được sự tồn tại của Phật giáo bằng cách dựa vào sự yên tĩnh, như như bất động. Người an tĩnh có thể nhìn thấy Phật, người an tĩnh có thể cảm nhận được Phật ở trong tâm họ, có thể cảm nhận được trí tuệ trong bổn tánh. Vì sao tĩnh có thể sinh tuệ – yên tĩnh có thể sinh ra trí tuệ? Tại sao phải tịch diệt chứ? Thực ra tịch diệt chính là Niết-bàn và đã triệt ngộ chân lý. Vậy thì, trong Phật giáo truyền thống tịch mịch bất động và như bất động chính là Niết-bàn, là một loại trí tuệ, một sự nâng cao về cảnh giới và là một chân lý.

Thầy lại nói thêm với mọi người rằng khi Niết-bàn rồi (nếu người này đã Niết-bàn thì sẽ không còn nữa; ngôi nhà mà quý vị yêu thích không còn nữa nghĩa là nó đã tịch diệt rồi), thì tất nhiên tâm quý vị sẽ như như bất động. Ví dụ, ban đầu quý vị lo lắng về ngôi nhà này, nhưng cuối cùng ngôi nhà đã bị người trong gia đình bán đi, không còn nữa, vậy thì quý vị cũng sẽ buông bỏ nỗi lo này; Quý vị lo lắng vấn vương về một người bạn, cuối cùng cũng có người nói với quý vị rằng: bạn đã nghĩ về người đó cả đời, hơn nữa họ đã đi rồi, có phải khi đó quý vị sẽ như như bất động và buông xuống rồi không? Đạo Phật dạy chúng ta con người đến cuối cùng cũng sẽ tịch diệt, và tất cả sẽ không còn nữa. Tại sao hiện tại quý vị lại phải vướng mắc? Tiền bạc của quý vị sẽ dùng hết, một ngày nào đó ngôi nhà của quý vị sẽ không còn là của quý vị nữa, thân xác của quý vị cũng không còn là của quý vị nữa, mọi thứ mà quý vị sở hữu sẽ mất đi, vậy tại sao quý vị lại giữ nó trong tâm trí mình? Vậy nên, Phật giáo nói về sau này, chìa khóa trí tuệ của nó nằm ở chỗ “Đáng lẽ tôi phải yên tĩnh, tôi không nên động tâm này, bởi vì tâm nguyên thủy của tôi đáng lẽ phải như như bất động, dù là nhà hay người, nó cũng phải như như bất động đối với tôi.” Nó giống như sự thức tỉnh ban đầu. Vậy nên không thể vì một việc, vật hay người nào đó mà khơi dậy lòng mong muốn của bản thân, phải biết rằng tất cả đều là khổ-không-vô thường. Sư phụ sẽ lấy một ví dụ đơn giản. Khi đứa trẻ mới vừa lên 5 và hiểu được chút chuyện, có người nói với nó rằng: “Khi đến thế giới này con chẳng có gì cả. Bây giờ con còn muốn gì?” Có lẽ đứa trẻ này sẽ nghĩ: “Phải đấy, con chẳng có gì cả.” Đợi đến khi đứa trẻ này lớn lên có nhà, có xe, có vợ, có con… có đủ mọi thứ trong đời, lúc đó nó liền không thể buông bỏ được nữa.

Vậy nên phải hiểu được nguyên lý tịch diệt, nói cách khác đó là Quy Nguyên – Quy về 0. Vì thế, sao gọi là “Nguyên Đán”? Đó là một khởi đầu mới, Nguyên nghĩa là Quy Nguyên. Điều này nói với chúng ta rằng chỉ cần quý vị có tâm tĩnh lặng, thì thực ra quý vị sẽ thấy không có ai hay sự vật nào trên thế giới này đang thay đổi mà nó vẫn như cũ, như như bất động. Lấy một ví dụ đơn giản, hôm nay ở đây có những đồng tu nam ngồi bên dưới đã kết hôn, chỉ cần quý vị ngồi ở phía dưới nghe giảng, quý vị nói vợ tôi ở nhà, tôi không có gì đáng ngại. Như vậy thì hãy suy nghĩ một chút, nếu quay về thời hai mươi, ba mươi năm trước quý vị ở một mình, lúc không có cái gia đình này, có phải là quý vị ngồi ở đây chỉ có một mình không? Hôm nay có giống như ba mươi năm trước không? Tâm quý vị không động, không có sự thay đổi. Vậy thì quay về trước đây, lúc quý vị sinh ra chỉ có một mình, lúc chết cũng không có ai đi cùng quý vị, có phải là 1-1 rồi không? Có phải từ nguyên thủy đến kết thúc đều là một? Vì thế gọi là Quy Nguyên.

Vậy nên Sư phụ nói với mọi người những điều này, quý vị lấy cái tâm tĩnh lặng từ nhỏ ra, cuối cùng ra đi, tâm của quý vị trở về tĩnh lặng, vẫn là cái tâm đó. Nó giống như lời của một bài hát: “Tôi vẫn là tôi ban đầu”, quý vị không có gì để mất, và khi quý vị một mình ra đi, quý vị mất gì cơ chứ? Thế giới này vẫn như cũ buổi sáng mặt trời mọc, buổi tối mặt trời lặn. Con người chúng ta cũng vậy, bởi vì tịch diệt không phải là một thứ định tử, nó diệt rồi lại có, có rồi lại diệt. Phật Đà trong Duy thức luận dạy cho chúng ta biết, tâm của con người là biến hóa, hôm nay có được sẽ biến hóa. Vậy nên quý vị phải dùng tâm như như bất động của mình để nhận biết nó, để lý giải nó, biết nó là như như bất động, đến cuối cùng vẫn là Quy Nguyên, có như thế tâm quý vị mới không khởi lòng tham, không khởi tâm hận, không khởi tâm ngu si, quý vị liền có được một loại cảm giác vượt qua thời-không.

Có thể quý vị sẽ không có cảm giác này, Sư phụ sẽ giải thích cho quý vị. Hai người kiện nhau năm năm, mỗi lần nghĩ đến vụ kiện này liền khó chịu, vẫn chưa giải quyết được việc khó này, làm sao bây giờ? Không có cảm giác vượt qua không gian và thời gian. “Kiện tiếp cũng không hẳn là thắng, nên thôi, đi nói chuyện với họ, chúng ta tự giải quyết chuyện này coi như xong, đừng lên tòa nữa”. Lúc này đối phương đồng ý, tất cả mọi người mệt mỏi trong một thời gian dài, sau khi sự việc được giải quyết trong chốc lát, có phải cảm giác thời-không đã được rút ngắn rồi không? Vậy nên, có đôi khi hai vợ chồng kiện nhau, không đi hầu tòa, hai bên đều phái luật sư, vẫn không chịu gặp nhau, không thương lượng, vì không gặp mặt nhau, nên cảm giác khoảng cách của hai người rất xa, có khoảng cách về thời gian và không gian; Nhưng, một khi nghĩ thông suốt, không thể tiếp tục như vậy nữa, họ liền gọi điện thoại, “Chúng ta ra ngoài nói chuyện một chút được không?”, đối phương cũng muốn thương lượng, hai người giải thích mọi chuyện rõ ràng, có phải đã rút ngắn thời-không rồi không? Có phải lập tức hai người liền quay lại với nhau không? Vậy nên có được cảm ứng liền vượt qua thời-không.

Đây là điều mà giới Phật giáo nói đến, chỉ khi mọi cảm giác và rung động mà quý vị có ở bên ngoài và bên trong hay còn gọi là ngoại duyên và nội duyên đều là những cảm ngộ, thì khi đó quý vị mới đạt được giác ngộ; Nếu không có cảm ngộ thì làm sao có giác ngộ? Khởi sinh một loại cảm ngộ về một chuyện nào đó, chính là cảm giác, khi đó quý vị mới có được giác ngộ. Vậy nên, con người chúng ta sống trên thế giới này, tư duy và tưởng tượng của chúng ta đều rời khỏi bản thể, kinh Phật thường xuyên bảo chúng ta quay về với bản thể, bản thể của chúng ta là Phật tánh của chúng ta. Con người đôi khi cãi nhau không giống người, con người khi đau khổ cũng không giống người, bởi vì họ đã rời khỏi bản tính, bản tính chính là Phật tánh của họ. Phật Đà nói: “Chúng sinh đều có Phật tánh”, vì hiện tại đã mất đi Phật tánh, nên mới đánh nhau, mắng chửi như động vật, đã rời khỏi bản tính nguyên thủy của chúng ta.

Vậy nên bất cứ ai làm việc gì cũng phải thực sự hiểu rằng: “Hôm nay tôi làm việc này, cuối cùng cũng sẽ trở về bản thể của chính tôi.” Hôm nay quý vị mắng người khác, cuối cùng người ta sẽ mắng lại quý vị, vẫn là trả về cho quý vị; Hôm nay quý vị đánh người, người ta sẽ tìm người đánh lại quý vị; Hôm nay quý vị hại người, nhất định sẽ bị họ hại lại; Hôm nay quý vị ở trước mặt người khác nói xấu người ta, họ cũng sẽ ở trước mặt người đó nói xấu quý vị. Điều này chính là trở về bản tính của quý vị, trở về bản thân, bản thể của quý vị. Mọi người thử nghĩ xem, con người cả đời có phải như vậy không? Hại nhau đến cuối cùng thì sao? Không còn gì nữa, mất hết rồi. Một người sinh ra từ thời thơ ấu, trải qua cả đời, cuối cùng bước vào tuổi già, vẫn là một. Một mình lẻ loi đến thế giới này, cuối cùng cũng lẻ loi một mình rời đi, mọi người nói cho tôi biết có phải là đã trở về bản thể, trở về bản tính của quý vị, và lặng lẽ biến mất rồi không? Khi về già, an an tịnh tịnh nằm ở trên giường, im hơi lặng tiếng, người này liền biến mất. Sau đó lại đầu thai, lại bắt đầu từ khi còn bé, linh hồn này không có thay đổi, tâm của họ đang yên tĩnh, sau đó lại dần dần bắt đầu đầu thai lại – một lần nữa bắt đầu. Hơn nữa thay đổi là những gì quý vị nhìn thấy trong bản thân của quý vị. Trên thực tế rất nhiều người nói “Tôi đã thay đổi rồi”, thay đổi này chính là Tánh không của quý vị đang thay đổi, bản thể của quý vị không thay đổi, như như bất động. Vậy nên rất nhiều người nói: “Ôi, sao tôi lại không nhận thức được chính mình?”, đúng rồi, bởi vì quý vị bị nhiễm ngoại trần quá nhiều, nghiệp chướng của quý vị quá nặng, nên quý vị không thể thay đổi được tật xấu của chính mình, bản chất của bản thân quý vị đều đã thay đổi, không giống như con người ban đầu. Chỉ cần thay đổi ngoại trần, thay đổi tật xấu của quý vị, vậy thì quý vị vẫn còn có bản tính như như bất động của mình.

Cảm giác của linh hồn luôn đóng một vai trò nào đó trong cơ thể con người chúng ta, nên con người chỉ cần có linh hồn thì sẽ có cảm xúc. Như người ta thường nói “Bạn mất hồn rồi” tức là con người này của quý vị đã không có cảm xúc nữa. “Sao thậm chí đến điều này bạn cũng không hiểu?” “Ồ, thật là, tôi quên mất rồi.” Quý vị đánh mất rồi. Phật giáo so sánh bản tính của chúng ta giống như nước biển. Khi bị gió từ thế giới bên ngoài thổi vào, bản tính của chúng ta sẽ dậy sóng. Đây chính là “Cảm nhi toại thông”. Bởi vì quý vị cảm nhận được những thay đổi của môi trường bên ngoài nên quý vị mới dần dần cảm nhận được: thứ nhất là sự tồn tại bản tính tâm linh của quý vị; thứ hai là quý vị sẽ cuốn theo làn sóng. Nhưng quý vị vẫn có thể nhìn thấy được bản tính của mình. Nếu không có gió thì sẽ không có sóng. Vậy thì khi quý vị vẫn tĩnh lặng như trước, tâm sẽ trở về với đại dương tĩnh lặng. Vậy nên Bồ Tát dạy chúng ta như như bất động. Tại sao phải để gió thổi và tại sao lại dậy sóng? Là vì ​​tâm của quý vị đang chuyển động? Suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta cũng vậy. Nếu chúng ta vốn dĩ không suy nghĩ nhiều, nhưng do môi trường ảnh hưởng tác động nên khiến chúng ta suy nghĩ rất nhiều. Lấy một ví dụ đơn giản, quý vị luôn có mối quan hệ tốt với người này, nhưng chỉ cần có một người nói với quý vị rằng anh ta ở bên ngoài đã nói xấu quý vị, thì lúc này tâm quý vị sẽ bắt đầu dậy sóng và quý vị sẽ không thể dùng lời nói, suy nghĩ và hành vi như trước đây để cảm hóa và giúp đỡ người bạn này. Điều này là do tâm của quý vị bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh nên đã chuyển động và quý vị sẽ sản sinh ra rất nhiều năng lượng tiêu cực. Tương tự như vậy, khi quý vị nghe người khác nói người đồng nghiệp này rất tốt với quý vị, thầm cầu nguyện và làm điều gì đó cho quý vị, lúc này trong lòng quý vị sẽ có năng lượng tích cực. Đây cũng là một loại dậy sóng, ngưng tất cả cơn sóng trên thế gian cuối cùng sẽ có xu hướng bình yên như biển lặng. Sau khi suy nghĩ và cảm xúc của một người bình tĩnh lại, thì suy nghĩ và cảm xúc của người đó sẽ yên ổn. Một khi có sự cãi vã thì họ sẽ mất đi lý trí; khi họ không cãi nhau nữa sẽ bình tĩnh trở lại, lúc đó cảm xúc hỷ nộ ái lạc của họ liền “tịch nhiên bất động”.

Tập 101
TRỪ TÂM CẤU NHIỄM, HÀNH TỨC THANH TỊNH
(Chỉ cần loại bỏ dơ bẩn trong tâm, hành vi sẽ trở nên vô cùng sạch sẽ)

(04/07/2020)

Niềm vui, nỗi buồn của con người đều xuất phát từ tâm, vạn vật do tâm tạo ra. Tâm thức của quý vị đang thay đổi, tâm thức của quý vị nghĩ rằng “Tôi hiện tại rất yên tĩnh, tôi hiện tại rất yên tĩnh”, có thể quý vị liền được yên tĩnh. Tâm của quý vị nghĩ rằng “Sao tôi lại bực bội như vậy, tôi không kiểm soát được nữa”, thì thật sự quý vị sẽ không kiểm soát được chính mình. Đây chính là tâm của quý vị. Vậy nên, những suy nghĩ, sự phân biệt và quan niệm bên trong của quý vị sẽ gây ra những làn sóng trong tâm quý vị. Giống như một đứa trẻ khi sinh ra nó không có suy nghĩ gì, tâm của nó tĩnh lặng như đại dương. Nhưng khi lớn lên, giữa những thăng trầm của cuộc đời, đứa trẻ ngày càng tiếp xúc với nhiều thứ hơn, nên ý thức chủ quan của nó bắt đầu thay đổi, ý thức thứ sáu bắt đầu trưởng thành. Khi ý thức thứ sáu của nó dần dần phát triển và sau khi trưởng thành, nó dần biến thành thói quen tư duy, vì thế nó liền sinh ra hỷ nộ ái lạc. Tại sao gọi là thói quen tư duy? Trước đây các nhà khoa học đã làm một thí nghiệm. Họ nói với một đứa trẻ con “khóc” đi, nhưng họ lại làm bộ mặt “cười”. Tiếp đó họ nói với trẻ: “Con cười đi, bây giờ con bắt đầu cười đi”, nhưng họ lại làm bộ khóc cho trẻ xem. Đứa trẻ này căn cứ vào cách dạy đó, nó sẽ khóc khi họ nói “cười” và nó sẽ cười khi họ nói “khóc”. Đây là một loại tư duy theo thói quen, đây là ý thức thứ sáu đang chậm rãi phát triển. Về sau quý vị tiếp nhận tư duy theo thói quen nào hay còn gọi là “hậu thiên”, quý vị liền sinh ra hỷ nộ ái lạc đó.

Ý thức thứ sáu của con người thực ra là một loại giác quan thứ sáu. Chúng ta thường nói giác quan thứ sáu là một điểm đan xen của sự tổng hợp cảm xúc. Tình cảm của con người vô cùng phức tạp, vừa có hận, vừa có si, vừa có tham, có đôi khi lại cảm thấy rất hạnh phúc. Vì sao có người mặt dày? Khi họ lừa dối người khác, mà họ vẫn đang nghĩ: “Không phải là tôi cũng đã từng bị người ta lừa dối sao? Cho nên việc tôi lừa dối anh ta là điều hiển nhiên rồi”. Tất cả những điều này, khi ý thức của quý vị – bao gồm ý thức bẩn và sạch này tồn tại trong ý thức thứ sáu, thực ra quý vị phải học cách sắp xếp cũng như hóa giải những khúc mắc, chỉnh đốn sạch sẽ các cảm xúc trong ý thức thứ sáu của mình một cách nhanh chóng trước khi chúng tiến vào ý thức thứ bảy, phải quay trở về tự tánh, trở về bản thể. Phật pháp nói đó là tìm về bổn tánh của chính mình, chỉ khi tìm về bổn tánh của chính mình, quý vị mới có thể có được Phật tánh.

Sư phụ hiện đang nói với mọi người về tư tưởng. Có nhiều điều quý vị vốn dĩ không nghĩ đến, bởi vì những lời Sư phụ nói đã khơi dậy tư duy của quý vị. Nếu Sư phụ không nói về vấn đề này, quý vị sẽ không nghĩ về nó từ khía cạnh này, đúng không? Một khi nghe Thầy nhắc đến, quý vị liền nghĩ về điều đó từ khía cạnh này, quý vị sẽ sinh tâm phân biệt đối với lời nói của Sư phụ. Một số người cảm thấy điều Sư phụ nói là đúng, trong khi những người khác cho rằng điều đó là sai. Vậy có phải đã sinh ra ý thức phân biệt đối với lời Sư phụ nói rồi không? Vậy nên bắt đầu từ “nói đúng” và “nói sai” đó chính là “cảm nhi toại thông”. Tất cả đều bắt đầu từ cảm giác. Cảm giác này của con người khiến suy nghĩ của họ dần dần thay đổi theo quan niệm nào đó về cảm giác. Ví dụ, khi tôi nhìn thấy một người nào đó, ban đầu tôi không nghĩ anh ta ăn giỏi như vậy, tiếp theo đó mỗi lần gặp nhau, tôi đều thấy anh ta ăn rất nhiều. Vậy nên, tôi dần dần bắt đầu suy nghĩ và cảm nhận được khái niệm “Ôi! Sao người này lại ăn nhiều vậy?” Mỗi lần gặp nhau đều cảm thấy “Sao lại ăn nhiều vậy” vậy thì cái “nhiều vậy” này là một khái niệm. Khi đó trong lòng tôi sẽ có sự thay đổi, ngay khi nhìn thấy anh ta, liền khởi lên một khái niệm gọi là “ăn nhiều”. Vậy nên sau khi ý nghĩ thứ nhất khởi ra, người học Phật phải biết chuyển hoá, tức là sau khi ý nghĩ thứ nhất đã khởi ra và trước khi ý nghĩ thứ hai chưa bắt đầu hình thành (giữa hai ý nghĩ với nhau) thì nhất định phải nhận thức rõ ràng, đây là một thế giới hư ảo, để dùng ý nghĩ sau chuyển hóa ý nghĩ trước của mình.

Sư phụ phải đưa ra ví dụ cho mọi người rồi, vì bài giảng rất sâu sắc. Ví dụ, hôm nay khi quý vị đang nghĩ về một vấn đề nào đó trong Phật pháp, chẳng hạn như việc ăn chay, “Ăn chay là tốt, nhưng tại sao người ăn chay lại ăn rau? Rau xanh cũng có sinh mệnh, và thực vật cũng vậy”. Được rồi! ý thức đầu tiên của quý vị đã bắt đầu suy nghĩ qua rồi”. Ý thức thứ nhất là “Ăn chay là tốt”; ý thức thứ hai là “Ăn chay thì thực vật cũng có sự sống, vậy chúng ta đang ăn thực vật có phải vậy không?” Đây chính là ý thức thứ hai. Trước khi ý niệm thứ hai bắt đầu, quý vị phải thấy rõ đây là thế giới hư ảo, tức là phải nghĩ rằng niệm thứ hai là sai lầm. Quý vị phải nhận biết cái ý nghĩ: “Chúng ta không sát sinh mà ăn chay” nên niệm thứ hai của quý vị – nghĩa là phải theo sát cái ý nghĩ này, phải hoàn toàn quay trở lại lý thuyết cơ bản về “Nhất Nguyên”, tức là quay trở lại cái lý luận “ăn chay là tốt” mà quý vị vừa nhận ra ngay từ ban đầu, và không nên khởi sinh ra giả tưởng thứ hai, sau đó thay thế suy nghĩ thứ hai bằng suy nghĩ đúng đắn thứ ba. Đây là lý do tại sao khi một số người cãi nhau, sau khi thốt ra lời chửi mắng đầu tiên, họ liền nhận ra lời chửi mắng đó là sai và tiếp đó họ sẽ nói một câu nhẹ nhàng hơn để không tiếp tục cãi nhau với người khác nữa. Khi quý vị nghe người khác nói điều gì đó không tốt về quý vị, suy nghĩ đầu tiên của quý vị là “Sao tôi lại tệ rồi? Họ lại nói những điều vô nghĩa về tôi”. Khi ý nghĩ thứ hai của quý vị muốn đi chỉ trích và tranh cãi với họ, khi suy nghĩ này vẫn chưa xuất hiện trước đó, phải lập tức nghĩ đến: “Tôi phải nghĩ thông, tôi phải hủy bỏ ý nghĩ thứ hai của mình”, thì quý vị sẽ nghĩ ngay “Ai cũng bị người khác phán xét”, và sử dụng năng lượng suy nghĩ tích cực quay trở về bản thể để hủy bỏ ý nghĩ thứ hai, trên thực tế, nó có nghĩa là “tịch nhiên bất động “. Tức là quay về ý nghĩ ban đầu và đừng để ý nghĩ thứ hai làm quấy nhiễu ý nghĩ ban đầu của mình, đây gọi là “tịch nhiên bất động”. Tức là, khi một người đã bình tĩnh lại, dù có mắc lỗi ở một câu nói nào thì cũng không nên bù đắp ở câu thứ hai, càng bù càng tệ, được gọi là “tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông”.

Khi ý nghĩ thứ nhất vừa mới bắt đầu khởi lên, quý vị có thể ngay lập tức tìm thấy bổn tánh của sự vật và tìm thấy Phật tánh, sau đó chuyển suy nghĩ của quý vị đến trạng thái thanh tịnh bất động. Đó là gì? Hãy giữ suy nghĩ của mình ở nơi sạch sẽ nhất, kiểm soát trạng thái tâm lý của chính mình. Đây chính là “Chỉ quan” (ngừng quan sát) mà giới Phật giáo thường nói, bảo quý vị đừng tiếp tục nhìn nữa. Bảo quý vị “chỉ ngữ” (ngừng nói) đừng nói nữa. Đây là tham thiền, đây là tâm nhẫn nhục trong sáu Ba-la-mật. Tư tưởng quan niệm của nhà Phật nói rằng, khi ý nghĩa vừa khởi lên thì phải có tu dưỡng, phải có tâm tinh tấn nhẫn nhục, lại phải có công đức tĩnh lặng. Rõ ràng biết rằng dục niệm sẽ khiến quý vị bốc hỏa, cãi vã, nên dùng tâm bình tĩnh tĩnh lặng của mình để kìm nén cơn giận đang dâng trào trong lòng và điều chỉnh nó, từ đó hình thành tâm nhẫn nhục. Phật pháp nói đi nói lại, suy cho cùng vẫn là dạy cách làm người, nếu quý vị có khả năng thấu hiểu nội tâm này, quý vị có còn tranh cãi với người khác không? Có còn cãi nhau với người khác nữa không? Từ xưa đến nay đã có rất nhiều Cao Tăng Đại Đức chính là dựa vào nội hàm, nội tu, thiền định, để bài trừ biết bao tâm cống cao ngã mạn, bài trừ biết bao tham sân si mạn nghi khi còn tu tập ở thế gian này. Đây chính là tâm bên trong phải giống như Kim Cang Bát Nhã, như như bất động.

Hôm nay Thầy muốn kể cho mọi người nghe một câu chuyện về Phật Đà. Chúng ta biết rằng Quả khổ của đời này bắt nguồn từ ác nghiệp của đời trước, thiện nghiệp đời này có thể chiêu cảm được thiện quả của đời sau. Chính là:

Muốn biết nhân đời trước.

Xem hưởng quả đời này.

Muốn biết quả tương lai.

Xét nhân gieo hiện tại.

Có một lần, khi Phật Đà đang tuyên truyền chân lý với các đệ tử Tỳ-kheo ở trong tinh xá, thì từ ngoài cửa có một thiếu nữ được những kẻ ngoại đạo phái đến để phỉ báng Phật Đà bước vào. Thiếu nữ này đi thẳng đến trước chỗ ngồi của Phật Đà, cô ấy một tay chỉ vào bụng mình, tay còn lại chỉ vào Phật Đà nói: “Sa Môn, ông làm cho tôi đau khổ quá! Ông đã thông đồng lén lút qua lại với tôi làm cho tôi mang thai, nhưng ông lại không điếm xỉa gì đến tôi. Tôi đi khắp nơi tìm ông nhưng tìm không thấy, thì ra ông trốn ở chỗ này ung dung an lạc. Tại sao ông không quan tâm đến gia đình, mà lại đi thuyết giảng những lời vô dụng này? Rốt cuộc bây giờ ông cũng đã được tôi tìm thấy, ông sắp xếp thế nào đây?”

Tất cả đại chúng đang ngồi yên lặng nghe pháp đều bị sốc khi nghe những gì thiếu nữ nói. Mọi người đều cảm thấy kỳ lạ, cúi đầu trong im lặng, không ai nói gì. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mục Kiền Liên, người có thần thông không chút hoang mang liền phát huy thần thông từ chỗ ngồi, biến hóa thành một con chuột, chạy vào trong áo thiếu nữ, cắn đứt dây thừng buộc trong bụng. Thế là, một cái chậu rửa mặt giấu ở bên trong bụng của cô rơi xuống đất. Lúc này, các đệ tử có mặt chứng kiến ​​cảnh đó đều vui mừng và mọi ngạc nhiên nghi ngờ đột nhiên biến mất, đồng thời mắng thiếu nữ rằng: “Đồ tội nhân, vọng hưng phỉ báng, vu khống bậc thầy vô thượng chính giác của Nhân Thiên! Chỉ có đất vô tri mới chứa ác vật như ngươi.” “Đúng đấy! Đúng đấy!” Mọi người có mặt ở đấy đều hô lên như vậy.

Vừa dứt lời, mặt đất đột nhiên nứt ra, ngọn lửa dữ dội phun trào, thiếu nữ rơi vào trong chiếc cày bùn lớn. Vua A Tỳ Thế chứng kiến tình cảnh này, trong lòng kinh hãi, xin chỉ thị của Phật Đà, ông hỏi: “Thưa Phật Đà, thiếu nữ này hiện tại đang ở đâu?”

Phật Đà đáp: “Tâu bệ hạ, nơi mà thiếu nữ này rơi xuống bây giờ được gọi là Đại địa ngục A Tỳ Nê Lê”.

Vua A Tỳ Thế lại hỏi: “Thưa Phật Đà! Con không hiểu. Người phụ nữ này không phạm tội sát sinh hay trộm cắp mà chỉ phạm tội vọng ngữ. Làm sao có thể đọa vào địa ngục A Tỳ được?”

Phật Đà liền khai thị: “Tâu bệ hạ! Có ba loại pháp mà Như Lai nói đến: thượng, trung, hạ. Trong đó có thân, khẩu, ý”.

“Thưa Đức Phật! Xin hỏi Ngài, loại nào là nặng, loại nào là trung và loại nào là nhẹ?”

Phật Đà khai thị: “Hành động của ý niệm là nặng nhất, hành động của lời nói là trung bình, hành động của thân là nhẹ. Tội nghiệt mà người phụ nữ này gây ra chính là thuộc về khẩu nghiệp.”

Xá Lợi Phất ngắt lời liền hỏi Phật Đà: “Thưa Phật Đà, vậy tại sao người phụ nữ này lại đến vu khống Phật Đà?”

Đức Phật nói với Xá Lợi Phất: “Trong các kiếp quá khứ, vào thời Đức Như Lai còn trụ thế ở thế gian, có hai Pháp sư Phàm và Thánh. Thánh sư tên Vô Thắng, bởi vì tu hành tinh tấn, chứng đắc lục thần thông, cho nên tất cả người tu hành đều cung kính Ngài; vị Phàm sư còn lại chỉ là một pháp sư bình thường tên là Thường Quan, kém xa pháp sư Vô Thắng về công phu tu hành. Hơn nữa, tập khí thế tục của vị pháp sư này rất nặng, thường cáu kỉnh, bởi vậy người khác đối với Ngài đều không coi trọng lắm. Vào thời điểm đó, có một trưởng lão địa phương tài phú chấn động ở vương thành (nghĩa là một trưởng lão rất giàu có trong kinh thành), và trong nhà có một hiền phụ rất nổi tiếng (nghĩa là có vị phu nhân vô cùng đức hiền) tên là Thiện Huyễn Nữ, bà vừa đức hạnh vừa xinh đẹp. Thiện Huyễn Nữ đối với người tu hành đều tôn kính cúng dường, nhất là đối với pháp sư Vô Thắng bà càng đặc biệt cung kính hơn, bà luôn chọn những món ăn ngon nhất để cúng dường hàng ngày. Đây là vì pháp sư Vô Thắng tu hành công phu tinh tấn, từ đó đạt được phúc báo xứng đáng. Cái nhìn của người bình thường thường có Sắc, có tâm phân biệt và không bình đẳng, Thiện Huyễn Nữ đối với người tu hành tuy rằng có tâm cung kính cung dường, nhưng cái nhìn của bà đối với người tu hành vẫn có tâm phân biệt, không thể đối đãi bình đẳng như nhau. Bởi vậy đối với người tu hành tương đối kém như pháp sư Thường Quan, thì vị Thiện Huyễn Nữ này không có vẻ thành kính như vậy (vì bà ấy có tâm phân biệt khác nhau đối với các pháp sư), tuy bà ấy cũng cúng dường như nhau, nhưng trên phương diện hành động cử chỉ thì có khuyết điểm chăm sóc không chu toàn, thường xuyên hiện ra những điều không cung kính. Điều này đối với người trước khi chưa chứng được quả vị và còn có tâm chấp trước đối với thế gian hư ảo không thực như pháp sư Thường Quan đương nhiên sẽ cảm thấy bất bình, nên tin đồn được lan truyền. Vị pháp sư Thường Quan này gặp ai ông cũng luôn có chút bịa đặt nói Thiện Huyễn Nữ cùng Vô Thắng pháp sư có mối quan hệ thầm kín, cũng cùng là đồ vật cúng dường nhưng trong lòng lại có sự phân biệt.”

Đức Phật nói đến đây dừng lại một lúc, rồi lại nói với Xá Lợi Phất: “Ông có biết pháp sư Thường Quan kia là ai không?”

“Thưa Đức Thế Tôn, con không biết.”

“Đã từng có một đời chính là tiền thân của ta. Hiện tại tuy rằng đã thành tựu quả vị Phật, nhưng tai ương còn chưa dứt hết, vì vậy vẫn phải chịu phỉ báng bởi chậu rửa mặt giả bụng bầu.

Câu chuyện này nói cho chúng ta biết, nghiệp báo vô cùng đáng sợ. Vậy nên người tu hành chúng ta nhất định phải chú trọng tu hành khẩu nghiệp.

Một người nếu muốn thành Phật thì phải rèn luyện tấm thân kim cang bất hoại của mình, thân này trên thực tế chính là tâm của chúng ta. Muốn “khứ chỉ thành khí, khí tức tinh hảo”, điều này có nghĩa là người học Đạo, phải loại bỏ dơ bẩn trong tâm mình, đừng để nó bị nhiễm ô, tức là “khứ tâm cấu nhiễm, hành tức thanh tịnh hĩ”, có nghĩ là chỉ cần loại bỏ dơ bẩn trong tâm, thì hành vi sẽ trở nên vô cùng sạch sẽ. Vậy nên trước khi chưa học Phật, con người thường hay nổi giận. Sau khi học Phật, chúng ta hiểu rõ lý lẽ rồi thì sẽ không tức giận, bởi vì con người khi không hiểu rõ lý lẽ mới phát ra “lửa vô minh”. Tuy nhiên bất cứ sự tức giận nào đều biểu hiện vi phạm tinh túy của Phật pháp. Thế nên người học Phật chân chính sẽ không nổi giận, người học Phật chân chính sẽ không quá khẳng định cái nhìn của bản thân, nghĩa là phải trừ bỏ chấp trước, có như thế cả đời mới ít hối hận.

Cảm ơn đại chúng. Được rồi, chúng ta hẹn gặp lại trong chương trình tiếp theo.

 

Tập 102
BẤT NGÔN TỊCH TĨNH NIẾT BÀN

(08/07/2020)

Được rồi, hôm nay Thầy sẽ tiếp tục thuyết giảng với mọi người về “Bạch Thoại Phật Pháp”.

Cảnh giới cao nhất của Phật giáo là tịch nhiên bất động (tịch: nghĩa là an tĩnh; nhiên: nghĩa là tự nhiên). Con người phải thanh tịnh thì mới có thể định trụ, bất cứ việc gì khi đã thanh tịnh đều có thể trụ lại được. Lấy một ví dụ đơn giản, nếu quý vị có thể đến một nơi và an định ở đó thì nơi này nhất định phải rất yên tĩnh và thanh tịnh. Người ta thường trở nên rất có trí tuệ sau khi họ bình tĩnh; con người sẽ mất đi trí tuệ khi họ bị kích động. Nếu một người bị kích động mạnh, chửi bới, cãi vã hay nghĩ không thông, thì khi đó trí tuệ liền rời xa họ. Vậy nên, con người sau khi giữ bình tĩnh sẽ có được trí tuệ. Con người sau khi nhẫn nhục sẽ “thoát thai hoán cốt” (thay da đổi thịt). Quý vị thử nghĩ xem, nếu quý vị có thể kiềm chế tức là quý vị đã chịu đựng được những điều mà người khác không thể chịu đựng được; hãy nghĩ xem, quý vị có thể làm được những việc mà người khác không thể làm, có phải là quý vị đã “thoát thai hoán cốt” rồi không? Vậy nên người có Phật tánh họ có thể nhẫn nại, có thể có được trí tuệ, bình tĩnh, thanh tịnh và tâm của họ trụ lại được.

Nhiều bậc Cao Tăng Đại Đức tu tâm bằng cách “Bất ngôn nhi thiện ứng” tức là có những việc dùng ngộ tánh (nhận thức) là được, không nhất thiết phải nói ra.

Hãy nhìn xem, một người suốt ngày ríu rít đi giải thích với người khác, người này có phải là người có trí tuệ không? Vì vậy, “Bất ngôn nhi thiện ứng” cũng có nghĩa là bất kể chuyện gì xảy ra trong nhân gian, đều có thể dùng tâm thiện ứng phó, đáp lại sẽ có được cảm ứng thiện. Lấy một ví dụ đơn giản, nhiều người ngồi thiền, thật không dễ dàng gì mới kìm nén được hết ngày, thế nhưng đến tối sau khi xuất quan (xả thiền), họ lại bắt đầu nói những điều vô nghĩa, họ không thể nén lòng nín nhịn được nên “ngôn đa tất thất” (nói nhiều sẽ có sai lầm). Văn hóa truyền thống cổ xưa có câu: “Ngôn đa tất thất”, có những lời khi nói ra thà không nói còn hơn, vì một khi đã nói ra, quý vị sẽ không tìm thấy được trí tuệ của chính mình. Khi quý vị an tĩnh, yên tĩnh và bình tĩnh, thì trí tuệ sẽ ở bên cạnh quý vị, quý vị mới có thể tìm thấy được tâm thiện lương và thanh tịnh trong bản chất nội tâm của mình. Hãy thử nghĩ xem, một người có thể thanh tịnh có phải là họ có khả năng tìm được sự thanh tịnh rồi không? Tất cả đều tùy thuộc vào chính mình, từng bước một, vững vàng bước đi trên con đường trí tuệ.

Người học Phật thường nói: “Hôm nay tôi có linh cảm rồi, chính Bồ Tát đã nói chuyện với tôi”, có một số người ngồi thiền được nghe Bồ Tát nói chuyện với họ, là có, nhưng không được đắc chí. Quý vị có thể nhìn thấy Phật thì quý vị cũng có thể nhìn thấy ma quỷ. Trong lòng quý vị có rất nhiều ma tánh, quý vị không thể yên lặng chút nào, cũng không thể tìm thấy bất kỳ sự cảm ứng nào trong bổn tánh của quý vị. Câu nói này cho chúng ta biết rằng nếu con người không thể tĩnh tâm và trong tâm không thể có an định thì sẽ không tìm được bổn tánh của mình. Người không tìm được bổn tánh của mình sẽ không có cảm ứng gì. Người có cảm ứng là người có trí tuệ. Trước đây nói thông minh là gì? Đó chính là tai thông mắt minh và phản ứng nhanh nhạy. Nhưng sau đó, nhiều người lại tự mãn, nên ma khảo liền tìm đến họ. Khi quý vị nghĩ mình tài ba lắm, thì những thử thách liền bắt đầu ập đến. Ai đó nói xấu quý vị, nếu quý vị không vượt qua được khảo nghiệm bị người ta nói xấu mà nhảy dựng lên, liền cảm thấy không thể nhịn được, không thể yên tĩnh, thì quý vị sẽ không tìm thấy được bổn tánh của mình, tiếp đó quý vị sẽ không có bất kì cảm ứng gì. Một số người nghĩ rằng họ đã nhìn thấy Bồ Tát hay nhìn thấy điều gì đó, và sau đó họ cảm thấy tự mãn. Khi người khác nói vài lời không hay về họ, họ lập tức nhảy cẫng lên, cuối cùng bị ma ám dẫn đến bị tâm thần phân liệt. “Ah? Tôi mà như thế này sao? Tôi là ai vậy?” Quý vị sẽ không bao giờ tìm thấy chính mình, vĩnh viễn đánh mất đi Phật tánh và ngộ tánh của mình.

Vậy nên người đắc Đạo thực sự họ chỉ vô ngôn vô thanh (im lặng), họ không có lời nào, họ không muốn lên tiếng, tất cả đều ở trạng thái im lặng không lời. Vì thế đôi khi người ta nói “Lúc này im lặng còn hơn nói ra thành lời”, nếu quý vị đã hiểu được đối phương rồi, thì có cần phải nói ra nữa không? Ví dụ hôm nay ở công ty mất một món đồ gì đó, có người nói một đồng nghiệp lấy, chỉ cần quý vị nhận thấy rằng đồng nghiệp này chưa bao giờ lấy đồ thì quý vị không cần phải hỏi câu tiếp theo “Cậu đã lấy rồi đúng không?” Nếu quý vị không nói, thì lúc này im lặng còn hơn là nói ra. Biết rõ chắc chắn không phải cậu ta lấy, không có khả năng đó, thì đây chính là một loại tâm lý cảm ứng. Người có cảm ứng là người có trí tuệ. Vì thế, vô ngôn vô thanh, vô hành vô tranh, nghĩa là nếu quý vị không nói không rằng, không có hành động hay tranh chấp nào, thì quý vị liền tiếp cận với tánh Không nguyên thủy. Bởi vì mọi thứ trên thế gian này đều trống rỗng và vốn dĩ là hư ảo không có thật. Quý vị còn muốn tìm vật chất thực chất nào trong không khí nữa không? Vật chất thực chất đó nó không có trong không khí. Nó là cấu trúc của các phân tử khác nhau trong hư không.

Niết Bàn là thanh tịnh. Người Niết Bàn là người khai ngộ, người khai ngộ là người thanh tịnh, người thanh tịnh sẽ không xụ mặt với người khác, người không thanh tịnh động một tí là biểu lộ sắc mặt với người ta. Trong xã hội này, quý vị không thể đạt được tịch tĩnh viên mãn, trái tim quý vị luôn đập rộn ràng (vì vậy chúng ta thường gọi là “trái tim đập rộn ràng”), khiến quý vị nhảy cẫng lên, khiến quý vị không thể bình yên và không thể sống suông sẻ trong thế gian này, vậy thì quý vị sẽ đánh mất trí tuệ của mình, bởi vì trí tuệ sẽ luôn đi kèm với sự tĩnh lặng, nó không làm bạn với ồn ào bực dọc, cũng không làm bạn với phiền não.

