Bạch Thoại Phật Pháp – Quyển 1
<Bộ 12 Quyển>

(白话佛法一)

I. Giảng giải Phật pháp bằng ngôn ngữ đời thường (白话讲解佛法)

1. Học Tập Trí Tuệ Viên Dung Trong Đạo Phật

QUYỂN 1 – TẬP 1
HỌC TẬP TRÍ TUỆ VIÊN DUNG TRONG ĐẠO PHẬT

Trước hết, Sư Phụ muốn nhắn gửi đến mọi người rằng: học Phật chính là con đường khôi phục lại trí huệ và đức năng vốn có nơi tự tánh của chúng ta. Cần phải hiểu, tu hành không phải việc dễ dàng; đó là quá trình dùng chân tâm, lấy thân – khẩu – ý của chính mình mà thực tu.

Chúng ta phải nỗ lực tu tập để trừ bỏ vô minh và tập khí tích chứa từ nhiều đời. Đừng để những thói quen bất thiện in hằn trong tâm và lưu truyền trên thế gian này. Cần học cách chiến thắng bản ngã, diệt trừ tâm ích kỷ, loại bỏ tư niệm tạp loạn.

Phải sửa đổi cách nghĩ, cách nói, cách nhìn và cách làm đối với những sai lầm đã hình thành trong dòng chảy nhân sinh – vũ trụ. Tu tâm, chính là tu tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh là quan trọng hơn hết thảy; khi tâm đã thanh tịnh, thì mọi vọng tưởng, chấp trước, tà tri tà kiến đều tự tiêu tan; tâm tịnh thì trí huệ hiển lộ.

Tâm thanh tịnh, thân cũng thanh tịnh; tâm – thân thanh tịnh, thì cảnh giới con người cũng thanh tịnh.

Tất cả chúng sinh vốn bình đẳng. Tuy nhiên, điều trọng yếu là hiểu được nền tảng của sự bình đẳng ấy. Trong thế gian này, không hề tồn tại sự bình đẳng tuyệt đối; trên thực tế, rất khó để nói rằng muôn người đều như nhau. Sự bình đẳng chân thật được kiến lập trên bản thể tâm linh nguyên sơ, cần phải dùng tâm mà quán chiếu, điều hòa và giữ gìn.

Tâm bình đẳng là phải nhờ vào trí huệ hậu thiên để điều chỉnh và bù đắp; cần học cách dùng trí huệ để hóa giải những chướng ngại trong tâm.

Ví như, trong xã hội có người rất may mắn, giàu sang, lại có người chịu cảnh nghèo cùng, gian khổ. Ngay trong phạm vi nhỏ như gia đình, việc vợ chồng hy sinh nhiều hay ít, cũng chính là khảo nghiệm đối với tâm bình đẳng của mỗi người.

Hiếu Thân – Tôn Sư

Vì sao đặt hiếu kính cha mẹ và tôn kính Sư phụ song hành? Bởi “một ngày làm Thầy, cả đời làm Cha”. Quý vị phải thấu hiểu đạo lý này. Vì sao chữ “Thân” và chữ “Sư” lại được đặt cạnh nhau?

Bởi Sư phụ dùng tinh thần và linh lực của chính mình để chăm sóc, trợ duyên và hộ trì cho đại chúng; điều này không phải dễ làm. Có những việc ngay cả cha mẹ cũng không thể làm được, nhưng Sư phụ lại có thể làm. Cha mẹ sinh dưỡng thân thể chúng ta; còn Sư phụ dẫn dắt chúng ta bước vào Phật đạo, cứu độ linh hồn và cuộc đời của chúng ta.

Nhiều người mang bệnh nghiệp, bệnh tâm linh, cha mẹ cũng đành bó tay; nhưng Sư phụ có thể cứu độ, như Quán Thế Âm Bồ Tát từ bi cứu khổ cứu nạn. Chữ “Sư” ở đây không chỉ riêng Sư phụ Lư Quân Hoành, mà chỉ tất cả chư Phật, chư Bồ Tát, những bậc dẫn dắt chúng ta bước trên chính đạo.

“Hiếu kính” là gốc của đức, là căn bản của đạo người và đạo Phật. Chỉ có phẩm đức hiếu kính mới có thể mở hiển tự tánh của chúng ta.

“Đạo làm Sư phụ” là lời giáo huấn của Đức Thế Tôn; mà “Sư đạo” được xây dựng trên nền tảng của “Hiếu đạo”. Không có Hiếu đạo thì không thể luận đến Sư đạo. Mọi người nhất định phải tôn sư trọng đạo; chỉ khi biết tôn sư trọng đạo mới có thể thành tựu Đạo nghiệp. 

Kiến Hoà Đồng Giải: chính là kiến lập nhận thức chung, đồng tâm đồng trí trên nền tảng chân tâm. Giữa người với người phải dùng chân tâm để đối đãi, không dùng vọng tâm; vì vọng tâm biến hoá vô thường, sinh phân biệt, sinh chấp trước. Chỉ khi khởi dụng chân tâm, vọng niệm không sanh, mới có thể đạt được kiến hoà đồng giải. Hãy học buông bỏ phân biệt và chấp trước.
Ví như hai đệ tử khi luận đạo, ý kiến bất đồng; vậy làm thế nào để thực hành “kiến hoà đồng giải”, làm sao để đạt được sự đồng thuận? Khi ấy, phải dùng trí huệ Bồ Tát để hoá giải sai biệt. Học được điều này, thì dù đến bất kỳ nơi đâu, cũng có thể điều hoà mâu thuẫn, tiêu trừ bất hoà.

Đây là một pháp môn rất sâu về trí tuệ tu hành; kỳ thực chính là đạt đến nhận thức chung trong chân tâm. Khi đối diện vấn đề, có nhận thức chung thì mới có thể hoá giải được mọi chướng nạn.

Tại đây, cần đặc biệt nhấn mạnh chữ “giải”. “Giải” không phải là miễn cưỡng kiềm chế bản thân, không phải nén giận hay đè nén cảm xúc. Phải học cách hoá giải, vì hóa giải mới là cảnh giới tối thắng; không phải khắc chế hay gượng ép chịu đựng. 

Chúng ta thường nói chữ “Nhẫn” – sự nhẫn nại là điều cần tu. Nhưng nhẫn chỉ là phương tiện tạm thời, không phải cứu cánh rốt ráo. Đơn cử như trong câu chuyện: người nhẫn đến cực độ, cuối cùng có thể tự tổn thương chính mình. Cho nên, khi ý kiến bất đồng, điều trước tiên là phải biết nói ra chân thành quan điểm, sau đó dùng trí huệ thanh tịnh để hoá giải mâu thuẫn. 

Bây giờ, Sư phụ muốn giảng giải với đại chúng đôi chút về chữ “Hòa” trong câu “Hòa vi quý”. Chữ “Hòa”, ai cũng biết, là hòa nhã, ôn hòa; nhưng cốt tủy của “Hòa” chính là lấy tâm hòa làm điểm khởi tu, lấy “hòa” làm nền tảng cho mọi hành sự. Nhiều người chỉ nghĩ “hòa” nghĩa là cùng nhau sống yên ổn, thuận hòa, tránh tranh chấp… nhưng ý của “Hòa” sâu rộng hơn thế. Nếu ngay từ điểm xuất phát, quý vị đã đặt tâm trên nền hòa thiện, dùng tâm hòa để nhìn việc, để xử việc, thì mọi vấn đề đều có thể được giải quyết một cách nhẹ nhàng.

Do đó, điểm khởi tâm là điều vô cùng quý báu.
Chỉ có khởi tâm từ chữ “Hòa” thì tư tưởng, kiến giải, và phương thức sống của chúng ta mới dần dần tương ứng, cùng nhau tiến gần về thiện pháp, gần nhau trong đạo, trong trí, trong tâm.

Phật pháp nan văn – Phật pháp thật khó gặp, khó nghe.
Cũng như cổ nhân dạy: “Minh sư nan phùng, chánh pháp nan văn” – một bậc Sư phụ chân chánh khó gặp, chánh pháp chân truyền lại càng khó nghe.

Trong thời Mạt Pháp này, biết bao người đi khắp nơi lễ Phật, bái Bồ Tát, thắp hương, bái Sư. Trên thế giới hiện nay có vô lượng người xưng mình là tín đồ Phật giáo, nhưng thử hỏi trong số đó, được bao nhiêu người thật sự thấu hiểu tầm quan trọng của việc niệm kinh, tu tâm, hành pháp?

Nhiều người thường nói rằng mình tin Phật, bái Bồ Tát, nhưng chỉ dừng ở hình thức. Sư phụ từng dạy: Bái Phật mà không niệm kinh, nếu nói thẳng, thì chẳng khác nào không thật sự bái Phật. Đến danh hiệu Bồ Tát còn không rõ, giáo pháp không hiểu, lời kinh chưa từng thâm nhập – vậy làm sao cảm được sự gia trì, hộ niệm của chư Phật, chư Bồ Tát? Sư phụ thường lấy ví dụ để minh giải: Giả sử một người rất ngưỡng mộ một trường đại học danh tiếng; nhưng bản thân lại không học hành, không đọc sách, thì làm sao có thể thi đỗ vào ngôi trường ấy? Phải khắc ghi đạo lý này.

Phật pháp nan văn – Phật pháp thật khó nghe khó gặp. Trong thời Mạt Pháp này, nếu muốn thâm nhập chân lý của Bồ Tát, muốn được sự gia trì của Quán Thế Âm Bồ Tát, thì nhất định phải nương vào Chánh Pháp, phải tìm được con đường tu hành chân truyền. Ngày nay, học theo hạnh Bồ Tát đã là điều vô cùng khó; học theo hạnh Phật lại càng thâm sâu khó đạt. Bởi vì Bồ Tát là “ngộ”, là trí huệ hiển lộ, còn Phật là “giác” – đại giác, đại triệt đại ngộ, giác ngộ đến cảnh giới tối thượng viên mãn. Khi một người khai ngộ, đạt Chánh Đẳng Chánh Giác, thì đó chính là cảnh giới Bồ Tát. Còn muốn thành tựu quả vị Phật, thì phải chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. 

Nhiều người cứ nghĩ rằng, chỉ cần cúi đầu lạy lạy, đọc qua đôi chút kinh sách thì đã gọi là nghe được Phật pháp. Nhưng xin hỏi quý vị: quý vị đã đọc loại kinh điển nào, và đã nghe loại pháp gì? Điều quan trọng là phải thật sự thấu hiểu đạo lý trong đó.