Tịch tĩnh viên mãn là không tranh giành với thế gian. Quý vị thử nghĩ xem, một người thờ ơ không tranh giành với thế gian thì chẳng lẽ họ không có được sự yên lặng sao? Nếu quý vị trêu chọc họ, họ sẽ mỉm cười và nói: “Đây là thế giới con người”; nếu quý vị mỉa mai họ, họ liền đáp: “Trên thế giới này có nhiều người, mỗi người ở mỗi cảnh giới khác nhau, mọi người nên nổ lực tu luyện.” Quý vị không còn tranh với thế gian, bởi vì trong tâm quý vị đã đạt đến trạng thái “vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp”. Tất cả mọi thứ cho thấy quý vị đã đạt được một cảnh giới trong tâm, quý vị cũng đã hiểu được “vô khổ tập diệt đạo” rồi. Vậy nên “Vô trí diệc vô đắc. Dĩ vô sở đắc cố”. Chính trong sự mê cảm khốn cảm này mà con người đánh mất bản chất của chính mình, cho rằng mình đúng, cho rằng mình có linh cảm trong tâm, và cho rằng mình đã tiếp cận với tánh Không nguyên thủy, thật ra cái tánh Không này của quý vị vẫn còn đang trong trạng thái ảo diệt.

Có đôi khi vô ngôn là một loại cảnh giới cao của sự yên tĩnh. Ở thế gian này có rất nhiều chuyện xảy ra trong cuộc sống, quý vị đi bình luận nó làm gì? Những chuyện này vốn dĩ không có tiêu chuẩn nhất định, ông nói ông có lý, bà nói bà có lý, chuyện vợ chồng cãi nhau, đánh nhau, quý vị nói xem ai mà không có đạo lý? Quý vị cãi nhau với con cái, con quý vị cũng đều nói ra muôn vàn đạo lý. Những đạo lý này quý vị có thể chấp nhận được không? Không thể chấp nhận được. Vậy con quý vị có thể chấp nhận không? Nó cũng không thể chấp nhận. Vậy quý vị nói xem là nói cái lý lẽ gì? Vì thế vô ngôn chính là một loại cảnh giới cao. Vô ngôn là gì? Vô ngôn chính là một loại nhìn thấu, hiểu rõ đối với xã hội, nhìn rõ thế giới này là giả, là hư ảo, không cần thiết phải đi giải thích. Người khác vu khống quý vị, phỉ báng quý vị, nếu quý vị chưa bao giờ làm những việc như vậy, quý vị có cần phải đi giải thích không? Ví dụ như từ nhỏ đến lớn phẩm chất của quý vị rất tốt, chưa từng trộm đồ, đột nhiên bị người ta vu khống, nói quý vị trộm đồ, quý vị có cần thiết phải đi giải thích với họ không?

Vậy nên yên tĩnh là một loại cảnh giới cao. Cao Tăng Đại Đức tu càng tốt, thì bát phong xuy bất động (tám gió thổi không động), bổn tánh như như bất động, họ có thể hiển thị rõ tâm đắc đạo Kim Cang Bồ Đề. Phật và Bồ Tát đạo đều là thanh tịnh, trống vắng, như như bất động. Một người nếu như có thể định trụ được, thì người này chính là như như bất động. Một người gặp chuyện liền nhảy cẫng lên, gặp chuyện liền ầm ĩ, vậy thì người này cuối cùng giống như cỏ lau nổi trên mặt nước. Tại sao con người lại lỗ mãng, tại sao con người lại động một chút là nhảy cẫng lên? Bởi vì khi tâm vừa động, thì sẽ có hành động, có nhiều điều một khi đã động tâm rồi, hành vi liền bắt đầu động theo. Vậy nên rất nhiều người vì không khống chế được cái tâm động của mình, nên mới gây ra hành động làm thương tổn chính mình cùng thương tổn người khác.

Vì vậy học cách kiểm soát chính mình, phải tu đến mức vô tư, vô vi, “Chuyện gì tôi cũng chưa từng làm qua, chuyện này tôi chưa từng nghĩ tới, tôi đã làm những điều tốt mà không nghĩ đến”, tĩnh lặng bất động, như như bất động. Nếu như quý vị không hề nghĩ đến nó mà có thể làm việc thiện, về căn bản chưa từng nghĩ tới “Tôi muốn làm một việc nào đó”, vì muốn đạt được một loại mục đích nào đó, vậy thì quý vị chính là vô vi (không có hành vi), sẽ có khả năng thành công trong việc tu đạo. Nếu như quý vị vì tu đạo thành đạo mà dốc sức ngồi thiền, tu khổ hạnh, đồng thời muốn biết tương lai, muốn biết quá khứ của mình và quý vị đang muốn tìm kiếm những thứ trong thế giới hư ảo mà ở đó đã từng có quý vị, vậy thì quý vị đã đánh mất đi tâm thiền định của mình trong thế giới hư ảo này, loại thần thông quý vị đạt được cũng là hư ảo không thật, cuối cùng mang đến cho quý vị chỉ là một loại ảo giác. Lấy một ví dụ đơn giản, hiện tại quý vị nghĩ đến một việc nào đó khi còn bé, đã từng cãi nhau với người khác, đi mách với thầy cô, hoặc đã từng làm tổn thương bạn học, những việc này có phải bây giờ nhớ lại giống như một loại ảo giác không? Chỉ vì muốn tranh giành danh lợi với người khác mà làm tổn thương, vu khống người ta, thì sự yên tĩnh liền cách quý vị rất xa. Một đứa trẻ rất chững chạc, nó sẽ không dễ dàng làm tổn thương người khác. Một người có tu dưỡng, có giáo dưỡng, họ đã sớm rời xa ngu si. Một người có thể không nói chuyện, có thể dụng tâm làm mọi việc là họ đã có được ngộ tánh, nên họ nhận được bất kỳ cảm ứng nào đều là chính xác. Còn một người dốc sức theo đuổi bất kì cảm ứng ở nhân gian, “Tôi cảm giác được chuyện này” “Ôi chao, tôi cảm giác được…” Cả ngày tâm luôn loạn động, ý nghĩ lung tung, niệm đang lừa dối lương tâm của mình, cuối cùng không phải bị chấp trước thì cũng bị ma ám.

Cho nên vô tư, vô vi, yên tĩnh, trong giới Phật pháp gọi là “Cảm nhi toại thông”. Người đang truy cầu tương lai, quá khứ, hiện tại, họ sẽ mất đi hiện tại, không thể đạt được tương lai, cũng sẽ liên lụy đến quá khứ của chính họ. Rất nhiều người ngay cả hiện tại đang làm gì cũng không biết, thì làm sao họ có thể làm chủ tốt tương lai của mình và làm sao có thể hiểu được quá khứ của mình đây? Vậy nên rất nhiều người sống đến ngày hôm nay, quý vị bảo họ nói một chút về quá khứ của họ, toàn bộ đều trong hư ảo, họ không biết nói cái gì. Có người quý vị bảo họ giải thích, bảo họ khi cộng tu nói về cảm nhận của mình, thì họ nói ra một đống hư vinh trong quá khứ. Vậy nên, nếu một người không thể có được “tâm bao thái hư” (tấm lòng rộng lớn ôm trọn cả hư không, bao trùm cả vũ trụ), thì họ sẽ mất đi trí tuệ. Tâm bao thái hư là gì? Đó là cái gì cũng đã qua, cái gì cũng là hư ảo, tất cả hành trình ở nhân gian mà chúng ta trải qua đều có thể bao dung nó, liếc mắt có thể nhìn thấu thế giới vạn vật, nó đều là hư ảo không thực. Nghĩ thông suốt, nghĩ minh bạch, đã nhìn rõ, đây được gọi là Chiếu Kiến ngũ uẩn giai không.

 

Tập 103
TÂM LÀ CĂN NGUYÊN CỦA CHÂN NHƯ PHẬT TÁNH

(08/07/2020)

Tâm bao thái hư là gì? Đó là cái gì cũng đã qua, cái gì cũng là hư ảo, tất cả hành trình ở nhân gian mà chúng ta trải qua đều có thể bao dung nó, thoạt nhìn có thể nhìn thấu được thế giới vạn vật, nó đều là hư ảo không thực. Nghĩ thông suốt, nghĩ minh bạch và nhìn thấu nhìn rõ, đây được gọi là chiếu kiến ngũ uẩn giai không. Giống như khi quý vị đứng ở một nơi xa và nhìn về phía trước một bãi cỏ trống thì quý vị mới thấy được những thứ ở cách đó vài trăm mét, mà tầm nhìn không bị cản trở và có thể nhìn bao quát được toàn cảnh. Quý vị sẽ không bao giờ có thể nhìn thấy được cảnh giới thực sự của cái thế giới Sắc này nếu hôm nay quý vị chất đầy những thứ hỗn tạp trên bãi cỏ. Ngày nay nếu như chúng ta không thể chiếu kiến ngũ uẩn giai không, sẽ bị hư ảo che khuất, sẽ bị tạp niệm, tạp tư duy làm hấp dẫn quý vị. Vì chúng ta có quá nhiều thứ hỗn độn chất đầy trên bãi cỏ, nên chúng ta không thể nhìn thấy bất cứ vật gì cách xa hàng trăm mét. Bởi vì quá nhiều thứ hỗn độn và tạp niệm đã che khuất đi trí tuệ của chúng ta, khiến chúng ta rời xa cảnh giới thực sự mà lẽ ra chúng ta phải có trong suy nghĩ của mình. Chúng làm cho chúng ta mù quáng và chỉ nhìn thấy được lợi ích trước mắt của mình mà không nghĩ đến việc nên làm như thế nào để vứt bỏ những lợi ích trong tương lai, đồng thời dùng thiện niệm, thiện lợi ích chân chính làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. Vậy nên học Phật chỉ đơn thuần cầu điều chưa xảy ra, cầu thần thông, thì thực ra đó chính là “duyên mộc cầu cá” (trèo cây tìm cá). Muốn sửa đổi những hành vi xấu, tính cách xấu, tạp niệm tồn đọng trong nội tâm của mình ở quá khứ, quý vị phải có dũng khí đấu tranh chống lại những tạp niệm và thế giới quan phi lý trong lòng, để thay đổi bản chất của nó và chuyển hóa chính mình, giúp bản thân thoát thai hoán cốt. Có được Phật tánh đích thực, đó mới là loại tâm mà quý vị có thể thực sự nương tựa vào để ngộ ra những nguyên tắc cơ bản của Phật giáo. Khai ngộ là tâm khai ngộ, nên phải do tâm ngộ. Vừa rồi Sư phụ đã giảng cho mọi người toàn bộ về cương lĩnh của việc tu tâm.

Tiếp theo, Sư Phụ sẽ tiếp tục giảng cho quý vị biết, niệm kinh là một phần quan trọng của việc học Phật và tu tâm. Như chúng ta đã biết, bước đầu tiên trong việc học Phật và tu tâm là niệm kinh, niệm kinh phải niệm cho đến khi tâm niệm dừng lại, nghĩa là niệm đến trong lòng không có tưởng niệm, không có tưởng tượng, phải niệm đến tâm có thể niệm kinh mà niệm niệm đều có Phật thì sẽ tức thì được giải thoát. Nghĩa là đọc đến về sau: “Tôi không có dựa vào hay ỷ lại, mà cái tâm niệm kinh khởi lên trong tôi một cách tự nhiên”, ngay cả ý nghĩ niệm kinh cũng phải không có. Ví dụ như rất nhiều người niệm kinh: “Tôi muốn niệm 49 biến Lễ Phật Đại Sám Hối Văn, tôi muốn sám hối nghiệp chướng nào đó của tôi, tôi đã làm sai điều gì, tôi đang sám hối nó”, trong 49 biến này, mỗi một biến kinh đều đem những việc không tốt của mình ra nghĩ một lần, quý vị nói xem quý vị đọc những biến kinh này có thể sạch sẽ được không? Hôm nay quý vị nói: “Tôi muốn niệm Lễ Phật Đại Sám Hối Văn để tiêu trừ nghiệp chướng trên thân tôi, tôi sẽ không nghĩ đến những nghiệp chướng này, tôi sẽ niệm tốt Lễ Phật Đại Sám Hối Văn”, nhất tâm niệm Phật, như vậy đọc ra kinh văn sạch sẽ hơn hay là niệm mỗi một biến kinh trong đầu đều nghĩ đến chuyện vừa rồi làm sai, cảm thấy mình rất ghê tởm thì loại nào sạch sẽ hơn? Đây chính là tâm niệm. Vậy nên niệm kinh phải ngay cả ý niệm niệm kinh của mình cũng không được có: “Tôi đang niệm kinh, tôi muốn tiêu trừ nghiệp chướng của tôi”, đến ý niệm như vậy của quý vị cũng không được có, thì quý vị chính là “Hồi quang phản chiếu”, nghĩa là ánh sáng của Bồ Tát sẽ chiếu đến trên thân quý vị, quý vị ngay lập tức giác ngộ, thân chứng Như Lai bổn tánh. Bởi vì Phật tánh sâu trong nội tâm của quý vị và kinh văn mà quý vị niệm là hợp nhất rồi, chứ không phải xen lẫn những lý niệm và sự vật dơ bẩn cần sám hối trong đó. Đây chính là “Hoa khai kiến phật ngộ vô sinh” mà người học Phật thường nói: Hoa khai kiến phật; Ngộ chính là khai ngộ. Vô sinh của từ Vô sinh pháp nhẫn, nghĩa là không sinh ra bất cứ thứ gì. Niệm kinh phải niệm đến vô năng niệm, vô sở niệm: “Tôi không vì một chuyện nào mà niệm kinh”, đây mới là niệm Phật Tam muội (nhất tâm).

Hôm nay Sư phụ đã giảng với quý vị như vậy, sau này quý vị có thể đạt được tiến bộ lớn trong việc niệm kinh. Tại sao có người niệm kinh, niệm Lễ Phật Đại Sám Hối Văn mà rưng rưng nước mắt? Không phải họ đang niệm kinh, mà họ đang suy nghĩ về những điều xấu của mình, họ đang nghĩ tại sao mình lại như thế này, tại sao mình lại như thế kia, họ không thể giải thoát được, chưa hiểu được giáo lý của đạo Phật, thì làm sao đạt được trí tuệ Tam Muội? Vì vậy, niệm kinh đơn giản nhưng thực ra không đơn giản, niệm kinh tức là niệm tâm. Thế nên, khi niệm kinh quý vị nên niệm cho đến khi kinh văn không còn ở trong tâm nữa. Nếu kinh văn không ở trong tâm quý vị thì nó ở đâu? Nó ở sâu trong toàn bộ nội tâm của quý vị, chứ không phải ở cái tâm bên ngoài. Vì thế, khi miệng niệm kinh, thì trong tâm cũng phải niệm kinh. Vậy nên, nếu miệng đã niệm kinh rồi thì trong tâm cũng phải có kinh. Nếu miệng niệm kinh mà trong tâm không có kinh văn thì đó không phải là giác ngộ, đó không phải là hoa khai kiến Phật (hoa nở thấy Phật), mà đó là tiểu hòa thượng niệm kinh “hữu khẩu vô tâm” (nghĩa là niệm kinh bằng miệng chứ không phải bằng tâm). Vậy nên niệm kinh phải dụng tâm, lại phải trong tâm có kinh văn thì mới được.

Người học Phật chủ trương phá bỏ vọng tưởng của chính mình. Con người sống trên thế giới này đều sẽ có vọng tưởng: “Tôi muốn trở thành người như thế nào trong vài năm nữa?” Mỗi ngày đều tưởng tượng ra những điều viển vông và chạy theo danh vọng, giàu sang, địa vị trong Hồng Trần nhân gian, điều này sẽ khiến cảnh giới của quý vị tan biến không còn và bị biến mất nhanh chóng. Người theo đuổi danh vọng, theo đuổi sự vật hư ảo họ sẽ sớm mất đi lý trí. Miệng của họ hay mắng hay nói lung tung để đạt được mục đích của mình và họ sẽ dùng mọi thủ đoạn.

Trước Chân Như Phật tánh (cái tánh chân thật, không biến đổi, như nhiên, không thiện, không ác, không sinh không diệt), thế giới hư không sẽ được Phật soi sáng không dấu vết. Phật Đà đã dạy chúng ta từ lâu rằng toàn bộ vũ trụ là một thế giới hư ảo, trên trái đất này lại càng hư ảo hơn, không thể tìm thấy một điều chân thật. Cũng giống như con người, những gì quý vị theo đuổi trong suốt cuộc đời cuối cùng sẽ không phải là của quý vị. Bồ Tát từ bi thường giảng tâm ở đâu và tâm nên ở đâu khi niệm kinh, nghĩa là nói cho chúng ta biết quý vị nên đặt tâm ở đâu khi niệm kinh. Nhiều người vừa nhắm mắt là niệm lấy niệm để, tâm quý vị ở đâu? Miệng quý vị vừa mấp máy, có thể thuộc lòng một biến Lễ Phật Đại Sám Hối Văn, nhưng không biết mình đang niệm gì”. Tâm ở đâu? Bởi vì chỉ có tâm mới có thể kiểm chứng và thân chứng được Phật tánh chân thật nguyên thủy. Niệm kinh không dụng tâm tức là “hữu khẩu vô tâm”(miệng niệm kinh nhưng tâm không niệm). Vậy nên niệm kinh thật ra phải niệm chạm đến tâm chân thật Như Lai, tức là “Hôm nay tôi dụng tâm niệm kinh” có như thế, quý vị mới có thể tụng niệm toát ra được tất cả trí tuệ và đức hạnh mà quý vị vốn có. Niệm xong một biến kinh phải khai ngộ. Niệm xong một biến kinh phải biết tâm mình ở đâu. Niệm xong một biến kinh phải biết chuyện kế tiếp mình nên làm như thế nào, trí tuệ đức năng của quý vị liền xuất hiện. Đây chính là niệm đến sau này, phải bình đẳng tánh trí, đại viên kính trí, quý vị ở nhân gian làm bất cứ việc gì mới có thể “diệu quan sát trí” (có được trí tuệ quan sát vi diệu). (Nếu không có trí tuệ thì quý vị có thể quan sát được gì? Cái gì cũng nhìn không hiểu, cho quý vị xem rồi cũng không hiểu, nói cho quý vị biết quý vị cũng không hiểu, nên cần phải có trí tuệ quan sát vi diệu), phải có Bồ Tát thường trú trong tâm của quý vị, cuối cùng quý vị mới có thể “thành sở tác trí” (Là một Trí tuệ mà gốc là các Thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Con mắt có vô minh làm cho ta say đắm, nhìn giả thành thật).

Sự ô nhiễm vô minh của nhân gian làm cho trong lòng chúng ta sinh ra vọng tâm (vọng tâm của nhiều người đều phát sinh từ sâu trong nội tâm, những chuyện không ngờ đến đều phát sinh từ nội tâm mà ra: “Ôi, tốt nhất là việc này đột nhiên gặp phải một người tốt đến giúp tôi thì hay quá rồi”. Quý vị thấy đấy, tất cả đều xuất phát từ sâu thẳm bên trong nội tâm. Chẳng hạn, nhiều người thích đổi nhà: “Ôi nhà mình tệ quá, tốt hơn hết là đột nhiên có một người vì mâu thuẫn trong gia đình mà có thể đổi nhà cho tôi, để tôi có thêm chút diện tích, để tôi có thể đổi được ngôi nhà tốt hơn một chút, để tôi có thể chiếm được lợi thế nhiều hơn”. Vọng tâm của họ đều sinh khởi từ sâu trong nội tâm, bởi vì nó không thực tế), và rồi trí tuệ đức năng của quý vị liền trở thành ý thức. Vì sao? Điều mà quý vị cho là thông minh như: “Tốt hơn hết là tôi nên đổi nhà với anh ta, để nhà anh ta nhỏ hơn một chút còn nhà của tôi lớn hơn một chút”. Ý thức này trở thành ý thức của quý vị, tiếp đó cái ý thức này sẽ khiến quý vị sinh ra vọng tưởng vô minh, quý vị liền cảm thấy: “Chuyện này có gì đâu, người như thế này cũng có đấy. Tưởng vậy thôi chứ thật sự không phải? Anh ấy không muốn sống trong một ngôi nhà lớn vì cảm thấy trống trải và không thoải mái. Anh ta muốn nhỏ một chút, ấm áp một chút. Hãy nhìn xem, ngôi nhà của chúng ta thật nhỏ bé và ấm áp”, anh ấy sẽ nghĩ như vậy, nên vô minh vọng tưởng sẽ khởi lên. Sau đó, vọng tưởng này biến thành vọng tâm của quý vị đang bị lay động và nghĩ: “Có người như vậy không?” Anh ta bắt đầu chi tiền để đăng báo, và vọng tâm của anh ta lại bị “phục huân vô minh” (phục huân tức là hun đúc lặp đi lặp lại, huân tức là chuyện này không có nhưng cứ nghĩ đi nghĩ lại trong lòng). “Có khả năng… có khả năng…” Thực ra, như quý vị đã biết, trúng xổ số chính là kiểu thiếu hiểu biết lặp đi lặp lại, là cái đạo lý này). “Phục huân vô minh” của vọng tâm cho chúng ta biết rằng nếu quý vị cứ suy nghĩ về một điều gì đó, và sâu thẳm trong ý thức, quý vị sẽ nghĩ rằng điều này là thật nó có thể xảy ra. Nhiều người nói: “Tôi mua xổ số. Tôi mua một năm, hai năm, ba năm, bốn năm… Tôi mua mười năm xem có trúng hay không”. Tâm của quý vị rung động, quý vị liền sinh ra hành động, quý vị sẽ tiêu tiền không ngừng để làm việc này. Đó là câu “gieo Nhân gì thì gặt Quả nấy”. Vì quý vị đã gieo trồng Nhân này nên cái Quả mà quý vị nhận được sẽ là thất vọng, theo đạo Phật gọi là “Nhân trả Quả”. Rồi “Quả nối tiếp Nhân”, vì không trúng nên lại mua tiếp, lại gieo nhân: “Không thể được, lần sau tôi nhất định trúng”, lúc đó Quả lại nối tiếp với cái Nhân này. Nếu quả nối tiếp với cái Nhân này thì cái Quả mà quý vị tiếp nhận sẽ tạo ra một cái Nhân khác. Lấy một ví dụ đơn giản, nếu quý vị cãi nhau với anh ta, cuộc cãi vã lẽ ra đã kết thúc, vì lần trước quý vị “nợ” anh ấy, nên lần này anh ấy mắng quý vị, xem như hai người hòa nhau, và lần sau hai người lại hỗ trợ lẫn nhau không sao cả. Thế nhưng quý vị lại mắng anh ta, lại tiếp tục gieo Nhân mắng anh ta, lần sau quý vị lại tiếp tục đợi anh ta mắng quý vị. Đây gọi là “Quả nối tiếp Nhân”. Sau đó Quả nhận được lại sinh ra cái Nhân khác. Bước tiếp theo là “Nhân khởi Quả”, Nhân mà quý vị đã gieo, rồi quả báo lại bắt đầu sinh khởi, đó gọi là “Nhân khởi Quả” – quả báo do nhân đã gieo tạo ra. Nên quý vị mới không chịu phục tùng, mà tiếp tục đấu tranh với họ. Đây là điều mà Sư phụ đang nói với quý vị. Nhiều người đã ra tòa và thắng kiện. Vụ kiện kéo dài ba năm cuối cùng cũng đã thắng, vui mừng rồi. Tiếp đó bên kia lại kháng cáo, lại tiếp tục kiện tụng thêm ba năm nữa, đây gọi là nhân quả báo ứng. Cho nên gieo nhân chắc chắn sẽ sinh ra quả báo, rồi Quả sẽ trả Nhân. Sau khi phán quyết được thông qua, quý vị dành được phần thắng; bên kia lại kiện quý vị, và sau khi họ kiện quý vị, quý vị cũng kiện lại họ, tiếp đó quý vị thắng; bên kia lại bắt đầu tấn công và gây rối quý vị… vì quả báo lại gieo xuống vạn Nhân ác, đây gọi là Nhân Nhân Quả Quả. Vì vậy, một người khi sống ở đời, chỉ cần làm điều ác với người khác hoặc gây rắc rối với người khác, thì sẽ gặp vô vàn phiền não. Liên tục lây nhiễm vào ý thức của quý vị câu “Tôi nhất định sẽ thắng, kiện cũng đã kiện được ba năm rồi, nên đối với tôi, tôi không sợ, tôi kiện thêm ba năm nữa thì đã sao”, quý vị liên tục lây nhiễm vào ý thức của mình và khiến trong ý thức của quý vị khởi sinh ra hư ảo – “Tôi chắc chắn sẽ thắng”; khi vọng niệm khởi lên – “Làm sao mà tôi kiện không thắng họ? Luật sư của tôi càng kiện càng giỏi!” vọng tưởng dẫn đến tự cho rằng đúng sai và bản thân nghĩ rằng: “Cái này nhất định là đúng phải không? Tôi đã kiện nó trong nhiều năm, tôi không thể bỏ cuộc, tôi nhất định phải thắng”. Toàn bộ quá trình đã khơi dậy hoang tưởng, tự cho rằng bản thân đúng sai, đây chính là chức năng hình thành của thức thứ bảy.

 

Tập 104
BỐ THÍ CHÂN THẬT

(08/07/2020)

Sự khác biệt giữa chân tâm và vọng tâm nằm ở đâu? Mọi người cần nhận thức rằng: chân tâm như như, bất động; còn vọng tâm, sinh diệt không ngừng, biến chuyển vô thường.

Ý nghĩa của điều này là: nếu đó là chân tâm, khi ta nói rằng: “Tôi đối với bạn như vậy, sẽ luôn đối tốt với bạn” thì lời ấy không hề thay đổi, không biến đổi theo hoàn cảnh hay thời gian.

Ngược lại, người dùng tâm giả đối với người khác, hôm nay đối tốt, nhưng ngày mai thấy lợi ích không còn, lập tức chuyển đổi.

Tâm ấy sinh ra để đối tốt với người, nhưng vài ngày sau thấy không được lợi, lập tức diệt mất; vài ngày sau lại thấy người kia đối tốt, có lợi cho mình, thì lại sinh ra lòng tốt, rồi lại diệt.

Còn một người thật sự đối tốt với người khác, tâm của họ như như bất động, không biến đổi theo cảnh; đó chính là chân tâm. Trong khi vọng tâm thì luôn sinh diệt, không ổn định, không giữ được bản tánh chân thật.

Ý thức thứ sáu sẽ bị ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài. Môi trường bên ngoài của ý thức thứ sáu chính là ngũ thức – mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Vì mắt thấy, ý thức thứ sáu bắt đầu biến chuyển; Vì tai nghe lời người khác nói, ý thức cũng thay đổi; Mũi, lưỡi, thân cũng tương tự.

Do đó, môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến ý thức thứ sáu, khiến ý thức của con người không ổn định, không chính xác. Khi quý vị nói rằng: “Tôi nghĩ người đó tốt, tôi cảm thấy người đó tốt” thì quý vị thực sự biết người ấy bao nhiêu? Quý vị hiểu người ấy ra sao? Quý vị đã thật sự giao hảo sâu đậm với người ấy bao nhiêu? Quý vị từng có mối quan hệ bằng hữu bao nhiêu?

Tất cả những điều này đều trở thành ảo tưởng, làm cho ý thức thứ sáu biến đổi không định. Vì thế, nhiều người suốt đời ý thức của mình luôn bất định.

Phật và Bồ Tát dạy rằng, những gì có thể thấy không phải bằng mắt thường, mà phải dùng tâm để nhìn; không phải dùng mắt để thấy.

Phật dạy chúng ta nói năng bằng tâm, không chỉ dựa vào miệng để phát ngôn. Khi dùng tâm để nói chuyện với người khác, người đó sẽ hiểu được ý nghĩa thật sự trong lời nói của quý vị, vì quý vị đang dùng chân tâm.

Mắt chỉ thấy một mặt ảo huyền, giả tạm, nhưng khi quý vị dùng chân tâm để khiến người khác cảm nhận được tình thương, trong Phật giáo, đó chính là tham thiền.

Tham thiền là gì?

Là sự sâu sát, chân thật trong việc thấu hiểu và nhận biết mọi sự vật, không chỉ bên ngoài mà còn bên trong tâm mình.

Tham thiền là dùng bản tâm Như Lai chân thật của chính mình để thể ngộ Phật tính sâu thẳm nơi nội tâm, đó chính là pháp môn tâm địa của Phật pháp.

Chúng ta học Phật, học làm người, cần phải hiểu cách dùng tâm để giao tiếp với người khác, dùng chân tình của chính mình để truyền đạt và hòa hợp với người khác.

Sư phụ nhắc đến đây, xin kể một câu chuyện:

Một người mẹ đã vất vả lắm mới nuôi dạy con trai khôn lớn. Người mẹ sống rất tiết kiệm, còn đứa con sau này trở thành một doanh nhân giàu có.

Một hôm, người mẹ đến khám răng. Người con lái chiếc Mercedes sang trọng đưa mẹ đến bệnh viện nha khoa. Người con mặc toàn hàng hiệu, hút thuốc tốt, rồi ngồi bên cạnh. Trong khi đó, người mẹ mặc bộ đồ giản dị.

Bác sĩ thông báo: răng này cần làm mão, có thể làm mão sứ cao cấp, sẽ tốn chi phí lớn; hoặc làm mão sứ bình thường, rẻ hơn, kém sang hơn… Mỗi lựa chọn đều có giá khác nhau.

Người mẹ nói: “Con làm cho mẹ loại rẻ nhất, đơn giản nhất.”

Tất cả các bác sĩ đều chăm chú nhìn người con trai. Người con ngồi bên cạnh, hút xì gà thượng hạng, không nói một lời nào. Trong lòng các bác sĩ và y tá đều nghĩ thầm: “Người con giàu có như vậy, mà không chịu cho mẹ mình làm một bộ răng tốt hơn, thật là bất hiếu.”

Người mẹ run rẩy nói: “Con à, mẹ tự trả tiền.”

Bà lấy ra một chiếc khăn tay nhỏ, bằng đôi tay run run, chậm rãi mở từng lớp, lấy ra hai ba tờ tiền trăm đồng, nói muốn tự làm bộ răng cho chính mình – bởi vì một bộ răng tốt có giá hàng ngàn tệ.

Người con vẫn lặng lẽ ngồi bên cạnh, không nói gì, tiếp tục hút xì gà như thể không có chuyện gì xảy ra. Các bác sĩ, y tá đều âm thầm lắc đầu, trong tâm trách móc:

“Người con bất hiếu này, giàu có như thế mà lại để mẹ mình chịu thiệt thòi như vậy.”

Sau khi trả tiền xong, người con đỡ mẹ ra chiếc xe Mercedes sang trọng. Khi dìu mẹ lên xe, cậu nói:

“Mẹ chờ con một chút, con quên lấy một thứ.”

Cậu ấy quay lại phòng khám, bước đến trước mặt bác sĩ và y tá, nói: “Tôi biết các vị đang trách tôi, cho rằng tôi bất hiếu. Nhưng mẹ tôi cả đời tiết kiệm, tôi phải thuận theo ý mẹ. Xin bác sĩ hãy làm cho mẹ tôi bộ răng tốt nhất, giá bao nhiêu tôi sẽ trả, chỉ xin đừng để mẹ biết.” Nói xong, cậu để lại một khoản tiền rồi lặng lẽ rời đi.

Câu chuyện này dạy cho chúng ta hiểu rằng: Khi muốn đối tốt với người khác, không phải chỉ biểu hiện bên ngoài, mà phải dùng tâm. Chỉ có tâm chân thật mới có thể cảm động được người khác.

Lời nói phải xuất phát từ chân tâm, hành động phải khởi từ chân tâm, thì tâm ấy mới thật sự phát huy công đức và tác dụng của nó.

Bởi vậy, nói về tu tâm, tu tâm chính là tu bản tính chân thật của chính mình; mà tu tâm, cũng là để hiểu được tâm của người khác. Khi đã có thể thấu hiểu tâm người, ấy là lúc quý vị thật sự hiển lộ Phật tính chân thật nơi tự tánh của mình.

Tiếp theo, Sư phụ kể cho đại chúng nghe một câu chuyện:

Khi Tôn giả Ca Diếp đang trên đường trở về Xá Vệ quốc để nghe Đức Phật thuyết pháp, sau khi đã tuyên hóa tại A Phạn Đề quốc – truyền đạt mệnh lệnh của nhà vua và giáo hóa dân chúng – ngài bỗng nhìn thấy một người phụ nữ cầm bình nước, ngồi bên bờ sông, khóc than thảm thiết.

Tôn giả Ca Diếp vừa trông thấy, trong lòng liền sinh tâm bi mẫn. Ngài lo rằng người phụ nữ ấy vì phiền não hay tuyệt vọng mà có thể nghĩ quẩn, nên bước đến gần, nhẹ nhàng hỏi: “Bà ơi, điều gì khiến bà buồn đến nỗi phải khóc lóc thảm thiết nơi đây như vậy?”

Người phụ nữ nghẹn ngào đáp:“Chuyện của tôi, chẳng liên quan gì đến ông! Ông hỏi để làm gì chứ?” Nói xong, bà lại càng khóc lớn hơn, tiếng khóc bi thương vang vọng bên dòng sông lặng.

Tôn giả Ca Diếp tiến lại gần, với lòng từ bi và thương xót, nhẹ nhàng an ủi và khai thị: “Bà ơi, xin đừng quá đau lòng. Trên đời này, người nghèo rất nhiều, đâu chỉ riêng mình bà. Nghèo chưa hẳn là khổ, mà giàu cũng chưa chắc là vui.

Hãy nhìn những người giàu có, kẻ hầu người hạ, ruộng đất điền trang vô số, nhưng họ vẫn ngày ngày chìm đắm trong tham – sân – si, tự chuốc lấy khổ não. Làm người, chỉ cần tâm được an, sống thanh thản, bình yên, thì nghèo hèn há lại đáng để ta bi thương đến thế sao?”

Người phụ nữ nghe xong, lòng vẫn bất phục, bực dọc nói: “Ngài là người xuất gia, tâm thanh tịnh, nên có thể nhìn sự đời thoáng qua như vậy. Còn tôi, thân ở trong khổ, sao có thể làm được như ngài? Ngài không biết, tôi là nô lệ của kẻ giàu nhất nơi đây. Cả đời tôi lao khổ, thiếu ăn, thiếu mặc, không có tự do. Kẻ chủ lại tàn nhẫn, tham lam, vô từ bi; hễ tôi sơ suất liền bị mắng chửi, đánh đập.Sống chẳng ra sống, chết cũng không xong. Nghĩ lại, tất cả khổ đau này đều do nghèo mà ra – nghèo khiến tôi mất cả thân lẫn tâm, làm sao không bi thương được?”

Tôn giả Ca Diếp dịu giọng khuyên:

“Bà ơi, đã như vậy, xin đừng quá sầu khổ. Ta sẽ chỉ cho bà một phương pháp để thoát khỏi nghèo khổ, để được giàu có, được chăng?”

Người phụ nữ lau nước mắt, nhìn Tôn giả, hỏi: “Phương pháp ấy là gì?”

Tôn giả Ca Diếp đáp: “Phương pháp rất đơn giản. Vì bà khổ vì nghèo, nên chỉ cần bán cái nghèo ấy đi.”

Người phụ nữ kinh ngạc: “Bán nghèo cho người khác ư? Ngài đừng nói đùa. Nếu nghèo mà có thể bán được, thì trên đời này đâu còn người nghèo!l Ai lại ngu dại đi mua nghèo chứ?”

Tôn giả Ca Diếp mỉm cười, ôn tồn nói: “Bán cho ta. Ta sẵn sàng mua.”

Người phụ nữ ngạc nhiên, hỏi tiếp: “Nhưng… phải bán thế nào? Làm sao để bán được cái nghèo?”

Tôn giả Ca Diếp từ hòa khai thị: “Phải bố thí. Người đời giàu hay nghèo đều do nhân quả. Người nghèo là vì đời trước không biết bố thí, không tu phước; Người giàu là vì đời trước biết bố thí, biết tu phước. Vậy nên, bố thí và tu phước chính là cách ‘bán nghèo, mua giàu’ tốt nhất.”

Nghe xong, người phụ nữ tâm trí mở sáng, thầm nghĩ: “Đến nay mới hiểu được đạo làm giàu chân thật.”

Nhưng bà lại lo lắng nói: “Thưa Tôn giả, đúng như ngài dạy, ta đã hiểu được phương pháp làm giàu. Nhưng ta nghèo khổ đến tận cùng, chẳng có gì cả. Ngay cả bình nước trong tay cũng là của tên chủ keo kiệt kia, ta còn có gì để bố thí cho ngài đây?”

Tôn giả Ca Diếp mỉm cười, đưa bát khất thực của mình cho bà, từ bi nói: “Bố thí không nhất thiết phải bằng tiền của. Thấy người khác bố thí mà khởi tâm hoan hỷ, cũng là một loại bố thí. Giờ đây, bà chỉ cần đổ nước vào bát này, coi như bố thí cho ta, cũng đã gieo trồng phước điền rồi.”

Lúc ấy, người phụ nữ liền thấu hiểu ý nghĩa chân thật của bố thí, hoan hỷ làm theo lời Tôn giả dạy. Bà cẩn thận đổ nước vào bát, tâm thành thanh tịnh, trọn một niệm chí thành.

Nhờ công đức bố thí giọt nước ấy, về sau bà được sinh lên cõi trời Đao Lợi, hưởng thọ phước báo an vui, thân tâm tự tại.

Phật pháp vốn không phân biệt giàu nghèo, bất kỳ ai, dù sang hay hèn, cũng đều có thể bố thí và hành trì. Bởi vì, bố thí không chỉ là của cải vật chất, như lời Phật dạy: “Thấy người khác bố thí mà tâm khởi hoan hỷ, không sinh ganh ghét, không khởi sân hận, lòng vui mừng ấy cũng là bố thí.”

Công đức của người hoan hỷ tán thán và người thực hành bố thí là như nhau, vì đều phát khởi từ tâm thiện chân thành. Một việc thiện giản đơn mà sâu xa như thế, tại sao chúng ta lại không chịu thực hành?

Cuộc đời con người tựa như đang bước giữa rừng chông gai. Nếu tâm không vọng động, thì tâm ấy không bị tổn thương; tâm an thì cảnh cũng an.

Nhưng khi vọng niệm khởi lên, chính tâm mình lại làm khổ lấy mình. Khi tâm động, thân liền động; khi thân động, bao nhiêu hệ lụy khổ đau theo đó mà sinh.

Không có một vết thương nào nơi thân mà lại không chạm đến tâm. Cho nên, khi đối diện với mọi khổ đau của thế gian, chúng ta hãy học cách lặng lẽ dùng Phật pháp để quan tâm, chăm sóc và cầu nguyện cho người khác. Đó chính là một hình thức bố thí vô hình.

Tập 105
Ý Thức Là Nền Tảng Của Phật Tánh

(15/07/2020)

Hôm nay, Sư phụ tiếp tục giảng “Bạch Thoại Phật Pháp”.

Lần trước, Sư phụ đã khai thị đại chúng rằng: Phật dạy chúng ta không phải chỉ để mắt nhìn thấy cảnh vật, mà là để tâm quán chiếu vạn pháp. Những gì ta thấy bằng đôi mắt phàm phu, chỉ là huyễn tướng, là bóng dáng của chân thật mà thôi. Chỉ khi dùng tâm để quán chiếu, cảnh giới ấy mới hiển lộ là chân thật.

Tương tự, lời nói của người học Phật không nên chỉ phát ra từ nơi miệng lưỡi, mà phải phát khởi từ nơi tâm – đó chính là giao tâm, tâm truyền tâm.

Khi hiểu được đạo lý này, ngay trong giây phút ấy, tâm liền nhập vào cảnh giới tham thiền. Bởi tham thiền chính là dùng bản tánh Như Lai chân thật nơi tự tâm của mình để thể nhập và thể hội Phật tánh.

Người hiểu rõ Phật tánh, tức là hiểu được Phật đang dạy chúng ta cách cảm nhận, cách đặt tâm mình ở đúng vị trí giữa nhân gian – đó chính là cội gốc của Tâm Địa Pháp Môn mà Đức Phật đã chỉ dạy.

Ngày nay, khi ta khen một người rằng: “Người này có tâm địa hiền lương”, tức là ta đang nói đến cái thiện lành nơi sâu thẳm trong tâm của họ.

Trên con đường học Phật, chúng ta cần hiểu rõ nguyên lý sâu xa của vạn pháp: Mọi pháp, mọi sự vật trong thế gian, nếu thật có thể tánh chân thật, thì tất phải hiển lộ tướng và dụng riêng của nó. Ví như hôm nay ta làm một việc gì đó – có thể là tiếp nhận một nền giáo dục, một pháp môn, hay tiếp xúc với một vật chất – thì việc ấy vốn đã có thể, có tướng, và có dụng của riêng nó.

“Tướng” là hình trạng bên ngoài, là những gì mắt phàm có thể nhìn thấy, là biểu hiện nơi sắc trần.

“Thể” là bản tánh, là cội nguồn thật sự của vật ấy, là phần tinh yếu mà mắt phàm không thể thấy.

Còn “Dụng” là sự vận hành, là cách mà ta có thể ứng dụng, khai triển và sử dụng pháp hay vật ấy.

Thực tế, bất kỳ một người hay một vật nào cũng đều có vô tận diệu dụng. Điều này có nghĩa là, dù quý vị chưa hiểu rõ, nhưng mọi sự vật đều có tiềm năng ứng dụng và hiển lộ trong mọi thời và mọi duyên.

Cho nên trong Phật học gọi là “Thể – Tướng – Dụng”, ba mặt ấy không thể tách rời. Nếu chỉ thấy được tướng mà không hiểu thể, thì chẳng thể biết cách vận dụng. Chỉ khi nào ta thấu rõ hiện tượng bên ngoài, rồi quán chiếu thấu tánh thể bên trong, ta mới thật sự biết cách sử dụng và chuyển hóa đúng theo Chánh pháp.

Pháp giới chân thật cũng như vậy. Chân như – Phật tánh chính là từ nơi thể – tướng – dụng mà hiển lộ. Chúng ta tu học, hành trì, tiếp nối được Phật tánh ấy, tức là đang tương tục trong dòng chân như, không phải đoạn diệt, không phải mất đi.

Bởi lẽ, trong vũ trụ này, mọi pháp hữu vi đều có sự tương tục; dù vật đổi sao dời, thể tánh vẫn không diệt, chỉ chuyển hóa từ tướng này sang tướng khác, từ dụng này sang dụng khác.

Cùng một sự việc, nhưng mỗi người với tâm niệm và cách nhìn khác nhau sẽ sinh ra kết quả và cảnh giới khác nhau. Ví như có người được tặng một chiếc bánh ngọt: Một người làm mẹ liền khởi niệm: “Con ta đã lâu chưa được ăn, ta nên để phần cho con.”

Một cô giáo mầm non được tặng bánh, lại nghĩ: “Ta sẽ chia bánh này cùng các em nhỏ.”
Còn một vị tu hành giữ giới thanh tịnh, liền nghĩ: “Ta không có công, sao có thể nhận lễ vật của người? Vô công bất thọ lộc, ta không nên nhận.”

Ba tâm niệm, ba cảnh giới hoàn toàn khác nhau.

Cho nên, tất cả đều tùy tâm mà hiển hiện, từ tự tâm mà biến hóa. Người biết tùy duyên diệu dụng, thì trong mỗi cảnh đều có thể sinh trí tuệ, đều có thể hoá độ và chuyển hoá.

Ví như khi ta gặp một người, chỉ qua hành vi, diện mạo, ngôn ngữ và biểu cảm, ta có thể nhận biết phần nào tính cách và căn tánh của họ. Dẫu cho người ấy còn vướng vào ác nghiệp, nếu ta có trí tuệ và từ bi, vẫn có thể hoá độ, khiến người ác chuyển thành thiện. Đó chính là diệu dụng của tâm.

Phật pháp dạy: “Thể – Tướng – Dụng”:

“Tướng” là hình thức bề ngoài mà mắt phàm có thể thấy;
“Thể” là bản chất, là cội nguồn chân thật bên trong;
“Dụng” là công năng, là sự vận hành của trí tuệ qua hành động.

Người có trí, khi thấy tướng ác mà không chấp tướng, hiểu thấu bản thể, liền biết cách “dụng” để chuyển hoá, đó chính là “tùy duyên diệu dụng”.

Một vị lãnh đạo tài đức, trong cơ quan của mình, không phải ai cũng đoan chính, thuần thiện. Nhưng người ấy biết dụng nhân, khai phát sở trường, cảm hóa sở đoản, khiến kẻ vốn nhiều mưu toan trở thành người hữu ích cho đại cuộc. Đó là sự thấu triệt “Thể – Tướng – Dụng” ngay nơi thế gian.

Hiểu người không phải để dung túng, mà là để chuyển hóa. Biết tướng không phải để chấp, mà là để thông đạt bản thể. Dụng người không phải để lợi mình, mà là để cùng nhau hướng thiện.

Đó chính là đạo của bậc trí, là diệu dụng của tâm linh, là công hạnh của người học Phật nơi thế gian này – tùy duyên mà bất biến, bất biến mà tùy duyên, lấy trí tuệ chiếu soi, lấy từ bi hành hóa, khiến mỗi cảnh, mỗi người đều trở thành Pháp duyên giúp mình tiến đạo.

Bản tánh chân thật của con người vốn phi nhất phi nhị – không phải là một, cũng chẳng phải là hai; phi không phi hữu – không phải là không, cũng chẳng phải là có; phi tức phi ly – không phải đồng nhất, cũng chẳng phải rời xa.

Nói như vậy là để chỉ rõ rằng: bản tánh của chúng ta không nằm trong đối đãi nhị nguyên, không thể dùng ngôn ngữ hay suy nghĩ phân biệt mà diễn tả. Nó chẳng phải là “có được” hay “không được”, chẳng phải là “có” hay “không”.

Vì sao? Bởi được rồi lại mất, rốt cuộc cũng như chưa từng được. Những gì hôm nay ta nắm trong tay, mai này tan biến, há chẳng phải như mộng huyễn, như ảnh trong gương, như trăng đáy nước hay sao?

 Người đời thường chấp vào một hướng, tưởng rằng đó là lối duy nhất. Nhưng khi tâm khai trí mở, chỉ một niệm xoay chuyển, liền sinh ra con đường thứ hai, liền có phương tiện khác.

Nhiều người nói: “Tôi buông rồi, chuyện ấy tôi coi như xong, tôi đã không chấp nữa.”

Song kỳ thật, nếu còn phải nói “tôi không chấp”, thì tức là vẫn còn chấp. Chân thật buông là không cần lời nói, vì tâm đã lặng.

Lại có người than: “Tôi nghĩ không thông.”

Nhưng thật ra, việc gì ở đời rồi cũng có lúc tự nhiên thông. Giống như thuở thiếu niên, bao điều ta từng khổ sở, từng cố chấp, từng cho là không thể vượt qua; đến nay ngoảnh lại, tất cả đã hóa thành hư không.

Những sai lầm, lời nói sai, việc làm sai, bao lần khiến ta hối hận, tự trách, “ước gì có thể tự đánh cho tỉnh”. Nhưng ấy chính là hành trình của nhân sinh, là tấm gương soi chiếu vô thường.

Hiểu được điều ấy, ta sẽ biết: tất cả vốn không thật có, mà cũng chẳng thật không. Đó chính là phi không phi hữu, là “không được mà cũng chẳng từng mất”, là “chưa từng đến mà cũng chẳng từng đi”.

Muốn đạt được tâm có trí huệ và đức năng, con người trước hết phải biết điều phục chính tâm mình, để giữa cõi hồng trần này không bị nhiễm trước.

Đức Phật dạy rằng, chỉ khi tâm có trí huệ, có đức hạnh, ta mới có thể làm chủ trí huệ của chính mình, không để nó biến thành tà trí, vọng kiến. Khi ấy, trí huệ không còn là ngọn dao bén làm tổn thương người, mà trở thành ánh đèn soi rọi lối về Chánh đạo.

“Trí huệ đức năng” – chính là sự kết hợp giữa trí vượt phàm tình và đức hạnh thanh tịnh. Trí huệ giúp nhận thấy lý pháp chân thật, đức năng giúp thực hành điều thiện chân chính. Hai điều này tương dung, sinh ra một năng lượng vi diệu, là năng lực của người giác ngộ – biết mà không chấp, hiểu mà không khởi ngã, hành mà không cầu báo.

Muốn được như vậy, con phải học cách viễn ly chấp trước. Tâm càng buông bỏ, trí càng khai mở; tâm càng chấp thủ, trí càng lu mờ. Người biết xa lìa mọi ràng buộc, không để tâm trụ nơi bất cứ pháp nào, ấy chính là người có trí huệ đức năng chân thật.

Sư phụ từng dạy: “Đừng để tâm quý vị dính mắc vào bất cứ nơi nào.”

Một khi tâm trụ vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, liền bị lục trần lôi cuốn. Còn khi tâm vô sở trụ, thì trí huệ tự nhiên sinh khởi.

Ví như khi có người chỉ trích rằng quý vị có khuyết điểm, nếu tâm chấp trước, quý vị liền phản ứng: “Tôi đâu có như vậy!” Song lời người nói không chỉ nhắm vào một lỗi nhỏ nơi hiện tại, mà là phản ánh toàn thể thói quen trong dòng tâm thức của quý vị.

Ví dụ: người nói quý vị ưa viện lý do, quý vị đáp: “Hôm nay tôi đâu có biện hộ.” Nhưng hãy tự hỏi: Hôm qua tôi có không? Năm ngoái tôi có không? Điều này nhắc nhở chúng ta rằng, đừng trụ vào một điểm nào rồi cho rằng mình đúng. Khi tâm không còn cố chấp vào “cái đúng” của chính mình, vọng tâm sẽ không sinh khởi.

Khi có người chỉ ra khuyết điểm, nếu trong tâm không dấy lên vọng niệm, không khởi phân biệt, thì tự nhiên sẽ biết dung hòa, biết viên dung với mọi cảnh duyên.

Rất nhiều người, trong tâm luôn tìm đủ mọi lý do để biện hộ, đến cuối cùng lại không thể dung hòa chính cuộc đời mình. Một người suốt ngày sống trong sự giải thích, liệu có thể đạt chánh tri hay chăng? Ngày ngày tìm lý do, ngày ngày chấp trước – như vậy, tâm ấy làm sao có thể viên mãn, an hòa được?

Ví như người làm điều tổn hại người khác, nếu tâm không biết hổ thẹn, không thể bao dung, không biết sửa đổi, thì lòng ấy không thể viên dung, cũng không thể an ổn. Khi tâm quý vị trụ tại một điểm, tức là tâm có sở trụ – có một vấn đề không buông, một mối phiền não không tan – thì tầm nhìn liền hạn hẹp, vì quý vị chỉ thấy một góc nhỏ của thế giới, mà không nhận diện được toàn thể Pháp giới viên dung vô ngại.

Lúc ấy, tâm trở nên cô độc, bởi quý vị cho rằng chỉ mình mới hiểu mình, còn người khác không thể thông cảm. Nhưng thật ra, cái cô độc ấy chỉ là kết quả của tâm chưa thông, trí chưa sáng. Một khi ngộ ra, quý vị sẽ thấy rằng: thế gian vốn vô thường, chẳng có gì lâu bền, chẳng có gì đáng để cố chấp mãi.

Tâm chính là then chốt trong sự tu hành. Tâm người tu hành được gọi là thức thứ sáu, mà gốc của thức ấy chính là thức thứ bảy – Mạt-na thức, nơi ẩn chứa nghiệp chấp ngã sâu dày.

Thức thứ nhất là ý thức sinh khởi từ cảm giác và cảm quan. Tuy nhiên, nếu ý thức này không bén rễ trong Mạt-na thức, thì không thể chuyển hóa được thức thứ sáu. Do đó, cội gốc của mọi ý niệm vẫn bắt đầu từ hạt giống trong Mạt-na thức, và chính nơi đó, thông qua quá trình phân biệt và nhận biết, sẽ phát sinh ra thức thứ tám – A-lại-da thức.

Lần trước, Sư phụ đã giảng rằng A-lại-da thức chính là Tâm vương – vị vua trong tâm, tức Bát thức tâm vương. Hôm nay, chúng ta sẽ tiếp tục khám phá sâu hơn về bát thức này.

Ví dụ, khi nhìn thấy một chiếc bánh, thức thứ sáu của quý vị liền khởi lên: “Chiếc bánh này trông thật ngon”. Tiếp đó, thức thứ bảy – Mạt-na thức nhận biết và xác định: “Chiếc bánh này ngọt, thơm”. Chính những niệm tưởng ấy trở thành chủng tử, được gieo vào thức thứ tám – A-lại-da thức, và bén rễ nơi đó.

Vì vậy, từ đó trở đi, mỗi khi nhìn thấy bánh, thức thứ sáu liền trực tiếp nối thông với thức thứ tám, khiến quý vị lập tức nhận ra: “Bánh này ngọt, thơm và ngon”. Đó chính là tập khí đã được huân tập và lưu giữ trong tàng thức, hình thành nên một mẫu thức cố định trong tâm.

Trong cõi người, năm thức đầu tiên được gọi là phù trần căn – tức là năm căn tiếp xúc với trần cảnh bên ngoài: mắt, tai, mũi, lưỡi và thân. Đây là cửa ngõ để con người tiếp nhận thế giới vật chất.

Thức thứ sáu, tức ý thức, có phù trần căn trú nơi não bộ. Khi ý thức vừa tiếp nhận cảnh trần, nó liền khởi lên nhận biết ban đầu. Ví như hôm nay, Sư phụ nhìn thấy trên bục có một bó hoa: “Hoa này thật đẹp” – đó là mắt thấy; “Hoa này thật thơm” – đó là mũi ngửi.

Kế đến, thức thứ bảy – Mạt-na thức, có phù trần căn nằm giữa não và tâm, giữ vai trò truyền dẫn và khẳng định. Nó tiếp nhận thông tin từ sáu thức trước, rồi hình thành dòng ý niệm vi tế, truyền đi những làn sóng nhận thức như: “Hoa này đẹp”, “Hoa này thơm”.

Tiếp theo, thức thứ tám – A-lại-da thức, có phù trần căn trú sâu trong nội tâm. Chính nơi đây, mọi cảm nhận như “hoa là đẹp”, “hoa là thơm” được lưu giữ thành hạt giống. Vì vậy, khi quý vị nhìn thấy hoa, tâm liền tự nhiên khởi lên cảm giác yêu thích, thấy đẹp, thấy thơm – đó chính là dấu ấn đã được khắc sâu trong tàng thức.

Vì sao nhiều phụ nữ yêu thích hoa? Bởi bản tâm người nữ thiên về ái mỹ và ưa hương sắc. Chính hạt giống “ưa đẹp, thích thơm” ấy đã tồn tại trong thức thứ tám, được huân tập từ vô lượng kiếp mà thành.

Hiểu được như vậy, quý vị sẽ dần nhận ra rằng mọi hiện tượng của thế gian, mọi sắc tướng và tâm niệm, tuy biến hóa vô cùng, nhưng đều có căn nguyên và sự tồn tại thật tướng của chúng.

Tập 106
Bổn Tướng Của Vật Chất Trong Hư Không

(15/07/2020)

Vì sao có người khởi tâm ác, có người lại sinh ý xấu? Vì sao có người đắm nhiễm trong tham dục, có người lại sân hận trước hiện thực, rồi cộng thêm si mê vô minh? Tất cả những điều ấy chính là căn nguyên hình thành nên tính khí và tâm tánh của mỗi người.

Bởi con người mang theo các sắc trần bên ngoài cùng các tâm niệm bên trong, rồi dung hợp, lưu giữ chúng trong nội tâm mình. Do thường thấy muôn hình sắc tướng của thế giới bên ngoài, dần dần con người cho rằng những hình sắc ấy chính là bản thể của thế giới, và sanh khởi nhận thức sai lầm rằng:

“À, thì ra bản thể của thế giới chính là như vậy đó.”

“À, thì ra đây chính là ‘tướng’ và ‘dụng’ của các pháp.”

Nhưng thật ra, đó chỉ là sự hiểu lầm nơi vọng tâm. Khi thấy một sự vật mà cho rằng “đây chính là toàn bộ công năng của nó”, tức là đã chấp vào tướng, chưa thể thấy được thể tánh chân thật của pháp.

Ví như khi thấy một bông hoa, con người thường nghĩ:

“Bông hoa được đặt trên bàn, công dụng của nó chỉ là để trang trí.”

Song kỳ thật, diệu dụng của hoa đâu chỉ có thế.

Tất cả các pháp, dù là vật chất hay sự việc, đều biểu hiện ra “tướng”; nhưng tướng ấy không phải là cứu cánh chân tánh của sự vật. Tuy nhiên, nếu không có “tướng”, con người sẽ không thể “dụng” – nghĩa là không thể nhận biết, sử dụng hay giao cảm được với sự vật ấy.

Muốn vận dụng một pháp, trước hết phải hiểu rõ bản tánh của pháp ấy; mà muốn hiểu được bản tánh, thì phải nhận biết tướng hiện của nó. Nếu không có sự nhận biết ấy, thì dù pháp có ở ngay trước mắt, cũng không thể khởi dụng.

Ví như, nếu ta không hiểu tánh tình của một người, mà vội vàng kết giao, thì rất dễ gặp thất bại hoặc chuốc lấy tổn hại. Cho nên, không rõ tướng thì không thể dụng; chỉ khi thấu được tánh, mới có thể vận dụng một cách đúng đắn.

Một người chưa hiểu rõ ai đó mà đã tùy tiện kết bạn, tức là hành xử trong vô minh; hậu quả tất yếu là thất vọng hoặc lầm lẫn, bởi vì tâm chưa thấu rõ “tướng”, nên không biết “dụng” thế nào cho hợp đạo.

Lại ví như, nếu ta chưa từng thấy một tòa nhà, thì trong tâm chưa có khái niệm về tòa nhà ấy — nghĩa là chưa có “tướng” trong tâm, thì tự nhiên cũng không thể “dụng”, tức không thể hiểu, cảm nhận hay sử dụng được nó.

Trước tiên, Thầy hỏi quý vị: “Quý vị có thấy tòa nhà này không?” Khi nhìn thấy sự tồn tại của tòa nhà, trong tâm liền sinh khởi nhận thức và đánh giá về nó – đó chính là “tướng” xuất hiện. Sau khi “tướng” đã hiện, quý vị mới có thể sử dụng, vận dụng và tác khởi diệu dụng từ nó.

Ngược lại, nếu trong tâm quý vị, hoặc trong thực tế, chưa từng thấy bất kỳ thứ gì, mà chỉ tưởng tượng ra một tòa nhà, thì quý vị không thể nhận thức được sự tồn tại chân thật của nó, cũng không thể khởi dụng được. Như vậy, diệu dụng liền mất.

Đức Phật dạy rằng: Vì sao con người có thể vô trung sinh hữu? Vì sao từ những điều vốn không có, lại sinh ra thành có?

Nguyên nhân chính là vọng niệm và vọng tưởng. Ví như, có người nhiều ngày không đến công ty, liền có kẻ khởi tâm nghi hoặc:

“Ồ, sao lại nghỉ mãi thế? Có phải ở nhà cãi nhau không?”

Chỉ cần một người buông lời đùa, lại có vài người tán đồng, thì tin đồn liền thành, và từ vọng niệm đã sinh ra sự thật hư vọng – đó chính là vô trung sinh hữu, do thức tâm biến hiện mà thành.

Những điều ấy chưa từng thấy, chưa có “tướng”, nhưng con người lại dùng vọng tưởng mà kết luận, rồi đem điều sai ấy ứng dụng trong hành động và suy nghĩ, tức là “dụng” sự vọng tưởng, và như thế chính là tự làm tổn hại trí huệ cùng bản tánh thanh tịnh của chính mình.

Người đời vì sao thường khổ đau? Chính là vì nghi ngờ người khác, vì khởi tâm phân biệt và tưởng sai về họ. Quý vị cho rằng người kia có ý xấu với mình, nhưng thật ra, chưa từng thấy, chưa từng chứng, chỉ là tự tâm vọng tưởng mà ra.

Khi quý vị tin vào sự vọng tưởng đó, rồi lại dụng theo nó, nghĩa là hành xử dựa trên vọng tưởng, thì phiền não liền sinh khởi: oán giận, hiểu lầm, tổn thương tình đồng nghiệp, tình bạn, thậm chí là tình pháp lữ đồng tu. Cho nên, vọng niệm chính là cội gốc của mê lầm và khổ đau.

“Tưởng” là một loại vật chất vi tế trong hư không, tuy vô hình mà hữu dụng. Trong thế gian này, muôn sự muôn vật đều khởi nguyên từ tưởng mà thành – bởi tưởng sinh thức, thức sinh hành, hành liền tạo nghiệp, tất cả đều do một niệm mà khởi.

Nếu hỏi rằng: “Tưởng tượng có thể mang năng lượng chánh không?” Đáp rằng: Có thể.

Người chế tạo phi cơ hay các bậc phát minh vĩ đại trong nhân loại, đều lấy sức tưởng tượng làm căn bản, rồi dùng trí huệ và thực chứng để khiến cho điều vốn hư ảo trở nên hiện hữu. Đó gọi là chánh tưởng, là tưởng phát sinh từ trí huệ, không mê lầm.

Nhưng khi tưởng tượng sinh khởi từ vọng niệm, nó liền trở thành ảo giác. Con người lầm cho điều hư vọng là chân thật, mà không hay chính ảo giác ấy đã làm cong vênh, biến dạng trạng thái tâm lý vốn bình thường của mình.

Ví như, có người từng khởi thiện cảm sâu sắc với một người khác, bỗng một ngày tâm khởi nghi: “Gần đây sao người ấy đối với ta chẳng còn như trước? Có phải họ đã sinh tâm oán trách ta chăng?”

Ngay trong khoảnh khắc ấy, tà tưởng liền sinh, khiến tư duy lệch lạc, tâm ý quanh co, và nội tâm dần tổn hại. Rất nhiều người, khi mới phát tâm lễ Phật, thường tha thiết khẩn cầu: “Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát, xin Ngài gia hộ cho con vượt qua tai kiếp này.”

Nếu trong mệnh duyên của người ấy vốn đã có thiện báo, Bồ Tát liền từ bi gia trì, điểm hóa, khiến cho mọi việc thuận lợi, hanh thông. Khi thấy sự cảm ứng hiển hiện, họ liền hoan hỷ thốt lên: “Ôi, Bồ Tát thật linh thiêng!”

Nhưng khi gặp những việc cầu hoài chẳng ứng, vọng niệm liền sinh khởi: “Có phải Bồ Tát không còn thương con nữa? Hay là Ngài không hiểu con? Phải chăng con dâng trái cây chưa đủ tốt? Hay là lạy chưa đủ thành tâm?…”

Vô lượng vọng niệm từ đó nổi dậy, khiến tâm sinh bất an, tiêu cực, rồi dần dần khởi nghi: “Lần trước sao Ngài còn giúp con, mà nay lại chẳng giúp?” Chính từ trong vọng tưởng chấp ngã ấy, con người cho rằng mình đúng, rồi lại nghĩ rằng Bồ Tát có tâm phân biệt.

Thực chất, thế giới này vốn là Nhất Chân Pháp Giới. Như lời Đức Phật dạy: “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành” – nghĩa là mọi điều ác đều phải dừng, mọi điều thiện đều nên làm. Ấy chính là chân lý tối thượng của Nhất Chân Pháp Giới.

Người biết tinh tấn, nhẫn nhục, nỗ lực tiến tu, người ấy ắt có thể thành Phật. Đó chính là chân tướng của Nhất Chân Pháp Giới.

Nếu hôm nay, chúng ta có đủ niềm tin và nghị lực để hàng phục những căn tánh bất thiện nơi tự thân, có thể vượt qua, có thể chuyển hóa, thì ngay trong đời này, cũng có thể thành tựu đạo nghiệp, ấy chính là tướng hiện của Nhất Chân Pháp Giới.

Hoặc giả như thế gian này vô thường như mộng huyễn, như ảo ảnh, thì đó cũng chính là Nhất Chân Pháp Giới. Điều này nhằm chỉ rõ cho chúng ta thấy rằng: chân lý ấy vốn bất biến, chính là chân tâm thường trụ trong mỗi con người. Phật tánh trong tự tâm của mỗi chúng sinh là “phi nhất phi nhị” –  không phải một, cũng không phải hai; đồng thời lại “diệc nhất diệc nhị” – vừa là một, cũng vừa là hai.

Nếu ta đối với một người mà có thể giữ được nhất tâm chí thành, thì người ấy há có thể không cảm nhận được tâm chân thật đó hay sao? Cũng như thế, khi ta một lòng một dạ hướng về Phật, với tâm “phi nhất phi nhị”, không phân biệt, không nghi hoặc, thì chư Phật, chư Bồ Tát ắt sẽ gia hộ, khiến cảm ứng đạo giao.

Trái lại, nếu tâm ta ba lòng hai ý, hôm nay nghi ngờ Phật, mai lại than rằng Phật chẳng che chở, hôm khác lại khởi tâm cho rằng Phật có thiên vị – “Vì sao người kia cầu liền cảm, còn con cầu mãi chẳng ứng?” – thì chính những vọng niệm ấy đã khiến tham tâm, sân tâm, si tâm, đố kỵ tâm đồng thời sinh khởi.

Một niệm vọng tưởng vừa dấy lên, liền hóa thành vô lượng vọng tưởng; chúng bám rễ nơi tâm thức, đâm chồi sinh trưởng, khiến phiền não, oán hận và mê chấp càng thêm sâu dày. Bởi thế, Kinh Phật dạy rằng: “Phi nhất phi nhị, diệc nhất diệc nhị.”

Tất thảy vạn pháp ở thế gian, người học đạo cần thấu rõ một chân lý: mọi sự, mọi vật đều có lý do để tồn tại; tất cả đều do nhân duyên hòa hợp mà sinh, do nhân duyên tan rã mà diệt.

Nếu quán chiếu sâu xa, ta sẽ nhận ra rằng vạn pháp ở thế gian này đều có đạo lý tồn tại của riêng nó. Tất cả pháp đều thuận theo duyên khởi mà thành, thuận theo duyên diệt mà hoại. Hiểu thấu lẽ ấy, tự nhiên thấy rõ: hễ có sinh ắt có diệt, chẳng có gì vượt ngoài quy luật thành – trụ – hoại – không. Không một ai trong cõi đời này có thể thoát khỏi bốn giai đoạn ấy.

Một đứa trẻ khi sinh ra – ấy là thành, thành tựu hình hài làm người. Rồi sống giữa thế gian – đó là trụ, trải qua thuở niên thiếu, thanh xuân, trung niên cho đến khi tuổi già. Khi thân thể bắt đầu suy yếu, trí lực và sự nghiệp dần thoái giảm – ấy là hoại. Đến khi mạng chung, thân xác tiêu tan – đó chính là không.

Một ngôi nhà được dựng nên, qua trăm năm sử dụng, rồi cũng hư hoại, bị tháo dỡ, đổ nát, lại được xây dựng mới – đó chính là phép biện chứng của vạn pháp.

Người sống giữa thế gian cần phải thấu hiểu rằng: thế giới này vốn có chân lý của riêng nó, mà thành – trụ – hoại – không chính là chân lý ấy. Không ai có thể vượt thoát khỏi quy luật vô thường này.

Tất cả những gì hôm nay ta thấy có hình tướng, sớm muộn rồi cũng tiêu tan. Những điều mắt thấy, tai nghe, hay chính tay ta chứng nghiệm, tuy dường như hiện hữu, song vì chúng không có tự thể, nên đều là hư vọng, chẳng thật.

Thế nào là “không có tự thể”? Nghĩa là mọi sự, mọi vật đều không có khả năng tự sinh tồn, cũng chẳng thể tự kéo dài, mà đều phải nương vào nhân duyên hòa hợp mới thành.

Thuở ấu thơ, ta từng có tình bạn rất thắm thiết với những người bạn nhỏ – nhưng mối duyên ấy vốn cũng không có tự thể. Khi không còn liên lạc, không còn gieo duyên, thì dần dần, hạt giống ấy chẳng còn sinh căn, chẳng còn nảy mầm, và rồi cũng tan biến mất.

Chỉ có tư tưởng của con người là có “tự thể”. Vì sao vậy?

Bởi càng nghĩ, thì tâm càng sinh khởi; càng nghĩ, niệm càng nhiều; càng nghĩ, sợ hãi càng tăng trưởng. Cho nên trong đời thường, người ta mới khuyên nhau rằng: “Đừng nghĩ nhiều nữa.”

Bởi càng vọng tưởng, tâm càng rối loạn; càng phân biệt, khổ não càng sâu. Nghĩ điều lành thì sinh hoan hỷ, nghĩ điều dữ thì tự chuốc ưu phiền.

Một hạt giống thiện, càng nghĩ đến tâm càng hoan hỷ; một niệm bất thiện, càng nghĩ lại càng sanh phiền não.

Ấy chính là bản chất hư huyễn, không thật của thế gian này. Đức Phật dạy chúng ta chớ đắm nhiễm vào cảnh giới huyễn vọng, bởi tất cả đều do tâm tạo, không có tự thể, như mộng huyễn ảo ảnh mà thôi.

Cái thường hằng, chân thật và bất biến – chính là bản tánh của ta, là thực tướng của chư pháp.

Phải thấy được tướng của tự tánh chân như, chớ để bị mê hoặc bởi tướng hư vọng bên ngoài; có như vậy mới có thể thực hành được diệu dụng chân thật trong Phật pháp.

Người tu hành chân chánh không bao giờ hoang phí đời mình, bởi đời sống của hành giả biết tu tâm có thể tiếp nối và thăng hoa. Thân người tuy có hoại diệt, nhưng linh tánh vốn bất diệt – ấy chính là thực tướng bất sanh bất diệt của pháp thân.

Khi đã minh triết mà biết rằng trong ta có một bản thể vĩnh hằng, chưa từng sinh cũng chẳng từng diệt, thì phải dốc lòng tu dưỡng, tu cho viên mãn, tu cho viên dung, để cuối cùng nương nơi Phật tánh bất diệt ấy mà vượt thoát luân hồi, siêu xuất khỏi mọi khổ đau, bước vào cảnh giới thanh tịnh, quang minh và viên mãn của chư Phật.

Ấy mới là điều đáng thấy, đáng chứng, chứ chẳng phải cứ mãi chấp giữ những gì thuộc về quá khứ huyễn mộng, vô thường.

Nhiều người mang trong tâm những ký ức xưa cũ, dẫu muốn quên cũng chẳng thể quên. Nhưng phải biết rằng, tất cả những gì hôm nay ta thấy rồi cũng sẽ tan biến; những gì hôm nay ta có, ngày mai cũng chẳng còn; những gì thuở thanh xuân từng sở hữu, cuối cùng cũng tiêu tán theo vô thường.

Đó chính là chân lý bất biến của thế gian.

Giống như những lời chúng ta nói hôm nay – những cuộc tranh luận, hơn thua, những chỗ cho rằng “ta đã ngộ ra rồi”, “ta đã hiểu rồi” – thì một ngày kia, tất cả cũng sẽ tan biến như mây bay.

Có người ở giữa đại chúng, chỉ vì một chút sĩ diện hư danh, được thoả lòng trong giây lát, nhưng chẳng bao lâu liền tiêu tan. Kỳ thật, đó chỉ là một khái niệm, một cảm giác hư vọng, là một tiến trình sinh diệt trong tâm thức, chẳng có thực thể. Vậy những điều ấy, há có ích gì chăng?

Bởi mọi tiến trình đều chỉ là tạm thời, qua rồi thì chẳng còn lưu dấu. Như người ngồi trên xe, nhìn bên đường thấy cỏ xanh hoa nở, lòng sanh hoan hỷ -nhưng xe đã chạy qua, thì tất cả chỉ còn là bóng hình thoáng chốc.

Nếu vẫn còn mãi dừng tâm nơi những cảnh huyễn ấy, biết rõ chúng chỉ là duyên khởi sinh diệt, mà vẫn không buông xả, vẫn cố chấp trong ý niệm đó – thì theo ngôn ngữ thế gian, gọi là cố chấp, cố tâm bất hóa; còn trong Phật pháp, gọi là tâm đã sanh chướng ngại, nội tâm bị ngăn che bởi vô minh sở trụ. Bởi vậy, người tu hành cần phải học hạnh buông xả, để tâm vô sở trụ.

Ta không dừng lại nơi những đóa hoa bên đường mình đi qua, cũng chẳng dừng lại trong ý niệm rằng “ta đang tu hành, đang hành thiện”. Mọi việc đều phải khởi từ trí tuệ giác ngộ, tùy duyên mà hành, để tâm vô sở trụ, không bám chấp vào bất kỳ cảnh giới nào – dù là tốt hay xấu, được hay mất.

Hãy thường tự quán chiếu, tự vấn lấy mình:

“Nếu bảo ta buông xả điều này, liệu ta có làm được chăng?”

“Nếu ngôi nhà này đem tặng cho người khác, ta có thể buông xả được không?”

“Nếu hôm nay chức vị này giao cho người khác, lòng ta có an nhiên chăng?”

“Nếu có kẻ phỉ báng, thậm chí nhổ nước bọt vào ta, ta có thể nhẫn chịu được chăng?”

Phải mỗi ngày soi lại chính mình như thế, mỗi ngày thực tập tâm vô sở trụ. Khi tâm không còn chấp trước, không bị trói buộc bởi bất kỳ pháp trần nào, thì mỗi nơi ta hiện hữu đều là Tịnh độ, mỗi bước chân ta đi qua đều ở trong cõi Phật.

Tập 107
Chứng Ngộ Thực Tướng, Ứng Tướng Diệu Dụng

(15/07/2020)

Mỗi ngày đều phải giữ tâm vô sở trụ, thì nơi nào trong tâm quý vị cũng chính là Tịnh Thổ.

Chỉ cần tâm còn trụ ở một chỗ, thì dù đang ở giữa cõi người, vẫn là hồng trần nhiễm ô; bởi một khi tâm đã khởi chấp trước, trong ấy tất sinh ra nhiễm trược.

Người mãi không quên được quá khứ, chính là tâm đã ô nhiễm. Rất nhiều người sống trong “không thể quên”, thậm chí những khúc ca như “Xin chớ quên tôi” cũng đều là tiếng vọng của chấp niệm.

Một khi tâm không thể buông bỏ những ký ức cũ, còn mãi nhớ ân tình của người khác, hay ôm giữ những tổn thương từng trải qua – thì tất cả đều trở thành chướng ngại của sự an tĩnh.

Người còn khổ đau, làm sao có thể an tịnh được? Nếu giữa cõi hồng trần cuồn cuộn này, quý vị có thể buông xuống hết thảy, thì quý vị chính là A Di Đà.

Phải luôn luôn dập tắt vọng niệm, phải chứng ngộ thực tướng. Người còn chấp trước vào thể diện, người ấy khó có thể thành tựu thiện quả.

Lấy tướng mà khéo ứng, dùng chân tướng Như Lai để soi chiếu Phật tánh trong tự tâm – ấy chính là diệu dụng của tâm Thiền.

Đối với thế gian, phải biết nhìn thấu mà không khinh chê, buông xả mà vẫn từ bi đối đãi, đó chính là cảnh giới của Thiền môn quán chiếu.

Người có trí tuệ, biết dùng tuệ nhãn quán sát vạn pháp, thì tự nhiên vượt thoát mọi chướng ngại và phiền não nơi cõi phàm trần.

Cũng như khi trì tụng Kinh điển, không chỉ đọc nơi miệng lưỡi, mà phải khiến Pháp âm thấm sâu vào tàng thức, gieo hạt giống Bồ-đề vào thức thứ tám.

Khi mầm giác tánh ấy kết thành quả thiện, tự nhiên tâm thức cảm ứng với cõi Tịnh, mà được sinh về Tây Phương Cực Lạc.

Người trì tụng Kinh, nếu có thể trì tụng đến chỗ thành tựu, thì ấy chính là thành công viên mãn.

Cho nên, tụng niệm Kinh cần phải tụng cho hiển lộ được hạt giống Phật trong tự tâm; làm người, phải hướng đến phẩm hạnh của bậc Thánh hiền; học Phật, thì phải học cho thành tựu nguyện lực của chư Phật, đem hạnh nguyện ấy thực hành trong đời sống.

Chỉ khi ấy, mới có thể phát khởi nguyện lực chân thật, dùng chính nguyện lực ấy mà vượt thoát mọi phiền não thế gian, và sau cùng, hiển lộ tự tánh Phật, trở thành bậc Phật sống giữa nhân gian.

Hôm nay, Sư phụ nhận được một bức thư sám hối của một đệ tử. Đệ tử ấy viết rằng:

“Hôm qua, con tình cờ đọc được một bài giảng nói về cách Đức Phật giáo hóa hàng đệ tử. Khi đọc xong, con bỗng nhận ra – thì ra Sư phụ giáo dưỡng chúng con cũng chính là theo phương pháp ấy.

Đối với tuệ mạng của hàng đệ tử, Sư phụ hết mực trân trọng; đối với tập khí và lỗi lầm của chúng con, Sư phụ vô cùng nghiêm khắc; đối với đời sống và tâm hạnh, Sư phụ luôn lo lắng, quan tâm, ghi nhớ trong lòng.

Sư phụ tùy căn cơ mà giáo hóa – khi thì sư tử hống uy nghi, khi lại từ hòa khuyên dạy, chỉ bảo chúng con phải chân tu thật hành, dứt bỏ tâm cống cao ngã mạn.”

Người đệ tử ấy kể rằng, cậu đã đọc được một câu chuyện nói về cách Đức Phật giáo hóa con trai của Ngài – La-hầu-la. Hôm nay, Sư phụ nhân đây cũng muốn kể lại câu chuyện ấy cho đại chúng, để cùng được khai ngộ.

Câu chuyện nói về việc Đức Thế Tôn dạy dỗ La-hầu-la, con ruột của Ngài. Thật ra, chúng ta đều là con của Đức Phật, đều là những người được Ngài giáo dưỡng, khai thị và dẫn dắt trên con đường giác ngộ giải thoát.

Trong Kinh Giáo Giới La-hầu-la, có ghi lại điển tích Đức Phật dùng phương tiện thiện xảo để giáo hóa La-hầu-la, giúp con nhận ra lỗi lầm và tự mình sửa đổi.

Khi mới bước vào con đường tu học, La-hầu-la hãy còn tuổi nhỏ, tâm tánh hiếu động, nên trong việc học pháp, trì giới còn nhiều sơ suất. Vì vậy, Ngài đã từng được Đức Thế Tôn – cũng là bậc phụ thân – nghiêm từ giáo huấn.

Trong phần Kinh này, đối với tập khí chưa thành thật của La-hầu-la, Đức Phật đã dùng một ví dụ sâu sắc để khai ngộ.

Câu chuyện ấy được chép trong Tương Ưng Bộ Kinh, phẩm thứ hai, nơi Đức Thế Tôn khai thị cho vị tiểu sa-di thấy rõ tánh vô thường và hư giả của thế gian, nhằm giúp con trở về với chân thật tâm, xa lìa mọi hư vọng.

Sư phụ cho rằng bài kinh mà vị đệ tử ấy chọn thật vô cùng thiện xảo, nên hôm nay Sư phụ nhân đây giảng lại cho đại chúng cùng nghe. Vốn dĩ Sư phụ đã chuẩn bị sẵn một câu chuyện khác về Đức Phật, nhưng hôm nay muốn kể câu chuyện này – bởi nó gần gũi với đời sống tu tập của chúng ta hơn. Chính Sư phụ cũng luôn noi theo lời giáo huấn của Đức Thế Tôn mà giáo dưỡng, chỉ dạy tất cả các đệ tử tu học tinh tấn trên đường đạo.

Một ngày nọ, Đức Thế Tôn dạy La-hầu-la mang một chậu nước lớn đến để rửa chân cho Ngài. Khi việc rửa chân đã xong, Đức Phật liền hỏi:

“Này con, nước này còn có thể uống được chăng?”

La-hầu-la thưa:

“Bạch Thế Tôn, nước ấy đã dùng để rửa chân, nay đã không còn thanh tịnh, không thể uống được.”

Đức Phật liền dạy:

“Này La-hầu-la, con có biết chăng, con cũng như dòng nước này vậy. Thủy tánh vốn thanh tịnh, nhưng khi bị cấu nhiễm thì trở nên ô uế. Con xưa vốn là vương tôn quý tử trong chốn cung đình, nay đã lìa bỏ hư vinh giả tạm của thế gian để bước vào cửa đạo.

Nếu con không tinh tấn tu hành, không thanh lọc thân tâm, không giữ gìn khẩu nghiệp, mà lại buông lời hý luận, vọng ngữ, thì tam độc tham – sân – si sẽ làm ô nhiễm tâm địa của con, cũng như dòng nước vốn thanh tịnh bị bụi nhơ làm đục vậy.”

Từ trước đến nay, Đức Thế Tôn chưa từng nghiêm nghị quở trách La-hầu-la như thế.