Như Sư phụ thường dạy đại chúng: khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp tại Ấn Độ, Ngài thường dẫn các đệ tử theo bên mình, gõ cửa từng nhà, ôm bát khất thực để xin ăn, lấy đó làm phương tiện nuôi dưỡng Phật tâm.

Nguyên lý là thế này: Thứ nhất, để cho người tại gia có cơ hội bố thí, khởi tâm từ bi. Khi nghe tiếng gõ cửa, họ sẽ nói: “Ồ, Hòa thượng tới rồi, A Di Đà Phật!” rồi hoan hỷ đem thức ăn cúng dường. Đó chính là gieo trồng và nuôi dưỡng tâm bố thí.

Thứ hai, rất nhiều vị xuất gia thời ấy vốn là hoàng thân quốc thích, thương nhân phú quý. Sau khi giác ngộ mà xuống tóc khoác áo cà-sa, Đức Phật muốn bồi dưỡng tâm từ bi và tính khiêm cung nơi họ – giúp họ buông bỏ bản thân, bỏ tâm kiêu mạn, nhận ra rằng mình chỉ là một người bình phàm, bình đẳng với tất cả chúng sinh. Ngày nay, quý vị còn thấy bao nhiêu ngôi chùa mà chư Tăng còn đi khất thực trên đường? Đừng vì xưa kia có một vị lão Pháp sư từng dạy như vậy, hay một vị lão hành giả từng tu như vậy mà nhất định phải bắt chước y nguyên con đường ấy. Thật ra, tu hành cốt là tìm lại chân ngã, tìm lại Phật tánh của chính mình.

Cách tu tâm trong thời hiện nay cần phải được điều chỉnh. Chúng ta phải hiểu rằng điều cần đổi không phải là Phật pháp, mà là phương pháp hành trì. Tu hành nơi nhân gian, cốt ở tu tâm. Trong thời kỳ Mạt pháp, chúng ta phải học theo Phật giáo Đại thừa để cứu độ chúng sinh. Chỉ khi phát tâm độ người, ta mới có thể khai mở trí huệ và đạt được sức mạnh chân thật. Vì sao sau khi Sư Phụ khai mở thiên nhãn, chỉ trong thời gian ngắn đã cứu độ được vô lượng người như vậy, và có được năng lực thù thắng đến như thế? Tất cả đều do công phu tu hành mà thành, do Quán Thế Âm Bồ Tát từ bi gia hộ ban tặng. Chỉ cần quý vị nỗ lực độ người, cứu người, đem Chánh đạo – Chánh pháp truyền rộng đến đại chúng, thì Bồ Tát sẽ gia trì sức mạnh gấp bội. Quý vị phải minh bạch đạo lý này. Trong thời Mạt pháp, Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ ứng hóa vô số thân tướng để cứu độ chúng sinh. Hiện nay, Sư Phụ cũng đang cứu độ từng người một, khuyên đại chúng trì kinh niệm Phật, khiến mỗi gia đình đều được chuyển hóa, an lạc; lấy độ người, hoằng pháp lợi sinh làm căn bản.

Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chính là cảnh giới của chư Phật – Bồ Tát. Pháp môn mà Sư Phụ đang truyền dạy cho quý vị hôm nay, chính là pháp môn hướng đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác – pháp môn xuất phát từ chư Phật, chư Đại Bồ Tát, là cảnh giới căn tu tối thượng.

Quán Thế Âm Bồ Tát thường xuyên ở bên cạnh Sư Phụ, chỉ dạy phương tiện cứu độ chúng sinh, đặc biệt là việc hoằng pháp qua Đài Phát Thanh. Hiện nay, có rất nhiều pháp môn được lưu truyền một cách bí mật. Nhưng Sư Phụ phát tâm khai mở trí huệ cho đại chúng, để mọi người biết rõ Quán Thế Âm Bồ Tát đang ứng hóa, tế thế cứu nhân như thế nào.

Ví như một hòn đảo nhỏ gặp thiên tai lũ lụt, khi máy bay và lực lượng cứu hộ đến, họ sẽ cứu toàn bộ dân chúng chứ không chỉ cứu riêng một vài người. Thế nhưng, trong quá trình đó, vẫn có những trường hợp bất hạnh: người già yếu, bệnh tật, khuyết tật, do sức lực hạn chế mà không thể an toàn vượt qua; hoặc có người bị bệnh tim tái phát… Đây là những chúng sinh thật đáng thương vì không có đủ duyên, cũng giống như những người chưa được nghe Phật Pháp. Cứu độ chúng sinh nhất định phải nương theo Văn – Tư – Tu của Phật pháp: Nghe pháp – Tư duy – Hành trì.

Quý vị thử suy nghĩ: trong đời này, chẳng phải có những bậc Đại Pháp Sư đang quang minh chính đại phổ độ chúng sinh hay sao? Các Ngài đang thắp sáng con đường giải thoát cho muôn loài.

Cho nên, phải thường ghi nhớ điều gì là “Chánh” (正). “Chánh” chính là sự viên dung hoà hợp của âm dương ngũ hành. Sư Phụ giảng giải thêm về chữ “Chánh”: nét ngang trên là “Kim”, nét ngang dưới là “Thủy”; nét dọc chính giữa là “Mộc”, nét dọc ngắn bên trái là “Hỏa”, nét ngang ngắn bên phải là “Thổ”. Như vậy, chân chánh vô thượng, chánh đẳng chánh giác chính là kết quả viên mãn của trí huệ, là chỉ bày cho chúng ta con đường chân chính để quay về nguồn tánh thanh tịnh.

Trong Thời Kỳ Mạt Pháp, điều chân chánh tất nhiên phải trải qua thử thách, trải qua trăm phen khảo nghiệm vẫn linh nghiệm không sai. Vì thế, nhất định phải hoằng dương Phật Pháp. Nếu quý vị có đủ năng lượng tiếp nhận, thì tự nhiên sẽ thấu hiểu được giáo lý sâu nhiệm này; nếu năng lượng không đủ, thì dù được mật truyền cũng khó thấm nhập. Công lực mỗi người sai biệt, căn cơ tu tập từ kiếp quá khứ cũng bất đồng, nên khả năng tiếp nhận giáo pháp cũng không giống nhau.

Trong thời kỳ Mạt Pháp, chúng ta phải tìm cho được con đường chân chánh nhất, thiết thực nhất, có thể giải quyết tận gốc vấn đề nơi chính mình. Nếu một người sống trong thời mạt pháp mà không chịu nương tựa vào sự gia trì của Quán Thế Âm Bồ Tát, không khởi tâm mong cầu chuyển đổi vận mệnh theo hướng tốt đẹp, thì chỉ có thể thật đáng thương xót.

Kết quả của trí huệ viên mãn chính là đối với chân tướng của nhân sinh vũ trụ không còn một chút mê hoặc. Nói về thực tại hiện nay, nếu chúng ta có thể bình tĩnh quan sát, tư duy thấu đáo và từ đó hóa giải vấn đề một cách viên mãn, trọn vẹn, thì đó chính là biểu hiện của trí huệ viên mãn. Nếu trí tuệ chưa viên mãn, khả năng thành công chỉ đạt một nửa; nhưng trí huệ viên mãn, thì việc gì cũng có thể hoàn thành, thấu triệt, viên mãn.

Hãy luôn ghi nhớ: dù là con cái hay trưởng bối, nếu quý vị hiếu thuận với trưởng bối, kính già yêu trẻ, thì trong tương lai, con cái của quý vị cũng sẽ hiếu thảo với quý vị. Đây gọi là báo ứng, là báo ứng ngay tại nhân gian. Nhiều người lầm tưởng báo ứng chỉ đến sau khi chết, nhưng thực ra, khi còn sống, báo ứng đã bắt đầu hiện hữu. Hãy nhìn hình ảnh những người cơ nhỡ nằm bên đường xin ăn – đó chính là báo ứng nhãn tiền, là quả báo ngay trước mắt.

Phải hiểu rằng, báo ứng trong kiếp này rất nhanh, theo sát quý vị như bóng với hình. Bất luận hành vi nào vượt quá giới hạn, lập tức sẽ sinh ra báo ứng. Nếu việc xấu chỉ trong giới hạn, báo ứng có thể dời đến kiếp sau; nhưng nếu vượt quá giới hạn, báo ứng sẽ hiện tiền ngay. Vì thế, làm bất cứ điều gì, phải luôn giữ trong giới hạn, nếu không sẽ gặp tai họa khôn lường.

Có những người tu tâm, tâm rất chân thành, lương thiện, đến bất cứ chùa nào cũng chí thành lạy Bồ Tát. Nhưng nếu kiếp này không gặp được một Sư phụ thiện hạnh, không tìm thấy mục tiêu chính đáng để tu hành, thì chỉ có thể là người tín Phật mà thôi. Ví dụ, hàng ngày lạy Quán Thế Âm Bồ Tát, nhưng chưa có nhận thức đúng đắn về Ngài, chưa học hỏi trí huệ của Quán Thế Âm Bồ Tát, chưa tiếp nhận trường khí từ bi và trí tuệ của Ngài để tự tu hành, mà chỉ ngày ngày chịu khổ trong nhân gian, chịu nạn mà không biết nguyên nhân vì đâu, thì tu hành như vậy cũng chưa thực sự có kết quả. Cũng có những người, khi tai họa bất ngờ ập đến, mới vội vàng bái Phật, chạy đến ôm chân Phật mà cầu cứu. Nếu không gặp được Sư phụ thiện hạnh hay không xác định được mục tiêu tu hành chính xác, làm sao quý vị có thể giải quyết tận gốc những vấn đề mà mình phải đối mặt trong kiếp này?

Tu tập cần phải “phước huệ song tu”. Làm việc thiện chính là tu Phước, còn Huệ chính là trí huệ. Trí huệ không phải là điều người bình thường có thể tự tu được, đây là điểm then chốt nhất; có trí huệ, vấn đề gì cũng có thể giải quyết được.