La-hầu-la cúi đầu, không dám nhìn lên Đức Phật. Ngài ra hiệu bảo cậu mang nước đi đổ, lúc này La-hầu-la mới dám cử động thân mình.

Đợi đến khi La-hầu-la đổ nước xong quay lại, Đức Phật lại hỏi:

“Này La-hầu-la, chậu này có thể dùng để đựng cơm, vo gạo hay rửa rau được chăng?”

La-hầu-la thưa:

“Bạch Thế Tôn, chậu này đã dùng để rửa chân, trong ngoài đều không còn thanh tịnh, trên thành lại vướng dính bụi nhơ, nên chẳng thể dùng để chứa vật thực được.”

Đức Phật dạy:

“Này La-hầu-la, con cũng như chiếc chậu này vậy. Dù con đã phát tâm xuất gia, khoác áo sa-môn, song nếu chẳng tu trì giới – định – tuệ, chẳng giữ thanh tịnh ba nghiệp thân – khẩu – ý, thì phiền não và vọng nhiễm vẫn chất chứa trong tâm. Khi nội tâm còn đầy cấu uế như thế, thì trí huệ sáng suốt và đạo phẩm thanh tịnh làm sao có thể dung chứa trong con được?”

Nói rồi, Đức Thế Tôn nhẹ đưa chân khẽ đá vào chiếc chậu, chậu liền lăn tròn trên đất. La-hầu-la trông thấy, trong lòng run sợ, không dám thốt lời nào.

Đức Phật lại hỏi:

“Này La-hầu-la! Con có sợ chiếc chậu ấy bị hư hại không?”

La-hầu-la thưa:

“Bạch Thế Tôn, không ạ. Chiếc chậu rửa chân vốn là vật thô dụng, dù có hư hại cũng chẳng sao.”

Phật liền dạy:

“Này La-hầu-la! Con cũng như chiếc chậu ấy vậy. Khi một người xuất gia hành đạo mà không giữ oai nghi tế hạnh, buông lời hý luận, vọng ngữ, thì chính là tự khinh mình, tự đánh mất phẩm hạnh cao quý của bậc Sa-môn. Người như thế sẽ không được đại chúng kính trọng hay thương mến. Đến khi mạng chung, vì tâm còn mê muội, không tỉnh ngộ, nên càng chìm sâu hơn trong vô minh, tự chuốc lấy khổ não và mê lầm chồng chất.”

La-hầu-la toàn thân toát mồ hôi, hổ thẹn đến mức không dám ngẩng đầu nhìn. Trong lòng vô cùng ăn năn, Ngài phát nguyện:

“Từ nay về sau, con quyết không tự buông thả, không để mình trượt vào con đường đọa lạc nữa.”

Câu chuyện này chỉ dạy chúng ta rằng: khi thấy đệ tử còn nhiều tập khí, lỗi lầm, là Sư phụ cần phải nghiêm khắc chỉ dạy và uốn nắn. Nếu thấy sai mà không giáo giới, tức là buông lơi, chính là đang làm hại đệ tử – bởi như thế là dung túng cho họ tự đánh mất chí hướng, khiến người khác khinh chê, còn chính mình thì xa rời Thánh đạo.

Vì vậy, hành giả cần phải thuần thục trong việc quán chiếu tự tâm – phải tự biết rõ chính mình, hàng phục chính mình và chuyển hóa chính mình. Nếu ngay đến bản thân còn chưa thể điều phục, thì làm sao có thể nói đến việc hóa độ người khác?

Học Phật chính là một sự thành tín với tự tánh Phật, là lời giao phó sâu xa giữa bản tâm và thiện tâm của chính mình, tuyệt nhiên không phải là việc tu tập để phô diễn cho người đời thấy.

Nhiều người suốt một đời chỉ tu nơi hình tướng giả tạm, rốt cuộc có ích gì? Muốn thật sự giúp một người khởi tu và hành đạo, trước hết phải xét cho rõ nơi người ấy: tâm khởi đầu và mục đích tu học có cùng hướng về chân chánh hay không.

Rất nhiều người học Phật, ngay từ khởi điểm, đã khởi tâm vì cầu cho người thân trong nhà thoát khỏi bệnh tật, chỉ vì một tâm niệm ấy mà tu hành. Nhưng khi bệnh của người thân đã lành, họ liền buông bỏ, không còn tiếp tục tu học nữa.

Bậc có trí tuệ chân thật sẽ hiểu rằng: học Phật không chỉ vì muốn giúp người nhà an lành, cũng không chỉ để cầu cho bản thân thuận lợi, tiêu trừ phiền não thế gian; mà mục đích tối hậu chính là thoát khỏi luân hồi lục đạo, một đời viên mãn đạo nghiệp.

Nếu khởi tâm ban đầu của quý vị và mục đích cuối cùng cùng hướng về một điểm – tức đồng một chí nguyện giải thoát – thì người ấy sẽ dễ dàng bền tâm trọn đạo, chẳng đánh mất tâm ban sơ.

Đây chính là điều Sư phụ thường dạy: muốn biết một người có thật tâm tu hành hay không, chỉ cần xét nơi khởi tâm và cứu cánh của họ có đồng một hạnh nguyện hay không, ắt là người chân thật hành đạo.

Có một bài kệ rằng:

“Thiên bách niên lai uyển lý canh,

Oán thâm tự hải hận nan bình;

Dục tri thế thượng đao binh kiếp,

Đãn thính đồ môn dạ bán thanh.”

(“Xưa nay trong một bát canh.

Oán sâu như bể hận thành non cao.

Muốn hay nguồn gốc binh đao.

Lắng nghe lò mổ tiếng gào đêm thanh.”)

Nhiều người trong nhân gian thường than thở:

“Vì sao con không may mắn?

Vì sao thân thể con yếu kém?

Vì sao vận mệnh con nhiều điều bất hạnh, tai họa dồn dập?”

Nhưng thử tự quán chiếu mà xem – bao đời bao kiếp, ta đã tạo biết bao sát nghiệp; trong đời này, lại hưởng biết bao sinh linh đang thoi thóp cầu sinh. Tất cả những điều ấy chẳng phải ngẫu nhiên, mà chính là nghiệp báo chiêu cảm, mà ta phải gánh chịu hôm nay.

Bởi vậy, người học Phật phải có chánh kiến trong tu hành, thì mới có thể khai mở trí huệ sẵn có nơi tự tánh.

Có người, trước khi học Phật, tự thấy mình sống vui vẻ, an ổn; nhưng sau khi bước vào con đường tu tập, lại cảm thấy bị ràng buộc, thấy đời sống trở nên khổ lụy, thậm chí khiến cả gia đình cùng chịu ảnh hưởng mà sinh phiền não.

Làm cư sĩ tại gia, phát tâm học Phật là điều đáng quý, nhưng cần phải minh triệt nhân duyên học Phật của chính mình – vì sao mà học, học để làm gì.

Nếu chỉ cầu hạnh phúc nhất thời, thì hạnh phúc ấy vẫn thuộc về duyên hợp tạm bợ; còn người học Phật chân chánh là để đạt đến hạnh phúc vĩnh cửu, thoát khỏi mọi khổ đau của sanh tử luân hồi. Đó chính là sự khác nhau trong con đường tu chứng.

Người chân thật tu hành là người biết chuyển hóa tận sâu nơi tâm địa, khiến tâm mình từng ngày từng niệm trở nên thanh tịnh và sáng suốt hơn.

Còn kẻ giả tu, hoặc tu vì một mục đích nào đó trong thế gian, thì chỉ đang mượn danh học Phật mà hành theo một phương pháp hay quan niệm bên ngoài, chẳng phải là sự chuyển hóa thật sự từ nội tâm.

Cho nên, muốn tu tâm, chúng ta cần phải thực hành mỗi ngày không gián đoạn – phải chuyên tâm niệm Phật, lễ Phật, tụng kinh, tinh tấn công phu cộng tu, siêng làm thiện hạnh, và hoàn thành đầy đủ những pháp sự liên hệ đến con đường tu tập. Đó chính là bổn phận và trách nhiệm của người học Phật chân chánh.

Mỗi một ngày tinh tấn sẽ khiến ta tiến thêm một bước trên con đường giác ngộ; mỗi một ngày buông lơi, biếng trễ lại khiến ta đánh mất phần bản tánh chân như của chính mình.

Nguyện đại chúng hãy chân thành học Phật, tinh cần tu sửa, thật tu – thật chứng, thâm nhập trí huệ Như Lai, dùng trí huệ ấy mà viên mãn công hạnh trong một đời, vĩnh viễn đoạn trừ luân hồi sanh tử.

Được rồi, hôm nay Sư phụ giảng đến đây. Chúng ta sẽ gặp lại trong buổi pháp thoại kỳ tới. 

Cảm ơn đại chúng!

Tập 108
Tứ Diệu Đế Và Thập Nhị Nhân Duyên

(25/07/2020)

Hôm nay, chúng ta tiếp tục cùng nhau học Bạch Thoại Phật Pháp.

Kinh Phật chính là nguồn lương thực tinh thần của chúng ta; do vậy, người học Phật cần phải học để hiểu Kinh Phật.

Trong Kinh, Đức Phật dạy rằng: Tứ Diệu Đế và Thập Nhị Nhân Duyên chính là căn bản sơ khởi cho người tu học Phật pháp. Vì thế, người học Phật cần phải hiểu rõ Tứ Diệu Đế và Thập Nhị Nhân Duyên.

Thực chất, đây chính là nói về nghiệp cảm duyên khởi – tức là khi chúng ta đã gieo một nghiệp nhân, nghiệp ấy sẽ cảm nên duyên, mà duyên ấy lại có mười hai chi phần liên hệ, hiển bày tiến trình chúng sinh lưu chuyển trong thế gian, rồi làm sao để thoát ly khỏi luân hồi thế gian.

Sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo, điều đầu tiên Ngài thuyết giảng cho các đệ tử chính là pháp Tứ Diệu Đế, là nền tảng căn bản nhất của Phật pháp.

Do đó, đại chúng cần phải hiểu rõ Tứ Diệu Đế là gì, bởi đây là một trong những nguyên lý trọng yếu nhất trong toàn bộ giáo pháp của Đức Phật.

Chữ “Đế” trong “Tứ Đế” thật ra chính là “Chân Đế” – nghĩa là chân lý tuyệt đối, không hư dối, không sai khác.

“Tứ Diệu Đế” – bốn chân lý này là bốn chân lý tuyệt đối, không biến đổi qua thời gian hay không gian. Đó là: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế.

“Khổ Đế” là chính là nói về chân tướng khổ đau của đời người – một sự thật không ai có thể cưỡng lại được. Con người ở đời phải trải qua sanh, lão, bệnh, tử – ấy là bốn nỗi khổ lớn không thể tránh.

“Tập Đế” là nói đến nguyên nhân của những nỗi khổ ấy – vì sao con người phải thọ khổ, những nhân duyên nào đã tích tụ nên biển khổ trần gian này. Chữ “Tập” có nghĩa là tích tụ, tức là tích chứa những nhân duyên gây nên hai mươi lăm loại quả khổ.

Chúng sinh trong đời chịu vô số khổ đau, mà cội nguồn sâu xa của nó chính là từ vô thủy đến nay, do tham – sân – si khởi lên phiền não, rồi tạo nghiệp, tạo ra vô lượng ác nghiệp, từ đó chiêu cảm nên quả báo khổ đau trong ba cõi sinh tử luân hồi. Thật ra, Tập đế dạy chúng ta hiểu rõ: nỗi khổ từ đâu mà đến.

“Diệt Đế” chính là Niết-bàn, Nhưng cần hiểu rằng Niết-bàn không phải là chết, mà là sự giải thoát khỏi sanh tử, khỏi luân hồi khổ đau. Phải hiểu rõ rằng, chết và giải thoát không phải là cùng một nghĩa.Cái chết chỉ là thân xác tan rã; còn giải thoát, là thoát khỏi sự tương tục của sanh tử, đạt đến cảnh giới mà tâm linh vẫn vận hành trong tánh giác thanh tịnh, không còn bị trói buộc.

Cho nên, phải hiểu được “Diệt đế” – tức là diệt trừ mê hoặc và nghiệp chướng, rời khỏi nỗi khổ sinh tử. “Diệt” chính là “Niết bàn”, là trạng thái dứt hết phiền não vô minh để được giải thoát khỏi sinh tử. Chúng ta nhất định phải thoát khỏi sinh tử này.

Còn “Đạo đế” chính là con đường chân chính dẫn đến giải thoát, là con đường thực hành để đạt đến cảnh giới Niết bàn. Một người học Phật, nếu học mãi mà không đi đúng chánh đạo, thì rất dễ lạc vào tà đạo.

Nói ngắn gọn, Tứ đế chính là bốn chân lý tối thượng mà Đức Phật dạy: Khổ – Tập – Diệt – Đạo, là bốn chân lý căn bản trong Phật pháp.

Ngoài ra, Đức Phật còn dạy về Thập Nhị Nhân Duyên (Mười hai nhân duyên). Những pháp này nếu giảng riêng thì phải nói rất dài, nên Sư phụ chỉ giới thiệu khái quát về mười hai mắc xích liên kết nhau để sau này có dịp sẽ giảng giải kỹ hơn.

Trước hết là “Vô minh.” Ai cũng nên biết, vô minh nghĩa là không sáng suốt, không hiểu biết, không giác ngộ. Bởi vì không biết, nên mới gây họa; vì không sáng tỏ chân lý, nên phải trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi; vì không thấy rõ hậu quả, nên mới gây ra tai họa cho chính mình.

Thứ hai là “Hành.” Bởi vì có vô minh, nên con người mới khởi hành động; chính do vô minh mà sinh ra các hành vi thiện và bất thiện. Mọi người thử nghĩ xem, có khi ta tưởng mình đang làm việc thiện, nhưng thực chất lại không phải việc thiện.

Ví như, khi thấy một đôi vợ chồng cãi nhau, ta nói: “Người kia đối xử tệ như thế, chi bằng ly hôn cho xong!” – quý vị nghĩ là đang giúp họ, nhưng thật ra quý vị đã tạo nhân quả rồi. Cho nên, “Hành” chính là những hành động phát sinh do vô minh, bao gồm cả thiện lẫn bất thiện.

Chữ “Thức” ở đây chính là ý thức, là tâm thức phân biệt và nhận biết. “Thức” chính là sự hình thành của ý niệm và nhận biết, trước khi đầu thai và sau khi đầu thai đều có.

Chớ nghĩ rằng một thai nhi trong bụng mẹ là không biết gì cả, thật ra, ngay khi bào thai vừa thành hình, thần thức đã nhập vào, lúc ấy đã có cảm giác, đã biết hỷ – nộ – ái – lạc. Khi ý thức trong tâm khởi động, thì hành vi của ý thức liền sanh ra, đó chính là “Thức”.

Trước khi đầu thai, ở cõi Âm (Địa phủ), thần thức ấy cảm thọ càng rõ rệt hơn nữa, biết mình sắp thọ sanh vào đâu, biết nặng nhẹ của nghiệp báo, tất cả đều do ý thức của chính mình cảm nhận mà thành.

Thứ tư là “Danh Sắc”. “Danh Sắc” là chỉ cho sự hình thành của tinh thần và vật chất, tức là trước khi đầu thai và sau khi đầu thai, đã bắt đầu có khái niệm về tâm linh (danh) và thể chất (sắc). “Danh” là phần tinh thần – ý niệm, tư tưởng, tri giác; “Sắc” là phần vật chất – thân thể, hình hài. Hai phần này nương nhau mà thành, là căn bản của sự sống hữu tình.

Kế đến là “Lục Nhập”. Chữ “lục” là sáu – tức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Khi sáu căn tiếp xúc với trần cảnh, các cảm giác và nhận thức ấy liền đi vào tâm, khiến con người sinh khởi vui buồn, yêu ghét, ham muốn, phiền não. Thấy cảnh đẹp thì khởi tâm vui, nghe âm thanh dễ chịu thì sanh tâm thích; ăn ngon thì hoan hỷ, gặp cảnh trái ý thì phiền não. “Lục nhập” chính là chỉ sáu cửa giác quan nối liền với nội tâm con người.

Tiếp theo là “Xúc”, tức là sự tiếp xúc. “Xúc” chính là giai đoạn sau khi thọ thân, con người bắt đầu tiếp chạm với thế giới bên ngoài. Khi đã đầu thai, sinh ra nơi nhân gian, chúng ta dần dần tiếp xúc với mọi cảnh duyên, mọi sự việc –  biết điều gì là thiện hay bất thiện, điều gì nên làm hay không nên làm, tất cả đều từ nơi sự tiếp xúc mà sanh khởi. Cũng như trong đời thường, người với người phải có sự tiếp xúc mới hiểu được nhau; gặp gỡ rồi cảm thấy người ấy tốt, thì có thể trở thành thân thiết. 

Thứ bảy là “Thọ”. “Thọ” là gì? Là sự cảm nhận về khổ, vui, Người đời chỉ khi cảm nhận được khổ, mới biết thế nào là vui; và khi niềm vui qua đi, bao điều khổ lụy lại hiện bày, khiến họ nhận ra như thế là khổ. Đó chính là “Thọ”.

Thứ tám là “Ái”. Nhiều triết gia và văn hào từng nói:

“Thế giới này được hình thành bởi tình yêu.” Lời nói ấy không sai, nhưng người học Phật cần hiểu sâu hơn: Ái không chỉ là tình ái nam nữ, ái luyến vợ chồng, hay tình thân quyến thuộc, mà có thể vươn lên thành lòng từ bi cao thượng. 

Song nếu hạ thấp ái xuống trong vòng nhân duyên thế gian, thì “Ái” trong Mười hai nhân duyên chính là ái dục và tham luyến – là những tâm niệm như: “Tôi thích vật này”, “Tôi muốn căn nhà ấy”, hay “Tôi yêu người kia”. Tất cả đều thuộc về ái dục và chấp trước, là gốc rễ khiến chúng sinh trôi lăn trong luân hồi, khổ mãi chẳng dừng.

Thứ chín là “Thủ”. “Thủ” nghĩa là nắm giữ, chấp thủ, truy cầu để chiếm lấy. Cái tâm “thủ” ấy chính là sự đuổi theo, tìm cầu không ngừng: “Tôi muốn đạt điều này”, “Tôi phải có được điều kia.” Con người thường bởi lòng ham thích mà sinh tâm chấp thủ: “Ta thích vật này”, “Ta muốn danh tiếng ấy, địa vị ấy”, “Ta ưa bông hoa này”, “Ta ngưỡng mộ vị chủ tịch kia”… Chính những danh tướng, sắc tướng, quyền lợi và vật chất đó khiến cho các căn trần bị kích động, dấy khởi tham dục, ái nhiễm, rồi sinh tâm chấp trước không buông. Đó chính là “Thủ” – vì muốn nắm giữ nên không thể rời bỏ, chạy theo mà chẳng biết mệt, mãi mãi trói mình trong luân hồi.

Thứ mười là “Hữu”. “Hữu” là gì? “Hữu” nghĩa là sự hiện hữu, là trạng thái tồn tại trong đời sống hiện tại.Người đời thường nói: “Anh có chăng?” “Tôi có.” Cái “có” ấy chính là “Hữu”: là nhân duyên cho sự hiện hữu và cũng là nguồn gốc cho tái sinh.

Thứ mười một là “Sinh”. “Sinh” là là sự tái sinh, là sự khởi đầu của một đời sống mới. Chúng ta thường nói “đời sau lại sinh ra”, nghĩa là hết một kiếp này rồi lại mở ra một kiếp khác, sinh ra rồi lại diệt, diệt rồi lại sinh, cứ như thế mà luân hồi bất tận trong vòng sinh tử.

Thứ mười hai là “Lão tử”. con người sau khi sinh ra, rồi sẽ dần dần đi đến già yếu, bệnh tật, và cuối cùng là sự kết thúc của một kiếp nhân sinh. Đó chính là Lão Tử.

Hiểu được Mười hai nhân duyên, tức là hiểu được dòng vận hành vô tận của đời sống, bắt đầu từ Vô minh – khi con người mê muội, không biết gì, rồi lần lượt trải qua: Hành, Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sinh, và Lão Tử. Mười hai chi này liên kết nối tiếp nhau không gián đoạn, tạo thành chuỗi nhân quả sanh diệt tuần hoàn. 

Sư phụ đưa ra một ví dụ rất đơn giản: Khi quý vị đến với thế gian này, vẫn còn mê muội, chẳng hiểu gì cả, đó chính là vô minh. Thậm chí, trước khi quý vị được sinh ra, đã ở trong trạng thái vô tri, không rõ đâu là đúng sai, thiện ác. Chính vì không biết, nên vô minh mới sinh ra hành, quý vị bắt đầu tạo ra những hành động thiện hoặc bất thiện, mà bản thân lại không hề ý thức được đó là thiện hay ác. Từ đây, nghiệp bắt đầu hình thành.

Tiếp đó, ý thức khởi lên, bắt đầu biết cảm nhận, chuẩn bị bước vào thân trung ấm để đi đầu thai. Trước khi đầu thai, và cả sau khi đã nhập vào bào thai, quý vị bắt đầu có cảm giác: “À, sao mình thấy ấm áp thế này?”

Nếu người mẹ ăn một que kem lạnh, thì trong bụng, quý vị sẽ cảm thấy rét buốt như ở giữa núi băng rét buốc; còn khi mẹ uống một bát canh nóng (như người Quảng Đông thường thích nấu canh hầm), nếu canh quá nóng, thì đứa bé trong bụng sẽ cảm thấy nóng, như lửa đang lan tỏa khắp thân thể, vì nhiều người có thói quen dùng canh còn sôi. Chính từ những cảm giác ấy mà trước và sau khi đầu thai, ý niệm về “tinh thần” và “vật chất” bắt đầu hình thành dần dần, đó chính là giai đoạn “danh sắc” trong mười hai nhân duyên – khi thân và tâm bắt đầu có sự phân biệt và tồn tại.

Khi đứa trẻ ra đời, sáu giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, bắt đầu tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Quý vị bắt đầu cảm nhận được lạnh, nóng, nghe thấy âm thanh, rồi đến lưỡi, ví dụ như khi đứa bé đói sữa, sữa còn chưa chuẩn bị xong, đứa bé đã khóc to. Lúc này người mẹ liền lấy núm vú giả cho bé ngậm, chỉ cần đầu lưỡi vừa chạm vào, bé liền ngừng khóc.Đó chính là “Xúc” – tức sự tiếp xúc được khởi lên. Từ nơi xúc mà “Thọ” sinh khởi: khi có sự tiếp xúc, đứa bé cảm nhận được niềm vui khi được bú sữa, liền mỉm cười an ổn; khi không được bú, cảm thọ khổ liền phát sinh.

Sau khi có cảm thọ, dần dần bé cảm nhận được niềm vui khi được mẹ ôm vào lòng, từ đó tình cảm, ái dục, ham muốn bắt đầu sinh khởi. Tình yêu giữa người với người, cùng với dục vọng và luyến ái, đều từ đó mà sinh ra.

Tiếp theo là “Thủ” – nghĩa là nắm giữ, truy cầu. Khi con người khởi tâm đuổi theo danh lợi, sắc đẹp hay các pháp trần nơi thế gian, thì trong tâm liền sanh chấp trước: “Ta muốn có điều này, ta ưa thích điều kia.”

Khi đã nắm giữ, thì “Hữu” liền sinh — nghĩa là tâm đã an trụ, đã hiện hữu trong cảnh giới của sự sở hữu ấy: “Ta có rồi, đây là của ta.”

Từ “Hữu” mà khởi “Sinh”, lại tiếp tục sinh ra những niệm tưởng mới: “Ta còn muốn nữa, ta vẫn chưa đủ.” Cứ thế, tham ái không ngừng tăng trưởng, nối tiếp từ đời này sang đời khác. Và cuối cùng, như một quy luật tất yếu của nhân duyên, đời người đi đến chung cuộc nơi “Lão tử”.

Toàn bộ tiến trình ấy chính là vòng xoay bất tận của Mười hai nhân duyên, nơi “Vô minh” làm khởi đầu và “Lão tử” làm kết thúc, từng mắt xích nối liền nhau, không ngừng nghỉ trong vòng luân hồi sinh tử.

Trong Kinh, Đức Phật dạy: con người vì nghiệp mà lưu chuyển trong thế gian, cũng vì nghiệp mà có thể thoát ra khỏi thế gian. Chúng sinh nơi thế gian, tạo nghiệt vô số, phạm nghiệp vô cùng, nên mãi trôi lăn trong vòng sinh tử luân hồi. Nếu đời này không tinh tấn tu hành, không dứt nghiệp cũ, chẳng ngăn nghiệp mới, thì đời sau vẫn phải trở lại trong sáu nẻo, tiếp tục chịu quả báo – đó gọi là “lưu chuyển trong nghiệp”.

 Mà nghiệp từ đâu mà sinh? Nghiệp chính là do phiền não và vô minh mà sinh. Vì sao con người tạo nghiệt? Bởi tâm còn phiền, còn mê, chẳng sáng tỏ. Do chẳng sáng tỏ nên mới làm việc sai lầm, gây tổn hại cho người, rồi tự chuốc lấy khổ đau vô tận. Vô minh sanh khởi thì phiền não theo đó mà sinh; từ phiền não sinh mà khởi tâm tạo nghiệp, tích tụ lâu ngày mà kết thành vô lượng nghiệt chướng. Sau khi tạo nghiệp nhiều, có phải trả không? Đời này trả mãi, trả mãi chẳng cùng, thì đời sau lại phải tái sanh để tiếp tục hoàn trả nữa. Cho nên gọi là luân hồi tạo nghiệp, trôi lăn bất tận trong sáu nẻo, chỉ vì một niệm vô minh mà sanh khởi tất cả.

 Vậy, tạo nghiệp là do hoàn cảnh nào mà thành? Cội gốc sâu xa nhất chính là tâm. Chính nơi tâm mà nghiệp khởi, và cũng chính nơi tâm mà quả báo hình thành. Người tạo nghiệp ắt chịu nghiệp báo; đó là đạo lý căn bản mà Phật pháp Tiểu thừa gọi là “thuyết nghiệp báo”, nghĩa là nhân quả duy tâm.

Vì tâm con người có thể khởi ác niệm, tạo nghiệp, tạo nghiệt, nên mọi quả báo cũng đều bắt đầu từ tâm.Đó chính là nền tảng của giáo lý Phật đà, là căn bản của việc học đạo.Tam giới duy tâm, nghĩa là trong tam giới, mọi nghiệp báo đều do tâm tạo. Nghiệp khởi thì ắt có báo; có báo lại sinh nghiệp; nghiệp nối báo, báo lại sinh nghiệp… Vì vậy, chúng sinh mới sanh sanh tử tử, vĩnh viễn chẳng thoát khỏi vòng nghiệp báo luân hồi.

Vì sao vậy? Chính là vì tâm chưa buông xả, còn chấp trước, còn không cam lòng. Đó chính là nguyên nhân vì sao có những người, dù trong vụ kiện đã giành phần thắng, nhưng đối phương vẫn tiếp tục kháng cáo, rồi lại tiếp tục tranh tụng. Quý vị thắng, họ kháng cáo; họ thắng, quý vị lại kháng cáo, qua lại không cùng tận. Tất cả đều do tâm mà ra: vì trong lòng vẫn chưa phục, vẫn khởi niệm “họ sai, sao họ có thể thắng được?”. Chính cái tâm chấp trước ấy là căn nguyên khiến con người phải mãi trôi lăn trong vòng sinh tử luân hồi chẳng dừng.

Cho nên, “duy tâm sở tạo, vạn pháp duy thức.” Mọi hiện tượng trong thế gian này đều do tâm thức mà hiện khởi. Khi ý thức con người còn thấy điều gì là sai trái, thì hành vi, lời nói và ý niệm sẽ tiếp tục sinh khởi theo dòng chấp trước ấy. Ví như hôm nay, nếu ta có thể tự soi thấy lỗi là do mình, thì trong tâm liền được an tĩnh, chẳng còn tranh giành, chẳng còn đối đãi hơn thua với bất kỳ ai nữa.

Nhưng nếu quý vị vẫn cho rằng “ta là đúng”, thì sẽ liên tục tranh luận, phản bác đối phương. Người khác vừa nêu lý do, quý vị liền tìm cách bác bỏ, ấy chính là tâm thức đang vận hành trong vòng “vạn pháp duy thức”.

Vì thế, học Duy Thức là học cách nhận rõ bản chất của mọi hiện tượng thế gian. Khi có người bàn tán, phê phán mình, quý vị phải hiểu rằng đó là nghiệp báo đang khởi hiện. Bởi trong quá khứ, quý vị từng lạnh nhạt với người này, bất hòa với người kia, kết những duyên chẳng lành, nên khi nhân đã chín, quả liền trổ. Lúc ấy, thay vì biện minh hay phản bác, hãy biết lặng tâm mà dừng lại, nhận rõ rằng nghiệp báo đã đến kỳ trả.

Nhiều người không hiểu đạo, khi thấy đồng nghiệp hay người xung quanh bỗng nhiên chống đối mình, lại có kẻ phụ họa theo, liền sinh lòng oán than, trách móc. Họ chẳng biết rằng, phúc đức đã hao, duyên lành đã mỏng, duyên tốt đang dần rời xa. Chỉ vì trong thâm tâm vẫn chưa phục, trong ý thức vẫn chưa chấp nhận, cứ ôm giữ niệm “ta đúng, họ sai”, nên phân biệt tâm liền khởi.

Pháp “Duy Thức” chính là để hiển bày rõ điều này: ý thức vốn là tâm phân biệt. Khi quý vị khởi niệm cho rằng điều này đúng, điều kia sai, tức là quý vị đã chấp vào nơi đó. Phải ghi nhớ: hễ còn ý thức, tức là trong tâm vẫn còn phân biệt.

Ví như quý vị nghĩ: “Người này chắc chắn không thể sửa đổi”, thì đó đã là phân biệt tâm. Hoặc dù quý vị nghĩ: “Người ấy nhất định sẽ sửa được”, thì cũng vẫn là phân biệt tâm. Vì sao vậy? Bởi cả hai niệm ấy đều thuộc “năng phân biệt” – tức là tác dụng của tâm khi đem cảnh giới ra đối chiếu, nhận định.

Còn “sở phân biệt” – tức là đối tượng mà tâm đem ra quan sát, so sánh. Khi tâm quý vị hướng ra để nhận xét một sự việc hay một con người, tức thì đã hình thành tác dụng giữa năng và sở; mà chính từ đó, vọng niệm sinh khởi.

Cho nên, dù là trong Phật pháp Đại thừa hay Tiểu thừa, tư tưởng căn bản đều quy về một điểm: “Duy tâm nhân quả” – mọi quả báo, mọi khổ lạc trong đời, đều khởi lên từ chính tâm của mỗi người.

Tập 109
Phật ngữ:  Tâm vi tông (Lấy Tâm làm gốc)

(25/07/2020)

Dù là Đại thừa hay Tiểu thừa, tư tưởng cốt lõi của Phật giáo là gì? Chính là “duy tâm nhân quả”. Bởi vì tất cả nhân quả đều do tâm tạo ra. Từ thuyết nghiệp báo duyên khởi của Tiểu thừa đến thuyết duyên khởi tánh không của Đại thừa, tất cả mọi thứ đều là duyên, và không có duyên nào tách rời khỏi tâm của quý vị.

Sư phụ hỏi quý vị: nếu quý vị và người khác bắt đầu có duyên, nhưng tâm quý vị không động, thì duyên đó có tiếp tục được không? Có người nói: “Ồ, có một chàng trai đến theo đuổi cô kìa!”

Khi duyên đến, quý vị vui mừng, và chính niềm vui ấy đã khiến duyên tiếp tục. Nhưng nếu tâm quý vị bất động, thì duyên này có kéo dài không? Do đó, dù là “chân như duyên khởi” hay “lại-da duyên khởi”, tất cả các duyên khởi đều không thể tách rời tâm của quý vị. Khi tâm không động, duyên cũng mất đi, vì thế gọi là “duyên khởi tánh không”.

Phật pháp thật thâm sâu! Trên thế gian này, không có thứ gì thực sự tồn tại vĩnh viễn với bản chất cố định của nó, tất cả chỉ là huyễn hóa.

Trong Kinh Phật có dạy rằng:

“Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo.”

Thật ra, lời dạy này chính là muốn nhắc nhở chúng ta: ba nghiệp thân – khẩu – ý cần phải quản lý cho tinh tấn. Chư ác không được làm, tất cả thiện đều phải hành, và tự mình phải thanh tịnh mọi ý niệm trong tâm.

Phật pháp nhấn mạnh dựa vào tự giác và giác ngộ, biết điều phục chính mình. Vậy, điều phục mình, điều phục chỗ nào? Chính là ba nghiệp: thân, khẩu, ý. Trong ba nghiệp ấy, ý nghiệp quan trọng nhất, bởi vì khi ý niệm khởi động, nó mới dẫn dắt thân nghiệp và khẩu nghiệp.

Hãy thử suy xét: nếu trong tâm không có ý niệm bất thiện, thì miệng có nói lời hỗn loạn hay không? Nếu ý niệm không khởi tâm chấp trước, thì hành vi có bộc lộ sự thiếu tôn trọng đối với người khác hay không?

Vì thế, người tu hành phải tự tịnh ý, nghĩa là ý thức của mình cần được thanh tịnh, mọi niệm khởi ra trong tâm đều phải được giữ gìn trong sạch.

Lấy một ví dụ đơn giản: nếu quý vị là một người chồng, thấy vợ hôm nay bận việc trong nhà, đừng nghĩ rằng: “Cô ấy mệt quá, tạm nghỉ đi” hay “làm thêm việc này đi”. Vợ không phải là người hầu của quý vị. Quý vị cần tự thanh tịnh nội tâm, thấy mọi hành vi của cô ấy là đang cống hiến, thì tâm quý vị sẽ tự thanh tịnh, không sinh phiền não; ngược lại, nếu tâm bất tịnh, quý vị sẽ cho rằng cô ấy cả ngày lười nhác.

Ý thức chính là tâm, và khi một ý niệm hình thành, đôi khi nó có thể chi phối cả cuộc đời một con người. Chẳng hạn, nếu quý vị cho rằng một người thân không thể thay đổi được, thì chính niệm ấy có thể phá hoại mối duyên giữa quý vị và người ấy; có thể cả đời quý vị không nhận được sự giúp đỡ từ họ, hoặc khiến họ hận quý vị mãi mãi.

Mối duyên ấy sẽ sinh ra cảnh giới cao thượng hay hạ liệt, tùy thuộc vào ý thức điều khiển. Vì vậy, tự tịnh ý là học cách thanh tịnh các niệm của chính mình, để không oan trái người khác, không gây hại cho chúng sinh, bởi khi ý niệm thanh tịnh, tâm tự nhiên trong sáng và thiện lành.

Ý thức chính là tâm, ý thức là khái niệm phát sinh riêng biệt về một sự vật hay hiện tượng mà quý vị sở hữu. Nguyện đại chúng hãy thấu triệt: hôm nay, bất luận phát sinh bất kỳ ý niệm hay khái niệm nào trong tâm, đều phải “chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành”. Tám chữ này nhắc nhở chúng ta: con người cần xa lìa mọi điều ác, tất cả điều lành phải nỗ lực thực hành.

Đôi khi, thiện ác của sự việc không rõ ràng với mắt thường, nhưng nơi sâu thẳm nội tâm, trong ý thức của quý vị, sẽ hiện hữu ý thức phân biệt, tức thức thứ bảy. Có khi người ta than rằng: “Tâm con khó điều chỉnh.” Điều chỉnh tâm chính là điều chỉnh ý thức ấy, đưa tâm về trạng thái thanh tịnh, tự tịnh ý, khiến tư duy trong não bộ hòa hợp với trí tuệ và tư tưởng của Bồ Tát. Chỉ khi ấy, quý vị mới thực sự là người tu hành chân chính.

Sư phụ xin dẫn một ví dụ giản dị: Quá khứ, quý vị nhìn thấy một người và luôn cảm thấy khó chịu, ghét bỏ người ấy. Nay người ấy đã học Phật, nhưng quý vị vẫn giữ thái độ khinh chê, không ưa thích như trước, thì trong tâm quý vị thiếu vắng khái niệm từ bi.

Nếu quý vị điều chỉnh tâm mình đúng đắn, sẽ thấy người ấy đáng thương: “Người ấy học Phật trễ hơn tôi, nay cuối cùng đã phát tâm học Phật. Dẫu thân người ấy còn nhiều lỗi lầm chưa sửa, chúng ta vẫn phải tiếp nhận, giúp đỡ và chuyển hóa những ý niệm xấu ác trong quá khứ của người ấy.”

Vậy, quý vị phải chúng thiện phụng hành, giúp người điều chỉnh những ý niệm thiện trong tâm, chuyển hóa những ý niệm bất thiện thành thiện. Đây chính là hạnh tu hành chân thật, là điều một người tu hành chân thật nên thực hành.

Trong Đại thừa Phật pháp thường nhắc: “Tâm sinh thì muôn pháp sinh, tâm diệt thì muôn pháp diệt”, nghĩa là muôn pháp phát sinh do tâm tạo, muôn pháp diệt mất cũng do tâm diệt.

Quý vị có thể thử một phép quán sát: nghĩ xem hiện nay trong lòng còn oán ghét ai không. Quý vị ghét người ấy, phải chăng chính là tâm quý vị tạo ra? Nếu biết rằng người mà quý vị ghét đã rời khỏi đời, quý vị còn oán ghét họ không? Chắc là không, có thể chỉ còn chút tiếc nuối, rồi cũng kết thúc.

Khi tâm khởi lên, muôn pháp sinh; khi tâm diệt, muôn pháp diệt. Khi biết người ấy đã qua đời, quý vị có còn so đo tính toán không? Tất cả đều do tâm vận hành.

Do vậy, Phật pháp dạy điều phục tâm. Tâm không được điều hòa, làm sao có thể hạnh phúc an lạc? Một người nếu không tự chủ cảm xúc, không biết điều chỉnh tâm để bản thân an nhiên, thì làm sao tâm ấy có thể an ổn và vui vẻ?

“Phật ngữ: Tâm vi tông”, nghĩa là gì? Phật pháp dạy rằng tâm chính là tông chỉ, là tông môn của quý vị; tu tâm chính là tu tâm này.

Trong giới Phật pháp còn có câu: “Vô môn vi pháp môn”. Nhiều người nói: “Tôi học pháp môn này, tôi không học pháp môn kia”; hoặc: “Tôi học pháp môn kia, tôi không học pháp môn này”. Thật ra, bất kỳ pháp môn nào cũng là một con đường, đều là phương tiện dẫn đến thành tựu tu hành, đạt đến giải thoát.

“Vô môn vi pháp môn” nghĩa là: quý vị không chấp trước vào bất kỳ pháp môn nào, nhưng nếu tu tâm tinh tấn ngay trong pháp môn hiện tại, thì đó chính là con đường tinh tiến.

Do vậy, Phật pháp dạy dĩ tâm vi tông: tâm chính là tông chỉ, là trọng yếu nơi tu tâm. “Vô môn” là để quý vị buông bỏ chấp trước vào pháp môn; khi đã bỏ được chấp trước, dù đi theo pháp môn nào, cũng đều có thể bước trên đại đạo ánh sáng của Phật.

Người học Phật, điều trọng yếu nhất là tâm niệm không được loạn động. Nếu tâm niệm liên tục chuyển động, thì giữa niệm trước và niệm sau sẽ không còn khoảng cách, khiến ngũ căn sinh ra sự phụ thuộc vào trần cảnh, và ngũ căn sẽ chấp giữ những trần cảnh ấy không buông.

Sư phụ nói điều này, quý vị có thể chưa hoàn toàn hiểu, nên Sư phụ giải thích rõ hơn. Nếu tâm liên tục vận chuyển, niệm trước và niệm sau hòa trộn vào nhau, thì ngũ căn sẽ sinh ra chấp trước, lệ thuộc vào trần cảnh.

Thí dụ: hôm nay quý vị sinh phiền não với chồng mình, nghĩ rằng: “Cả ngày ở nhà chẳng giúp gì, suốt ngày lại đi ra ngoài.” Khi tâm niệm không ngừng chuyển động, niệm trước là: “Thật khó chịu!”, niệm sau là: “Thật phiền toái, đã chung sống với nhau bao năm mà vẫn như vậy.” Nếu niệm trước và niệm sau ngày càng gần gũi, hòa lẫn, thì ngũ căn sẽ sinh ra chấp trước.

Thế nào là chấp trước? Mũi hít ra khẽ “hừ!”; đôi mắt nhìn ông ấy đầy giận dữ; lưỡi, miệng phát ra lời trách móc; tai nghe lời nói của anh ấy thì sinh phiền não, thấy điều gì cũng khó chịu. Đây chính là cảnh giới khi tâm niệm chưa được điều phục, khiến thân tâm bị ngũ căn trói buộc và lệ thuộc vào trần cảnh.