Muốn đạt trí huệ, con đường duy nhất là niệm kinh và làm công đức. Chỉ có tu hành giới luật mới đạt được định, có định mới khai mở được trí huệ; thân tâm nhất định phải an định. Vì vậy mới có câu: “Nhân giới đắc định, nhân định khai huệ” – dựa vào giới luật để đạt định, dựa vào định để khai trí huệ . Phật giáo có Ngũ giới: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Đừng nghĩ rằng chỉ những người học Phật mới thọ Ngũ giới; ngay cả người bình thường cũng không thể tùy tiện giết hại sinh vật, tà dâm, trộm cắp, hay phạm các điều cấm. Hy vọng đại chúng có thể hiểu thấu và nắm vững đạo lý này. Tại sao chư Phật và chư Bồ Tát không chủ trương uống rượu? Bởi vì uống rượu có thể gây thương tổn lớn cho con người, khiến mất lý trí, đầu óc không minh mẫn, tinh thần sa sút. Nhiều cơ quan chính phủ còn dán biểu ngữ: “Uống rượu gây rối là phạm tội”, điều này cho thấy Phật Pháp là Chánh Pháp. Sở dĩ đạo Phật có thể thâm nhập tâm người, được mọi người hiểu và tôn kính, chính là vì chỉ những điều Chánh mới xứng đáng được đại chúng ủng hộ và tôn trọng.

Phá mê khai ngộ:

Mê là gì? Là danh, lợi, tửu, sắc, tài, khí; là tham, sân, si. Nếu một người bị lòng tham chi phối, dục vọng của họ sẽ không bao giờ thỏa mãn, cuối cùng sẽ sa vào cõi ngạ quỷ. Tham ái chính là căn nguyên của mọi tội ác. Nếu tham mà không đạt được, sẽ sinh tâm sân hận, khởi phiền não, và cuối cùng rơi vào địa ngục. Nếu một người ngu ngốc chỉ biết kiếm tiền hay làm hại người khác, mà không biết giúp đỡ kẻ khác, thì trong tương lai sẽ đầu thai thành súc sinh. Súc sinh chấp vào bản tướng, luôn luân hồi trong cõi súc sinh. Ngu si là không có trí tuệ.

Sư Phụ giảng cho đại chúng về chánh pháp, chánh đạo, chánh tín, chánh niệm, chánh thời, để mọi người có thể phá mê khai ngộ, học cách rời xa khổ đau, và tìm thấy hạnh phúc thực sự cho chính mình.

Lời cảm ngộ từ tận đáy lòng đệ tử:

Sư Phụ tốt khó gặp; hôm nay chúng con được gặp Sư Phụ Lư Quân Hoành là phước báo lớn trong kiếp này, cũng nhờ thiện căn và phước đức nhiều đời nhiều kiếp, nhân duyên chín muồi, vô cùng khó có được. Đây là cơ duyên quý báu.

Chúng con phải trân quý mối duyên này, tinh tấn tu hành, học theo tấm lòng Đại Từ, Đại Bi, Vô Lượng của Sư Phụ, đoạn trừ phiền não, phát Bồ Đề Tâm, phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân. Theo Sư Phụ hoằng dương Phật Pháp, phổ độ chúng sinh, để người người pháp hỷ tràn đầy, ai nấy đều có thể đạt được thành tựu chân chính và viên mãn công đức.

QUYỂN 1- TẬP 2
CHƯ ÁC MẠC TÁC ,CHÚNG THIỆN PHỤNG HÀNH
(Đừng làm các việc ác nên làm các việc lành)

Quý vị phải luôn ghi nhớ: bất luận làm bất kỳ việc gì, cũng phải như đi trên băng mỏng – lời nói không thể tùy tiện, việc làm không thể cẩu thả. Cần dùng trí tuệ để quán chiếu và cân nhắc mọi hành vi của chính mình, chứ không phải muốn làm gì liền làm nấy. Hiện nay là thời Mạt pháp, có rất nhiều người khoác áo Phật pháp mà hành sự, nhiều người tự cho rằng mình học Phật đã lâu, tu tập không ít, nhưng hiệu quả thực tế ra sao? Thật sự bậc Bồ Tát thị hiện hay các sứ giả của Ngài đều lấy Phật pháp làm phương tiện để cứu độ chúng sinh, luôn lấy tâm từ bi làm gốc, trên thân họ tất nhiên có Thần Hộ Pháp gia hộ.

Kỳ thực, có những bộ kinh văn vô cùng thù thắng. Nhưng theo sự biến chuyển của thiên thời và phương pháp tu học, trì tụng kinh văn cũng tùy duyên mà có sự thay đổi – đây là sự thật tuyệt đối. Chỉ cần là pháp chân chánh, thì tự nhiên sẽ được hoằng truyền và được mọi người tiếp nhận; chỉ cần là pháp chân chánh, đều được chư Bồ Tát gia trì, che chở. Phải khắc cốt ghi tâm: tu hành tất yếu phải giữ chánh kiến, chánh tín, chánh tư duy, chánh niệm, chánh định, từ đó mới khai mở được trí tuệ Bát Nhã.

Địa Tạng Vương Bồ Tát trong Bổn Nguyện Kinh dạy rằng: “Thị Diêm phù đề, hành thiện chi nhân, lâm mạng chung thời, diệc hữu bách thiên ác đạo quỷ thần, hoặc biến tác phụ mẫu, nãi chí chư quyến thuộc, dẫn tiếp vong nhân, linh lạc ác đạo, hà huống bản tạo ác giả.” Nghĩa là: Chúng sinh ở cõi Diêm phù đề, dù trong một đời tu nhiều điều lành, hành nhiều thiện sự, đến lúc lâm chung vẫn có trăm ngàn ác đạo quỷ thần biến hóa thành cha mẹ hoặc quyến thuộc để dẫn dắt, lôi kéo sa vào ác đạo. Kỳ thực, đó chính là những cha mẹ, thân bằng quyến thuộc từ tiền kiếp hiện thân để mê hoặc và tiếp dẫn. Huống chi đối với người vốn đã tạo ác nghiệp, thì nguy cơ rơi vào ác đạo lại càng rõ rệt và đáng sợ.

Khi một người sắp lâm chung, cảnh tượng ấy thật đáng sợ và bi ai. Vì sao? Bởi lúc ấy, họ nhìn thấy những điều mà khi còn sống mắt phàm chẳng thể thấy. Họ thấy vô số quỷ thần hiện đến để đòi nợ, khiến tâm hồn đau khổ, khốn quẫn, chỉ còn biết phó mặc theo nghiệp lực.

“Tiếp dẫn vong nhân” nghĩa là cha mẹ hoặc quyến thuộc từ nhiều đời nhiều kiếp trước biến hiện đến để tiếp dẫn, nhưng thực chất chính là trăm ngàn ác đạo quỷ thần hóa hiện mà thôi. Ngay cả người hiền thiện, một đời tu tập, làm nhiều điều lành, đến phút cuối còn phải đối diện cảnh như vậy; huống chi kẻ tạo ác, tạo nghiệp bất thiện thì kết cục càng thê lương.

Do đó, cần chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý – đừng làm các việc ác, nên làm các việc lành, giữ tâm ý trong sạch. Như trong Kinh Kim Cang dạy:

“Ly nhất thiết tướng, tức nhất thiết pháp.”

“Ly nhất thiết tướng” tức là phải rời xa mọi sự chấp trước, đặc biệt là với những điều mình yêu thích nhất. Đây không phải chỉ là buông bỏ trên hình thức, mà chính yếu là buông bỏ từ nơi tâm.

Ví như một người rất thương con mình, bên ngoài vẫn chăm sóc, lo lắng, giúp đỡ; nhưng trong thâm tâm phải tập xả ly. Khi con trưởng thành, có thể tự lập, đi làm, tự xây dựng đời sống riêng, thì cha mẹ phải học cách buông bỏ. Sợ hãi nhất chính là tâm chấp tướng – bám chặt nơi tình cảm, nơi ý niệm; chứ không chỉ đơn thuần là chấp nơi vật chất. Điều này vô cùng trọng yếu trong hành trình tu tập giải thoát.

Sinh mạng vốn chỉ ở nơi hơi thở. Một khi hơi thở không thể tiếp tục, thì mạng chung đến, và ra đi chẳng thể mang theo danh lợi, quyền thế, hay bất kỳ điều gì ở thế gian. Vạn sự vạn vật đều không thể đem đi, duy chỉ có nghiệp lực theo thân mà thôi. Những gì đã tạo tác trong đời, dù lành hay dữ, sẽ không sai sót mảy may; tất cả đều theo mình vào đời sau.

Vì vậy, con người tuyệt đối không được tạo ác nghiệp, nhất định phải tu tất cả các thiện pháp, phải phát khởi đại bi tâm. Ví như: nơi đầu đường bên kia, thấy một người mù chống gậy dò dẫm bước đi, ngay lập tức trong tâm phải khởi niệm:“Tuy xa ta, nhưng ta có thể sang giúp được chăng?” Chỉ cần trong khoảnh khắc ấy thật sự khởi niệm thiện lành, tức là đã gieo xuống một thiện nhân. Lại như khi nhìn thấy kẻ nghèo khổ ngồi nơi lề đường, nếu trong tâm khởi ý: “Nếu ta bước đến, ta sẽ bố thí cho họ”, thì niệm thiện ấy chính là tự thân thành tựu.

Điều cốt yếu là phát khởi chân niệm từ nơi tâm, chứ không phải giả định hư vọng. Do đó, người tu hành trọng yếu chính là tu tâm – tu hạnh, không chỉ ở hình thức bên ngoài. Nhiều ngôi già lam khuyên người đến lễ bái Phật – Bồ Tát nên y phục chỉnh tề, trang nghiêm, là để nhắc nhở rằng từ ngoài đến trong đều phải thanh tịnh. Nhưng thử hỏi, có mấy ai thật sự thanh tịnh từ trong ra ngoài? Nếu tâm trí lắng trong, buông bỏ tạp niệm, một lòng chí thành lễ Phật, nhất tâm tụng kinh, thì Phật – Bồ Tát tất sẽ cảm ứng, gia trì. Bởi Phật pháp trọng nơi chân tâm thanh tịnh, chứ không phải nơi hình tướng giả bày.

Trong thời Mạt pháp, tất cả mục tiêu tu hành, cũng như các pháp môn chân chính từ quá khứ cho đến hiện tại, đều hoàn toàn nhất quán. Chỉ có phương tiện cứu độ chúng sanh là thay đổi theo thời thế.

Ví như thuở xưa, giao thông chưa phát triển, từ Bắc Kinh muốn đi Thượng Hải chỉ có thể đi bộ hay đi xe ngựa. Nhưng ngày nay, giao thông phát triển, ta có thể đi bằng xe lửa, ô tô, hay máy bay. Tuy phương tiện khác nhau, nhưng đích đến vẫn là một. Pháp tu nhất định phải thuận theo sự chuyển biến của thời vận.