Đúng vậy, đó chính là ngũ căn sinh chấp trước với trần cảnh. Hơn nữa, sự phản hồi từ ngũ căn sẽ làm gia tăng sức mạnh của niệm trước và niệm sau, khiến tâm niệm liên tục vận hành, sinh ra nhiều oán hận.

Lấy ví dụ: nếu tâm quý vị tràn đầy từ bi, niệm trước khởi lên là: “Ta phải ra ngoài để độ người,” niệm sau nối tiếp là: “Phải giúp thêm nhiều người, nắm bắt thời gian mà hành động.” Nếu hai niệm này không có khoảng cách, ngũ căn sẽ sinh chấp trước với trần cảnh.

Khi đó, tâm sinh cảm giác: “Thế giới bên ngoài thật tuyệt vời, ta phải độ người, phải giúp đỡ nhiều hơn.” Mắt nhìn thấy mọi người đều là đối tượng cần độ, mũi ngửi được hương thiện, tai nghe đều là lời Phật dạy, và bước chân đi đến nơi nào cũng là đạo Phật. Đây chính là cảnh giới khi ngũ căn hòa hợp với tâm từ bi, chuyển hóa mọi trần cảnh thành phương tiện tu tập.

Quán chiếu, tinh tấn, niệm Phật, thực ra đều là những phương tiện gia trì cho thân – khẩu – ý của quý vị. Sư phụ nói với đại chúng, thân – khẩu – ý cũng có pháp môn, cũng là một pháp môn. 

Pháp môn ấy là gì? Là giữ gìn khẩu không nói điều hại, điều tà, giữ thân không hành động phi pháp, và trì tâm cho thanh tịnh, đó chính là một pháp môn.

Cho nên Pháp Môn Tâm Linh là sự hội tụ của niệm kinh, thực hành, quán chiếu, phát nguyện, giữ cho tâm luôn bình hòa, không dao động. Sư phụ bảo quý vị học Phật, chính là để tâm không rối loạn. Khi tâm còn dao động, sẽ phát sinh hành động, mà khi sân hận, quý vị sẽ làm điều hại người và hại chính mình. Dù gặp hoàn cảnh gì, tâm không rối loạn chính là điều phục ý niệm, và nhờ đó, quý vị dễ dàng bước vào đạo Phật.

Chư Phật – Bồ tát dạy chúng ta nơi cõi nhân gian không được nhiễm trước, không được chấp thủ bất cứ sắc tướng nào của thế gian. Nghĩa là khi quý vị nhìn thấy căn nhà, thấy người nam hay người nữ đẹp hay xấu, tất cả những cảnh sắc hữu hình trong thế gian, quý vị đều không khởi tâm tham ái, bởi đó chính là lời giáo huấn của chư Bồ-tát: đừng để tâm nhiễm trước.

Hãy ghi nhớ, chỉ cần một chút tham muốn: “Rất tốt, cái này phải thuộc về tôi”, thì ngay lập tức quý vị đã rơi vào không gian của chấp trước. Vì vậy, Sư phụ dạy quý vị phải thường xuyên tự quán chiếu, luôn luôn “chiếu soi” chính mình.

Ví dụ: “Vật này cho con, con có nhận không?” – tự kiểm tra tâm mình, trả lời: “Không.” Khi mọi người cùng ăn bánh, “Bây giờ con có thể không ăn bánh không?” – “Có thể.” Chính là không ngừng rèn luyện bản thân, để tâm không khởi tham. “Hôm nay con ăn một miếng đã đủ chưa?” – “Đã đủ.” Và dù có thêm nữa, cũng không ăn miếng thứ hai.

Chỉ khi đó, quý vị mới thật sự chí thành cầu Phật, mới thể hiện được bản tánh thanh tịnh sẵn có nơi tự tâm.Nếu trong khi tu tập, quý vị rơi vào trạng thái thiền tâm thiên về hư không… Vậy “thiên về hư không” là gì? Nghĩa là mọi sự đều trở nên vô sở bất khả.

Khi có người hỏi: “Cái này có cần không?” – quý vị đáp: “Không cần.”

“Cái kia thì sao?” – “Cũng không cần.”

“Còn trong nhà thì sao?” – “Không cần.”

Đó chính là thiên về hư không. Bởi lẽ quý vị vẫn còn tồn tại giữa thế giới sắc tướng; sắc tức thị không, không tức thị sắc, nhưng quý vị vẫn còn trong cảnh sắc hữu hình nên chưa thể hoàn toàn thiên về hư không.

Nhưng ngược lại, quý vị cũng không thể chấp thủ hư không quá mức, bởi quá chấp hư không cũng là một dạng chấp thủ. Khi nói: “Ta không bận tâm nữa, không chấp gì cả, cái gì cũng không cần, các người muốn thế nào thì thế, ta không muốn nữa,” – đó cũng chính là một thứ chấp thủ.

Nhiều người tranh luận đến cùng cực, rồi nói: “Được, không cần nữa, làm gì thì làm, tôi chẳng bận tâm,” – tưởng chừng là vô sở chấp, nhưng thật ra vẫn là chấp thủ. Vì trên thực tế, quý vị vẫn còn bực tức, vẫn còn dính mắc vào sự việc ấy; bề ngoài nói “ta không bận tâm, vô sở chấp”, nhưng nội tâm thực sự đã thanh thản chưa? Nếu quý vị còn giận dữ, còn vướng mắc, thì quý vị vẫn đang chấp thủ vào chính điều mà mình nói là bỏ qua.

Cho nên xưa có câu rằng: khi một người khoe khoang điều gì, chính là biểu hiện cho sự thiếu hụt điều đó nơi bản thân.

Người khoe: “Nhà tôi giàu có lắm” – thực ra người đó chưa giàu.

Người nói: “Tôi rất thông minh” – chính người ấy không thông minh, bởi kẻ thật sự thông minh nào lại tự xưng mình thông minh?

Người cảm thấy ngoại hình chưa hoàn hảo, phải trang điểm lâu, rồi ra ngoài nói với người khác: “Cô xem hôm nay mắt tôi trang điểm có đẹp không?” – đây là biểu hiện chấp thủ sâu đậm vào một điều gì đó.

Cũng vậy, khi quý vị nói: “Được rồi, tôi không tranh luận nữa, tôi không muốn gây lộn nữa,” nhưng thực chất quý vị vẫn còn chấp thủ vào sự việc ấy. Nếu có thực lực, quý vị hãy không cần nói câu ấy, không tranh luận thì dừng hẳn, không cần lý giải tại sao dừng.

Sư phụ hỏi quý vị, ví như khi gặp đèn đỏ, quý vị dừng lại, liệu còn cần nói: “Tôi dừng lại vì đèn đỏ sao?”. Không cần. Đèn đỏ vốn dĩ là phải dừng lại.

Khi quý vị đối với một việc nào đó, hay một người nào đó mà bám chặt không buông, đó gọi là chấp thủ. Còn vô chấp là không để bất kỳ việc gì dính mắc trong tâm. Tuy nhiên, vô chấp không có nghĩa là phủ nhận mọi sự tồn tại, hay cho rằng “Tôi không bận tâm, vô chấp, việc đó liên quan gì đến tôi?” – đó là lệch lạc, vì không phải việc gì cũng bỏ qua.

Trong Kinh Kim Cang có dạy: Ứng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” – nghĩa là, đối với mọi việc, đừng để chúng dính mắc trong tâm, thì khi sinh khởi tâm ấy, tâm sẽ thanh tịnh. Câu này trong giáo pháp Phật rất thâm sâu, là một chỉ dẫn cốt lõi – tức là không trụ tâm.

Ví dụ đơn giản: khi quý vị giúp người khác, đừng lưu giữ trong tâm công đức ấy, thì tâm sinh ra là tâm thanh tịnh. Hôm nay tôi cứu giúp một chúng sinh, mà tâm không dính mắc vào việc cứu giúp, thì tâm khởi lên chính là tâm thanh tịnh, trong sáng.

Tập 110
Biết Vô Thường, mới có thể không trụ tâm

(25/07/2020)

“Ứng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” – đây là chỉ dẫn cốt yếu trong Kinh Kim Cang, dạy rằng tâm không nên trụ chấp vào bất cứ pháp nào.

Ví như khi quý vị cứu giúp một chúng sinh, nếu tâm không dính mắc nơi việc cứu giúp ấy, thì tâm khởi sinh sẽ là tâm thanh tịnh. Hôm nay ta cứu người mà không lưu giữ niệm “ta đã cứu người”, thì tâm ấy liền trong sáng, không nhiễm, không vướng, không ràng buộc.

Mọi hành vi, nếu đều phát xuất từ lòng từ bi lợi ích chúng sinh, thì dù việc ấy gian nan hay khổ nhọc đến đâu, ta vẫn hoan hỷ thực hành, bởi tâm ấy sinh khởi từ vô ngã, không còn chấp nơi ý niệm “ta cứu người”, “ta giúp người”.

Đó chính là vô trụ, là vô ngã, là diệu nghĩa thâm sâu của lời dạy:

“Ứng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm.”

Câu nói này vừa tinh vi, vừa biện chứng, đòi hỏi hành giả phải an trú tâm nơi thiện pháp mà không chấp trước nơi thiện pháp, tức là không dính mắc, không bám víu.

Vậy rốt ráo, tâm nào có thể trú nơi nội tâm, và tâm nào không nên trú?

Lời dạy nhắc nhở chúng ta rằng: mọi tâm niệm đều phải vô sở trụ. Khi tâm quý vị không còn nương tựa, không còn bám víu vào bất kỳ niệm nào, mà tâm khởi sinh vẫn hiện hữu, thì đó chính là chân tâm – bản tâm thanh tịnh vốn sẵn có.

Ví như hôm nay quý vị đến chùa, thấy điện Phật liền tự nhiên quỳ lạy, mà trong tâm không khởi niệm “hôm nay ta đến lạy Quán Thế Âm Bồ Tát để cầu điều gì”. Cứ tùy duyên mà lạy, lạy nhiều hay ít, không cần đếm, tâm tự biết chừng mực, lời khấn hay niệm đều thuận theo tự nhiên, tâm ấy liền thuần tịnh.

Đây chính là ý nghĩa chân thật của “Ứng vô sở trụ” – đừng trụ nơi niệm “ta lạy Bồ Tát để cầu gì”, mà hãy để tâm khởi sinh trong sáng, vô nhiễm, thuận theo tự tánh.

Bởi vậy, người học Phật không phải là không hành, mà là hành trong vô chấp. Mọi việc làm đều tùy duyên, không dính mắc, không cố chấp nơi một pháp nào, để tâm được tự tại, thanh tịnh và an nhiên giữa muôn duyên thế sự.

Ý nghĩa mà Sư phụ muốn khai thị cùng đại chúng là: mọi việc trong đời đều tùy duyên, đều có nhân duyên của chính nó. Tuy nhiên, quý vị không thể chỉ nói miệng “tôi tùy duyên” mà tâm vẫn còn chấp duyên, khởi niệm rằng: “Tôi nhất định phải làm việc này.”

Khi tâm còn chấp trước như thế, cảnh giới tâm linh sẽ không thể thăng tiến, vì tuy nói là “tùy duyên” nhưng thực chất vẫn đang “trụ duyên”.

Hãy để mọi sự diễn ra một cách tự nhiên, vô cầu, vô chấp, vô sở trụ, thì cảnh giới của quý vị sẽ tự nhiên được nâng cao.

Kinh điển dạy rằng: mọi nơi, mọi lúc đều là sự hiển lộ của chân tâm. Lời dạy này nhắc nhở chúng ta rằng: tâm không ở ngoài cũng chẳng ở trong, mà hiện hữu khắp pháp giới, ứng duyên mà khởi, vô trụ mà sinh.

Trong quá trình tu tâm, hành đạo, cứu độ chúng sinh, bề ngoài quý vị dấn thân giữa trần thế, nhưng tâm vẫn an nhiên, vô trụ, không ở trong, không ở ngoài, vì tâm ấy chính là tâm “ứng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”.

Ví như khi quý vị làm một việc thiện, đừng khởi niệm mong người khác khen mình là tốt. Nếu trong tâm còn nghĩ: “Ta phải làm gương lao động cho mọi người,” rồi mới cầm chổi quét nhà, thì tâm ấy vẫn còn vướng vào danh tướng, còn bám vào ý niệm lợi mình, lợi người.

Ngược lại, một tấm gương chân thật của hạnh lao động là người tự nhiên mỗi ngày giúp người, quét dọn, làm việc, tâm không tính toán, không so đo, làm mà không thấy mình đang làm, hành mà không thấy có người hành – ấy mới là hạnh tùy duyên chân thật, là thực hành đúng Chánh pháp của Như Lai.

Vì vậy, “mọi nơi, mọi lúc, vô sở trụ – ấy chính là tâm”. Quý vị không bám víu vào việc nào cả: hôm nay có việc thì vui, hôm nay không có việc cũng vẫn an nhiên. Tâm vô sở trụ, tức là tâm không còn dính mắc, không còn chỗ nương trụ.

Trong việc học Phật, quý vị cũng không thể hiểu sai rằng: “Tôi đã buông xả, không cần quan tâm điều gì nữa.” Không phải như thế. Không phải là không có tâm, mà là ở bất cứ nơi đâu, trong mọi thời khắc, tâm của quý vị đều hiển lộ Phật tâm.

Đức Phật dạy rằng: bản thể của vạn pháp vốn là “không”. Sư phụ hỏi quý vị: tòa nhà kia, trăm năm sau liệu còn chăng? Con người, mấy chục năm rồi cũng phải ra đi. Nhưng “không” ở đây không có nghĩa là tòa nhà không tồn tại, hay con người không còn, mà là phải khéo léo vận dụng trí tuệ để nhìn thấu bản chất vô thường của các pháp hữu vi, từ đó vượt qua mọi chấp trước vào tướng. Đó chính là diệu dụng của bản tánh chân như, là Phật tính vốn sẵn nơi mỗi chúng ta.

Điều này dạy rằng: biết sự vật tồn tại, nhưng cũng thấu bản thể cuối cùng của chúng là “không”; tuy thấu “không”, nhưng không rơi vào chấp về “không”.

Ví dụ, có một người đến nơi làm việc, lãnh đạo đã nói rõ rằng người ấy chỉ thực tập trong ba năm. Trong ba năm ấy, quý vị và người ấy có thể rất thân thiết, nhưng cần thấu hiểu rằng, khi thời hạn ba năm kết thúc, người ấy sẽ rời đi, và mối duyên này cũng theo đó mà mãn. Quý vị cần nhận rõ điều ấy trong tâm, để không sinh lòng chấp trước hay tiếc nuối.

Tuy nhiên, cũng không nên nghĩ rằng: “Đã biết sau ba năm sẽ xa nhau, vậy bây giờ chẳng cần thân thiết, chẳng cần giao tiếp, vì cuối cùng tất cả đều là hư không.” Như vậy là rơi vào chấp ‘không’, bỏ lỡ cơ hội để thực hành tâm vô sở trụ, sống trọn vẹn với duyên hội hiện tại mà không dính mắc, không bám víu.

Người học Phật cần hiểu rằng: tuy biết bản thể rốt ráo của các pháp là không, nhưng không chấp vào hư không. Trong ba năm ấy, quý vị vẫn nên chân thành đối đãi, vẫn nên xem người kia như thiện tri thức đồng hành trong một đoạn duyên ngắn ngủi.

Ấy chính là hành xử đúng pháp – không bám víu vào kết quả, mà vẫn hết lòng trong hiện tại. Khi tâm không còn dính mắc, tự nhiên sẽ được tự tại, giải thoát khỏi mọi chấp trước, không còn phiền não hay sân hận.

Cuối cùng, Sư phụ xin nêu thêm một ví dụ về việc giáo dục con cái, đồng thời giúp chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, bản thể rốt ráo của muôn pháp – kể cả con cái – cũng là “không”.

Quý vị thử suy xét: khi giáo dưỡng một đứa trẻ, hằng ngày ta thường dạy bảo: “Con lớn lên phải ngoan ngoãn, phải biết hiếu thuận, hiểu chuyện.” Thế nhưng, khi con trưởng thành, hiểu rõ bản tính vô thường và hư không của đời sống, tự nhiên chúng sẽ rời xa cha mẹ để bước đi trên con đường riêng. Cuối cùng, mối duyên giữa cha mẹ và con cái cũng chỉ là duyên tạm, mang bản chất “không”, không thể cùng nhau trọn đời trong thân thể này.

Vì vậy, khi giáo dục con, chúng ta phải dốc hết tâm lực, hết lòng dạy dỗ, nhưng chớ nên khởi tâm chấp trước rằng: “Con nhất định phải giỏi giang, phải thi đỗ đại học, làm tiến sĩ, trở thành giáo sư, để mai sau cha mẹ nương nhờ.” Nếu tâm còn bám víu như vậy, khi sự việc không như ý, cha mẹ không chỉ tự chuốc khổ cho mình, mà còn vô tình khiến con chịu tổn thương, bởi không phải đứa trẻ nào cũng có thể rèn luyện đến mức viên mãn theo mong cầu của người lớn.

Do đó, trong việc giáo dưỡng con cái, cần học hạnh buông xả, không chấp “con phải thế này, con phải thế kia”, mà nên để tâm an nhiên, tự tại, tùy duyên mà dạy, tùy duyên mà thương.

Tương tự, ngược lại, con cái nhất định phải được giáo dục, nhưng quý vị cũng không thể giáo dục một cách cứng nhắc. Vì vậy, cần dùng phương pháp khéo léo và thời gian thích hợp để cảm hóa con, đồng thời thực hiện công việc này một cách chu toàn, nhưng không rơi vào cực đoan hay chấp cố, đây chính là đòi hỏi của trí tuệ.

Người học Phật không nên định vị bản thân trong chấp trước: “Ta chính là người hay chấp, ta là người không buông bỏ được, ta là người quá nghiêm túc.” Những định vị ấy chỉ khiến tâm càng thêm bám chặt và phiền não. Thật ra, đôi khi không có những khái niệm này, quý vị lại dễ buông bỏ và không rơi vào chấp trước. Nhiều người thường nói: “Nhìn xem, tôi chính là người như thế này,” rồi chấp “chính là như vậy.” Khi đó, quý vị thật sự bị trói chặt trong khái niệm.

Nếu một chúng sinh có duyên với một tông phái hay pháp môn nào đó, thì nên dùng chính tông phái và pháp môn ấy để chỉ dạy phương pháp tu hành, như vậy mới khai mở căn cơ của họ, vì duyên nghiệp của họ vốn là như thế. Nếu chỉ cố chấp kéo họ về pháp môn của mình, quý vị rất có thể vượt ra ngoài sự vi diệu, tinh thâm của Phật pháp.

Do đó, thật sự cần có tâm vô sở trụ, không nên tùy tiện đặt một khái niệm nào đó vào trường thức bát nhã của bản thân; nếu để lâu, nó sẽ phát sinh trong đó, khiến thiện hóa càng thêm thiện, ác sinh thêm ác. Nguyện đại chúng chân thành học Phật, tinh cần tu tâm.

Trong lần tới, Sư phụ sẽ giảng cho đại chúng cách tiêu trừ phiền não trong bát nhã, cách bao bọc ánh sáng Phật thiện trong bát nhã với ý thức chính chắn và tỉnh giác.

Hôm nay, buổi học “Bạch thoại Phật pháp” xin tạm dừng tại đây. Tri ân đại chúng.

Cuối cùng hôm nay, Sư phụ kể cho đại chúng hai câu chuyện ngắn. Trong những năm cuối đời, điều khiến Đức Phật thương tâm và đau buồn nhất, chính là các đệ tử hàng đầu của Ngài – những vị đã thường ngồi bên cạnh Ngài trong thời gian thuyết pháp, như Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên – đã lần lượt về Niết bàn trước Ngài.

Khi Xá Lợi Phất trở về quê hương và nhập Niết bàn, Đức Phật thật sự cũng rất thương tâm. Các đệ tử của Xá Lợi Phất, trong đó có Sa di Quân đầu, vô cùng thương tiếc, đã nâng giữ xá lợi của Ngài trở về bái yết Đức Phật.

Đức Phật liền khai thị Sa di Quân đầu rằng: 

“Quân đầu, Sư phụ của con đã nhập diệt, nhưng liệu giới, định và công đức thù thắng, trí tuệ rộng sâu của Sư phụ có cùng tan mất hay không?”

Sa di Quân đầu khóc mà đáp: “Không, bạch Thế Tôn.”

Phật lại bảo:

 “Vậy thì, khi mọi khổ đau sinh tử đã diệt, còn công đức thanh tịnh chẳng hề mất, con còn gì mà phải khóc than?”

Sa di Quân đầu bỗng nhận ra:

“Đúng vậy, thân xác của Sư phụ tuy đã hư hoại, nhưng công đức của Sư phụ vẫn lưu truyền nhân gian, pháp hỷ tràn đầy khắp vũ trụ.”

Ngay lúc ấy, Sa di thấu triệt và ngừng rơi lệ.

Câu chuyện này thông tri với chúng ta rằng: ý nghĩa chân thật của cuộc đời chính là tạo ra sự sống nối tiếp trong vũ trụ. Con người ở cõi đời này phải hiểu rằng mạng sống ngắn ngủi, nhưng những công hạnh cứu độ chúng sinh và những lý tưởng cao đẹp mà ta kiến lập sẽ trường tồn vĩnh viễn.

Cách đây 2.500 năm, Đức Phật đã thị hiện ánh sáng Phật quang chiếu rọi khắp pháp giới, và cho đến ngày nay, ánh sáng ấy vẫn soi sáng cho chúng sinh rộng lớn học Phật, dẫn dắt chúng ta trên con đường giải thoát.

Vào thời Đức Phật còn tại thế, có một phụ nữ tên là Kisa Gotami. Bà có một người con trai vô cùng thương yêu, nhưng chỉ vài ngày sau khi sinh, cậu bé đã ra đi khỏi cõi đời. Trong nỗi đau mất con, bà Kisa Gotami vô cùng thương tiếc, ôm xác con đi tìm mọi phương cách có thể làm cho con sống lại.

Có người thấy bà đau buồn liền bảo: “Có một bậc trí giả, gọi là Đức Phật, có lẽ có phương pháp để trị liệu cái chết.”

Bà Kisa Gotami liền đến chỗ Đức Phật, vừa đi vừa khóc, bày tỏ nỗi đau thương chất chứa trong tâm.

Đức Phật bảo: “Chỉ cần bà dùng ngọn lửa từ nhà chưa từng có ai chết để thắp một nén hương, mang nén hương đó đến trước ta, ta sẽ có thể giúp con bà hồi sinh.”

Bà Kisa Gotami trong lòng nghĩ: “Chỉ là đi mượn một ngọn lửa để thắp nén hương, thật dễ dàng.”

Với tâm hân hoan, bà liền mang nén hương, đi từng nhà trong thành để tìm nhà chưa từng có ai chết.

Thế nhưng, từng gia đình đều nói với bà: 

“Chúng tôi rất sẵn lòng giúp bà thắp hương, nhưng rất tiếc, nhà chúng tôi từng có người đã mất.”

Sau một thời gian tìm kiếm, bà Kisa Gotami tự giác ngộ: bà nhận ra rằng cái chết là con đường tất yếu trong nhân sinh, là quy luật không thể tránh khỏi, chẳng có gì để bi thương, bởi vô thường là chân lý của thế gian.

Từ đó, bà ngừng than khóc, xuất gia tu hành và cuối cùng đắc nhập Niết bàn không sinh không diệt, thậm chí có thể chứng đắc thánh quả Duyên giác hoặc Thanh văn.

Thực ra, chúng ta ở cõi nhân gian không cần phải chờ đến cái chết mới thấy vô thường; vô thường luôn hiện hữu sát bên ta từng giây từng phút. Tai nạn giao thông, những sự cố bất ngờ quanh ta đều là vô thường; bệnh tật cũng là vô thường.

Chỉ cần quý vị quan sát những người, sự việc, vật thể ra vào trong đời, quý vị sẽ nhận ra rằng mọi sự mọi vật trong đời sống đều là vô thường. Khi chúng ta chấp trước vào một điều gì đó, thường lầm tưởng rằng điều ấy là thường hằng, bất biến. Khi ốm đau, ta nghĩ bệnh tật không khỏi, lòng chán nản; nhưng thực ra đó cũng là vô thường, bởi nhờ vô thường, bệnh tình rồi sẽ thuyên giảm, nghĩa là một thời gian sau, bệnh sẽ lành.

Tương tự, niềm vui cũng là vô thường, bởi niềm vui chỉ kéo dài trong một khoảng thời gian, rồi sau đó sẽ dẫn đến khổ đau. Vì vậy, khi niềm vui tan biến, quý vị sẽ cảm thấy trống vắng, cô đơn, bởi vô thường đã đến, khiến ta sinh khổ đau. Chính vì không nhận thức được vô thường, mà cuộc sống chúng ta đầy rẫy khổ đau.

Cho nên, Sư phụ muốn quý vị hiểu rõ vô thường, biết vô thường, thấu triệt chân lý của sinh mệnh, biết rằng đời sống của chúng ta phải dùng để cứu độ chúng sinh, đi theo bước chân của Đức Phật một cách tinh tấn. Chúng ta phải làm người tốt, làm việc lành, mỗi ngày nỗ lực tự cải thiện bản thân, sẽ đem đến ánh sáng mới, mỗi ngày giác ngộ sẽ mở ra tương lai tươi sáng.

Học Phật không dựa vào Sư phụ, mà dựa vào sự giác ngộ nơi chính mình. Sư phụ mong mỗi người học Phật đều có thể tỉnh giác, hiểu được bản tâm thật sự. Quý vị cần học cách kiểm soát chính mình, hiểu được bản thân, thì mới có thể thấu hiểu người khác, và từ đó phát sinh trí tuệ. Khi biết người khác đau khổ, bản thân cũng đau; khi thấu hiểu người khác, quý vị sẽ có trí tuệ thâm sâu.

Hãy luôn tự quan sát: “Mình còn tham, sân, si, mạn, nghi hay không?”; Thường xuyên tự xét lỗi lầm của mình, thì trí tuệ sẽ tăng trưởng, giác ngộ sẽ lớn dần. Quý vị hãy mỗi ngày kiểm điểm chính mình, để trí huệ tràn đầy, để giác ngộ cuộc đời.

Cảm ơn quý vị. Hôm nay chúng ta tạm kết thúc, hẹn gặp lại trong buổi pháp thoại kế tiếp.

Tập 111
Giác ngộ và giải thoát của tuệ giác

(01/08/2020)

Được rồi, hôm nay Sư phụ tiếp tục cùng đại chúng giảng Bạch thoại Phật pháp。

Chúng ta, những người học Phật, cần thấu triệt nhân duyên, hiểu rõ căn cơ bản thân, phải khai mở bản tính, vận dụng căn cơ cũ của mình để tiếp tục tu học và tu tâm. Người học Phật cần hiểu rằng không được để Bát thức điền trở nên ô uế.

Thực tế, Bát thức điền bị bao quanh bởi nhiều quang hào thiện ác. Khi một ý niệm bất thiện lưu giữ trong tâm, nó sẽ xâm nhập vào A-lại-da thức (thức thứ tám), khiến cho các vọng niệm và phiền não nhiễu loạn. Do vậy, khi một người khởi phiền não, toàn thân tâm liền rối loạn, bởi mọi vọng niệm trong Bát thức điền đều hỗn loạn, khiến họ không thể ngồi yên, đứng vững, tâm bị xao động, và bản tính thanh tịnh vốn sáng rỡ bị che phủ.

Quý vị Sư phụ, khi tâm người rối loạn, trí tuệ liền mất, họ không biết phải làm sao, không nghĩ ra cách xử lý, bởi đó chính là bản tính bị che lấp. Giống như ánh sáng mặt trời chiếu khắp muôn nơi, sưởi ấm tất cả chúng sinh, nhưng nếu ở trong nhà đóng kín cửa, ánh sáng ấy cũng không thể chiếu vào.

Nếu quý vị không muốn chiếu soi ánh sáng mặt trời, thì bản tính sáng rỡ của mình sẽ bị che phủ. Chỉ khi Bát thức điền trong tâm thanh tịnh và vô ngại – Bát thức điền thực sự trong sạch, như Phật pháp thường dạy: giữ cho thức điền thanh tịnh, không còn hận thù, oán giận, tham, sân, si cũ – mọi vọng niệm đều được quán chiếu, thấy rõ năm uẩn đều không, đều tịch diệt, thì quý vị mới có thể tỏa chiếu ánh sáng Phật, soi rọi bản tính nơi chính mình.

Chính vì lẽ đó, Sư phụ thường nhấn mạnh: chỉ khi ánh sáng Phật hiển lộ, con đường phía trước mới rực rỡ. Nếu quý vị chưa thấy ánh sáng, phật quang chưa hiện tiền. Giống như hôm nay quý vị chưa thấy mặt trời, làm sao có thể hiểu được ánh sáng soi rọi tiền đồ là gì? Nếu hôm nay quý vị chưa sáng, đó chính là dấu hiệu ánh sáng bị che khuất.

Mỗi chúng sinh vốn đều có khả năng được ánh sáng mặt trời chiếu soi, tìm thấy ánh sáng Phật. Nhưng có những người, vì tâm quá ô uế, trong Bát thức điền toàn là quang hào ác, nên không nhận được ánh sáng Phật chiếu soi, vì vậy không thể thấy được ánh sáng rực rỡ nơi bản tâm.

Đây chính là điều Sư phụ muốn khai thị với quý vị: người học Phật, tu tâm, phải học cách quay về với bản tâm vốn có. Vậy, thế nào là quay về bản tâm vốn có?

Chẳng hạn, từ thuở nhỏ, quý vị vốn hiền lương; khi thấy bạn học té ngã, quý vị liền đau lòng, rơi lệ: “Ôi, té chảy máu rồi!” và lòng cảm thấy xót thương. Thế nhưng theo năm tháng, sân hận, phiền não dần sinh khởi, và khi trưởng thành, tâm trở nên vô tình, vô nghĩa.

Phật pháp dạy quý vị tìm lại tấm lòng hiền lương vốn có trong tâm. Khi học Phật, quý vị sẽ thấu hiểu “nhân vi thương, đồng thể đại bi” – nghĩa là khi thấy đồng nghiệp, bằng hữu bị thương hay gặp tai nạn, lòng quý vị cũng sinh đau xót.

Khi ấy, tâm quý vị đã trở về với bản tâm nguyên sơ, hiền lương, trong sáng, chưa bị ô nhiễm. Chúng ta thường nói, tâm của trẻ thơ là tâm chưa nhiễm, nhưng càng sống lâu, tâm càng chứa nhiều phiền nhiễm. Tìm lại ánh sáng nguyên thủy nơi tâm mình, đó chính là “quay ánh sáng trở về soi chiếu”.

Chúng ta cần hiểu rõ chân lý của Như Lai: Đức Phật dạy rằng đừng để tâm vướng mắc vào những phải trái, đúng sai nơi trần thế. Ngài muốn chúng ta nhìn thấu thế gian là hư ảo, là không thật, nên chỉ dẫn chúng ta phá trừ mọi vọng niệm, vọng tâm phát sinh nơi nội tâm, bởi tất cả những thứ đó đều là giả huyễn.

Phật dạy rằng, dù hôm nay quý vị sở hữu nhiều điều gì, cuối cùng cũng sẽ mất đi; vì vậy Ngài khuyên không nên sinh khởi vọng tưởng. Một đời người, những vọng tưởng ấy như mộng huyễn, bọt nước, như sương, như điện. Quý vị nên “tạc tâm như thị quan” – tức là lấy thực tại làm chuẩn tắc; “như thị” chính là chân thật, là thực sự hiện hữu.

Con người ai cũng sinh tâm vọng tưởng, bởi còn những điều chưa đạt muốn chiếm hữu, những việc chưa làm muốn thực hiện, nên vọng niệm, vọng tưởng, vọng động liền sinh khởi. Quý vị thử suy xét: nếu không sinh vọng tưởng, liệu tâm có động hay không? Hành vi hôm nay nhiễm ô, chính là sản phẩm của vọng tưởng nơi tâm.

Chẳng hạn, hôm nay quý vị trêu đùa một cô gái bằng lời nói không trang nhã; nếu trong tâm không khởi niệm, liệu lời ấy có phát ra chăng? Khi lời nói đã thốt ra, tức là tâm đã sinh niệm, vọng động đã hiện, và vọng tưởng đã khởi.

Chính vì vậy, Kinh Phật thường chỉ dạy rằng quý vị cần quán chiếu nội tâm, nhìn sâu vào chính mình, tìm ra nơi ánh sáng Phật trú ngụ. Ánh sáng Phật ấy tồn tại nơi bản tính chân thật của mỗi chúng ta. Khi sinh ra, con người vốn mang trong mình phần lương tâm và bản tính thiện, nhưng càng lớn lên, tâm dễ nhiễm ô ác.

Một ví dụ: một đứa trẻ khi được cha mẹ dẫn đi xe buýt, còn biết nói: “Mẹ, đừng để con xấu hổ trước mọi người, hãy mua vé đầy đủ nhé.” Đứa trẻ vốn biết giữ thể diện nơi công cộng, biết phép tắc căn bản. Thế nhưng, nhiều khi cha mẹ lại lén lút nhét trẻ vào đám đông, cố tình để nhân viên bán vé không thấy, hoặc mua thiếu một vé, dù chỉ là một vé, cũng làm mất đi sự ngay thẳng nơi trẻ.

Qua đó, Phật pháp dạy chúng ta phải giữ gìn bản tính thiện và quán chiếu nội tâm, để ánh sáng Phật hiển hiện, nuôi dưỡng lương tri và đạo đức từ thuở còn thơ đến khi trưởng thành.

Vậy nên, quý vị phải tìm lại bản tính nguyên sơ của chính mình, thuần khiết như trẻ thơ; đó chính là ánh sáng Phật nội tâm thanh tịnh, để ánh sáng ấy chiếu soi trở lại, xua tan mọi tâm niệm tranh đấu, gian trá, mưu cầu lợi ích bất chính đối với người khác hôm nay.

Chúng ta muốn chứng được tam muội, thực ra chính là muốn chứng được tính tâm Niết-bàn diệu minh, ngộ tri viên mãn. Trong cõi nhân gian này, nếu quý vị chiếm chút lợi lộc của người khác, thì ý nghĩa gì có đây? Liệu có được giàu sang bền vững chăng?

Khi giao thương hay làm ăn với người khác, nếu lén lút làm chút thiệt hại, một khi đối phương biết, ngay cả mối quan hệ ấy cũng tiêu tan. Vậy tại sao lại không sống thật thà, ngay chính?

Một số nam nhân trở về nhà, lén lấy của vợ một chút tiền, hay bớt một ít trong sổ sách; nhưng người vợ trong lòng đều hiểu rõ: “Người chồng này, một ngày nào đó, ta sẽ chẳng cần đến nữa.” Đừng xem người khác là kẻ ngu dại.

Vậy, diệu tâm ở đâu? Diệu tâm chính là tâm chân thật. Hôm nay, khi quý vị đối xử với người khác bằng tâm chân thật, thì người khác cũng sẽ đáp lại bằng lòng chân thật. Khi quý vị nhờ vả ai đó, nếu tâm thật lòng, họ sẽ sẵn sàng giúp đỡ; còn nếu quý vị che giấu, giấu diếm, không thẳng thắn, thì liệu họ có thể giúp quý vị bằng tấm lòng chân thực chăng?

Cho nên, “diệu tâm” nơi đây chính là tâm chân thực. Mong rằng chư vị học nhân cần thấu hiểu thế nào là Niết-bàn – phải giác ngộ rằng tất cả vạn pháp trong thế gian này đều là không, cuối cùng đều quy về vô sở hữu. Đã là không, thì há chẳng phải trở về bản lai tự tính, là Niết-bàn tịch tĩnh, là chứng được chân như, là đại triệt đại ngộ sao? Đây chẳng phải chính là điều mà trong Phật pháp gọi là “Chánh pháp nhãn tạng” hay sao? Quý vị cần thấu hiểu chữ “chánh” nơi đây, nghĩa là mọi việc đều phải hành trì trên con đường chánh đạo, đúng pháp, đúng lý.

Hãy tự quán chiếu: người học Phật, liệu có ai học sai đường chăng? Nếu có người vì chấp trước mà tu lệch khỏi trung đạo, há chẳng phải đã xa lìa chánh pháp rồi sao? Người học Phật cần minh tâm kiến tánh , hiểu rõ đạo lý làm người giữa thế gian. Suốt cả đời bôn ba vất vả, đến cuối cùng chẳng lẽ vẫn chưa thấu triệt khổ – không – vô thường hay sao?

Một đời nhọc nhằn, kết cuộc chẳng mang theo được gì – chẳng phải không hay sao? Cuộc đời con người, chẳng phải trọn trong biển vô thường mà rồi tan biến đó sao? Hãy nghĩ xem, mỗi ngày trên thế gian có biết bao nhiêu người ra đi, họ còn chưa kịp hiểu vì sao mình đến nhân gian này, thì đã vội khép lại một kiếp sống. Bởi vì, vô thường thật quá đỗi mau chóng.

Vậy, chúng sinh từ vô thủy đến nay, luôn sống trong vô minh. Quý vị hãy quan sát: khi chúng ta vừa sinh ra, chẳng biết gì cả, bước vào thế gian này, chưa kịp hiểu gì đã phải ra đi – đó chính là vô minh đồng hành suốt cả đời, mà chúng ta lại chẳng hề hay biết.

Người không hiểu đạo lý, có đáng thương không? Người tư duy không thông suốt, có đáng thương không? Vô minh và tự tính, Sư phụ muốn nói với quý vị, luôn đồng tồn, không hề tách rời. Khi chúng ta sinh ra có vô minh, bản tính thanh tịnh của mình cũng đồng thời hiện hữu.

Vì vậy, trong Phật pháp có câu: “vô minh đồng khởi”, nghĩa là vô minh và Phật tính sinh khởi đồng thời. Không phải là trước có Phật tính, rồi mới sinh vô minh – không phải vậy – vì hai thứ ấy luôn cùng hiện hữu, đồng thời tồn tại. Tùy thuộc nơi lựa chọn của quý vị, sẽ hướng tới vô minh hay hướng tới Phật pháp.

Giống như một đứa trẻ vừa sinh ra đời, có thể đồng thời tiếp nhận thiện niệm lẫn ác niệm. Nếu nó tiếp nhận ác niệm, đó là một đứa trẻ dữ; nếu nó tiếp nhận thiện niệm, đó là một đứa trẻ hiền lành –  mọi thứ đều công bằng, không thiên vị.

Vậy, tại sao cùng một đứa trẻ, từ nhỏ đến lớn, lại có thể chọn lựa những con đường sinh mệnh hoàn toàn khác nhau? Điều đó tùy thuộc vào mức độ vô minh của bản thân và cách thức khai mở Phật tính của chính mình. Vì vô minh, con người thường khởi tâm: “Một niệm của ta là đúng, ta làm như thế là phải.” Thực ra, lúc ấy, bản thân đã rơi vào đảo điên mà không tự giác, cho đến khi hành động sai lầm vẫn không hay biết. Sở khổ của con người chính là ở chỗ đảo điên mà chưa giác ngộ.

Hãy nghĩ xem, hiện nay con người đang theo đuổi điều gì? Tất cả đều là những thứ không thể đồng hành vĩnh viễn với ta: tình cảm, tài sản, danh tiếng, danh lợi – tất cả đều là đảo điên, hư huyễn. Những gì quý vị miệt mài theo đuổi, rốt cuộc không thể trường tồn, trong khi thứ luôn đồng hành với linh hồn – bản tínhthanh tịnh, trí tuệ giác ngộ – quý vị vẫn chưa nhận ra, chưa giác ngộ, nên không nhận biết được giá trị chân thực của nó.

Vì thế, con người miệt mài truy cầu cảnh trần, mà thật đáng thương biết bao! Vì chút sĩ diện mà xung đột, cãi vã, tranh chấp với người khác; vì muốn tỏ ra giàu sang, dù phải vay mượn cũng phô trương bề ngoài. Hãy tự hỏi: có bao nhiêu người kết hôn mà chỉ coi trọng hình thức bên ngoài, không đủ tiền vẫn vay mượn, sau hôn lễ chồng chất nợ nần, phải trả dần về sau? Đó chính là điên cuồng truy cầu cảnh trần.

Lại lấy một ví dụ khác: giống như một đứa trẻ nghịch ngợm, thường hay trêu chọc người khác. Khi thấy việc làm đó, nó cảm thấy vui thích, cho rằng hành động ấy là đúng. Dần dà, khi lớn lên, thói quen ấy ăn sâu, đứa trẻ có thể trở nên hay trêu ghẹo, hại người, hình thành tính cách xấu. Vậy, đứa trẻ đó có vô minh không? Đương nhiên là có, nhưng trong vô minh, nó vẫn cảm thấy mình đúng, vẫn vui thích, chưa nhận ra bản chất của hành vi.

Tất cả đều do tham, sân, si trong bản tính con người mà sinh nghiệp, nên chắc chắn sẽ phải thọ quả báo. Ngay cả đến hôm nay, trong số những người học Phật, nhiều người vẫn thích hại người khác, châm chọc, cười nhạo – và họ cảm thấy vui thích. Thực chất, đó chính là vô minh. Họ gieo khổ đau cho người khác, nhưng nghiệp ấy sẽ trở về chính mình.

Mọi hành vi, lời nói, kể cả ý niệm gây tổn hại người khác, đều phải thọ quả, cuối cùng chính bản thân sẽ chịu báo ứng. Đây chính là điều mà Phật pháp dạy: “Thiên võng khôi khôi, báo ứng không sai”, trong giáo lý còn gọi là ”nghiệp chủng tự nhiên”.

Nghiệp ấy tự nhiên trở thành hạt giống nghiệp. Quý vị tưởng vui khi châm chọc người khác, nhưng thực ra quý vị đang gieo trồng hạt giống nghiệp ấy. Từ đó, hạt giống ấy sẽ phát triển thành quả báo xấu. Có những người chưa từng hiểu rằng châm chọc người khác là lỗi, còn tưởng mình thông minh: người khác không nghĩ được thì mình nói, người khác không làm được thì mình làm. Nghiệp ấy đã xấu, tự nhiên sẽ sinh ra hậu quả xấu, mà người ấy không hề hay biết, vẫn sống trong vô minh.

Người tu tâm trước hết phải hiểu rõ thế nào là tu tâm, phải biết rằng không thể tu mù quáng, luyện tập vô định. Quý vị tưởng rằng ngồi trước Phật mà niệm kinh là tu tâm? Thực ra, tâm quý vị đã chạy đi đâu mất rồi. Quý vị tưởng rằng thành khẩn đảnh lễ Bồ Tát là tu tâm? Dù thân đã cúi đầu, nhưng nếu linh hồn đã bay đi, quý vị không có tâm tinh tấn, không có tâm sám hối, thì đó chính là tu tâm lộn xộn, sai lạc.

Ngày ngày bận rộn tưởng làm công đức, thực chất là tu mù quáng, luyện tập gì? Thiền tọa à? Nếu quý vị ngồi mà đầu óc trống rỗng, không vọng niệm, đó mới là chân tu; còn nếu ngồi mà tâm đầy những vọng niệm, cho dù tu bao nhiêu năm, tọa thiền bao nhiêu năm, trong Phật pháp gọi đó là loạn lạc.

Vì vậy, khái niệm sai lầm của một con người, dù sống thêm bao nhiêu năm, cũng không thay đổi; những quan niệm thấp hèn ấy vẫn vây quanh tâm thức, không buông bỏ. Tại sao có những người đàn ông kết hôn đến ba, bốn lần mà vẫn thấy rằng “không có người vợ nào tốt”? Bởi vì trong tâm họ nghĩ: “Cô ấy lấy tôi, cô ấy phải phục vụ tôi, phải chăm sóc tôi, phải làm nhiều việc, phải như nô lệ thực hiện bổn phận.”

Khái niệm thấp hèn ấy đã trói buộc bản tính chân thật, khiến họ không thấy được bản tính, không tìm thấy ánh sáng chân thật. Vì thế, nếu khái niệm sai lầm của một người không được chuyển hóa, cho dù sống thêm bao nhiêu năm cũng vẫn như vậy; và cho đến khi lâm chung, vẫn sẽ như vậy, bởi vô minh đã quấn chặt đời người từ thuở sinh ra.

Do đó, Bồ Tát dạy chúng ta phải tu luyện để thanh tịnh những ô nhiễm nơi tâm. Thế nào là ô nhiễm? “Ô” tức là ô trược, nhiễm bẩn; còn “nhiễm” là tích lũy nghiệp chướng, là những điều bẩn thỉu đã hình thành trong tâm.

Quý vị có biết ô nhiễm là gì không? Chửi mắng người khác có phải là ô nhiễm không? Nhưng hàng ngày, vẫn có người chửi. Trong gia đình, vợ chồng cãi nhau, rõ ràng biết không nên chửi cha mẹ đối phương, nhưng khi bị ép buộc, lại chửi. Những hành vi này chính là ô nhiễm, là tập khí vô minh, nhưng vẫn tiếp tục nhiễm ô, tiếp tục sở hữu, gây thương tổn cho người khác, đồng thời cũng làm tổn hại chính mình.

Vậy, làm sao tu tâm? Nếu tu mà không thanh tịnh, không phá trừ vọng niệm, thì không thể đạt đến Vô Thượng Bồ đề. Vô Thượng Bồ đề là cảnh giới thánh thiện tối cao, nơi quý vị có thể hành thiện lợi ích chúng sinh, khiến người khác cảm nhận được hơi ấm của mùa xuân; khi gặp khổ nạn, họ cảm nhận sự hiện diện của quý vị như bến bờ cứu cánh, giúp giải thoát phiền não.

Ngược lại, nếu quý vị tạo thêm phiền não cho người khác, quý vị vẫn đang sống trong vô minh. Quý vị tưởng rằng “Tôi đang giúp họ, tôi đang cứu họ,” nhưng nếu cái ngã quá nặng nề, quý vị vẫn dưới bóng vô minh.

Chỉ khi thực sự hòa mình với chúng sinh, “người đau là tôi đau, phiền não của họ là phiền não của tôi,” quý vị mới thật sự cứu người và chứng đắc Vô Thượng Bồ-đề.

Vậy, trí tuệ từ đâu mà có? Bởi vì cảnh giới của quý vị là vô thượng. “Vô thượng” nghĩa là không có đỉnh cao; còn “Bồ đề” chính là tâm từ bi và trí tuệ. Khi bi và trí đồng tu, bi và trí đồng vận, người có tâm từ bi tất có trí tuệ, người có trí tuệ tất có từ bi. Đây chính là giác tính Phật, là đức hạnh giác ngộ, là sự tỉnh thức viên mãn của Bồ-đề.

Tập 112
Dùng Phương Tiện Pháp Môn Để Diệt Trừ Vô Minh

(01/08/2020)

Khi chúng ta sinh ra và bước vào cõi nhân gian này, vô minh liền theo sát bên mình, chẳng rời nửa bước. Chính bởi thế mà chúng ta phạm biết bao lầm lỗi – vì không hiểu nên sinh vô minh; mà do vô minh nên chuốc lấy khổ đau.

Trong đời, có biết bao người chẳng hiểu mà cũng chẳng chịu hỏi, cố chấp tự cho mình là đúng, cuối cùng tổn hại chính mình rồi lại làm thương tổn kẻ khác.

Chỉ cần trong tâm khởi một niệm chấp trước, vô minh liền theo đó mà sinh khởi. Khi quý vị vừa khởi lên ý niệm: “Tôi nên…”, “Tôi cho rằng…”, chỉ cần chấp trước một niệm thôi, thì tập khí vô minh đã âm thầm hiện khởi.

Quý vị không hiểu rõ, lại cố chấp làm theo ý mình, cho rằng: “Tôi đúng.” Vì sao không thể khiêm hạ hỏi người khác một chút?

Chỉ cần một niệm chấp trước khởi lên, vô minh liền theo đó mà trỗi dậy; mà khi vô minh sinh, phiền não cũng theo đó mà sinh, cho nên gọi là vô minh phiền não.

Vô minh và phiền não cùng khởi, chấp trước hòa lẫn trong đó, khiến quý vị cứ mãi vô minh – chấp trước – sân hận – phiền não, xoay vần chẳng dứt, luân hồi không ngừng.

Vậy làm sao để thoát khỏi vô minh, buông bỏ chấp trước? Muốn xuất ly lục đạo, quý vị phải khai ngộ – kiến tánh.

Thế nào là khai ngộ kiến tánh?

Chính là phá trừ tận gốc vô minh, thì tính giác mới hiển lộ.

Làm sao để phá vô minh?

Hãy chí tâm học đạo, tôn Sư trọng Pháp.

Đã có Sư phụ, vì sao chẳng một lòng theo học?

Đã có Phật pháp, vì sao chẳng y giáo phụng hành?

Vì sao gọi là Tam Bảo – Phật, Pháp, Tăng? 

Ấy là để nhắc nhở chúng ta rằng:

Nương nơi Phật mà giác,

nương nơi Pháp mà hành,

nương nơi Tăng mà tu, 

thì tâm mới khỏi bị vô minh trói buộc, mới được tự tại – giải thoát.

Ví như một vị lương y, nếu thông đạt muôn môn y học, tất có thể cứu giúp được nhiều người; còn nếu điều này chẳng hiểu, điều kia chẳng thông, bệnh này chưa từng trị, bệnh khác chưa từng biết, thì làm sao có thể cứu độ chúng sinh?

Bởi vậy, trí tuệ không khai thì vô minh liền kết chặt; người học đạo mà thiếu hiểu biết, thiếu tinh tấn, ắt sẽ bị vô minh ràng buộc, chẳng thể độ người, độ mình.

Khi thuyết giảng Phật pháp, Sư phụ thường ưa dùng ví dụ để khai thị. Thí như có một cô gái, khi quen được một người bạn trai, niệm vô minh liền sinh khởi: “Nếu đã có bạn trai, thì việc ta dùng tiền của anh ấy là lẽ đương nhiên; anh ấy thương ta, thì ta tiêu tiền của anh ấy cũng phải thôi.”

Một khi ý niệm vô minh ấy đã gieo vào A-lại-da thức, nếu chẳng sớm phá trừ nó, thì cả đời cô gái ấy sẽ bị người khác khống chế và tổn hại, bởi vì khi khởi tâm chiếm hữu, ắt sẽ bị ràng buộc; khi khởi niệm muốn dùng của người khác, liền tự chuốc lấy khổ. Đó chính là “vô minh chi kiến”.

Chỉ khi một người nữ thật sự khai ngộ, thấu rõ rằng:  “Nếu ta dựa dẫm vào tiền của người khác, thì cả đời này ắt sẽ bị người ấy trói buộc, khống chế. Còn nếu ta không dùng tiền của họ, tự mình lao động bằng đôi tay của chính mình, tiền thuộc về ta thì ta nhận, không thuộc về ta thì tuyệt nhiên không lấy.”

Khi ấy, niệm vô minh trong tâm liền được phá trừ. Tâm thanh tịnh, thân thanh tịnh, không vướng nợ người, thì người kia cũng tự nhiên sinh lòng kính trọng. Như vậy mới gọi là phá vô minh, kiến tánh, Sư phụ được Phật tính nơi tự tâm.

Vì thế, Sư phụ dạy rằng: Vô minh là một nghiệp lực vô cùng đáng sợ. Hãy quan sát mà xem, người không hiểu mà lại tỏ ra hiểu biết tất cả, ấy chính là kẻ vô minh sâu nặng. Thực ra, vô minh có nhiều loại; nói một cách giản yếu thì có bốn dạng: Kiến hoặc, Tư hoặc, Trần sa hoặc, và Vô minh hoặc.

Trước đây, Sư phụ từng giảng cho chư Tăng về bốn loại vô minh, hôm nay vì thời gian có hạn, Sư phụ chỉ lấy “Kiến hoặc” làm ví dụ để giảng cùng quý vị. Khi quý vị nhìn thấy một sự việc mà trong tâm khởi lên mê lầm, đó chính là Kiến hoặc.

Thật ra, khi một người khai ngộ, tức là họ đã phá trừ được Kiến hoặc. Vì sao vậy? –  Bởi khi ấy, họ đã thấu hiểu, minh triệt, thông suốt bản chất của mọi hiện tượng. 

Dù ban đầu, khi tiếp xúc với sự việc, tâm còn mê mờ, chưa rõ, nhưng một khi đã tỉnh ngộ, thấy rõ được chân tướng, thì Kiến hoặc tự nhiên tiêu tan.

Thí dụ đơn giản: Có một người vốn là kẻ lừa gạt, nhưng ban đầu quý vị không hay biết, chỉ thấy bằng mắt rằng người ấy rất tốt – lời nói dịu dàng, thái độ ôn hòa, thuận ý mọi điều.

Đến khi quý vị phát hiện ra chân tướng, hiểu rằng “thì ra người ấy lừa dối ta”, ngay trong khoảnh khắc ấy, Kiến hoặc liền bị phá, tâm liền sáng tỏ, không còn mê lầm nữa.

Lần sau, dù người đó có đối xử với quý vị thế nào, có nói năng ngọt ngào đến đâu, quý vị cũng không còn bị mê hoặc, bởi vì tâm đã thấy rõ. Dù họ chưa từng tỏ ra tệ bạc trước mặt, nhưng vì quý vị đã phá trừ được Kiến hoặc, nên không còn bị lừa bởi cái thấy bên ngoài.

Đây chính là phá trừ Kiến hoặc – thấy rõ chân tướng của các pháp, không còn bị sắc tướng che mờ trí tuệ. Cho nên, những gì mắt ta nhìn thấy, chưa chắc đã là thật; chỉ khi trí tuệ khai mở, mới thấy được như thật tướng.

Được rồi, giờ Sư phụ lấy thêm một ví dụ thật đơn giản để nói rõ điều này. Quý vị thử nghĩ xem – có người rõ ràng có xe mà không đi, xe buýt cũng chẳng chịu lên, lại cứ mỗi ngày chạy bộ. Khi trông thấy cảnh đó, trong tâm quý vị có khởi lên nghi hoặc chăng?

“Đã có xe sao không đi? Sao phải nhọc công chạy bộ làm gì?”

Chính cái niệm khởi lên ấy –  “tại sao như vậy?”, đó chính là tâm mê do cái thấy mà sinh.

Nhưng khi quý vị hiểu ra chân tướng: rằng người ấy chạy bộ là để rèn luyện thân thể, điều hòa khí huyết, làm cho tim mạch được an ổn, thì ngay khoảnh khắc nhận ra ấy, tâm mê liền diệt, trí tuệ liền sinh.

Ấy gọi là phá trừ Kiến hoặc – nghĩa là thấy mà không chấp vào tướng, biết rõ bản chất của sự việc, nên tâm liền sáng tỏ, không còn vọng kiến sai lầm.

Cho nên, đừng chấp vào những gì mắt mình nhìn thấy. Bởi khi quý vị phá được cái thấy sai lầm ấy, tâm sẽ không còn bám chấp vào hình tướng nữa – đó chính là “bất trước tướng”.

Có người, dù đã được giải thích rõ ràng rằng: “Người ấy chạy là để rèn luyện sức khỏe đó.”

Nhưng họ vẫn cố chấp mà nói: “Không thể nào! Anh ta thật sự kiên trì như vậy sao? Đã có xe sao không đi? Tập thể dục lúc nào chẳng được, sao cứ phải ngày nào cũng chạy theo xe như thế?”

Đó chính là tâm chấp trước, là Kiến hoặc chưa phá.

Chỉ khi nào quý vị buông được chấp này, thì mới có thể vận dụng được diệu dụng của Phật pháp; mới có thể thấy rõ chân tướng của các pháp – vốn không sinh, không diệt; và khi ấy, tâm mới thật sự an nhiên, tự tại trong trí tuệ.

Quý vị hãy quán chiếu mà xem – Sư phụ độ người khắp thế giới, bao nhiêu đệ tử, bao nhiêu Phật tử, mỗi người một tính tình, một căn cơ, một hoàn cảnh, một nền văn hóa khác nhau. Ấy thế mà Sư phụ vẫn có thể tùy duyên thuyết pháp, dùng diệu dụng của Phật pháp khiến ai ai cũng có thể học, có thể hiểu, có thể hành – đó chính là “diệu dụng của Phật pháp” vậy.

Trong Phật pháp có câu: “Hữu sinh tức vô sinh”, nghĩa là: “Đã có sinh, thì chính là không sinh.”

Ví như con người kết hôn, sinh con; con cái lại lập gia đình, sinh ra cháu chắt. Đời này nối tiếp đời kia, sinh rồi diệt, diệt rồi lại sinh, tiếp nối không cùng – ấy chính là “vô sinh”.

Vì sao gọi là vô sinh? –  Bởi đã có sinh ắt có diệt, mà diệt rồi lại sinh, thì cái gọi là “sinh” chỉ là một dòng lưu chuyển vô tận, không có thực thể nào thật sự sinh ra hay mất đi.

Ý niệm của con người cũng như thế. Hôm nay khởi lên một niệm –  “Ta muốn đối tốt với người ấy”, đó là một niệm sinh. Ngày mai, niệm ấy diệt, rồi lại sinh lên một niệm khác – “Ta không thích người này nữa.” Hôm nay ta nghĩ người này xấu, ngày mai lại cho rằng họ tốt. Sinh rồi diệt, diệt rồi lại sinh –  ấy chính là “Hữu sinh tức vô sinh”. 

Sư phụ đã từng giảng rằng: Khi Đức Phật nhập Niết-bàn, Ngài dạy các đệ tử rằng:

“Các con, Như Lai chưa từng rời xa các con — Như Lai vẫn ở ngay trong các con.”

Câu nói ấy có nghĩa là: Tinh thần giác ngộ, bản thể thanh tịnh của mỗi con người vốn chưa từng mất đi – đó chính là Niết-bàn. Phật vẫn ở trong tâm ta, chưa từng xa rời.

Cho nên, trong cảnh giới Phật pháp, điều ấy gọi là “Vô sở trụ xứ Niết-bàn”.

Thế nào là “Vô sở trụ xứ Niết-bàn”? Chính là trong tâm quý vị, không có một nơi trụ cố định nào cả. Quý vị đi đến đâu, hình bóng của Phật vẫn theo bên mình. Như các bậc pháp sư, dù đi đến phương trời nào, vẫn luôn mang theo giáo pháp, mang theo Tam Bảo –  Phật, Pháp, Tăng trong tâm.

Vì thế, Phật thường trụ trong tâm các ngài.

Đó gọi là “Vô sở trụ xứ Niết-bàn” –  nghĩa là Phật không trụ ở một nơi nhất định, mà hiện hữu khắp mười phương, vô sở bất tại. Chỉ vì tâm chúng sinh còn nhiễm ô, chưa thanh tịnh, nên không cảm nhận được sự hiện diện nhiệm mầu ấy.

Hãy tự xét lại mình: Khi quý vị khởi tâm sân hận, tranh cãi, hay tạo các điều bất thiện – Phật có hiện diện chăng? Có. Ngài vẫn ở đó. Chỉ là vì quý vị chưa an Phật trong tâm, nên vọng niệm che lấp, khiến tâm trở nên ô nhiễm, điên đảo.

Nếu một khi nội tâm thanh tịnh, thì Phật hiện khắp nơi trong tâm quý vị, giúp quý vị dứt mọi vọng tưởng đảo điên, xa lìa mê chấp cảnh trần, mà an trú trong cảnh giới giải thoát.

Một người sống ở đời mà thiếu thực tế, lời nói hư dối, khoe khoang, phóng túng trong ngôn từ – khi ấy, chính là vì tâm không có Phật nên mới sinh ra như vậy.

Nếu trong tâm quý vị an trụ được Phật, thì từng lời nói, từng hành động đều thuận theo Chánh Pháp, hợp với chân thật, thiện lương. Khi ấy, quý vị sẽ thấy được Phật –  bởi Phật vốn ở trong tâm mình.

Khi tâm được thanh tịnh, Phật tính liền hiển lộ, và quý vị có thể quán thấy Phật ngay trong nội tâm của chính mình.

Ví dụ đơn giản –  Sư phụ rất ưa dùng ví dụ để khai thị:

Có một người mù, tuy đôi mắt chẳng thể nhìn thấy người thân, nhưng không có nghĩa là trong tâm ông không có họ. Một khi đôi mắt được chữa lành, vì mắt đã trở nên trong sáng, ông liền có thể nhìn thấy người thân của mình bất cứ lúc nào.

Cũng vậy, một đứa trẻ sinh ra đã mù, tuy mắt chẳng thấy cha mẹ, nhưng không có nghĩa là trong tâm đứa trẻ không có cha mẹ. Trong tâm nó vẫn sáng tỏ, vẫn cảm nhận được tình thương, sự chăm sóc, bao dung của cha mẹ dành cho mình. Dù chưa từng nhìn thấy, nhưng sự hiện diện ấy vẫn chân thật, vẫn hiển nhiên tồn tại.

Đến một ngày, khi đôi mắt ấy được chữa lành, nó nhìn thấy cha mẹ mình – thì há chẳng phải cha mẹ vẫn luôn thường trụ trong tim nó từ thuở ban sơ sao?

Đó chính là điều Sư phụ muốn khai thị cho quý vị: Phật, tuy chúng ta hiện nay chưa nhìn thấy bằng mắt phàm, nhưng Phật vẫn luôn ở trong tâm ta, ngày ngày giáo hóa, dìu dắt, che chở và cứu độ. Không phải Phật không ở bên cạnh – chỉ là đôi mắt vô minh của phàm phu chưa được khai mở, nên vẫn chưa thể thấy được mà thôi.

Một khi quý vị minh tâm kiến tánh, nhận ra bản tính chân thật nơi tự thân, thì ấy chính là lúc quý vị thấy được Phật. Bởi tâm đã thanh tịnh, hạnh đã trong sạch và thiện lành, nên dần dần, dù ở bất kỳ nơi đâu, bất kỳ lúc nào, quý vị cũng có thể thấy được Phật trong tâm mình – đạo lý ấy chính là như vậy.

Vì thế, hãy thường thấy Phật pháp, thường nghe Phật âm, thường ngửi hương Pháp, thường hành những việc hợp với Chánh Pháp, lắng nghe lời Phật dạy, và dùng tâm ý thanh tịnh mà quán chiếu giáo lý của Như Lai. Người nào có thể làm được như thế, thì chính là đang thường hành Phật đạo, ngày ngày tinh tấn tiến bước trên con đường giác ngộ.

Một người không khởi vọng tâm, thì tự nhiên sanh khởi nguyện lực; một người không vọng tâm, mới có thể thật sự tinh tấn tu hành. Khi một người buông bỏ được phiền não nơi cõi hồng trần, thì người ấy đã an trụ nơi Bồ-đề tâm trong Phật pháp.

Bởi vậy, người tu hành phải tu trong từng niệm, khiến mỗi niệm nối tiếp lòng từ bi và ánh sáng của Phật, luôn tự phản chiếu mà quán xét:

“Việc này ta nên làm; việc này ta không nên làm.”

Mỗi ngày đều hướng đến chứng đắc Bồ-đề, mỗi ngày đều bước đi trên con đường quang minh, nên gọi là “Quang Minh Hạnh”.

Khi từng niệm trong tâm tương tục trong ánh sáng ấy, thì ánh sáng sẽ vô lượng, vô biên.

Ngược lại, có người mỗi ngày chỉ thấy phiền não và khổ đau:

“Con không thoát ra được, con mệt mỏi, chán nản, thấy cuộc sống vô nghĩa.”

Ấy chính là từng niệm đang tạo sinh tử, từng niệm đang kết phiền não. Một khi tâm liên tục sinh phiền não, thì vĩnh viễn không thể giải thoát.

Cho nên, mong rằng quý vị hãy buông bỏ mọi duyên trần, chân thật mà tu, kiên định mà hành, thì đạo tâm sẽ sáng tỏ, trí huệ sẽ hiển lộ, bước chân mới thật sự đi trên đạo giải thoát quang minh.

Mọi người đều biết, trong Kinh Lễ Phật Đại Sám Hối Văn có nhắc đến Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. Ngài dạy rằng: khi đã hiểu rõ Phật pháp, quý vị phải đem ra thực hành, đó gọi là “hành nguyện” – nghĩa là đem tâm nguyện của mình ứng dụng vào đời sống hằng ngày, thì mới có thể chứng đắc được Phật quả.

Nếu tâm niệm không thanh tịnh, thì những gì quý vị nhìn thấy cũng không thể thanh tịnh. Một người thường thấy lỗi người, thấy người khác chỗ này không tốt, chỗ kia không hay, ấy là bởi tự trong tâm họ đã không trong sạch, nên nhìn đâu cũng chỉ thấy bất tịnh và sai lầm.

Sư phụ từng kể cho đại chúng nghe một câu chuyện như sau:

Có một người đến thăm nhà của bạn thân. Người khách ấy mắt kém, vừa đến nơi đã nhìn qua ô cửa kính rồi nói:

“Ôi, sao sân nhà cậu dơ thế! Chỗ phơi quần áo cũng bẩn quá!”

Người chủ nhà nghe vậy liền mỉm cười nói:

“Không phải sân nhà tôi bẩn đâu, mà là tấm kính anh đang nhìn qua bị dơ, nên khi nhìn ra ngoài, mọi thứ đều trở nên bẩn cả.”

Câu chuyện ấy dạy cho chúng ta một chân lý sâu sắc:

Nếu tâm của quý vị không trong sạch, thì khi nhìn ra thế gian, tất cả mọi người và mọi việc cũng đều trở nên “ô nhiễm” trong con mắt của quý vị.

Nếu quý vị luôn chê trách, chỉ trích người khác, cho rằng ai cũng không tốt, thì bản thân quý vị cũng khó mà tốt đẹp được bao nhiêu.

Ngược lại, khi tâm niệm sáng suốt, có chánh tri chánh giác, thì mọi điều quý vị nhìn thấy, nghe thấy và cảm nhận đều trở nên trong sáng, thiện lành và đầy linh tri, linh giác.

Tập 113
Tri Giác: Nguồn Cội Của Tâm Niệm

(01/08/2020)

Khi tâm niệm của quý vị ngay thẳng và sáng suốt, trong tâm có cảm ứng, thì dù nhìn bất kỳ sự việc hay con người nào, quý vị cũng đều có thể cảm nhận bằng trí tuệ linh tri, linh giác. Giống như khi quý vị nhìn thấy một đứa trẻ và cảm thấy đặc biệt yêu thích:

“Đứa bé này thật đáng yêu, dường như có linh khí.”

Thật ra, chính vì trong lòng quý vị có linh khí, nên mới cảm nhận được như vậy. Vì thế, người ta thường nói: “Khi quý vị thấy người khác như Bồ Tát, thì chính quý vị đã là Bồ Tát rồi.”

Tri giác chính là tấm gương chiếu rọi, nhờ đó chúng ta có thể chạm tới bản tính lương thiện và tri thức nguyên sơ của chính mình. (Chỉ có tấm gương mới có thể chiếu rọi ánh sáng này).

Cho nên, học Phật thật sự phải dựa vào trí tuệ, không phải đơn thuần lễ bái Phật, niệm kinh, lau dọn trái cây hay quét dọn nhà cửa. Bởi vì trong quá trình tu hành, con người chứa vô số vọng tưởng, lại còn tích tụ từ nhiều kiếp nhiều đời.

Từ vô thủy kiếp, biết bao chúng sinh đã luân hồi trong lục đạo mà không thoát ra được, bởi vì trong bao nhiêu đời họ bị đảo lộn bởi vọng tưởng, và trong bao nhiêu kiếp họ đã xem thế gian này là có thật.

Hãy suy ngẫm: khi còn nhỏ, có phải quý vị xem tất cả mọi sự việc của chính mình đều là thật?

Bây giờ, nhìn lại, tất cả mọi việc khi nhìn từ hiện tại, có phải đều hiện ra là giả dối? Bởi vì mọi sự đã qua, đã mất.

Cho nên, cần nhận thức rõ ràng thế giới hư giả mà sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp – sáu kẻ trộm – chạm đến. Phải thấy rằng tất cả đều hư ảo, không thật, không thể xem là thật; nếu không, đó chính là “nhận kẻ trộm làm cha”.

Hãy nhìn xem, việc nào mà không bị sáu kẻ trộm làm tổn hại đến chúng ta? Mắt nhìn thấy, tâm bực tức không thôi; tai nghe người khác nói, tâm lại bực tức… Tất cả mọi việc đều có nguyên nhân của nó.

Nếu một vị Sư phụ xem đệ tử là tài sản riêng của mình; nếu vị Sư phụ ấy bắt đệ tử quy y cho mình, nói rằng các vị Sư phụ khác đều không tốt; nếu đệ tử quy y vị Sư phụ khác, thì Sư phụ cũ lại xem đệ tử như kẻ phản bội – Thì vị Sư phụ như vậy, bản thân chỉ vì danh lợi mà hành pháp, bị vọng niệm chi phối, và trong vọng tưởng ấy mới thực hành hoằng pháp.

Cho nên, người thật sự có trí tuệ phải học Phật – Ngài bình đẳng và đại từ đại bi, đối với mọi chúng sinh đều như nhau.

Hãy nhìn Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi, tùy duyên độ hóa chúng sinh, đối với mọi sự vật và chúng sinh nơi cõi nhân gian không bao giờ phân biệt thân sơ.

Chúng ta đối với thế gian không có lòng tham ái, đó chính là buông bỏ chấp trước; còn nếu tham ái một người nào đó, một sự việc nào đó, thì đó chính là chấp trước.

Tâm phải như Phật, quý vị mới có thể ứng xử nơi đời một cách uyển chuyển, và Phật tính không trở ngại.

Thiện tri thức chính là mẫu mực để chúng ta học theo; kinh điển của Bồ Tát, Tam Bảo – Phật, Pháp, Tăng – tất cả đều là để chúng ta giữ chánh niệm, chánh tín, học hỏi Phật pháp.

Tu hành khổ hạnh chính là một phương pháp học Phật; khi người khác thấy chúng ta chịu khổ, chính chúng ta tràn đầy pháp lạc. Cần khổ tu để rèn luyện ý chí, biết cách tiêu trừ nghiệp chướng; chịu khổ càng nhiều, tiêu nghiệp càng nhiều.

Đồng thời, cần rèn luyện trí tuệ của chính mình, không chấp trước, thì mới có thể tu tập Bát nhã. Mọi vô minh hãy để nó dần dần tan biến, khi ấy chúng ta mới sở hữu trí tuệ Bát nhã của Phật pháp.

Tiếp theo, Sư phụ xin kể cho đại chúng một câu chuyện.

Vua A Dục của nước Ma Kiệt Đà tại Ấn Độ cổ từng nói:

“Trong đời này, ta không có việc gì là không làm được.”

Quả thật, từ khi còn nhỏ, sinh trưởng trong hoàng cung, A Dục từ khi chào đời, chén trà đưa tay là có, bữa cơm dọn sẵn là ăn, mọi việc lớn nhỏ đều có triều thần, nô bộc tận tâm lo liệu.

Cho đến khi trưởng thành và lên ngôi vua, ngài thành lập triều đại Ma Kiệt Đà, dẫn quân nam chinh bắc chiến, công không gì không thắng, trận không gì không bại.

Do đó, các vua chúa lớn nhỏ khắp nơi đều phục tùng và xưng thần (bằng lòng rằng “Ngài là Hoàng đế, chúng tôi là thần dân”), vùng đất rộng mênh mông trong vòng hai trăm tám mươi nghìn dặm đều là thuộc địa của A Dục. Lời nói của A Dục quả thật không hổ danh, ngài thật sự vĩ đại và uy quyền.

Thế nhưng, A Dục thở dài, tự nói:

“Chỉ có Long Vương trú ở hồ phương Bắc là không chịu phục ta.”

Đây là vấn đề khiến A Dục đau đầu. Bởi ở biên cương phương Bắc, có một hồ rộng hơn ba trăm dặm, trú ngụ một Long Vương, nhờ ngày đêm cung dưỡng xá lợi Phật mà sở hữu đại thần lực uy quyền.

A Dục đã ba lần dẫn quân, cùng voi, ngựa, xe và bộ binh tiến hành chinh phạt, nhưng tất cả đều vô hiệu, phải trở về tay không.

Thế là A Dục suy nghĩ:

“Chắc hẳn công đức của Long Vương cung dưỡng xá lợi Phật đã vượt hơn công đức của ta, khiến cho dù ta dùng mọi phương cách, Long Vương vẫn không hề nhìn nhận sự hiện hữu của ta (không tin rằng ta có thể chiến thắng Ngài).”

Ngài liền nói:

“Người đâu! Mau xây tháp, lập chùa, trai tăng cúng dường, phụng sự Tam Bảo, ta muốn bồi đức tích phúc.”

Và thế là A Dục bắt đầu kiến tạo chùa tháp, rồi cúng dường chư tăng, phụng sự Tam Bảo – Phật, Pháp, Tăng.

Dưới sự hối thúc gấp rút của A Dục, khắp cả nước đều bắt đầu xây dựng chùa tháp, lập bàn trai cúng dường, mời cao tăng giảng kinh thuyết pháp, để mọi người trong toàn quốc đều thấm nhuần pháp hỷ, cùng sinh pháp lạc. Trong một thời gian, các tăng nhân qua lại không ngừng, mọi người trong nước tràn đầy pháp lạc, hưởng đại lợi ích. Toàn vùng đất ngập tràn pháp lạc.

Một thời gian sau, A Dục tự thầm suy nghĩ:“Không biết bây giờ, cơ duyên xuất chinh đã chín muồi hay chưa? Ta cũng đã làm biết bao công đức, phúc đức của ta và phúc đức của Long Vương, bây giờ thử xem rốt cuộc ai lớn hơn ai?”

A Dục rất thông minh và trí tuệ uyên bác, đồng thời rất giỏi biến hóa linh hoạt. Không lâu sau, ngài nghĩ ra một kế sách tuyệt vời:

Ngài dùng vàng cùng lượng để đúc một tượng của chính mình, đồng thời đúc một tượng Long Vương (nhỏ hơn nhiều), đặt lần lượt hai tượng lên hai đầu cân. Vì khi đúc, vàng dùng có cùng trọng lượng, nên khi đặt lên cân, ngài muốn so sánh trọng lượng công đức.

Khi cân thử lần đầu, đầu Long Vương nặng hơn, hạ xuống; đầu A Dục nhẹ hơn. A Dục nhíu mày suy nghĩ, liền ra lệnh: “Người đâu! Hãy tiếp tục đại bố thí, mời các cao tăng thuyết pháp.”

Ngài tiếp tục làm nhiều công đức lớn hơn nữa.Không lâu sau, ngài cân thử lần nữa, không ngờ lần này khi cân, hai đầu vàng cân bằng, bằng nhau. A Dục lộ một nụ cười nhẹ và nói: “Hừm, có vẻ quyết định của ta là đúng.” 

Ngài liền ra lệnh: “Quan lương, mở kho thóc, cứu tế những người cô đơn, nghèo khó trong nước.” Và ngài lại làm một việc thiện lớn.

Một thời gian sau, A Dục trong lòng đầy bồn chồn, lại đặt hai tượng vàng lên hai đầu cân. Khi nhìn thấy tượng của mình hạ xuống, ngài cười lớn, vui mừng khôn xiết, liền công bố quyết định chuẩn bị xuất chinh.

Ngài nói với quân lính bên dưới:

“Đi thôi! Chúng ta sẽ tấn công Long Vương. Lần này chắc chắn sẽ đại thắng hoàn toàn.”

Khi đó, A Dục dẫn đầu mười vạn quân, có ngựa, xe, tiến bước trên đường. Khi đi đến giữa chặng đường, bỗng nhìn thấy phía xa dường như có người, một đội quân chặn ngay giữa đường.

Không lâu sau, tướng tiên phong vung roi, vội quay về báo cáo với A Dục:

“Đại vương! Long Vương cùng toàn thể Long tộc đã ngồi chờ đại vương từ lâu, sẵn sàng qui thuận (tức là chuẩn bị đầu hàng).”

A Dục liền cưỡi ngựa, nhanh chóng tiến lên, xuống ngựa, đỡ Long Vương đang quỳ xuống, và nhận xá lợi Phật do Long Vương cúng dường. Từ đó, A Dục với tấm lòng cung kính, cúng dường xá lợi Phật, đồng thời xây dựng 84.000 bảo tháp, hoằng dương Phật pháp, rộng rãi thuyết giảng Đại thừa không ngừng nghỉ.

Câu chuyện này nhắc nhở chúng ta rằng, khi Tam Bảo hiện hữu nơi thế gian, hoằng dương Phật pháp đến mười phương, để chúng sinh nhận biết chân lý, sẽ đạt được lợi ích giải thoát vượt thế gian. Đây chính là mảnh ruộng phước cao thượng nhất cho nhân gian.

Sống trong thế gian này, người học Phật cần tự hỏi: làm thế nào để trở thành người không hổ thẹn với chúng sinh, làm thế nào để giúp đỡ người khác?

Phải cúng dường Tam Bảo, phải cung kính, thì sẽ nhận được vô lượng phước báo. Khi cúng dường Tam Bảo, quý vị sẽ được gặp chánh pháp; người khác thấy những việc quý vị làm, sẽ tôn trọng quý vị, phục thuộc quý vị.

Cho nên, chúng ta cần nắm giữ nhân duyên, nỗ lực tinh tấn, trồng rộng mảnh ruộng phước, để sớm chứng đắc đạo nghiệp.

Một đời làm người, tu hành cả đời mới có ý nghĩa thực sự.

Cuộc đời con người chính là như vậy: nếu quý vị không chịu tinh tấn tu hành, khi quý vị nhận ra chân lý, thì cũng gần hết cuộc đời rồi.

Cho nên, cần phải tinh tấn và siêng năng tu tập; khi con người trở nên trong sạch, thì thân, khẩu, ý đều thanh tịnh.

Thân và ý của Phật biểu thị Phật tính. Tại sao nói “khai khẩu là Pháp”? Bởi vì thân, khẩu, ý của quý vị chính là Phật tính.

Vì vậy, hãy phù hợp với thân, khẩu, ý, chăm chỉnh tu sửa bản thân, để từ đó phát sinh trí tuệ chân thật.

Ngày xưa, trong Phật pháp có câu:

“Hộ đoản tâm nội phi hiền” — nghĩa là khi quý vị phạm lỗi mà che giấu, tìm lý do, không thừa nhận, dùng mọi cách để chống lại lỗi lầm của mình, thì tâm quý vị không phải hiền giả, không phải là người trí tuệ uyên thâm, mà là người chưa có tu dưỡng.

Vì vậy, Sư phụ mới bảo quý vị đừng tìm lý do. Bởi vì trên thế gian này chỉ có nhân quả. Nếu quý vị có thể nhìn mình một cách công bằng, như cách nhìn lỗi lầm của người khác, và hằng ngày tự soi xét bản thân, thì quý vị đã đang tiến bộ.

Hôm nay, Sư phụ chia sẻ đến đây. Cảm ơn đại chúng.

Tập 114
Mười Như Thị: Nhất Như Bất Nhị

(05/08/2020)

Được rồi, hôm nay chúng ta tiếp tục bàn về “ Bạch thoại Phật pháp”. 

Sư phụ sẽ giải thích cho đại chúng về chữ “Như Thị”. Trong Kinh Phật, chữ “Như Thị” có mười nghĩa, gọi là mười Như Thị.

“Như” là chỉ bản tính chân thật, bất biến của muôn pháp;

“Thị” là chỉ chân thật, không hư vọng.

Khi chúng ta niệm “Như Thị, Như Thị”, chính là khẳng định: “chân thật, chân thật, không hư vọng, không hư vọng”.

Trong Kinh Pháp Hoa có dạy rằng: chỉ có Phật với Phật mới thấu triệt thực tướng của các pháp. Nói cách khác, bản chất chân thật, bất biến của muôn pháp nơi cõi nhân gian, chỉ Phật mới có thể hiểu thấu.

Trong Kinh Phật có ghi: “Sở vị chư pháp như thị tướng, như thị tính (bản tính), như thị thể, như thị lực, như thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị báo, như thị bản mạt cứu cánh.”

Sư phụ sẽ tiếp theo lần lượt giải thích từng điều. 

Bản mạt cứu cánh là chỉ vấn đề đó từ đầu đến cuối rốt cuộc như thế nào, là một thực sự chân thật, bất biến.

Người xưa dạy: “Như Thị, Như Thị”, nghĩa là “chân thật, chân thật”, không hư vọng, “như thị, như thị”.

Mười Như Thị chỉ mười điều kiện cần thiết tồn tại của thực tướng các pháp.

Nếu điều gì không phát xuất từ bản tính chân thật, không phải là chân thật, không hư vọng, thì điều ấy không thể đáp ứng được các điều kiện Như Thị.

Trong vũ trụ này, muôn pháp bao la, chân lý tất yếu và các quy luật vốn tồn tại là: thể thực tại, lực thực tại, tác thực tại, nhân như thị, duyên như thị, quả như thị, báo như thị, bản mạt cứu cánh như thị…

Chúng ta thường thấy, trong các bộ phim hoặc các dịp giao tiếp với các cao tăng đại đức, nhiều thiện nam tín nữ hỏi:

“Thưa Sư phụ, tình hình như thế nào?”