Người có tu hành, trí tuệ và đạo hạnh, dù là bậc Pháp sư, Sư phụ, hay những bậc Thầy chân chính, tất sẽ được chư Phật, Bồ Tát ban cho linh cảm, khiến họ biết phương cách tu tập thích hợp với căn cơ và thời điểm hiện tại. Như Đại sư Thái Hư và Pháp sư Tinh Vân đã đề xướng “Phật giáo Nhân gian”.

Con người cần giữ tâm hồn thanh tịnh, không nên để tạp niệm xen vào. Nếu khởi tâm muốn giao cảm, trao đổi với người khác mà trong tâm còn chất chứa vọng niệm rối loạn, thì tuyệt đối không thể thành tựu sự cảm thông chân thật. Trong đời, chớ lầm tưởng rằng có thể xem thường người khác là kẻ ngu dại, rồi tìm cách lừa gạt họ. Kỳ thực, kẻ mang tâm cơ mưu lợi ấy mới chính là người si mê nhất. Ngày nay, con người phần nhiều đều thông tuệ, có người lại đã gieo căn lành tu tập từ trước. Theo dòng luân hồi xoay vần, những đứa trẻ được sinh ra trong thời đại này phần nhiều đều tỏ ra thông minh lanh lợi. Thực chất, đó là bởi đời trước đã từng có sự tu hành, gieo trồng thiện nghiệp.

Hôm nay, Sư phụ xin chia sẻ với quý vị về hai chữ “Sám Hối”. Vì sao chúng ta cần phải sám hối? Vì sao việc sám hối có thể tiêu trừ nghiệt chướng?

Trong các buổi giảng trước đây, Thầy từng khai thị rằng: muốn tiêu trừ nghiệt chướng, trước hết cần phải trì tụng kinh điển để khởi động, khiến nghiệt chướng hiện hành chuyển hóa, không còn bám chặt nơi thân tâm. Sau đó, cần tụng thêm Ngôi nhà nhỏ để siêu độ, chuyển hóa.

Tuy nhiên, nếu trong đời sống hằng ngày không có sự tu tập căn bản, không niệm kinh bài tập đều đặn, mà chỉ đơn thuần tụng niệm “Lễ Phật Đại Sám Hối Văn”, thì khó có thể đạt được hiệu quả chân thật. Bởi nền tảng cần được xây dựng vững chắc từ Chú Đại Bi và Tâm Kinh. Đây chính là hai trụ cột căn bản, là nền móng cho mọi sự sám hối và tu hành.

Khi trì tụng “Lễ Phật Đại Sám Hối Văn”, trước hết quý vị phải chí tâm cầu nguyện, khẩn cầu Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát gia hộ, chứng minh và tiếp dẫn. Nguyện xin Bồ Tát từ bi giúp con sám hối, tiêu trừ những nghiệt chướng đã gây tạo trong nhiều đời nhiều kiếp, hoặc giúp con chuyển hóa, giảm nhẹ nghiệt chướng đang hiện hành nơi thân căn bệnh khổ.

Tụng niệm xong “Lễ Phật Đại Sám Hối Văn”, đó chính là công đức. Chính công đức này có thể dùng để tiêu trừ các nghiệp chướng nhỏ, chưa sâu dày. Nhưng nếu nghiệp chướng quá nặng, quá sâu dày, thì chỉ tụng sám hối thôi sẽ không đủ, vì lúc ấy nghiệp đã được kích hoạt thành vong linh. Muốn giải trừ, quý vị cần tụng thêm Ngôi nhà nhỏ để siêu độ.

Trong quá trình ấy, quý vị có thể sẽ phải chịu sự đau khổ, bởi nghiệp báo vốn không dễ hóa giải. Chính vì lòng Đại bi vô lượng, Quán Thế Âm Bồ Tát không muốn chúng sinh phải gánh chịu khổ đau khi nghiệp chướng trổ ra, nên Ngài đã từ bi chỉ dạy chúng ta phương pháp trì tụng “Lễ Phật Đại Sám Hối Văn”, để tiêu trừ những nghiệp chướng nhỏ trước khi chúng biến hiện thành vong linh. Bài kinh này vô cùng thù thắng, công đức không thể nghĩ bàn. Khi hành trì, tâm quý vị sẽ tiếp thông linh khí của trời đất, đồng thời nuôi dưỡng phước huệ song tu, mở ra cơ hội giải thoát, chuyển hóa bản thân và cứu độ chúng sinh.

Chúng ta thật sự vô cùng may mắn, bởi bất cứ lúc nào cũng đều có thể cảm nhận sự che chở và từ bi gia hộ của Bồ Tát. Quý vị đều biết rằng, tại Quán Âm Đường của Đài Đông Phương, sự linh ứng của Bồ Tát thật sự không thể nghĩ bàn. Mỗi ngày, đều có biết bao phản hồi từ các Phật tử, kể lại những sự cảm ứng, sự nhiệm mầu, khiến ai nấy đều vô cùng hoan hỷ, phấn khởi và tràn đầy niềm tin.

Tuy nhiên, ngay khi tâm khởi niềm hoan hỷ ấy, Sư phụ lại chợt nghĩ đến một điều khiến lòng đau xót: đó là vẫn còn rất nhiều người đến nay chưa tin, vẫn còn mê muội, hoang mang, thậm chí còn cho rằng mình đang đi theo “chính đạo”. Sư phụ thật sự cảm thấy thương xót cho họ. Trong số họ, có rất nhiều người cũng giống như quý vị trước đây – từng đi tìm khắp nơi, mong cầu một pháp môn chân chính để nương theo tu tập cho đúng đắn. Nhưng nếu thiên thời, địa lợi, nhân hòa chưa đủ; nếu nhân duyên chưa chín, thời điểm chưa tới, thì dù có tìm cầu đến đâu cũng không thể gặp được.

Ví như trong quá khứ, khi con người mắc phải chứng bệnh ung thư phổi, lúc bấy giờ chưa có phương thuốc thích hợp để điều trị. Điều đó không có nghĩa là y dược có khả năng cứu chữa không tồn tại, mà chỉ vì nhân loại lúc ấy chưa đủ trí huệ, chưa đủ thời cơ để phát hiện ra. Thế nhưng, theo dòng thời gian trôi chuyển, cùng với sự phát triển của khoa học, thuốc trị ung thư đã được nghiên cứu, tìm ra và ứng dụng. Vì vậy, ngày nay căn bệnh ung thư phổi đã có thể kiểm soát được. Vậy tại sao hiện tại có thể khống chế căn bệnh này, mà trong quá khứ lại bị coi là chứng bệnh vô phương cứu chữa? Điều đó chính là cơ hội, chính là nhân duyên.

“Hối” chính là sự sửa đổi những tu tập và hành vi sai lầm trong quá khứ.

“Sám hối” có thể tiêu trừ ác nghiệp đã tạo ra trong nhiều đời nhiều kiếp.

“Sám hối” là đem tất cả những tội lỗi mà mình đã gây tạo trong quá khứ thành tâm phát lộ, bày tỏ ra. (Ở phương Tây, nhiều tôn giáo cũng có hình thức xưng tội, tức là tự mình đến trước linh mục mà thổ lộ tội lỗi.) Chúng ta đều là phàm nhân, không phải thần thánh, cho nên ai cũng có những lỗi lầm, riêng tư và điều khó nói. Những suy nghĩ ấy đều có thể đem ra thưa cùng với Bồ Tát. Điều cần ghi nhớ là: nhất định phải nói ra, nhất định phải phát lộ, nếu không nói ra thì không đúng với chánh pháp.

Việc sám hối có ba phương pháp: Một là: Dùng tâm ; Hai là: Dùng miệng; Ba là: Dùng cả tâm và miệng cùng lúc – tức là trong lòng chí thành phát khởi, miệng đồng thời thành thật thốt ra. Đây là cách hiệu quả nhất.

Sám hối có hai loại: sự sám và lý sám. 

Sự sám là trước hết tẩy tịnh thân tâm, rồi chí thành chí kính đến trước đức Bồ Tát để sám hối. Đem hết thảy tâm niệm và sự việc cần sám hối, trình bày ra, phát lộ ra để Bồ Tát chứng tri. Từ trong ra ngoài, toàn thân toàn tâm đều hiển bày sự ăn năn sám hối. Sự sám là một sự chuyển biến mang tính chất vật chất, là biểu hiện bằng hình tướng bề ngoài để sám hối. Lý sám là sám hối từ nơi tâm, là sự chuyển hóa nội tâm, tinh thần, không nhất thiết phải biểu hiện ra bên ngoài.

Quán chiếu theo lời Kinh Bát Nhã Tâm Kinh: “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không.” Ngũ uẩn là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Quý vị quán chiếu, soi rọi để thấy năm uẩn đều không. Khi đã thấu đạt tính không ấy, thì tự nhiên tội chướng không còn chỗ nương. 

“Chiếu kiến ngũ uẩn giai không” – trước hết là quán chiếu nơi chính thân tâm mình, thấy thấu suốt tự tánh vốn không, dần dần diệt trừ các ác nghiệp từ trong tâm. Quán tưởng rằng tâm ta trong quá khứ, trong đời trước và ngay trong hiện tại, tất cả đều chiếu soi đến chỗ rỗng lặng, trọn không còn nghiệp chướng lưu giữ trong thế gian này. Đó chính là lý sám.

“Ngũ uẩn giai không” chính là phải từ nơi tâm mà quán chiếu, hoàn toàn đào tận gốc rễ, trừ sạch vọng niệm. Từ nơi tâm mà hàng phục ma chướng của chính mình, từ nơi tâm mà chiến thắng nghiệp chướng của chính mình. Đây mới thật là một pháp sám hối vô cùng cao thượng. Khi có thể giải thoát từ nơi lý, thì tâm liền được giải thoát. Ngược lại, nếu tâm còn theo cảnh mà xoay chuyển, thì con người sẽ chìm trong khổ não không cùng. Bởi vậy, quý vị cần phải học cho được hạnh “lấy bất biến mà ứng vạn biến.” Thực ra, đây chính là một chánh kiến, một chánh niệm: bất luận ngoại cảnh có biến động ra sao, thì tự thân tâm ta quyết không đổi thay. Được như vậy, mới thật là an trụ nơi giải thoát.

Có một vị cao Tăng từng nói rằng: “Một bàn tay, năm ngón chính là năm pháp môn. Dù phân tán ra khắp nơi, rốt cuộc cũng quay về một mối.” Ấy chính là “vạn giáo quy nhất.” Quý vị cần phải học cho được trí tuệ ngôn ngữ, để lời nói, ý nghĩ và hành động đều hợp với Chánh pháp. Nếu một người để cho tâm bị cảnh giới bên ngoài lôi kéo, thì khổ não sẽ không ngừng dấy khởi. Mà nỗi khổ ấy, kỳ thực do chính mình tự chuốc lấy, do niềm tin chưa đủ kiên định mà thành. Hãy quán chiếu sâu xa: tất cả nghiệp chướng và tai ương đều khởi từ vọng tưởng. Bởi có si tâm thì vọng tưởng liền sinh khởi; vọng tưởng lại tạo ra vô số sai lầm; sai lầm dẫn đến vô lượng nghiệp chướng. Vọng tưởng chính là nguồn gốc của muôn điều ác.

“Một câu niệm Phật diệt trừ 80 ức kiếp sinh tử trọng tội.” Quý vị hãy suy nghĩ, vì sao chỉ một câu niệm Phật lại có năng lực thù thắng như vậy, có thể tiêu trừ 80 ức kiếp sinh tử trọng tội? Sở dĩ như thế, là bởi vì cái được niệm chính là tâm – là chân tâm. Niệm Phật không chỉ là âm thanh, mà là tâm niệm, là nội tâm thật sự nhớ nghĩ, quy hướng. Nếu hôm nay tạo nghiệp, rồi chí thành trì tụng Lễ Phật Đại Sám Hối Văn, đem hết tâm chân thành mà sám hối, thì có thể tiêu trừ tội chướng. Nếu lỡ sát hại một sinh linh nhỏ bé, mà biết thành tâm trì tụng Chú Vãng Sanh siêu độ cho nó, thì cũng có thể diệt tội cho chính mình.

Tóm lại, cái gốc là tâm niệm. Nội dung kinh, chú chỉ là phương tiện. Chớ nên lầm tưởng rằng chỉ cần đứng trước Bồ Tát, đọc một câu là đủ để diệt trừ 80 ức kiếp trọng tội. Sư phụ dùng giáo lý Phật pháp để khai mở cho chúng ta thấy rõ chân tướng nhân sinh. Còn quý vị, phải tự tâm thể ngộ, tự tâm thấu hiểu, để từ đó có cái nhìn đúng đắn về vũ trụ và nhân sinh.

QUYỂN 1 – TẬP 3
MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC HỌC PHẬT VÀ TU TÂM
(Phần 1)

Học Phật, tu tâm rốt cuộc là để làm gì? Câu hỏi ấy, rất nhiều người đều có thể đáp rằng: để vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Nhưng, cụ thể là phải tu đến mức độ nào mới có thể vãng sanh, phương pháp hành trì ra sao mới đủ sức cảm ứng? Nếu tu chưa tinh tấn thì kết quả sẽ thế nào? Những câu hỏi ấy, không phải ai cũng có thể trả lời tường tận.

Trên thực tế, vãng sanh Cực Lạc là mục tiêu vô cùng thù thắng, tối thượng; mà đã là thù thắng, thì không phải chuyện dễ dàng. Khi một người mạng chung, tất yếu phải trải qua một sự khảo nghiệm lớn. Dù là rơi vào địa phủ – địa ngục, hay lên thiên giới, hoặc có thể vãng sanh Cực Lạc, thì đều phải trải qua một cuộc thẩm định nghiệp lực.

Học Phật, tu tâm, có thể ví như việc chuẩn bị thi đại học. Vãng sanh Cực Lạc thì giống như phải thi vào những ngôi trường danh tiếng bậc nhất thế giới, như Harvard hay Oxford – đối với phần lớn người, đây là mục tiêu vô cùng cao, gần như khó đạt. Mục tiêu thực tế hơn, phù hợp với đa số, chính là những trường đại học danh tiếng trong nước, các trường đại học quốc gia, hay các trường đại học của tỉnh – ở Phật pháp, ví như Thiên giới, A Tu La đạo, và Nhân giới.

Vì thế, khi học Phật và tu tâm, quý vị phải luôn hướng tới tiêu chuẩn cao nhất, nhưng đồng thời cũng phải nhìn thẳng vào thực tế – tức là nỗ lực hướng đến Thiên giới. Cõi Thiên càng cao, thì thời gian lưu lại càng lâu; càng gần Nhân giới, khả năng luân hồi xuống các cõi thấp hơn càng lớn. Cho nên mỗi người đều phải kiên trì nỗ lực, vươn lên.

Vậy tại sao phần lớn chúng sinh lại luân hồi ở cõi người, hoặc các cõi thấp hơn? Cuộc sống ở Thiên giới hay Địa ngục thực sự ra sao? Thực ra, nhân gian chỉ là một thu nhỏ của các giới ấy. Cuộc sống của tất cả những người xung quanh ta, tổng hợp lại, chính là một bộ “Đại Tạng Kinh” sống động. Có người ở vị trí cao, hô mưa gọi gió, mọi sự thuận lợi, giống như đang sống trên Thiên giới; có người phấn đấu không ngừng, chú trọng quá trình hơn kết quả, phong cách điển hình của A Tu La đạo; phần lớn mọi người quan tâm đến cơm áo gạo tiền, không có đại hỷ đại bi, đó là đời sống bình thường của nhân gian; còn những người chịu bệnh tật quấn thân, trải qua muôn vàn khó khăn, thậm chí gặp thiên tai hay nhân họa, đó chính là bức tranh thê lương của Địa ngục. Do vậy, không cần phải bàn cãi, Thiên giới chính là mục tiêu mà chúng ta cần hướng tới.

Nếu cuộc sống ở nhân gian ví như một kỳ thi tuyển sinh đại học, thì nội dung thi tất nhiên phải thống nhất; nhưng điều này không có nghĩa là mọi người đều đủ điều kiện và tư cách để ngồi vào phòng thi. Trong quá trình chuẩn bị, chúng ta cần hiểu rõ những điều kiện nào cho phép được tham gia kỳ thi ở Thiên giới, cũng như nội dung đánh giá là gì. Trước khi giải thích, cần phải thấu hiểu nguyên nhân vì sao con người lại luân hồi vào cõi Người, và những ràng buộc nào đã tạo nên kiếp sống này.

Do những hành vi và tư tưởng đã tạo tác từ kiếp này, linh hồn mỗi người đều mang theo nghiệt chướng lẫn phước báo; chỉ khác nhau ở mức độ ít hay nhiều mà thôi. Mỗi một nghiệt chướng, mỗi một phước báo, ngay khi hình thành, đều có một đầu kết nối với chính bản thân, một đầu liên kết với duyên. Hình tượng mà nói, nghiệt chướng phát ra như sợi tơ đen, tạo lực cản, liên kết với những người mà ta còn nợ nần – chính là các chủ nợ. Phước báo thì như sợi tơ trắng, tạo sức hỗ trợ, xuất phát từ những người mà ta đã giúp, đã nợ ta ân tình – đây chính là nghiệp lực.

Những nghiệt chướng hay phước báo càng lớn, các sợi tơ càng dày, thì lực cản hay sức trợ lực tương ứng cũng càng mạnh. Trước khi chúng ta sinh ra, cha mẹ đã kết nối vào tấm lưới này và bắt đầu trả nợ. Sau khi ra đời, chúng ta lại được gắn thêm vào các mối quan hệ với anh chị em, người thân, bạn bè. Khi đi học, bạn cùng lớp và thầy cô lại được thêm vào; tiếp đó là bạn bè, vợ chồng, con cái, đồng nghiệp… Mỗi mối quan hệ đều có thể là trả nợ hoặc đòi nợ. Tấm lưới này chính là tấm lưới duyên Hồng trần.

Linh hồn con người chúng ta ở chính giữa tấm lưới ấy, bị duyên hồng trần trói buộc, từ đó quyết định hướng đi và vận mệnh thăng trầm của mỗi đời người. Mỗi thời điểm trong cuộc đời, chúng ta đều tạo ra hoặc đón nhận những duyên phận mới. Duyên ấy khởi lên từ tâm, từ thân, từ khẩu, từ ý – là nguồn gốc của nghiệt chướng. Chỉ một ý niệm xấu, một hành vi sai trái, hay một lời trách mắng đối với ai đó đều sinh ra nghiệt chướng mới, khiến bản thân càng bị vướng mắc vào tấm lưới duyên hồng trần càng thêm chặt.

Khi một nghiệp chướng chưa chín muồi, nó sẽ âm thầm ức chế thần kinh, cản trở vận trình, ăn mòn thân thể, khiến bản thân mưu cầu không được như ý, thân thể sinh bệnh tật – đó chính là “lãi suất” của món nợ nghiệp, đồng thời cũng là lời nhắc nhở từ nhân quả. Khi nghiệp chướng chín muồi, đến thời kỳ trả nợ, chủ nợ sẽ hiện đến qua nhiều hình thức khác nhau: đột nhiên phát bệnh, gặp tai nạn hay sự cố muôn hình muôn vẻ, để đòi lại những gì đã tạo tác. Nhưng một khi nghiệp nợ đã được trả xong, nghiệt duyên ấy sẽ được tiêu trừ, và một phần duyên trần cũng sẽ chấm dứt.

Tương tự, thiện duyên cũng là duyên. Khi người khác còn thiếu nợ ta, họ sẽ phải hoàn trả, nếu không, duyên Hồng trần của ta sẽ chưa thể kết thúc. 

Sự khác biệt là: nghiệt duyên thường phải trải qua ba đời mới thanh toán xong, trong khi thiện duyên, vốn chính là phúc phận, thường sẽ được hoàn tất và hưởng thụ cơ bản ngay trong kiếp sau. Một người trước tuổi 45 đã hưởng những phúc phần do thiện duyên từ kiếp trước mang đến; từ 45 đến 55 tuổi trở đi, họ bắt đầu thọ hưởng những phúc báo từ các việc thiện mà chính mình đã tạo trong kiếp này. Vì vậy, nói chung, sức ràng buộc của thiện duyên trong tấm lưới Hồng trần này không quá mạnh, mà chủ yếu là từ nghiệt duyên. Đây cũng chính là lý do tại sao chúng ta nên đặt việc tiêu trừ nghiệt chướng lên hàng đầu, coi đó là nhiệm vụ trọng yếu nhất cần thực hiện. Chỉ khi duyên chưa hết, mối liên hệ này không thể chấm dứt, nên sự giải thoát cũng chưa thể đạt được. Do đó, chúng ta thường nghe câu: “Duyên trần chưa hết,” bởi nếu chưa xong, linh hồn sẽ phải đầu thai trở lại. 