Vị Sư phụ ấy sẽ đáp:

“Nhân như thị, quả như thị.”

Thực ra, lời ấy chính là chỉ những nhân duyên chân thật đang tồn tại, và những quả báo chân thật đang hiện hữu.

Sư phụ sẽ lần lượt phân tích mười Như Thị, nhằm giúp chúng ta hiểu được chân như thực tướng của Phật pháp, bởi trong mười pháp giới, mỗi giới đều có chân như thực tướng.

Như Thị Tướng là gì?

Theo nghĩa đen, Như Thị Tướng chính là hình tướng hiện bày ra bên ngoài.

Khi ta nhìn một người, nghĩ rằng: “Ồ, người này…” – thì đó chính là Như Thị Tướng, là cái hiện hữu chân thực mà mắt thấy, hiện ra như một hình tướng, một bản thể chân thật trước mắt.

Như Thị Tính nói về điều gì?

Như Thị Tính chính là lý tính nội tại.

Nhiều người cho rằng lý trí quan trọng hơn, nhưng thực ra lý tính nội tại là khả năng thấu hiểu bản chất chân thật của thế giới, vốn sẵn có nơi con người.

Người có lý tính sẽ không tranh cãi với người khác; người có lý tính biết cách hóa giải phiền não nơi tâm mình; người có lý tính khi gặp phiền não, sẽ chuyển hóa thành Bồ Đề.

Chính lý tính nội tại ấy là Như Thị Tính. Bởi vì chúng ta vốn đã sở hữu phương pháp để hóa giải phiền não, giải quyết mọi vấn đề, chỉ là chúng ta chưa chịu khai thác và vận dụng mà thôi.

Thứ ba là Như Thị Thể.

Như Thị Thể là gì?

Đó chính là bản chất vốn có của muôn vật. Bất kỳ sự vật hay sự việc nào cũng đều có bản chất riêng.

Chẳng hạn, khi xây một ngôi nhà, bản chất của nó là gì? Là gạch, đúng chứ?

Còn xây một tòa cao ốc, bản chất là gì? Là thép, là xi măng. Đó chính là Như Thị Thể.

Như Thị Lực là gì?

“Lực” chính là sức mạnh phát sinh từ “Thể”. Khi chúng ta có một thân thể, nếu thân ấy khỏe mạnh, sung mãn, ắt sẽ phát sinh ra một năng lực tương ứng.

Nếu không có Thể, làm sao có thể sinh ra Lực? Bởi vậy, Lực chính là năng dụng được phát khởi từ bản thể, là sức mạnh chân thật tự nhiên hiển hiện từ nơi Thể chân như ấy.

Tiếp theo là Như Thị Tác.

Người đời thường nói đến “tác nghiệp”, “tác ác”, nhưng “Như Thị Tác” chính là chỉ mọi nghiệp thiện ác mà chúng ta đã tạo ra.

“Như Thị Tác” nhắc nhở chúng ta một chân lý bất biến: thiện ác tất có báo ứng – làm lành ắt được thiện báo, làm ác ắt chịu ác báo.

Tất cả những nghiệp ấy đều hiện hữu chân thật, những nghiệp thiện cũng chân thật hiện hữu, không hư vọng, không hư dối.

Như Thị Duyên là gì?

“Duyên” chính là yếu tố trợ duyên, giúp cho nhân sinh quả. Bởi lẽ, khi nhân đã gieo, tất sẽ trổ quả; nhưng trước khi quả thành, cần có duyên để thúc đẩy nhân ấy kết thành quả báo.

Thí dụ, một cặp vợ chồng thường tranh cãi – người chồng nói xấu vợ sau lưng, người vợ cũng nói xấu chồng – những nhân bất thiện ấy đã được gieo xuống.

Nếu con cái lại đến nói với mẹ rằng: “Cha nói xấu mẹ phía sau,” rồi lại nói với cha rằng: “Mẹ nói xấu cha phía sau,” thì chính những lời ấy trở thành ác duyên, làm cho nhân ác bùng phát, thúc đẩy quả báo bất thiện nhanh chóng hiện ra.

Tương tự, duyên cũng có thể thúc đẩy nhân thiện sinh ra quả thiện. Nếu chuyển sang phương diện năng lượng tích cực, cũng như vậy: Có người âm thầm hành thiện, lặng lẽ gieo trồng công đức, chưa từng nói cho ai biết, cũng không mong cầu ai hay.

Thế nhưng, có người khác lại nói với mọi người rằng: “Các vị có biết chăng? Người ấy lặng lẽ tinh cần, đã làm vô lượng việc lành; những điều tốt đẹp mà quý vị đang thọ hưởng hôm nay, chính là nhờ công đức âm thầm của người ấy.”

Khi mọi người khởi tâm cảm phục, tôn kính người ấy, xem người ấy như tấm gương sáng để noi theo, thì chính điều ấy đã trở thành duyên trợ giúp, thúc đẩy nhân thiện sớm trổ quả thiện. Đây chính là duyên giúp cho nhân sinh quả.

Tiếp theo là Như Thị Quả.

Vậy Như Thị Quả là gì?

Chính là quả được sinh khởi nhờ duyên thúc đẩy.

Chữ “thúc đẩy” ở đây có nghĩa là hỗ trợ, nuôi dưỡng, khiến cho nhân có đủ điều kiện để kết thành quả. 

Chẳng hạn, khi quả đến, đó là quả chân thật, không hư vọng. Chúng ta chỉ cần gieo nhân, quả ắt sẽ sinh. Nếu hôm nay quý vị chửi mắng người khác, thì người khác ắt sẽ chửi mắng lại; nếu hôm nay quý vị nói xấu người khác sau lưng, thì sớm muộn gì họ cũng sẽ biết, và khi ấy tâm họ không vui, đó chính là quả báo chân thật do chính ta tạo nên.

Bởi vì duyên đã được gieo trồng, nên quả báo tất sẽ được thúc sinh. Đây chính là quả chân thật, không hư vọng, sinh khởi từ nhân và duyên hòa hợp.

Do vậy, Bồ Tát dạy chúng ta: nếu có thể thấu hiểu đạo lý này, thì sẽ không tùy tiện buông lời nói, không vọng ngữ, không phê bàn về lỗi của người. Khi muốn nói đến khuyết điểm của người khác, hãy tự hỏi chính mình:

“Người ấy có biết không?” Nếu trong tâm khởi niệm rằng người ấy có thể biết, thì chớ nên nói.

Trong Phật pháp, điều cốt yếu là không bàn luận lỗi người, không chỉ trích người, mà phải thường phản quán tự tâm, soi lại chính mình, để thấy rõ những điều chưa thiện nơi tự thân mà tinh tấn sửa đổi.

Điều thứ chín là Như Thị Báo.

Như Thị Báo là gì?

Chính là quả báo sinh khởi từ nhân đã gieo.

Mọi nhân đã gieo trồng, liệu có sinh báo ứng hay không? Câu trả lời là: Có.

Tất cả các nhân đều sẽ trổ báo, muốn tránh cũng không thể tránh được. Hãy lấy một ví dụ đơn giản để quán chiếu: Hôm nay, quý vị vừa bước ra khỏi nhà, thấy vài giọt mưa lất phất rơi xuống. Trong tâm liền nghĩ: “Có lẽ nên quay lại lấy dù.” Rồi lại khởi niệm: “Thôi, mới ra khỏi nhà, quay về có chút phiền, đường cũng không xa, cứ đi tiếp vậy.”

Chỉ vừa đi được vài bước, mưa liền đổ ào ào, toàn thân ướt sũng. Đây chính là quả báo chân thật sinh khởi từ nhân lười biếng trong giây phút hiện tại, khiến quý vị phải chịu lấy hậu quả ngay tức thời. Những quả báo như thế luôn theo sát như bóng với hình, không sai chạy một mảy may. 

Hôm nay, nếu quý vị nhìn người khác bằng thiện ý, người ấy tất sẽ đáp lại quý vị bằng thiện ý. Ngược lại, nếu quý vị nhìn người khác bằng ác ý, người ấy cũng sẽ nhìn quý vị bằng ánh mắt oán giận.

Trong đời sống hiện nay, chỉ một ánh nhìn khởi từ vọng tâm – dù là ánh mắt thương cảm, ganh tỵ hay khởi niệm tình cảm – cũng đủ gây nên phiền não dây dưa, khiến người khác sanh tâm chú ý, vướng mắc chẳng yên. Cho nên, chớ tạo nhân ác, bởi nhân đã gieo, quả ắt sẽ đến – thiện hay ác, đều không thể tránh.

Điều thứ mười là: Như Thị Bản Mạt Cứu Cánh – nghĩa là bản chất từ khởi đầu cho đến kết quả rốt ráo sau cùng.

Thật ra, “Như Thị Bản Mạt Cứu Cánh” chính là điều mà chúng ta thường nói: “Khi làm một việc gì đó, kết quả cuối cùng sẽ như thế nào? Kết cục rốt ráo sẽ ra sao?”

Nói một cách khác, lấy “Như Thị Tướng” làm khởi đầu, và “Như Thị Báo” làm điểm kết thúc.

Bởi lẽ, mọi việc trong thế gian đều có khởi có chung, có nhân tất có quả, có bắt đầu tất có kết thúc. Người học Phật cần phải thấu rõ đạo lý này.

Nhiều người trẻ sau khi tốt nghiệp, tìm được việc làm liền khởi tâm hoan hỷ: “Ta đã có việc làm, thật vui sướng biết bao!” Nhưng cần phải hiểu rằng: đã có khởi đầu thì ắt sẽ có kết thúc. 

Một ngày đã bắt đầu, thì ngày ấy cũng sẽ có lúc tàn. Một đứa trẻ vừa chào đời, ai nấy đều hoan hỷ hân hoan, nhưng cũng phải nhận rõ rằng, rồi một ngày kia, sinh mạng ấy cũng sẽ đến lúc rời xa cõi thế.

Hôm nay quý vị đang nắm giữ một chức vị, thì cũng phải biết rằng ngày mai chức vị ấy có thể chẳng còn thuộc về mình nữa. Đây chính là Như Thị Nhân, Như Thị Quả, Như Thị Báo – những nguyên lý chân thật, bất biến của vạn pháp thế gian. Mọi sự mọi vật đều vận hành theo chân lý không hư vọng, mang trong tự thể bản tính chân thật, không dung chứa hư dối, không cho phép ảo tưởng chen vào.

Quý vị cần thấu hiểu điều này: một người có thể thành tựu, vì sao lại thành công? Bởi người ấy thấu rõ nhân duyên, hiểu rằng những gì mình làm hôm nay sẽ kết thành quả báo tương xứng – gieo duyên lành, tích lũy công đức, và cuối cùng đạt đến sự viên mãn cứu cánh.

Trong mười pháp giới của Phật pháp, có một pháp gọi là “Thập Như Thị”. Đến đây, hẳn quý vị đã phần nào lãnh hội được ý nghĩa sâu xa của pháp này.

Vừa rồi, Sư phụ chỉ giảng lược qua đôi nét về Thập Như Thị để đại chúng khởi tâm nhận biết. Về sau, khi tinh tấn tu học, nếu quý vị biết dùng tâm vận hành theo Thập Như Thị, thì khi duyên lành chín muồi, dù gặp bất kỳ cảnh duyên nào, chỉ cần vừa chạm đến, liền có thể tự biết đó là thiện hay ác, và chắc chắn sẽ có quả báo. Khi ấy, tâm sẽ tự nhiên bừng sáng, trí tuệ khai mở, và quý vị sẽ ngộ được chân lý vi diệu tỏa chiếu trong muôn sự, muôn vật.

Hãy tĩnh tâm suy xét xem, có phải như vậy chăng?

Khi có người nói với quý vị: “Chúng ta cùng làm việc này đi, giá rẻ lắm…” Nếu tâm đã sáng, quý vị sẽ liền nhận ra: rẻ, chưa chắc đã là tốt. Đơn giản chính là như vậy.

Khi trong tâm đã khởi được “Như Thị”, hiểu rõ rằng có nhân tất có quả, quý vị tự nhiên sẽ dấy lên nghi tình: “Tại sao lại rẻ đến thế? Nhất định phải có nguyên do.” Giống như khi mua một căn nhà – quý vị thắc mắc: “Tại sao căn nhà này lại bán rẻ đến vậy?” 

Nhìn qua, nhà vẫn còn tốt, hướng đẹp, phong thủy thuận, nội thất cũng tinh tươm, mọi thứ dường như hoàn hảo, nên quý vị tưởng rằng mình gặp được món hời lớn, liền quyết định mua ngay.

Thế nhưng, chỉ sau một thời gian, hàng xóm mới tiết lộ: người ở căn nhà này trước đây từng mắc bệnh phong, rồi qua đời.

Quý vị thấy đó, làm sao có thể lìa nhân quả? Làm sao có thể không có như thị nhân, như thị quả? Trong cõi đời này, gieo nhân nào, ắt gặt quả nấy; tạo nhân gì, tất sinh ra quả ấy. Chỉ vì chúng ta tự mê muội, không hiểu, không nhận ra, nên bị sự việc che lấp mà sinh tin lầm nơi vọng cảnh.

Khi một ngày nào đó quý vị gặp đúng nhân duyên, chạm đến duyên lành, trí tuệ liền khai mở, tâm tính bừng sáng, liền thấu ngộ đạo lý sâu xa ấy.

Từ thuở xưa, những bậc tu tâm hành đạo, chỉ cần nương theo “Thập Như Thị” mà tinh tấn thực hành, đã có biết bao người chứng nhập chân tính, thành tựu Phật quả.

Không cần luận nhiều điều cao xa; chỉ cần thấu rõ nhân quả, hiểu rằng gieo nhân thiện thì gặt quả lành, tự nhiên quý vị sẽ không còn khởi tâm tạo tác những nhân bất thiện nữa.

Như Thị Nhân, Như Thị Quả: Hôm nay, nếu quý vị mưu hại người khác –  thì ngay trong khoảnh khắc ấy, nhân đã được gieo. Đến khi người khác hại lại quý vị – quả báo tất sẽ trổ, sớm hay muộn đều không thể tránh.

Chứng tính thành Phật, chính là khi quý vị thấu hiểu sâu xa đạo lý này, nhận ra rằng Phật pháp trọng yếu nhất là giữ được năng lực quán chiếu – luôn soi sáng, tỉnh giác trong từng hơi thở, từng khoảnh khắc của đời sống hằng ngày.

Quý vị có thường quán chiếu chăng?

Quý vị đã thật sự thấy thấu bản chất của vạn pháp chăng?

Quý vị đã minh triệt bản tính chân thật của chính mình hay chưa?

Quý vị nếu biết rõ mình còn những vấn đề gì, biết trong dục nhiễm nam nữ chưa thể tự chế, thì hãy tránh xa; biết trong ăn uống không thể điều phục, thì hãy tiết giảm; biết trong tiền tài không thể khống chế, thì chớ nên chạm đến. Làm được như vậy, quý vị sẽ tăng trưởng năng lực tự thân và trí tuệ nội tâm, dần dần hoàn thiện chính mình trên con đường tu học.

Cho nên, điều gọi là “quán chiếu, quán chiếu”, chính là liên tục quán chiếu trong từng khoảnh khắc hiện tiền, thường xuyên soi sáng và quản trị tâm mình, không để tâm bị tham, sân, si, mạn, nghi lôi kéo, cũng không để thân tâm rơi vào cõi ngũ trược ác thế.

Pháp thế gian và pháp xuất thế gian vốn chẳng hai, mà chỉ là một. Người tu tốt chính là Phật; dù tu trong lục đạo hay vượt thoát lục đạo, bản chất rốt ráo cũng chỉ quy về một chữ “tu”. Làm người tốt hay chưa tốt, cũng đều là làm người; học hành giỏi hay chưa giỏi, cũng đều là học.

Tất cả không hai mà một, chính là diệu nghĩa của Pháp Nhất Như.

“Nhất pháp như” là gì?

Là thấu hiểu bản tính chân thật của vạn pháp, là liễu ngộ chân như thực tướng. Mọi pháp đều lấy chân thật làm gốc, lấy chân như làm thể. Hãy luôn ghi nhớ: khi quán chiếu sự việc, cần thấy được bản chất thật tướng của nó.

Tất cả pháp thế gian đều là hư huyễn, nhưng nếu thấy được thực tính của các pháp, thì sẽ hiểu rõ nhất như bất nhị. Khi ấy, dù là pháp thế gian hay pháp xuất thế gian, cũng đều nhất như, bất nhị – đồng một thể chân như.

Phải hiểu rằng, trong đời này, dù tu trong thế gian hay xuất thế gian, tất cả đều là thật tu, thật chứng. Chỉ cần dụng tâm mà quán chiếu, có duyên mà thấu hiểu, nắm bắt được chân tướng của các pháp, thì mới có thể chân thật hành trì. Nếu không hiểu được chân như thực tướng, thì vĩnh viễn không thể vượt thoát lục đạo luân hồi.

Muốn chứng ngộ rằng phiền não và Bồ đề vốn bất nhị, cần phải thấu triệt chân như thực tướng một cách sâu sắc. Phiền não, Bồ đề, nhất như chân thật; Sinh tử, Niết bàn, nhất thể viên dung.

Khi quán chiếu vạn pháp, phải thấy được bản chất thực tính, mới có thể thấu hiểu đạo lý vi diệu này. Người còn mê muội, chưa hiểu, thì vẫn đang ở trong pháp giới thế gian; người đã giác ngộ, liễu đạt chân lý, thì an trú nơi cảnh giới Tịnh độ.

Hôm nay hiểu được, sống trong chánh niệm, thì cảnh giới như ở cõi trời thanh tịnh; ngày nào chưa hiểu, còn vướng khổ đau, thì vẫn luân hồi trong cõi trần thế.

Muốn cho tâm và niệm được thanh tịnh, trước hết phải tịnh hóa tâm mình. Vì thế, Sư phụ thường dạy hai chữ “Tịnh Tâm” – chính là gốc của đạo. Khi tâm thanh tịnh, thì Phật quốc thanh tịnh; tâm tịnh, cảnh giới tịnh –  tâm chính là Tịnh độ.

Khi ấy, người hành giả có thể thường trú nơi tâm Bồ Tát, sống giữa đời mà không nhiễm đời, tùy duyên mà vẫn an nhiên trong chánh pháp.

Tập 115
Xa lìa ảo ảnh, an trụ chân tâm

(05/08/2020)

Tâm thanh tịnh là cõi Phật thanh tịnh. Khi tâm được thanh tịnh, trong tâm quý vị chính là Tịnh độ, nhờ đó có thể thường trú trong hạnh nguyện của chư Bồ Tát.

Nếu tâm còn mê hoặc, giác ngộ và vọng tưởng lẫn lộn, thì con người tất rơi vào điên đảo. Bởi lẽ, mê hoặc và điên đảo vốn tương tùy, không rời nhau. Cảnh giới chân thật là “Như” và “Thị” – nghĩa là chân thực, không hư vọng.

Sư phụ mong quý vị hiểu rằng: có những điều ta chưa biết, có những điều ta chưa đúng; nghĩa là, nếu quý vị chưa nhận rõ được chân tướng của Như Lai, thì mọi hành động và tri kiến đều chưa thể chân thật.

Khi ấy, do tâm mê lầm mà khởi sanh những nhận thức sai lệch trong đời sống.

Rất nhiều người vì hiểu biết sai lệch mà hành vi cũng trở nên sai lệch. Hãy tự quán chiếu: khi quý vị hiểu lầm người khác, thậm chí vu oan cho người khác, kết cuộc chẳng phải chính là đẩy những người lương thiện ra xa hay sao?

Chỉ khi thật sự thấu hiểu con người, quý vị mới có thể hành xử đúng đắn, không rơi vào sai lầm. Trong Phật pháp có dạy: “Bách thiên pháp môn, đồng quy phương thốn.”

Dù muôn ngàn pháp môn có sai biệt, rốt ráo đều quy về một điểm – chính là “Nhất”, là bản thể chân như bất nhị của muôn pháp.

“Công đức vi diệu như cát sông Hằng, tất cả đều phát khởi từ tâm.” Cát – là cát nơi sông Hằng, vô lượng vô biên; “vi diệu” là diệu pháp; còn “đức” là đạo đức. Cũng như thế, “diệu” và “đức” vốn bất phân – diệu chính là đức hạnh, trí tuệ giải thoát chính là đạo đức chân thật.

Khi một người thật sự thấu đạt đạo lý này, có thể tự nhủ: “Ta không còn chấp trước, ta không còn ưu phiền,” thì ngay khi ấy, đức hạnh chân như đã được hiển lộ. Người ấy có đức hạnh hay chăng? Muôn pháp vốn bất khả phân, đều lưu xuất từ suối nguồn tâm tánh.

Giới, Định, Tuệ là ba học căn bản giúp tăng trưởng trí tuệ. Người giữ gìn giới hạnh thanh tịnh, tất nhiên trí tuệ sẽ tự nhiên khai mở; bởi giới là nền tảng của định, định là nguồn sinh của tuệ.

Có khi một sự việc khiến tâm ta bối rối, phiền não dấy khởi, dù trăm lần suy tư cũng không tìm ra lối giải. Thế nhưng, đến một khoảnh khắc nào đó, tâm bỗng nhiên khai mở, mọi điều trở nên sáng tỏ – ấy chẳng phải là thần thông sao?

Khi đã thấu hiểu, quý vị liền mỉm cười tự nhủ: “Ha ha, chẳng sao cả, việc này có gì đáng để bận tâm?” Ngay trong khoảnh khắc buông xả ấy, quý vị đã thật sự thực chứng diệu hữu. Bởi vì tâm đã thông suốt, cảnh giới liền chuyển hóa. Đó chính là chân như thực tướng – là lúc quý vị nhìn thấu vạn pháp, hiểu rằng:

“Không sao cả, đừng tranh cãi nữa, vô ích thôi; ngày mai ta vẫn phải tiếp tục sống.”

Quý vị có nhận ra chăng, đó chính là sự chuyển hóa nhiệm mầu của thần thông? Bởi vì phải chăng tâm niệm của quý vị đã biến chuyển? Tâm thức của quý vị đã chuyển hóa chưa? Nếu tâm đã chuyển, chẳng phải quý vị đã hiểu được diệu dụng của chân thần thông, tức là sức tự tại hiển lộ từ tự tánh đó sao? Khi trí đã sáng, quý vị tự nhiên thấu triệt lòng người; chẳng còn muốn tranh biện, chẳng còn lời trách mắng, ánh nhìn cũng trở nên an tĩnh. Đó chính là khoảnh khắc tâm trở về tự tánh, thấy được chân như hiện tiền.

Sư phụ từ góc độ tâm lý học chia sẻ cho quý vị: Khi một người trong tâm còn chứa ma chướng, thì tâm ấy trở nên vô cùng nhạy cảm (very sensitive). Nếu quý vị đối thoại với họ mà chỉ khởi lên một niệm nghi ngờ, một chút ngờ vực, hay vô tình để lộ thái độ khiến họ cảm thấy khó xử, thì ngay lập tức họ sẽ thu mình lại, lánh đi, rồi sinh tâm suy diễn, nghĩ rằng quý vị đang chế giễu, mỉa mai, thậm chí là khinh chê họ.

Muốn giúp người, phải giúp bằng tâm. Phải “tự tâm đầy đủ, chẳng lìa tự tâm.” Bất luận làm việc gì, nếu muốn thành tựu, đều không thể rời tâm mà làm. Tu tâm phải dùng tâm, giúp người cũng phải dùng tâm. Khi quý vị làm việc với tâm chân thành, chuyên chú, chẳng phải đó là đang hành đạo bằng chân tâm sao? Không có chân tâm, làm sao người khác có thể cảm nhận và tiếp nhận được sự giúp đỡ của quý vị? Việc gì lìa tâm, không đem hết lòng, thì làm sao có thể viên mãn thành tựu?

Vì thế, tất cả phiền não đều do tâm mà khởi, mọi nghiệp chướng cũng từ tâm mà sinh. Tâm khởi nghiệp, thì chướng liền hiện; tâm sanh phiền não, thì oán hận liền sinh.

Nhưng tâm của quý vị vốn tịch nhiên, vốn rỗng lặng – bởi tự tánh vốn thanh tịnh, không có vọng niệm. Chỉ vì nhân duyên và nghiệp lực nối tiếp không dứt, nên những vọng tưởng như mộng huyễn, như bọt nước, chợt hiện rồi tan, chợt sinh rồi diệt trong dòng tâm thức. Khi chưa thấu triệt chân tướng, tâm vẫn còn bị ràng buộc trong tam giới, vẫn còn lún sâu trong ngũ hành – làm sao có thể cảm ứng, cầu được Bồ Tát gia hộ?

Nguyện cho đại chúng thấu hiểu rằng, con người cần nuôi dưỡng tâm bình đẳng – ấy chính là căn bản của trí tuệ và từ bi.

Đối nhân xử thế bằng tâm bình đẳng, quán chiếu vạn pháp mà không chấp trước, đó chính là tâm bình đẳng. Dù trong bất kỳ cảnh duyên nào, chỉ cần lấy tâm bình đẳng, tâm từ bi, tâm cảm thông và tâm trắc ẩn mà giúp người, thì tâm tâm tương ấn, người ấy ắt sẽ cảm động trước tấm lòng chân thành của quý vị.

Sở dĩ Đức Phật có thể cứu độ vô lượng chúng sinh, là bởi Ngài khai thị cho chúng ta con đường “Đại đạo hư khoáng, tuyệt tư tuyệt lự” – khiến tâm rộng lớn như hư không, không còn vướng mắc suy tư, không bị ràng buộc bởi vọng tưởng.

Chúng ta chớ nên đắm chìm trong vọng tưởng, chớ nên chấp niệm sầu ưu. Bởi phần lớn những điều khiến ta sợ hãi, khổ đau hay bất an, kỳ thực chỉ là huyễn ảnh do tự tâm tạo tác mà thôi.

Hãy thấu triệt rằng, Đức Phật và chúng sinh vốn đồng một thể tánh, chẳng khác biệt gì nhau; chỉ vì chúng ta chưa chứng đạt cảnh giới giác ngộ của Như Lai mà thôi. Khi quý vị thật sự hiểu được Phật, há chẳng phải ngay khi ấy tự tâm chính là Phật sao? Bởi Phật vốn thường trụ nơi tự tâm, chẳng lìa tâm mà cầu được.

Vì Phật ở trong ta, mà Ngài đã thoát ly tam độc tham, sân, si, nên chúng ta cũng phải dứt trừ tham, sân, si, buông bỏ hết thảy vọng tưởng về thiện và ác. Rốt ráo mà nói, thiện hay ác đều chỉ là pháp vận hành của nhân quả, chẳng có gì cố định.

Như Kinh dạy: “Hành, trụ, tọa, ngọa; phàm khi chạm duyên, tiếp cảnh – đều là diệu dụng của Phật. Khi thấu hiểu rằng: “Hôm nay ta đi bộ cũng tốt, ngồi xuống cũng tốt, ở trong căn nhà này cũng tốt, ngủ nghỉ cũng tốt –  tất cả đều là Phật tánh thường trụ,” thì tâm tự nhiên an tĩnh, bình hòa, không còn dao động trước cảnh duyên.

Bởi mỗi sự việc xảy đến đều là duyên khởi tương hội, chỉ cần thuận duyên mà hành, không tranh giành, không chấp trước, không cưỡng cầu, thì ngay khi ấy, diệu pháp liền hiển lộ. Diệu dụng của Phật, tức là diệu dụng của Phật tánh nơi tự tâm, vốn đồng nhất, không sai khác, xưa nay viên dung bình đẳng.

Như câu kệ dạy rằng: “Cảnh duyên vô hảo xấu, hảo xấu khởi tại tâm.”

Nghĩa là, muôn cảnh duyên trong đời vốn chẳng có tốt xấu tuyệt đối; chỉ do tâm mà phân biệt. Nếu tâm rõ biết, dù gặp nghịch duyên, cũng có thể chuyển nghịch thành thuận, hóa khổ thành an. 

Khi có một người tìm đến quý vị, nếu quý vị có thể mở lòng kết giao, lấy tâm thiện mà đối đãi, thì duyên ấy liền trở thành thiện duyên. Còn việc duyên ấy hóa lành hay thành dữ, đều tùy thuộc vào tâm niệm của chính quý vị.

Thí dụ như có người mang đến một đứa trẻ, không nói rõ lai lịch, chỉ bảo rằng: “Xin nhờ quý vị thương yêu, chăm sóc cho cháu, chúng tôi sẽ hỗ trợ phần nào để cháu được nuôi dưỡng – đứa bé này thật đáng thương.” Rồi đứa trẻ ấy được gửi đến.

Nếu mỗi ngày quý vị đối xử với nó bằng lòng chân thật, dùng tâm từ mà chăm sóc, thì đến một ngày, nhân duyên sẽ tự hiển lộ, và quý vị sẽ biết được thân thế chân thật của đứa trẻ ấy.

Có những người, ngày ngày đối xử không tốt với một đứa trẻ. Cho đến khi đứa trẻ khôn lớn đôi phần, người đã gửi gắm nó mới nói: “Quý vị có biết chăng, đứa trẻ này chính là con ruột của quý vị? Khi xưa, vì không muốn nuôi dưỡng, quý vị đã đem gửi nơi hàng xóm để chăm sóc.”

Lúc ấy, tâm quý vị sẽ khởi niệm thế nào? Nếu ngay từ đầu biết rằng đứa trẻ ấy là con của mình, liệu quý vị có còn đối xử như vậy chăng? Phải chăng khi ấy, tâm liền chuyển hóa, lương tri bừng tỉnh, và từ tâm liền sinh khởi?

Ví dụ này là để minh thị rằng: muôn hành, muôn nghiệp của con người đều do tâm mà phát khởi, tâm sẽ chuyển khi trí huệ thấu đạt chân tướng nhân quả và thực tánh của các pháp.

Vì vậy, câu “Cảnh duyên vô hảo xấu, hảo xấu khởi ư tâm” chính là minh thị rằng: thiện – ác, tốt – xấu, đều do tâm mà sinh. Khi tâm chuyển, cảnh duyên cũng theo đó mà chuyển; khi tâm thanh tịnh, vạn pháp đều hiển hiện trong tánh thanh tịnh ấy. Dẫu đứa trẻ kia dung mạo không đẹp, quý vị vẫn thấy đáng yêu, thậm chí rơi lệ vì cảm động – bởi tâm đã hồi quang, Phật tánh đã hiển lộ.

Con người sở dĩ có khi xúc động, cảm động, đau khổ hay tràn đầy pháp lạc, tất cả đều do nhất niệm của tâm mà khởi. Người học Phật chân thật cần tu để làm cho tâm an tĩnh, thanh minh, đạt đến chỗ không còn dùng vọng tâm chấp trước, tâm vị ngã mà ứng xử với thế gian.

Giả như hôm nay có một đứa trẻ được trao cho quý vị chăm sóc, nếu tâm còn vị kỷ, liền khởi niệm: “Ôi, thật phiền toái! Sao lại phải chăm sóc đứa trẻ này? Dẫu có chút tiền chu cấp, nhưng cực nhọc biết bao.”

Vậy nên, hãy buông bỏ ý niệm chấp trước ấy. Hãy đối đãi với đứa trẻ bằng tâm bình thản, an nhiên; khi đó, quý vị sẽ không còn bám víu, cũng không còn tâm thương hại hay phân biệt.

Vậy, những cảm xúc sai lầm ấy từ đâu sinh khởi?

Cảm xúc từ đâu mà có? Đều là hư vọng, giả huyễn.

Khi yêu đương, ai chẳng mong được sánh đôi trọn kiếp? Khi đối đãi tốt với một người, tâm liền dốc hết lòng, quên cả bản thân, chỉ nghĩ đến người kia – đó chính là ái chấp, dính mắc trong tình cảm.

Nhưng chữ “vọng” ở đây, nghĩa là hư vọng, vì mọi thứ tình ái trong đời đều tùy duyên mà đổi thay, đến rồi đi, hợp rồi tan. Một khi duyên đổi, tâm liền dao động, phiền não phát sinh, ấy là nguồn gốc của khổ đau. Khi đã thấy rõ điều này, biết buông ái chấp, thì chân tình mới hiển lộ.

Tình yêu chân thật ở đâu? Ở ngay trong tâm thanh tịnh của chính mình.

Phật pháp dạy rằng: “Nếu người có thể xả chấp, dứt trừ vọng niệm, liền chứng Phật quả.” Nghĩa là, khi ta dập tắt mọi chấp niệm hư vọng, quên đi những bám víu không thật, thì Phật tính tự hiển lộ, chân tâm tự sáng, vĩnh viễn an trú trong bản thể giác ngộ.

Bởi lẽ, “Pháp ở thế gian, Chẳng rời thế gian giác.” Ngay trong đời sống này, nếu tâm sáng suốt mà hành, thì giữa cõi trần tục cũng chính là nơi hiển lộ đạo tâm.

Khi quý vị biết tìm về và nương tựa nơi Phật pháp, tức là đã khởi trí tuệ, đã thấu hiểu được Phật pháp ngay giữa đời thường.

Ngược lại, nếu hôm nay vẫn còn vướng mắc trong duyên trần, lăn lộn giữa ngũ trược ác thế, thì ắt sẽ tiếp tục mê lầm, điên đảo trong vòng sinh tử của thế gian.

Phật pháp dạy rằng: Pháp vốn chẳng lìa đời, mà giác ngộ ngay nơi đời mới là chân thật. Bởi vậy, nguyện cho tất cả hàng Phật tử đều sớm tỉnh ngộ, chuyển hóa tự tâm, vượt thoát sáu nẻo luân hồi, trở về với tự tánh thanh tịnh xưa nay.

Trong giáo pháp thường dạy: “Nan hành chi sự” –  nghĩa là “việc khó hành trì”. Trên thế gian này, có vô lượng việc thật khó thành tựu. Cái gọi là “Nan hành chi sự”-  chính là nói đến chữ khó ấy.

Người đời thường than: “Việc này khó quá, con không làm được.” Nhưng ngay khi khởi niệm như thế, tâm đã thoái lui rồi. Bởi người tu, một khi không còn nỗ lực tinh tấn, không còn tự mình vượt qua chướng ngại của bản thân, thì đạo tâm đã lui sụt, công hạnh cũng theo đó mà dừng lại. Chính do vậy mà việc trở nên khó, và người hành đạo cũng tự khiến mình thoái chuyển.

Tinh tấn là phẩm hạnh tối thắng của người học Phật. Người có thể bền tâm tu học theo chánh pháp suốt mười năm, hai mươi năm, thậm chí ba mươi năm, thật là bậc hiếm có – vì trong họ, Phật tính đã hiển lộ giữa đời thường.

Chúng ta thường nghe dạy rằng: “Phát tâm thì dễ, giữ tâm mới khó.” Trong việc học Phật, nhiều người thuở ban đầu phát tâm tha thiết trước chư Phật, chư Bồ Tát, nguyện rằng: “Con nguyện…, con nguyện,… con sẽ…”

Thế nhưng, thời gian dần trôi, chí nguyện ấy lại phai nhạt, không thể kiên trì đến cùng – thật là điều đáng tiếc. Người học Phật, người tu tâm, chỉ cần giữ được tâm tinh tấn bền bỉ, thì tự nhiên tâm ấy sẽ trở nên thanh tịnh.

Như lời Sư phụ dạy: “Người có thể giữ được tinh tấn, thì tâm ấy ắt được thanh tịnh.” Hãy thử nghĩ xem, người thường xuyên lau dọn nhà cửa, thì nhà ấy có sạch hay không? Chính nhờ sự thường hằng mà thành ra thanh tịnh; người biết giữ thanh tịnh, ắt biết nhẫn nhục, biết trì giới, biết hộ tâm mình.

Trong mọi việc, chỉ cần có lòng kiên trì chuyên nhất, thì dù việc khó đến đâu cũng không còn là “nan hành chi sự”. Một người có thể tinh tấn tu hành suốt mười năm, hai mươi năm, không gián đoạn – người khác nhìn vào đều phải thán phục:

“Ôi, chẳng dễ gì! Hàng chục năm mà vẫn kiên định, vẫn tu hành tinh tấn như vậy!” Người tinh tấn, đối với họ, không có gì là khó cả.

Sư phụ lấy một ví dụ đơn giản: Có những người ngày nào cũng quen thói ngủ nướng; nếu bảo họ dậy sớm, ban đầu họ sẽ cảm thấy vô cùng khó chịu, phải không? Việc đó đối với họ quả thật là điều khó thực hành.

Thế nhưng, nếu mỗi ngày họ đều tinh tấn dậy đúng giờ, lâu dần sẽ thành thói quen, và việc ấy trở nên tự nhiên, không còn khó khăn nữa. Cho nên, quý vị cần phát huy tâm tinh tấn rộng khắp. Hôm nay Sư phụ muốn nhấn mạnh với quý vị rằng: Tinh tấn là pháp hạnh vô cùng trọng yếu.

Người có thể phát huy tinh tấn bền bỉ, ắt sẽ gây dựng được lòng tin chân thật nơi người khác. Hãy suy ngẫm mà xem: nếu mỗi ngày quý vị đều chân thành đối xử tốt với người khác, thì tinh tấn chính là tấm lòng thường hằng, –  “Ngày nào tôi cũng thiện tâm, ngày nào tôi cũng từ hòa, không đổi thay.” Chẳng phải quý vị có thể chiếm được lòng chân thành của người khác sao?

Trong xã hội này, nhiều người phản đối, không tin tưởng, thậm chí khinh thường quý vị. Tại sao vậy? Bởi vì quý vị thiếu kiên trì. Đôi khi quý vị đối xử tử tế với họ, đôi khi lại không; điều đó khiến người khác sanh tâm sợ hãi.

Khi thuận lợi, họ thấy quý vị thật tốt bụng, thật thân ái: “Ồ, thật thiện lành, thật đáng quý…” Nhưng khi quý vị không vui, đối xử thiếu thiện ý, họ lại thấy quý vị như chiếc thuyền trôi dạt, không bến bờ. Làm sao họ có thể thật lòng với quý vị? Làm sao họ có thể chân thành với quý vị? Do đó, chân thành không cần dựa vào năng lực.

Sư phụ nói với quý vị: ngay cả những người không có năng lực lớn, chỉ cần họ có tấm lòng chân thành và tâm thanh tịnh, người khác cũng sẽ cảm nhận được sự chân thật và trung thực nơi họ. Vì vậy, nếu quý vị sở hữu kiên trì và tâm thanh tịnh, người khác sẽ vô cùng biết ơn. Hơn nữa, Phật quang sẽ chiếu soi quý vị; ngay trong khoảnh khắc ấy, quý vị có thể chứng đắc thiện quả.

Tập 116
Tự Tại Giải Thoát Chính Là Huệ Mạng

(05/08/2020)

Một người giữ được tâm kiên định và tấm lòng thanh tịnh, ắt sẽ được chúng sinh cảm mến sâu xa. Khi Phật quang chiếu soi và phản chiếu trong tự tâm, ngay trong khoảnh khắc ấy, thiện quả liền hiển hiện.

Nếu một người có thể bền lòng trì chí, luôn giữ tâm từ bi, hành thiện đối với muôn loài, thì hãy quan sát nơi quả báo, ắt sẽ thấy thiện duyên tự sinh. Thí như có người hoài nghi hoặc phỉ báng quý vị, nhưng quý vị vẫn lấy lòng thiện lành đối đãi, thì chính sự thanh tịnh nơi tâm sẽ dần hóa giải mọi nghi hoặc.

Đó chính là sức mạnh nhiệm mầu của tâm kiên định, cũng là nền tảng căn bản để chứng ngộ thiện quả.

Vậy, con người nên nuôi dưỡng tấm lòng chân thật như thế nào?
Có những người tuy phát tâm tu, nhưng chân tâm ấy chỉ hướng về cầu phước báo, tự nghĩ rằng: “Ta muốn được lợi lạc, được phước lành, được thiện quả.”
Song, cũng có những người chân tâm thanh tịnh, chỉ cầu tu tâm – hành thiện, mà không hề mong cầu phước báo.

Thật ra, người giữ được chân tâm thanh tịnh sẽ không bị ràng buộc bởi những toan tính, vọng niệm vô tận. Họ tự tại như tấm lòng cha mẹ đối với con cái – chân thật, bao dung, không cầu báo đáp. Theo thời gian, đứa con ấy tự khắc sẽ giác ngộ.

Nếu một ngày, thấy con chưa thấu triệt mà sinh lời trách: “Vì sao con vẫn chưa giác ngộ?”, thì ấy chính là tâm từ bi của chính mình chưa đủ kiên trì, chưa đủ bền bỉ, nên sự chuyển hóa nơi con vẫn chưa thành tựu.