Nếu một người mặc cho tấm lưới ấy chi phối, không biết tự mình cắt dứt những sợi tơ ràng buộc trần tục, thì qua vô lượng đời kiếp, nợ cũ trả xong lại kết thêm nợ mới, chồng chất ngày càng sâu dày. Cuối cùng, chỉ có thể chìm nổi nơi cõi trần, trôi lăn theo dòng sinh tử, cam chịu nỗi khổ của nghiệp số. Đây chính là nguyên nhân vì sao chúng sinh mãi luân chuyển trong vòng nhỏ của địa phủ nhân gian, thậm chí đọa lạc nơi địa ngục, không thể bước lên cảnh giới thiên thượng. Bởi mỗi sợi tơ trong lưới Hồng trần ấy đều là một nhân quả, vận hành theo luật nhân duyên quả báo, không một thế lực nào có thể tùy tiện cắt đứt; do đó, muốn nương cậy người khác để thoát ly là điều không thể.

Phật pháp thấu triệt đến tận cùng sự vận hành của nhân quả, là pháp môn bất nhị chỉ bày con đường duy nhất để tự mình tiêu trừ nghiệp chướng, thoát khỏi lưới Hồng trần và siêu sinh giải thoát. Vì vậy, Đức Phật chỉ dạy chúng ta phương tiện và phương pháp nương vào chính công đức và năng lực nội tâm để vượt khỏi vòng tấm lưới Hồng trần. Luật nhân quả không chỉ dừng ở nguyên tắc “hễ có nhân ắt có quả”, mà còn bao hàm một chân lý trọng yếu: một loại nhân quả chỉ có thể được chuyển hóa bởi một loại nhân quả khác tương ứng. Chính vì lẽ ấy, chỉ cần chúng ta chân thật học Phật, tu tâm, y giáo phụng hành, thì chư Phật và Bồ Tát liền từ bi ghi nhận phần nhân quả thiện lành ấy – gọi là công đức – để giúp chúng ta tiêu trừ và chuyển hóa nghiệp chướng đã gây tạo. Từ góc nhìn này mà quán chiếu, câu “Phật pháp vô biên, phổ độ chúng sinh” quả thật là chân thật bất hư.

Vậy thì, làm thế nào mới có thể siêu thăng lên cõi Trời?

Học Phật, điều đầu tiên chính là học cách cắt đứt những sợi tơ trói buộc nơi hồng trần: làm sao trả hết nợ cũ, và làm sao tránh tạo thêm nợ mới. Theo lời giảng Bạch Thoại Phật Pháp trước đây, đại chúng đều đã hiểu rằng việc trả nợ chính là điều Đài Trưởng thường chỉ dạy – tiêu trừ nghiệt chướng, không kết thêm nghiệt duyên, chỉ có thể nương vào tu tâm và hành trì mà đạt được.

Vậy còn thiện duyên thì sao? Chẳng lẽ chúng ta không thể làm việc thiện?
Điểm này chính là sự khác biệt giữa thiện hạnh và công đức. Khi phát tâm thiện lương trước mặt Bồ Tát, thực hành thiện sự với tâm thanh tịnh, không cầu hồi báo, thì thiện hạnh ấy được ghi thành công đức. Nhờ tâm không vướng bận, không chấp công, nên chẳng kết thành thiện duyên ràng buộc, cũng không dệt thêm sợi tơ hồng trần.

Mỗi pháp môn đều có phương pháp tiêu trừ nghiệp chướng khác nhau, nhưng nguyên lý đều đồng nhất: phải lấy công đức để chuyển nghiệp. Dù tu theo pháp đời trước hay pháp đời này do Đài Trưởng truyền dạy, mục đích vẫn là dùng công đức để tiêu trừ nghiệt chướng. Chỉ khác ở chỗ, Pháp do Đài Trưởng khai thị là phải hoàn trả nợ trước tiên, thậm chí có thể thanh toán trước những nghiệp duyên chưa đến kỳ chín muồi. 

Nhiều người lầm tưởng rằng chỉ cần “lui về cửa Phật” là có thể cắt đứt những sợi tơ nơi hồng trần. Nhưng thực tế, chỉ quy y thôi thì không thể thay đổi gì, bởi nghiệt duyên vẫn còn đó. Chỉ những ai thật sự nương nơi cửa Phật, giữ giới thanh tịnh, tinh tấn tu hành, siêng năng tạo phước và tích lũy công đức, mới có thể dần dần lấy công đức mà tiêu trừ nghiệt duyên. Do vậy, muốn thoát khỏi lưới hồng trần, điểm then chốt vẫn là công đức. Sự khác biệt chính nằm ở chỗ: từ thời khắc bước vào Phật môn, nếu giữ giới thanh tịnh, tâm không còn nhiễm bụi trần, thì nơi tấm lưới hồng trần của họ không còn sinh thêm sợi tơ ràng buộc mới. 

Thông qua học Phật và tu hành đúng pháp, nợ trần dứt, duyên trần sạch, hội đủ điều kiện, chúng ta mới có thể bước vào kỳ khảo thí, được dự thi ở các tầng trời khác nhau, và tùy theo kết quả khảo nghiệm mà được vãng sinh đến từng cõi thiên tương ứng. Muốn đạt kết quả tốt trong kỳ thi ấy, trước hết phải hiểu rõ đề thi là gì. Đáp án, kỳ thực vô cùng rõ ràng: chính là công đức và cảnh giới.  Đây cũng là một phương diện thâm sâu trong Đại Pháp cứu độ chúng sinh: chỉ bày trước nội dung khảo thí, và dạy chúng ta phương pháp chuẩn bị cho kỳ thi sinh tử. Tất cả đều phải tham dự kỳ thi này, không ai có thể tránh khỏi, chỉ khác nhau ở trình độ cao hay thấp mà thôi. Những ai chưa từng nghe đến Phật Pháp, người ấy chẳng biết đến đề thi, chẳng hay kỳ thẩm định sinh tử đang chờ phía trước, lại không hề có sự chuẩn bị. Bởi vậy, mới gọi họ là “người đáng thương”.

Công đức là kết quả của sự tu hành; cảnh giới là thành tựu của việc tu tâm. Tu hành và tu tâm vốn là hai mặt của một thực thể, tương hỗ lẫn nhau mà thành tựu đạo nghiệp. Tu hành chính là phương tiện để điều phục tâm; ngược lại, nhờ quá trình tu hành mà phát sinh giác ngộ sâu rộng, từ đó cảnh giới trong tâm được thăng hoa. Tu tâm là nền tảng của tu hành; phát tâm là điểm khởi đầu của đạo lộ. Khi cảnh giới tâm thức được nâng cao, thì nguyện lực càng lớn, chất lượng tu hành cũng trở nên thanh tịnh và thù thắng hơn. Ví như có người nhờ nhân duyên hy hữu mà tạo được đại công đức, cứu thoát sinh mạng của cả một con thuyền chở người, phúc báo ấy quả thật vô lượng. Thế nhưng, nếu tâm người ấy chưa được điều phục, vẫn còn nóng nảy, tham lam, chưa đoạn trừ phiền não, thì dẫu tạo thiện nghiệp lớn, cũng chưa thể vãng sinh thiên giới.

Công đức và cảnh giới là những tiêu chuẩn đánh giá bất biến trong kỳ thi của nghiệp lực; thiếu một trong hai đều không thể viên mãn. Vì vậy, toàn bộ giáo pháp nhà Phật xoay quanh hai phương diện này, dành cho chúng sự quan tâm sâu sắc, khai thị rộng rãi và chỉ dẫn tường tận phương pháp nâng cao. Đối với muôn ngàn chướng ngại, hiểu lầm, ràng buộc và tâm ma phát khởi trên đường tu, Đức Phật đều giảng giải và chỉ dạy thấu đáo cách nhận biết và hàng phục. Trong tiến trình tu hành, giáo pháp còn chỉ ra các pháp môn chuẩn bị cho kỳ thi nhân quả này.

Ví như cảnh trong mộng xuất hiện để khảo nghiệm, giúp ta nhận biết trình độ tu tập của chính mình và điều chỉnh phương hướng tinh tấn cho phù hợp, bởi căn cơ và hoàn cảnh của mỗi người đều khác nhau; duyên phận cũng có những ràng buộc bất đồng. Có người lưu luyến vinh hoa phú quý; có người “chỉ cần anh ấy quay lại với tôi, muốn tôi làm gì cũng được”; có người không thể rời xa gia đình. Có người bận rộn công việc, có người bận rộn giao tế xã hội, lại có người bận rộn với những điều họ cho là vô cùng trọng yếu. Có người niệm kinh mà tâm tư như liễu trước gió; có người dễ dàng an định nội tâm. Có người tu hành nhiều năm vẫn chưa thấu được “vì sao mình mãi không thuận buồm xuôi gió”; có người chỉ niệm kinh vài chục năm đã được vãng sanh về cõi Cực Lạc; lại có người dù hai đời xuất gia vẫn còn chịu khổ ở nhân gian – và còn vô lượng nhân duyên sai biệt khác nữa.

Cho nên, đoạn được duyên nơi hồng trần thật chẳng dễ dàng. Học Phật và tu tâm không phải chỉ là niệm kinh và hành thiện; trọng yếu vẫn là chữ “ngộ”. “Trí huệ” chính là mục đích của việc tu công đức và tu tâm. Khi trí huệ khai mở, chúng ta có thể nghênh đón những khảo nghiệm mới trên đường tu tâm một cách vững vàng hơn, và tạo lập được nhiều công đức thù thắng hơn.

QUYỂN 1 – TẬP 4
MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC HỌC PHẬT VÀ TU TÂM
(Phần 2)

Đã rõ mục đích tu tâm, vậy tu bằng cách nào, gột rửa tâm ra sao? Điều ấy nương nơi sự minh triết của tâm – gọi là ngộ. Ngộ tức là thông đạt, thấu suốt. Chúng ta thường nói “phải ngộ”, nhưng đạo lý đã hiển bày ngay trước mắt: luân hồi – nhân quả – duyên khởi – số mệnh, còn điều gì phải tìm cầu nữa? Kỳ thực, trăng sáng, mây bay, hoa nở, cỏ cây… đều là duyên mở cửa giác ngộ. Mỗi ngày, mỗi sự trong đời đều có thể giúp ta thể hội sâu hơn. Ngộ là đem Phật pháp ứng dụng vào đời sống, rồi từ đời sống mà quay về thể nhập Phật pháp; là hành trình tu tập lặp đi lặp lại không dừng nghỉ.

Như người chuẩn bị cho kỳ khảo thí: ôn cương lĩnh, luyện bài tập, từ sự thực hành mà thấu đạt đạo lý, cho đến khi thuần thục, ứng dụng tự tại. Trên đường tu tâm, mỗi lần hành đúng chánh pháp, cảnh giới tâm liền thăng hoa một bậc. Nhưng cũng vậy, có thể chín lần đúng mà một lần sai; chỉ một niệm sai lầm nơi lần thứ mười, công phu trước đó có thể tiêu tan. Cho nên nói: “tu tâm như đi trên băng mỏng”

Có rất nhiều đồng tu đối với lời khai thị của Sư Phụ đã nghiên cứu tinh tường, lãnh hội thấu triệt, tu tập tinh tấn – đó là điều đáng mừng, cho thấy mọi người đã nhận ra sự thù thắng của pháp môn này. Tuy nhiên, từ những câu hỏi trên mạng và cung cách xử sự trong đời sống thường nhật, có thể thấy nhiều người vẫn đang ở giai đoạn trả nghiệp, chưa thật sự thấu hiểu rằng Phật pháp chính là đời sống; học Phật, trước hết phải học đạo làm người. Dẫu nhờ trì tụng kinh chú mà tính khí đã có phần chuyển hóa, nhưng vẫn chưa khởi tâm tự giác phản tỉnh, chưa chủ động tìm lỗi nơi mình để tu sửa phẩm hạnh; nghĩa là Phật pháp vẫn chưa được thể nhập vào đời sống, chưa thật sự được ứng dụng nơi chính bản thân.

Ví như pháp “Giới – Định – Tuệ”: có bao nhiêu người vẫn chưa minh bạch vì sao phải trì giới, giới điều gì, vì sao trì giới mà sinh định; vì sao cần định, định điều gì? Đó đều là những điều phải sáng tỏ ngay nơi tự tâm. Cũng như vậy, đối với những kinh nghiệm mà chư tiền nhân đã đúc kết – vốn ta thường nghe quen thuộc – cũng cần từ đó mà khai ngộ nguyên lý, xem căn cứ nơi định luật căn bản nào của Phật pháp. Chỉ như thế mới hiểu vì sao cổ đức lại dạy như vậy.

Ví như: vì sao “nhẫn nhục có thể tinh tấn”, nương theo nguyên lý nào? Vì sao phải nhấn mạnh “vô ngã”, công dụng ra sao? Không thể chỉ dừng ở chỗ nghe biết, mà cần thực hành đúng pháp; không thể đơn thuần sao chép rập khuôn. Chỉ khi thấu triệt nguyên lý mới có thể nhất dĩ quán tri, thực sự thông đạt, thực sự biết ứng dụng. Điều này chẳng khác nào học toán: phải hiểu định luật thì mới vận dụng được, mới thật sự biết làm. Bởi vậy, “ngộ” không phải điều xa vời trừu tượng. Trong từng ngày học Phật, kỳ thực chúng ta vẫn đang âm thầm khai ngộ mà chẳng tự hay: làm sao trì niệm kinh cho đúng? Vì sao niệm kinh có thể chuyển nghiệp, khiến tâm tánh dần sáng thiện? “Ngôi nhà nhỏ” vận dụng ra sao?… Tiếp đó, cần bước thêm một tầng – hệ thống hóa việc quán chiếu, có ý thức tư duy, thường tự hỏi “vì sao”, để từ đó khai mở thêm nhiều đạo lý.
Người tu tâm không dám tạo ác, như người hiểu luật không dám phạm pháp, bởi họ thấu rõ đạo lý, biết rõ hậu quả.

Vậy tu hành, rốt lại là tu điều gì?

Tu hành chính là tu chánh – sửa đổi những sai lầm của chính mình, hướng đến cảnh giới giác ngộ tối thượng, đại triệt đại ngộ. Tu hành có ba phương diện: chỉnh sửa hành vi, thanh tịnh khẩu nghiệp, và nâng cao phẩm hạnh cùng ý thức. Thực tế, khi hiểu rằng trong lưới trần, nghiệp lực chiếm phần trọng yếu, mà nghiệp chướng lại phát sinh từ thân – khẩu – ý, thì sẽ dễ dàng thấy rằng ba điều này đều nhằm ngăn dứt tạo nghiệp:

Chỉnh sửa hành vi để đoạn nghiệp do thân gây nên; Thanh tịnh khẩu nghiệp để không tạo khẩu nghiệp;   Nâng cao phẩm hạnh và ý thức để phòng hộ vọng niệm bất thiện, từ đó giảm thiểu tạo tác ý nghiệp. Khi đã thấu rõ những nguyên lý này, ta có thể nương theo đó làm chuẩn mà điều chỉnh hành vi, giảm nghiệp chướng, không tiếp tục dệt thêm tơ trần mới. Dĩ nhiên, việc vận dụng Pháp vào đời sống – và mức độ vận dụng sâu rộng đến đâu – còn tùy nơi căn tánh và khả năng lãnh ngộ của mỗi người.

Ví như: tại nơi làm việc, lãnh đạo rõ ràng gia tăng khối lượng công việc, khiến ta ngày ngày vùi đầu lao lực, thường xuyên tăng ca, trong khi người khác cùng mức lương lại thong dong hơn nhiều. Trong cảnh ấy, ta có thể nhẫn không thốt lời thô lỗ, có thể nhẫn không làm điều vượt khuôn phép – nhưng trong tâm, liệu thật sự không khởi sân? Vì sao việc không khởi sân quan trọng đến như vậy? Nếu không nổi giận, liệu người khác có xem ta yếu đuối? Vậy đâu là tâm thái đúng đắn? Tất cả những điều ấy đều phải nương nơi tự tâm mà tự ngộ. Mỗi khi giải được một vấn đề, cảnh giới liền thăng một bậc; cảnh giới khác nhau, thì sự lãnh ngộ tự nhiên cũng khác. Nếu không thể ngộ ra, tâm liền thường đem mình so với người, mãi cảm thọ bất công, dần dần sinh tâm oán hận. Khi ấy, nghiệp duyên đã âm thầm kết thành mà chính mình chẳng hay, lại còn tự cho mình là kẻ bị hại, khiến đạo tâm suy tổn.

Kỳ thực, nỗ lực của bất kỳ ai cuối cùng cũng sẽ được hồi đáp. “Sư phụ dẫn vào cửa, tu hành ở nơi mỗi người.” Chính vì hoàn cảnh mỗi người bất đồng, chướng duyên không giống, nên Sư Phụ không thể bày sẵn đáp án cho từng người mà lựa chọn thay. Nhưng may thay, muôn pháp tuy biến, tông chỉ vẫn đồng: Lấy nhân quả và duyên khởi để quán sát đời sống; Lấy pháp môn Sư Phụ chỉ dạy mà xử lý vạn sự; Lấy tích lũy công đức, không kết ác duyên làm khuôn thước tự giữ mình.

Có người hỏi: ba phương diện tu hành không nhắc đến việc tích công đức, vậy vì sao công đức lại trở thành kết quả của tu hành? Bởi lẽ, khi tu chỉnh thân – khẩu – ý một cách đúng đắn, kết quả trực tiếp chính là hành thiện, khởi thiện niệm, nói lời lành – mà những điều ấy đều là công đức. Vậy, tu tâm là tu điều gì? Tu tâm là đề mục mà người tu, khi đạt đến một giai đoạn nhất định, tất yếu phải đối diện. Người mới học, hoặc người chưa có cảm ứng, có thể trước tiên chuyên tâm tiêu nghiệp chướng và tạo công đức – bởi khi nghiệp chướng còn sâu dày, nợ nần còn nhiều, tâm địa vẫn ô nhiễm, thì chưa thể luận bàn đến tu tâm.

Khi đã tiêu trừ nghiệp lực đến một mức nhất định, thường sẽ xuất hiện những thử thách trong mộng, hoặc có cảm ứng thù thắng như thoảng hương trời trầm, thấy Bồ Tát mỉm cười, v.v… Khi ấy, tu tâm tự nhiên hiện tiền.  Đó cũng chính là nét khác biệt của pháp môn do Sư Phụ truyền dạy: tu Pháp ngay trong đời này, khác với nhiều pháp môn thiên về tu cho đời sau.

Ma khởi từ tâm; kỳ thực tâm ma và nghiệp chướng mật tương liên, chẳng thể tách rời. Nay chúng ta có thể trả nghiệp trước rồi mới tu tâm, tức là được nhẹ hành trang mà trực chỉ tiến đạo. Vì vậy, tuy đều là tu tâm, nhưng Pháp Môn Tâm Linh khiến tâm mê chướng được tiêu trừ nhẹ nhàng, dễ hàng phục tâm ma, nâng cao cảnh giới, và sớm hiển lộ hiệu quả tu tập. Từ ba phương diện tu hành cũng có thể thấy rằng tu hành và tu tâm vốn tương giao bất khả phân. Muốn sửa mình, trước hết phải tự giác nhận ra nơi hành vi có điều gì sai lệch. Tiến trình “giác” ấy chính là quá trình tu tâm: phản tỉnh thân, phản chiếu tâm, từng bước nâng cao cảnh giới.

Tu tâm không có khuôn phép cứng nhắc, cũng chẳng có trình tự máy móc để “làm theo”. Mỗi người nghiệp lực bất đồng, chướng duyên khi tu khác nhau, nên lộ trình tu tâm cũng thiên hình vạn trạng. Muôn pháp đồng quy một đạo. Dù đường tu của mỗi người có sai biệt, cứu cánh rốt ráo vẫn chỉ một: phát khởi và viên thành Phật tâm, Bồ Tát tâm. Phật tâm là tâm vốn sẵn nơi hết thảy chúng sinh; Bồ Tát tâm là tâm đại từ đại bi. Vì vậy, chỉ cần thường xuyên phản chiếu tự tâm, đối chiếu với Phật tâm và Bồ Tát tâm, tự nhiên sẽ thấy rõ chỗ cần sửa mình, từ đó điều phục thân-khẩu-ý cho đúng chánh đạo. Phật tâm là tâm vô ngã, luôn quán niệm nỗi khổ của muôn loài; Bồ Tát tâm là tâm từ bi, hỷ xả, rộng lớn không bờ. Đây là cảnh giới tối thắng, là khuôn phép để noi theo, cũng là cứu cánh của đường tu.