Trong thế gian này, nhiều việc cần thuận theo thời gian và nhân duyên mà thành. Thời gian chưa chín muồi, giác ngộ chưa thể hiển lộ. Sư phụ thường dạy: “Nước chưa sôi, thời chưa đến, làm sao có thể sôi?”
Giờ ăn chưa tới, dù có mong cũng chẳng thể ăn sớm hơn. Giống như một buổi tiệc buffet, món ăn đã bày sẵn đó, nhưng chưa đến giờ, quý vị cũng không thể tự ý lấy dùng.

Trong tu học Phật pháp, vạn sự đều cần nhờ vào nguyện lực. Người nào có thể thấu hiểu tấm lòng chân thật từ đâu mà sinh, ắt là do căn lành và phúc đức đã vun bồi từ nhiều đời nhiều kiếp.

Một người có thể lấy chân tâm mà đối đãi với tha nhân, há chẳng phải là người đã có căn cơ sẵn đó sao?
Nếu gọi một kẻ cướp hay kẻ sát nhân làm điều thiện, liệu họ có thể thành tựu được chăng?

Cho nên, trong đời này, nếu một người có thể chân thành đối đãi với người khác, có thể dâng hiến trọn vẹn tấm lòng chân thật, thì căn lành của người ấy vốn đã sẵn có, và phúc đức ấy chính là kết tinh từ vô lượng kiếp trước.

Vì vậy, Sư phụ mong quý vị hãy biết thấu hiểu và trân quý người khác. Khi có ai đó chân tâm đối tốt với quý vị, thì người ấy ắt là người có phúc báo sâu dày, có căn lành từ nhiều đời trước.

Bất kỳ ai có thể chân tâm học Phật, chúng ta đều nên xem họ là bậc có thiện căn, có nền tảng lành sâu dày. Khi họ phát nguyện: “Con nguyện học Phật, nguyện lễ bái, nguyện tinh tấn tu sửa bản thân”, thì chúng ta cần nâng đỡ, khích lệ và trợ duyên cho họ – đó chính là thực hành tâm Đại Từ Đại Bi.

Người học Phật, ngoài việc giữ vững chân tâm, còn cần chuyên tâm trì tụng kinh điển, độ hóa chúng sinh, lấy nghĩa chân thật trong lời Phật làm ngọn đèn soi chiếu tự tâm.

Khi lời nói của ta có thể khiến người khác khai ngộ, hiểu đạo, thì ấy chính là lúc chân tâm nơi tự thân được khai triển, trở nên thanh tịnh, sáng suốt và viên mãn hơn.

Không mệt mỏi, kiên trì giúp đỡ người khác, đó chính là biểu hiện của tấm lòng thiện lương chân thật.
Hãy tự quán chiếu: một người thiếu chí kiên định, liệu có thể bền lòng giúp người khác dài lâu hay chăng?
Một người thiếu nhẫn nại, làm sao có thể khiến người khác khai ngộ?
Nếu luôn than phiền, oán trách rằng: “Phiền quá rồi”, thì tâm ấy còn có thể gọi là thiện lương được chăng?

Vì thế, trong Phật pháp, người thật lòng khiến chúng sinh giác ngộ, dùng tâm thiện lành và chân tâm mà trợ giúp, chính là đang hành trì pháp môn tâm địa — tức tu nơi tâm để hiển lộ bản tâm thanh tịnh.

Bản tâm ấy – bất sinh, bất diệt; tự tánh vốn viên mãn đầy đủ; không sinh, không mất, không hoại, không hư — luôn thường trụ giữa muôn duyên, giữa mọi hoàn cảnh.
Đó chính là Phật tính tự tại, là bản tâm thanh tịnh, không bị chi phối bởi tham, sân, si, vọng tưởng hay những hiện tượng giả tạm của thế gian.

Bản tâm tự tại chính là tính giải thoát sẵn có nơi mỗi chúng sinh, vốn không sinh, không diệt, thường trụ và thanh tịnh.
Chỉ cần hồi quang phản chiếu, quán chiếu trở về tự tâm, ta sẽ thấy rõ bản tâm vốn tự tại, vô sinh, vô diệt, không lay động.

Hãy quan sát chính mình: khi đối đãi với người khác bằng chân tâm, cho dù họ có hành xử bất thiện, bất kính hay phỉ báng, tâm quý vị vẫn không khởi sân hận, không sinh phiền não, mà luôn giữ được thiện niệm và lòng từ bi – thì ấy chính là đang sống trong tâm không sinh, không diệt.

Khi đối diện sự vô lễ, sự oan uổng hay phỉ báng, mà tâm vẫn không khởi ý lìa bỏ, không sinh niệm oán trách, đó chính là biểu hiện của chân tâm thường trụ, tâm không sinh, không diệt.

Thuở xưa, Tôn giả A-nan nhiều lần cung kính thỉnh cầu Đức Phật khai thị cho chúng sinh, khiến họ rời xa hư vọng và giả tướng, quay trở về với chân tâm tự tại vốn có, bất sinh, bất diệt.

Vì thế, hôm nay Sư phụ giảng về chân tâm, để quý vị hiểu rằng: Chân tâm chính là tự tại, và tự tại ấy vốn sẵn nơi bản tánh.
Bản tánh tự tại ấy chính là Phật tính giải thoát – mà vì Phật tính vốn giải thoát, nên chân tâm ấy không sinh, không diệt, không lay động giữa muôn duyên

 Vậy, thế nào là “không sinh, không diệt”?
Chính là tánh thường trụ, thanh tịnh, không bị tham – sân – si chi phối, không lay chuyển trước thiện ác, được mất, danh lợi; luôn hiện hữu trong từng hành vi, từng niệm tưởng, không sinh, không diệt.

Hành động của A-nan chính là biểu hiện của từ bi tâm Như Lai: Phật vì chúng sinh mà thuyết pháp, khai thị, cứu độ, dẫn dắt chúng ta thoát khỏi biển khổ sinh tử.
Muốn cứu giúp một chúng sinh, không chỉ là tận lực trợ giúp bên ngoài, mà còn phải thấu hiểu tâm ý của họ, biết đồng hành và dìu dắt họ ra khỏi bóng tối vô minh.

Quý vị cần ghi nhớ: nếu muốn một chúng sinh thực sự thoát khỏi khổ đau, phải hiểu rõ bản tâm họ, cùng họ đi trên con đường giải thoát – chứ không thể chỉ nói lý, nói pháp mà mong kết quả.

Giống như khi còn nhỏ học đi xe đạp, cha mẹ phải dìu dắt, chạy theo để giữ thăng bằng; chỉ cần buông tay, liền ngã xuống.
Cũng vậy, muốn giúp người học Phật còn mê muội, cần có tâm thật sự dẫn dắt, dùng lòng chân thành mà nâng họ dậy, dìu họ bước ra khỏi màn vô minh. Đó mới là chân tâm cứu độ. Chứ không phải “hôm nay đã nói vài câu lý lẽ rồi, vậy là xong việc”. Cứu giúp như thế chỉ là hình thức, là danh nghĩa hư vọng, Không phải cứu người bằng tâm Phật chân thật.

Thật ra, tất cả hình tướng trong thế gian đều là sự biến hiện của tâm.
Khi thấy một sự vật tốt, tâm liền khởi niệm cho rằng đó là điều tốt; khi thấy một sự vật không tốt, thực ra chỉ là tâm mình đang phân biệt như thế – bản chất của sự vật, vốn chẳng thật có tốt hay xấu.

Các vị hãy tự quán chiếu: mỗi chúng sinh đều mang trong mình tâm sân hận, tâm nghi ngờ, tâm hoài nghi.

Sư phụ thường gặp nhiều người đến hỏi: “Thưa Sư phụ, hôm nay Sư phụ có phiền lòng hay không hài lòng với con chăng?”
Sư phụ chỉ mỉm cười đáp: “Không hề.”

Lại có người thưa: “Vì sao khi Sư phụ đi ngang, Sư phụ không nhìn con một lần? Vì sao hôm nay Sư phụ có vẻ không vui?”

Hãy tĩnh tâm quán chiếu: đó không phải là Sư phụ phiền lòng hay bất mãn, mà chính là tâm bất an của quý vị đang khởi động.
Sư phụ có thể chưa hề nhìn thấy quý vị, nhưng vọng tâm của quý vị đã dao động, vọng tưởng theo đó sinh khởi, rồi cảnh giới liền biến hiện theo tâm ấy.

Nếu tâm quý vị khởi niệm: “Sư phụ đã thấy con rồi, chắc Sư phụ đang mỉm cười…” – thì đó chính là vọng tưởng, là sự suy đoán tâm người khác, chẳng phải chân thật.
Bởi vậy, chỉ khi quay về với chân tâm, quý vị mới hiển lộ được diệu dụng của Phật pháp. Chân tâm chính là đạo tràng, chân tâm chính là phương tiện cứu độ chúng sinh; mà cứu độ chúng sinh chính là diệu dụng nhiệm mầu của Phật pháp.

Khi quý vị nhìn thấy người thế gian hay mọi sự việc trần gian, hãy quán chiếu mà biết rằng: tất cả đều là pháp tướng, là hiện tượng duyên khởi hư huyễn, vốn không có thực thể chân thật. Nếu tâm không chấp giữ, không đuổi theo các pháp ấy, thì khổ não từ đâu mà sinh khởi?

Hôm nay, nếu tâm quý vị không khởi niệm “lạnh”, thì quý vị sẽ chẳng thấy lạnh; chính vì tâm khởi cảm nhận nên mới có cảm giác lạnh. Cũng vậy, khi tâm an trú nơi pháp lạc, quý vị liền cảm nhận được an vui – đó chính là pháp hỷ sung mãn.

Tuy nhiên, khi đã hiểu rõ tính Không và tịch tĩnh, thì chớ chấp nơi Không, cũng chớ trụ nơi Tịch; bởi chấp vào Không, ấy cũng là một loại chấp.

Giống như khi quý vị cứu độ chúng sinh – cần phát tâm kiên cố, hành trì chân thật, nhưng vẫn phải thuận theo duyên. Nếu người ấy chưa đủ nhân duyên để giác ngộ, thì chẳng thể cưỡng cầu; thuận duyên mà hóa độ, ấy mới là diệu dụng của tâm từ bi.

Dẫu vậy, khi quý vị dùng chân tâm thanh tịnh để cảm hóa người khác, giúp họ tiêu trừ phiền não, khai mở trí tuệ, thì ngay trong hành động ấy, pháp thân đã hiển hiện khắp nơi.

Vậy nay Sư phụ hỏi lại quý vị: Quý vị có nhận ra pháp thân nơi chính mình chăng?
Khi quý vị giúp đỡ chúng sinh, chính là lúc pháp thân ấy đang hiển hiện.
Khi người khác nghĩ đến quý vị, pháp thân vẫn đang hiện hữu nơi quý vị.
Khi người khác khởi tâm biết ơn quý vị, pháp thân ấy lại càng thêm rạng ngời, viên mãn.

Vì vậy, học Phật chính là học cách giúp người bằng chân tâm, để đón nhận ánh sáng nhiệm mầu của Pháp, khiến pháp thân của quý vị khắp nơi đều hiển hiện như chư Phật, chiếu soi muôn loài chúng sinh.
Hãy tinh tấn học Phật, tinh tấn theo bước Đức Thế Tôn, để chân tâm nơi quý vị được hiển bày trọn vẹn, làm cho thế giới này trở nên thuần thiện và rực sáng hơn.

Lần tới, Sư phụ sẽ tiếp tục cùng đại chúng giảng giải sâu hơn.
Còn hôm nay, Sư phụ muốn kể cho quý vị nghe một câu chuyện khi Đức Phật còn tại thế.

Thuở ấy, có một vị Tỳ-kheo thường mang tâm ưa suy tư, nghiền ngẫm về mười bốn câu hỏi nan vấn.
(Sư phụ sẽ giảng rõ cho quý vị biết trong dịp sau, để hiểu thế nào là “mười bốn câu hỏi nan vấn” ấy).

Vị Tỳ-kheo này vốn có thói quen quan sát và suy xét sâu xa về các pháp, nhưng lại không thể thấu đạt chân lý.
Ông thường tự hỏi:
“Ôi, việc này rốt cuộc là thế nào?
Vì sao trong nhân gian lại có quá nhiều điều huyền diệu, khó phân minh đến như vậy?”

Tâm vị ấy vì mải miết theo dòng vọng tưởng, nên ngày đêm chẳng được an ổn – ngồi cũng chẳng yên, nằm cũng chẳng an, tâm luôn bị ràng buộc bởi những câu hỏi chưa lời giải.

Một hôm, vị Tỳ-kheo bưng bát, khoác y, cung kính đến trước tịnh thất của Đức Thế Tôn, chắp tay đảnh lễ, rồi bạch rằng:

“Bạch Đức Thế Tôn! Xin Ngài từ bi giảng giải cho con rõ mười bốn câu hỏi nan vấn, được chăng?

Nếu hôm nay con được Thế Tôn khai thị, tâm con được sáng tỏ viên mãn, con nguyện quy y làm đệ tử, suốt đời tuân hành giáo pháp của Ngài.

Nhưng nếu Thế Tôn không thể giải thích cho con, thì con sẽ phải tìm cầu nơi khác.”

Ông đã bạch với Đức Phật như thế.

(Chúng ta ngày nay đều biết Đức Thế Tôn là bậc vĩ đại vô cùng, nhưng vào thời điểm ấy, những vị Tỳ-kheo được sống gần Ngài vẫn chưa hẳn đã nhận thức trọn vẹn về sự vĩ đại đó.)

Đức Phật điềm tĩnh, từ hòa bảo vị Tỳ-kheo rằng:

“Trước đây, con từng phát nguyện rằng: Nếu Như Lai có thể giải đáp tường tận mười bốn điều nan vấn ấy, con sẽ phát tâm quy y, làm đệ tử của Ta — có phải chăng?”

Vị Tỳ-kheo vội thưa:

“Bạch Thế Tôn, không có đâu! Con chưa từng nói lời nào như thế cả!”

Đức Phật liền từ bi khai thị:

“Con thật là kẻ mê muội! Đến nay, vì sao lại khởi tâm nói rằng: ‘Nếu Thế Tôn không thể giải đáp, con sẽ chẳng làm đệ tử’ v.v.? Như Lai ra đời, chỉ vì muốn thuyết pháp cho những ai còn đang trôi lăn trong sanh, lão, bệnh, tử, giúp họ tìm cầu con đường giải thoát.

Còn mười bốn điều nan vấn mà con nêu ra kia, đều chỉ là pháp thuộc về tranh luận, biện giải, hoàn toàn chẳng mang lại lợi ích gì cho việc tu tâm chứng đạo. Những lời bàn luận như thế, phần nhiều chỉ là hý luận vô ích, hay trò đàm tiếu rỗng không của thế gian.

Hà tất con phải đem lòng chấp trước mà khởi những câu hỏi như vậy làm chi?”

Đức Phật lại từ bi giảng rằng:

“Giả sử Ta có vì con mà giải đáp, thì con cũng chưa chắc thật sự thông đạt. Dẫu có đem tâm suy lường đến suốt một đời, e rằng vẫn không thể biện giải cho thấu suốt.

Rốt cuộc, đối với những vấn đề khẩn thiết của đời người như sanh, lão, bệnh, tử, con há chẳng vẫn mê mờ, chẳng thể được giải thoát đó sao?

Thí như có người bị mũi tên độc bắn trúng, thân nhân liền vội vàng muốn gọi thầy thuốc đến rút tên và bôi thuốc. Nhưng người này lại nói: ‘Khoan đã! Chớ vội rút tên! Trước hết ta muốn biết: tên họ của người bắn ta là gì? Cha mẹ người ấy sinh ở đâu, tuổi tác bao nhiêu?

Còn nữa –  mũi tên này do đâu mà có? Phát xuất từ ngọn núi nào? Làm bằng loại gỗ chi? Dùng thứ lông chim gì để làm vũ? Đầu tên được rèn từ kim loại nào? Còn cây cung kia, chế từ loại gỗ ở ngọn núi nào? Còn chất độc bôi trên mũi tên, xuất xứ nơi đâu, tên gọi ra sao, thuộc loại độc dược gì?’

Vậy phải chăng, chỉ sau khi biết rõ hết thảy những điều ấy, người này mới chịu cho thầy thuốc rút tên và bôi thuốc?”

Nói đến đây, Đức Thế Tôn quay sang hỏi vị Tỳ-kheo:

“Này Tỳ-kheo, theo con nghĩ, có cần đợi người ấy biết rõ mọi chi tiết như thế rồi mới nên cứu chữa chăng?”

Vị Tỳ-kheo đáp:

“Bạch Thế Tôn, không cần biết hết. Nếu phải chờ đến khi người ấy hoàn toàn hiểu rõ, thì e rằng đã chẳng còn sống nổi.”

Đức Phật dạy:

“Trường hợp của con cũng chẳng khác là bao.
Cái mũi tên độc của tà kiến đã sớm cắm sâu trong tâm con rồi.
Nay Như Lai muốn giúp con nhổ bỏ mũi tên ấy, để con được giải thoát, trở thành đệ tử của Như Lai.
Thế nhưng con lại chẳng chịu rút tên, mà còn vọng cầu biện luận những điều vô ích như:
Thế gian là thường hay vô thường? Hữu biên hay vô biên? cùng những câu hỏi thuộc mười bốn nan vấn kia.

Những điều ấy, Như Lai nói, chỉ là hý luận rỗng không, chẳng mang lại lợi ích chân thật cho đạo tâm. Nếu con mãi mê đuổi theo những vọng tưởng hư huyễn ấy, thì trước khi tìm ra lời đáp, e rằng con đã đánh mất mạng căn trí tuệ – chẳng khác gì kẻ ngu si, tự mình rơi vào đêm dài vô minh, chẳng khác chi người tự gieo thân vào bóng tối.”

Quý vị có biết ý chỉ mà Đức Phật muốn tuyên dạy qua lời ấy chăng? Nghĩa là: bất kỳ ai học Phật, nếu chỉ mãi truy cầu nơi giáo lý, chấp trước nơi văn tự, mong dùng tư duy phân biệt để thấu đạt Phật pháp, mà chưa thật sự khai ngộ tự tâm, thì ấy chính là lầm đường lạc lối.

Khi khởi tâm nghiên cứu những điều vốn không cần thiết, thì ngay trong khoảnh khắc ấy, thời gian quý báu cùng mạng mạch trí tuệ của chính mình đã dần dần tiêu mất – đó chính là điều mà Đức Thế Tôn đã ân cần khai thị.

Vị Tỳ-kheo, sau khi nghe Phật thuyết, vô cùng hổ thẹn, liền liễu ngộ được lời Phật. Do vậy, ông đảnh lễ Đức Phật làm Thầy, và từ đó chứng đắc quả A-la-hán.

Câu chuyện này được ghi chép trong Đại Tạng Kinh.

Quý vị hẳn cũng khởi tâm muốn biết, mười bốn điều nan vấn ấy kỳ thực phần lớn đều là những câu hỏi siêu hình, bàn đến những vấn đề vượt ngoài phạm vi của sự tu chứng thực hành.

Chẳng hạn, điều thứ nhất hỏi rằng:

“Thế giới này rốt cuộc là như thế nào?

Là thường chăng, hay vô thường chăng?

Là vừa thường vừa vô thường chăng,

hay cũng chẳng phải thường, chẳng phải vô thường chăng?” – chính là những loại nan vấn hý luận như thế.

Vấn đề thứ hai :

“Thế gian này là hữu biên hay vô biên?”
(Biên, tức là giới hạn về không gian).
Hay nói cách khác, có không gian hay không có không gian?
Hoặc vừa có biên vừa vô biên?
Hay cũng chẳng có biên, chẳng vô biên?

Ví như trong đời, có người hỏi: “Ông là người thiện hay kẻ ác?”
Nếu nói là người thiện, thì vẫn có khi tâm chưa thuần thiện; nếu nói là kẻ ác, thì người ấy lại vốn là người học Phật, nhiều khi cũng tinh tấn hành thiện.
Vậy rốt cuộc là thiện hay ác?

Đức Phật dạy rằng những câu hỏi như thế đều là hý luận, chẳng đem lại lợi ích chân thật cho việc tu hành.
Chấp trước nơi đó, chỉ khiến người ta phung phí thời gian, tiêu hao trí tuệ, làm cho ánh sáng minh triết nơi tâm dần dần tắt lịm.

Còn nữa, về thân và tâm của quý vị – trước đây ở trong giới Phật pháp, các bậc Thánh đã từng chuyên tâm nghiên cứu và biện luận những vấn đề này:

Thân và tâm là một thể hay hai thể có sai biệt?

Nay quý vị hãy tự quán chiếu:
Thân là thân, tâm là tâm, dường như có sai biệt, phải chăng?
Nhưng nếu nói có sai biệt, Sư phụ lại dạy rằng:

“Vốn không sai biệt, vì thân là sự biểu hiện của tâm, tâm là chủ thể vận hành thân; hai mà chẳng hai, chẳng hai mà lại hai.”

Nếu nói không sai biệt, thì quả thật cũng có sai biệt –
vì thân có hình tướng, còn tâm vốn vô tướng.
Chỉ khi thấu triệt lý bất nhị, mới hiểu được pháp giới viên dung, rằng thân tâm vốn chẳng lìa nhau.

Vậy rốt cuộc, có phân biệt hay không phân biệt? Giống như Sư phụ vừa nói, con rốt cuộc là người tốt hay người xấu? Người tốt sao lại làm điều ác? Nói con xấu, sao con vẫn tu tâm, vẫn nỗ lực như vậy?

Còn nữa, vấn đề về Đức Như Lai sau khi viên tịch cũng thuộc trong mười bốn nan vấn. Người đời thường nêu ra những câu hỏi : “Sau khi Như Lai diệt độ, Ngài còn tồn tại chăng? Hay là không? Hay vừa có vừa không? Hay chẳng phải có, cũng chẳng phải không?” 

Quý vị đều biết, Như Lai là gì chăng? Như Lai là Niết-bàn, là bậc đã viên thành nhân cách toàn hảo, chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Như Lai, Phật, phải chăng là vậy? Vậy rốt cuộc có hay không? Như Lai có hiện hữu trong tâm chúng ta chăng? Có, chính là có. Nhưng thử hỏi, chư vị có thấy Như Lai bằng mắt thường chăng? Không thấy, mà vẫn có. Rốt cuộc, là có hay không? Vừa có vừa không.

Vậy những câu hỏi ấy, khi chấp trước mà truy cầu, rốt cuộc có ý nghĩa gì cho việc tu chứng giải thoát chăng?

Đức Phật dạy rằng: chúng sinh thường mê lầm trong các pháp thế gian – mãi đắm chìm trong việc nghiên cứu, truy cầu và tranh biện về những sự việc ấy. Nhưng càng sa vào phân biệt, càng tổn hao phước trí, bởi thời gian đã mất đi, trí tuệ cũng theo đó mà suy giảm.

Như lời cổ đức từng dạy:
“Thà tranh luận với người có trí, còn hơn đàm thoại với kẻ vô minh,”vì kẻ thiếu trí thì lời nói dễ khơi vọng, khiến tâm ta nhiễm mê, trí tuệ dần lu mờ. Người không có trí tuệ thì không thể khơi dậy nơi ta tâm tinh tấn. Bởi vậy, đối với những cuộc tranh luận vô nghĩa, Đức Phật đều im lặng, không đáp.

Thuở xưa, có rất nhiều người đến thưa hỏi Ngài rằng:
“Bạch Thế Tôn, thế gian này là có hay là không? Là hữu hay là vô? Là có phi có, hay là chẳng có chẳng không?”

Đức Phật, với bản tâm giác ngộ viên mãn, chỉ dạy một lời mà muôn đời ghi nhớ –  ấy là “Vô ký.”
Nghĩa là, Phật không trả lời, vì những câu hỏi ấy vốn chẳng có thật nghĩa để luận bàn. Quý vị hiểu được chăng?

Chúng ta học Phật phải hiểu rằng, Bồ Tát không giác tha sự, chỉ giác tự tâm. Vì sao vậy? Bởi khi tự tâm được giác ngộ, muôn pháp liền hiển bày; khi tự mình minh triệt, thế gian liền sáng tỏ.

Trong Kinh dạy:
“Nhân giác tự tâm giả, tức vi giác nhất thiết chúng sinh chi nhân.”
Nghĩa là, người có thể tự giác tâm mình, chính là người có khả năng giác ngộ tất cả chúng sinh.

Người đời thường chẳng biết mình là ai, chẳng hiểu nổi tâm mình đang vọng hay đang tịnh – vậy thì làm sao có thể khai thông cho kẻ khác? Như Sư phụ đã dạy, nếu hôm nay Sư phụ không rõ mình đang giảng điều chi, thì làm sao có thể khiến quý vị được khai ngộ?

Học làm người, điều cao quý nhất chính là: dù người khác có hiểu hay không hiểu, ta vẫn giữ được một tâm trí tuệ sáng suốt, không tranh hơn thua, không lợi mình mà hại người.

Đời người hữu hạn, trí huệ cũng hữu hạn. Nhưng người học Phật cần ghi nhớ: chỉ khi nào chúng ta biết đem sinh mệnh và huệ mệnh của chính mình hòa nhập cùng sinh mệnh của muôn loài chúng sinh, thì khi ấy mới thật sự có được một huệ mệnh vĩnh hằng, bất hoại, chẳng bao giờ suy diệt.

Xin tri ân đại chúng.

Kết luận:
Pháp môn Tâm Linh của Quán Thế Âm Bồ Tát có năng lực diệt trừ mọi khổ đau – chân thật, chẳng hư vọng. Tất cả những ai hữu duyên tu học pháp môn này đều cảm nhận sâu sắc lòng đại từ vô duyên, đại bi đồng thể của Ngài Lư Đài Trưởng, người đã dốc lòng hoằng dương pháp môn Quán Thế Âm Bồ Tát để cứu độ muôn loài chúng sinh.

Pháp môn Tâm Linh chính là diệu dược thần y cứu độ những người đang mang bệnh hư vọng, giúp họ hóa giải oan kết, trả dứt những món nợ sâu dày nhiều đời nhiều kiếp, tiêu trừ nghiệp chướng đã tích tụ từ vô lượng kiếp, để rồi thoát khỏi biển khổ luân hồi.

Đối với những Phật hữu dù đã tu học Phật pháp nhiều năm nhưng vẫn còn lạc giữa màn sương vô minh, Pháp Môn Tâm Linh chính là ngọn minh đăng chỉ đường sang bờ giác ngộ.

Chỉ cần chí thành y theo sự chỉ dẫn của Ngài Lư Đài Trưởng mà tinh tấn hành trì – tụng kinh, phóng sinh, phát nguyện – ắt sẽ đạt được sự cảm ứng và lợi lạc sâu xa, mỗi người tùy theo căn duyên mà đều có chỗ chứng nghiệm và thể hội riêng.

Vì sao lại có sự sai khác trong mức độ cảm ứng và lợi lạc nơi mỗi người?
Chúng ta cho rằng, ngoài yếu tố căn cơ và nghiệp lực riêng biệt của từng chúng sinh, nguyên nhân chủ yếu là do đa phần chỉ chú trọng học “phương pháp”, mà chưa thật sự nắm được chân nghĩa của “tu tâm.”

Đặc biệt, ba độc tham – sân – si trong tự thân chưa được thanh lọc triệt để, khiến năng lượng tâm linh chưa đủ thanh cao.

Phương pháp giải quyết chỉ có một: phải dụng công nơi tu tâm, phải tinh tấn theo bước chân Ngài Lư Đài Trưởng, hòa mình cùng thời pháp, hành trì đúng theo Pháp môn Tâm Linh.

Có như vậy, đời này mới được an lạc, sống có ý vị, và đời sau ra đi nhẹ nhàng, không vướng bụi trần, không mang theo chấp niệm.

Nếu quý vị muốn tìm hiểu sâu hơn về Pháp môn Tâm Linh do Ngài Lư Đài Trưởng truyền dạy, xin hoan hỷ truy cập trang blog chính thức của Ngài Lư Quân Hoành tại địa chỉ: http://lujunhong2or.com.

Tại đó, quý vị có thể tham khảo các bộ pháp bảo quý báu như:
《Bạch Thoại Phật Pháp》, 《Huyền Nghệ Vấn Đáp 》, 《Huyền Học Vấn Đáp 》, cùng những chuyên mục Cảm ngộ của Thính giả và Phản hồi của Đọc giả.

Ngoài ra, quý vị cũng có thể lắng nghe chương trình phát thanh Hoa ngữ Đông Phương tại Úc Châu, do Ngài Lư Quân Hoành Đài Trưởng chủ trì, gồm:
– Chương trình 《Huyền Nghệ Vấn Đáp》 phát sóng ba giờ mỗi tuần,
– Chương trình 《Huyền Học Vấn Đáp》 hai giờ mỗi tuần,
– Chương trình 《Trực Thoại Trực Thuyết》 nửa giờ mỗi tuần,
– Chương trình 《Bạch Thoại Phật Pháp》 nửa giờ mỗi tuần,
cùng với những buổi pháp hội giải đáp lớn được ghi âm trực tiếp, đều là pháp âm vi diệu giúp người hữu duyên khai mở trí tuệ, tăng trưởng Bồ-đề tâm.

Ở đây cũng xin được nhắc nhở những ai vẫn còn hoài nghi hay chưa thật lòng tin nơi Pháp môn Tâm Linh của Ngài Lư Đài Trưởng, hãy quay về quán chiếu tự tâm, tìm nguyên nhân nơi chính mình.
Hãy buông bỏ mọi nghi hoặc, phát khởi tín tâm kiên định, và tinh tấn tu tâm hành đạo theo lời khai thị của Ngài Lư Quân Hoành Đài Trưởng — bởi thời gian thật sự không chờ đợi bất kỳ ai!

Lịch phát sóng các chương trình của Ngài Lư Quân Hoành Đài Trưởng (theo giờ Sydney, Úc Châu):

1. 《Huyền Nghệ Vấn Đáp》- Xem Đồ Đằng
Phát sóng vào: Thứ Ba, Thứ Năm và Thứ Bảy – từ 17:30 đến 18:00

2.《Huyền Học Vấn Đáp》- Không Xem Đồ Đằng
Phát sóng vào:
– Thứ Sáu từ 13:00 đến 14:30
– Chủ Nhật từ 13:00 đến 14:30

Ghi chú về thời gian:
– Từ 4/4 đến 3/10 hàng năm là mùa đông Sydney, chênh lệch múi giờ với Trung Quốc là 2 tiếng
 (Ví dụ: Sydney 17:00 → Bắc Kinh 15:00).
– Từ 3/10 đến 4/4 năm sau là mùa hè Sydney, chênh lệch múi giờ là 3 tiếng
 (Ví dụ: Sydney 17:00 → Bắc Kinh 14:00).
Khi gọi điện vào đường dây phát sóng trực tiếp của Ngài Lư Quân Hoành Đài Trưởng, xin vui lòng căn cứ theo giờ Sydney để tính toán thời gian cho chính xác.

Đường dây phát sóng trực tiếp: 0061-2-9698-8866
Văn phòng Đông Phương Đài (liên hệ tư vấn): 0061-2-9283-2758

Tháng 12 năm 2011 – tại Sydney.

Hậu Ký
Ngài Lư Quân Hoành Đài Trưởng hiện là:
– Hội trưởng Hiệp hội Phật giáo Hoa nhân tại Úc Châu,
– Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổ chức Từ thiện Hoằng Dương Phật Pháp Đông Phương Truyền Thông,
– Chủ tịch Tập đoàn Báo chí – Phát thanh – Truyền hình Đông Phương tại Úc,
– Thái Bình Thân Sĩ của Úc Đại Lợi,
– Datuk của Malaysia,
– Giáo sư danh dự thỉnh giảng tại Đại học Siena (Ý),
đồng thời sở hữu văn bằng cao cấp chuyên ngành Tâm lý học tại Úc.

Ngài cũng đang đảm nhiệm nhiều vị trí lãnh đạo trong các hội đoàn Hoa nhân tại Úc, là một kiều bào yêu nước gắn bó với cộng đồng suốt hơn ba mươi năm, tận tâm hoằng pháp lợi sinh, phụng sự chúng sanh bằng từ tâm và trí huệ viên dung.

Ngài Lư Quân Hoành Đài Trưởng từ thuở thiếu thời đã chuyên tâm nghiên cứu Phật học, tinh tường huyền học, và từng được chư vị cao tăng đại đức, minh sư chỉ điểm.
Ngài vận dụng diệu pháp của Phật pháp, lấy đại thần thông và đại từ bi tâm của chư Bồ Tát để hóa độ chúng sinh hữu duyên, giúp họ phá mê khai ngộ, chuyển hóa nghiệp lực, và tự tu – tự độ – tự chuyển hóa vận mệnh thông qua việc học Phật, niệm kinh, tu tâm hành thiện.

Trong suốt hơn ba mươi năm không ngơi nghỉ, Ngài Lư Quân Hoành Đài Trưởng đã toàn tâm hoằng dương tinh hoa Phật pháp tại Úc Châu và khắp thế giới, dốc lòng phụng sự nhân loại, phát triển các hoạt động từ thiện, văn hóa, hòa bình và giao lưu tâm linh, nhằm thúc đẩy sự an hòa trong tâm thức con người.

Đến nay, pháp âm của Ngài đã lan tỏa khắp hơn năm mươi quốc gia và vùng lãnh thổ, quy tụ gần mười triệu tín chúngtrên toàn cầu, đều cùng hướng tâm tu học Phật pháp, hành Bồ Tát đạo, gieo duyên giác ngộ và lợi lạc chúng sinh. 

Trong hơn ba mươi năm hoằng pháp độ sinh, Ngài Lư Quân Hoành Đài Trưởng đã vô tư, vô ngã cứu độ muôn loài, không nhận bất kỳ báo đáp nào.
Ngài giảng giải 《Bạch Thoại Phật Pháp》, dùng chân nghĩa vi diệu của Phật pháp để chỉ dẫn con đường sống giữa thời hiện đại, giúp vô số chúng sinh thoát ly phiền não, giải thoát tâm linh, hồi quy tự tánh.

Chỉ trong vòng vài năm ngắn ngủi, dấu chân hoằng pháp của Ngài đã lan tỏa khắp năm châu bốn bể.
Từ năm 2010 đến nay, Ngài đã tổ chức hơn hai trăm đại pháp hội và pháp thoại quốc tế, tạo chấn động lớn trong giới Phật giáo toàn cầu.

Pháp âm của Ngài đã vang vọng khắp Úc Châu, New Zealand, Hoa Kỳ (New York, Los Angeles, Boston, San Francisco), Canada (Toronto, Vancouver), Singapore, Hong Kong, Macau, Đài Loan, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, cùng nhiều quốc gia châu Âu như Anh, Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Bỉ, và hơn ba mươi quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới.

Công hạnh hoằng pháp ấy đã thức tỉnh hàng triệu tâm linh, giúp hàng triệu gia đình trở nên hòa thuận, xã hội thêm an ổn, góp phần xây dựng hòa bình thế giới, khiến hơn mười triệu tín chúng hữu duyên được chuyển hóa vận mệnh, an trú trong chánh pháp, sống đời an lạc và trí tuệ.

Vào tháng 2 năm 2017, tại Singapore, Đại Pháp hội quy tụ hơn tám vạn người tham dự đã diễn ra trong khung cảnh trang nghiêm và hùng vĩ chưa từng có. Ngài Lư Quân Hoành Đại Trưởng được chư Phật tử khắp thế giới nhiệt liệt hoan nghênh và kính mến, đồng thời nhận được sự quan tâm, đưa tin rộng rãi từ các phương tiện truyền thông quốc tế.

Ngày nay, Pháp môn Tâm Linh do Ngài truyền dạy đã khơi dậy một làn sóng tu học – niệm Phật – hành trì – chuyển hóa tâm linh lan tỏa mạnh mẽ khắp năm châu.

Bản thân Ngài cùng với tổ chức từ thiện “Truyền bá Phật pháp – Truyền thông phương Đông Úc Châu” do Ngài sáng lập đã nhiều năm hết lòng cứu trợ thiên tai lũ lụt, động đất, hỏa hoạn, cũng như quyên góp giúp đỡ trẻ em khuyết tật, người già neo đơn, người mắc chứng trầm cảm và nhiều tổ chức nhân đạo khác, với tổng số tiền thiện nguyện lên đến hơn một triệu đô la Úc – thể hiện tâm nguyện đại từ đại bi và hạnh nguyện Bồ Tát của Ngài giữa thời mạt pháp.

Ngài Lư Quân Hoành, với danh vị Thái Bình Thân Sĩ, nhờ những đóng góp to lớn cho sự phát triển của hòa bình văn hóa quốc tế và các hoạt động từ thiện, đã nhiều lần được vinh danh tại các hội nghị hòa bình quốc tế tổ chức ở Liên Hiệp Quốc, Quốc hội Hoa Kỳ, Bảo tàng Khoan Dung Hoa Kỳ, Berlin (Đức), cũng như tại Đại hội Liên Hiệp Tôn Giáo Thế Giới ở Luân Đôn (Anh quốc), và đã nhiều lần được trao tặng danh hiệu “Đại Sứ Hòa Bình Thế Giới”.

Năm 2015, Ngài Lư Quân Hoành còn vinh dự được Hạ viện Hoa Kỳ trao tặng bằng khen, ghi nhận đóng góp xuất sắc của Ngài trong việc thúc đẩy giao lưu văn hóa và hòa bình toàn cầu.

Năm 2016, Quốc hội Hoa Kỳ đã trao tặng bằng tuyên dương cho Ngài Lư Quân Hoành – Thái Bình Thân Sĩ, nhằm vinh danh những cống hiến xuất sắc của Ngài trong việc truyền bá tinh thần từ bi, hòa hợp và thúc đẩy hòa bình thế giới trong nhiều năm qua.

Chính quyền thành phố West Orange, bang New Jersey (Hoa Kỳ) cũng đã trao tặng Ngài danh hiệu “Công Dân Danh Dự của Thành Phố”, ghi nhận ảnh hưởng tích cực của Ngài đối với cộng đồng quốc tế.

Tại Úc Đại Lợi, nhờ uy tín và những cống hiến vượt bậc cho xã hội, Ngài được Chính phủ Úc chính thức phong tặng danh vị “Thái Bình Thân Sĩ”, đồng thời được Quốc hội Úc trao tặng bằng khen tưởng thưởng.

Ngoài ra, Ngài còn được Hoàng thất Malaysia sắc phong tước hiệu danh dự trọn đời “Đạt-đốc”, được Trường Đại học Siena (Ý) mời làm Giáo sư Danh dự, và với tư cách một kiều lãnh và nhân sĩ Hoa kiều kiệt xuất, Ngài vinh dự được Chính phủ Trung Quốc đặc biệt tuyên dương, và ghi danh vào “Niên Giám Nhân Vật Trung Quốc năm 2014”.

Năm 2015, Ngài Lư Quân Hoành được mời làm Khách mời danh dự tham dự Lễ kỷ niệm Vesak Liên Hiệp Quốc lần thứ 12, một sự kiện trọng đại mang tầm quốc tế của cộng đồng Phật giáo toàn cầu.

Cũng trong tháng 9 năm 2015, theo lời mời của Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, Ngài đã tham dự “Diễn đàn Cấp cao Văn hóa Hòa bình Liên Hiệp Quốc 2015” được tổ chức tại Trụ sở chính Liên Hiệp Quốc. Tại đây, Ngài cùng Chủ tịch Đại hội đồng, Tổng Thư ký Ban Ki-moon và các nguyên thủ, lãnh đạo nhiều quốc gia đồng bàn về phương hướng kiến tạo hòa bình cho thế giới.

Từ năm 2017 đến năm 2019, Ngài tiếp tục được Tổ chức Giáo khoa Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) trân trọng mời tham dự Lễ Vesak Liên Hiệp Quốc và đảm nhiệm vai trò diễn giả chính, trình bày diễn văn chủ đề về tinh thần Phật pháp trong việc kiến lập hòa bình nhân loại.

Ngài Lư Quân Hoành luôn một lòng hướng về Tổ quốc thân yêu, trong suốt nhiều thập kỷ đã dốc tâm thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc và Úc, góp phần lan tỏa tinh hoa văn hóa truyền thống Trung Hoa và tinh túy Phật pháp ra khắp thế giới.

Ngài khuyến khích chúng sinh thông qua trì tụng kinh điển, học Phật và tu tâm, để chuyển hóa nghiệp duyên, cải thiện vận mệnh, từ đó học tập tinh tấn hơn, làm việc hiệu quả hơn, sống thiện lành hơn, biết lấy tâm từ hòa để đối đãi với người, và phụng sự tốt đẹp hơn cho quốc gia cùng sự phát triển của xã hội.

Lên đầu trang