Khởi điểm căn bản của tu tâm là chỉnh trị nội tâm, khiến tâm thanh tịnh, tâm an định. Nói rộng thì chí hướng cao viễn; nói gần chính là bắt đầu từ tự thân, nhận lỗi nơi mình, đoạn trừ tam độc: tham – sân – si, xả bỏ ngã chấp và chấp người, để tâm được an lập, nhất hướng nơi đạo, dần dần thanh tịnh, rồi minh tâm kiến tánh. Kiến tánh tức là thấy rõ Phật tánh vốn sẵn nơi mình – tức lương tâm, thiện tâm – rồi nuôi dưỡng cho nó lớn dần, hiển lộ thành tâm đại bi. Vậy thế nào là tâm thanh tịnh? Tu chỉnh tâm linh là điểm khởi hành của tu tâm. Nhưng khổ nỗi, mỗi người lại có một quan niệm riêng về cái gọi là “đúng”. Thậm chí hai lập trường trái ngược, mỗi bên đều tự cho mình đúng. Thế nên, câu hỏi đầu tiên cần đặt ra: chánh là gì? Thế nào mới thực là chánh?

Một người ích kỷ có thể nói: “Ai mà chẳng vậy.”
Một người hay cãi vã với vợ sẽ nghĩ: “Cô ấy chẳng hề hiểu tôi.”
Thậm chí một người con trai mười năm không đoái hoài mẹ già tám mươi vẫn có thể biện hộ: “Bà từng đối xử tệ với vợ tôi.”

Trong những tình huống như vậy, nếu mười năm không thấy mình sai, làm sao bỗng một ngày lại biết quay đầu, phản tỉnh? Vậy duyên khởi nào khiến một người bắt đầu soi lại chính mình? Điều ấy phần nhiều đến từ ngoại cảnh: một câu khai thị của Sư Phụ trong pháp hội, một khoảnh khắc ngồi trên xe bỗng thấy tâm mở sáng, hình ảnh người con dìu mẹ già qua đường, hay một câu chuyện nhỏ do đồng nghiệp kể lại… đều có thể trở thành nhân duyên khiến tâm bừng ngộ, khởi ý sám hối.

Nhưng để có duyên ấy, phải có nền tảng công đức tích lũy từ trước. “Tích dày thì phát nhẹ”. Dù là trì tụng kinh hay hành thiện tạo phước, chỉ khi công đức đủ đầy, mới có thể “một điểm mà phá mở”. Nghĩa là, khi nghiệp chướng che lấp tâm tánh đã tiêu bớt, lớp bụi phủ bản tâm được lau sạch, tự nhiên bản tánh vô tư hiển lộ; bản tánh yêu thương, bao dung, hiếu thuận sẵn có cũng theo đó mà hiện ra.

Song song đó, chúng ta phải nhận rõ trong chính tâm mình vẫn còn gốc rễ tạo ra mọi ô nhiễm: tham, sân, si.
Trong đời, mười phần thì có đến tám, chín phần không như ý; mà phần lớn những việc không như ý ấy đều do ba độc ấy sinh khởi, nên gọi là tam độc. Vừa mới tự quán chiếu, tự trách tâm ích kỷ của mình thật lâu, thoáng chốc đến khi đơn vị xét thăng chức, lại lập tức muốn đứng lên đầu hàng, không ai bằng ta; vừa mới đón mẹ già về nhà, mười năm giá lạnh tình thân tưởng như đã tan băng, thế mà chỉ một câu của mẹ, liền nổi giận đùng đùng… Cái tâm thiện lành vừa lóe lên một chút đã lập tức tiêu mất không còn dấu vết.

Bởi vậy, nếu tam độc chưa trừ thì tu tâm chỉ là công nhiều mà hiệu ít, thậm chí khó tiến một bước. Dù là người mang tiếng tu lâu, nếu không đoạn được tham – sân – si, vẫn có thể dậm chân tại chỗ. Điều ấy, rốt cùng, chỉ có tự tâm mỗi người mới chuyển được. Lời khuyên của người khác hay trợ lực bên ngoài, dù tốt lành đến đâu, cũng không thể thay phần tự giác. Sư Phụ dẫu dặn rằng: “Đừng tham, chớ si”, nhưng nếu tự mình không buông, thì giáo pháp nghe nhiều cũng chỉ thành gió thoảng. Biết bao kẻ si tình, duyên đã tận mà lòng vẫn quyến luyến chẳng rời; biết bao người hưởng đủ vinh hoa phú quý, nhưng chẳng thể an trú nơi hiện tại, lại liều lĩnh đánh cược đời mình, càng tham cầu, càng không biết đủ. Tất cả đều do chưa nhìn thấu: đời người ngắn ngủi, hơi thở như sương sớm; từng niệm sinh diệt, đều là vô thường.

Tuy trên lý đã hiểu rõ nhân duyên và nhân quả, nhưng khi quay về đối diện chính mình, lại là chuyện khác.
Khi chuyện chạm đến tâm, ta thường quên rằng mọi duyên đều theo nghiệp đời trước mà hợp rồi tan; duyên đã tận, thì một mối ràng buộc cũng chẳng còn. Cũng không còn thấy được vạn pháp như lá rụng hoa bay, đều là huyễn; không nhớ rằng phú quý nhân gian vốn do thiện nghiệp đời trước, nếu yêu thích và mong giữ, thì lại càng phải tinh tấn tu công đức, để đời sau tiếp tục rạng ngời. Bởi vậy, tam độc theo người tu suốt cả hành trình, thử thách từng sát-na, chẳng phút rời. Đối trị tam độc, không có pháp nào thần diệu ngoài Giới – Định – Tuệ.

Trước phải giữ giới, điều phục tâm, tự chế phục chính mình; nếu chế phục được, tâm liền an. Tâm đã an rồi, mới có thể không thối chuyển trên đường tu. Đến một ngày, khi có thể thực sự buông xả, thực sự nhìn thấu, ấy chính là lúc trí tuệ khai mở. Khi trí đã sáng, những thứ từng là độc, cũng chẳng còn là độc. 

Tiến thêm một tầng nữa, tam độc lại có thể hóa hiện dưới vô số hình thái cám dỗ khác nhau: thấy rõ sự mê hoặc của tiền tài, lại khởi duyên với cám dỗ địa vị; thấy thấu địa vị hư huyễn, lại dấy khởi ái sắc; thấy rõ thân xác chỉ là bọc da hôi uế, lại sinh tâm tham cầu danh vọng…
Cảnh duyên biến hóa không cùng, vô lượng vô biên.

Không chỉ có cám dỗ, mà đời người ai cũng mang nỗi khổ và phiền não riêng: việc nhà, việc đời, việc nhân thế… mỗi một việc đều khiến tâm lo; tâm lo thì tán động; tâm tán thì trôi lăn theo muôn duyên kéo lôi. Tâm đã loạn động, làm sao có thể an nhiên mà tu? Đã mang thân giữa cõi trần, tất phải đối duyên xúc cảnh, kết giao cùng muôn loài hữu tình. Ta có thể tự giữ mình, không khởi ác niệm, không kết ác duyên; nhưng chẳng thể khiến tất cả xung quanh đều không sinh tâm bất thiện. Khi người đối với ta khởi tâm bất công, bất bình, hiểu lầm, phỉ báng hay nhục mạ, thì nhẫn nhục tinh tấn chính là pháp môn bảo hộ thanh tịnh tự tâm. Nhẫn nhục không phải yếu hèn, mà là pháp bảo tối thắng để không tiếp nhận ác duyên.
Người khác phóng về ta một hạt bụi nghiệp của sân hận; nếu trong tâm khởi giận, khởi oán, thì bụi nghiệp liền bám vào tâm, từ đó ác duyên kết thành. Chỉ khi nhẫn nhục, không nhận lấy hơi độc sân hận, ác duyên mới không thể gieo rễ. Nhẫn chỉ là tướng bên ngoài; điều cốt yếu là tâm không dấy động, đối cảnh như hư không – chính là cảnh giới “cảnh chuyển mà tâm bất chuyển”.

Lại nữa, trên đường tu hành, cần đoạn một chướng ngại lớn là chấp – dù là ngã chấp hay pháp chấp, đều do nhận thức phiến diện mà sinh mê lầm. Mỗi người vì nghiệp duyên khác nhau, trải nghiệm khác nhau, cảm thọ khác nhau, nên dễ chấp mình đúng mà thành thiên kiến. Khi chưa tự giác nhận ra, tâm liền bị giam nơi cái thấy sai lầm mà tưởng là chân lý, rồi cố chấp giữ lấy, chẳng chịu buông. Muốn phá được chấp, điều trọng yếu là diệt ngã; không lấy cái “ta biết”, “ta thấy” làm quy chuẩn để xét Phật pháp, mà phải học nhìn toàn diện, biện chứng, dùng giáo pháp soi chiếu đời sống mà thể hội. Tâm phải thường xuyên lau sạch, nghiệp chướng phải thường tiêu trừ, khiến phiền não và dụ hoặc không có nơi nương tựa. Như vậy mới được tâm thanh tịnh; tâm thanh tịnh thì bản tánh hiển lộ. Khi tâm tịnh đến một mức, Phật tánh phần lớn hiện bày, không còn dễ bị vô minh che phủ. Lúc ấy càng phải giữ gìn, nuôi dưỡng cho bản tánh thiện lành ngày thêm lớn mạnh, không để một niệm mê lạc kéo lôi trở lại. Đó mới là cửa ngõ bước vào con đường học Phật chân thật.

Vậy có phải chỉ rời xa trần thế mới được tâm tịnh chăng?
Không phải vậy. Cõi trần mới chính là đạo tràng thù thắng để tu tâm. Tâm chưa thanh tịnh, dù lánh mình nơi thâm sơn cùng cốc vẫn chưa thật buông bỏ. Cầu tâm tịnh không phải lìa hết thế duyên, cắt đứt nhân tình, tránh né người đời và cảnh giới. Chữ “tịnh” ở đây chính là thanh khiết, không nhiễm tập khí cấu uế và ác duyên.Cho nên, tâm tịnh là tu mà được, chẳng phải trốn mà thành. Thế nào là tâm định? Mỗi người đến với Phật pháp đều có duyên khởi sai biệt: Có người một lần nghe pháp hội liền tin sâu hành trì; Có người nghe trong pháp thoại, thấy cảnh đời mình tương ứng, làm theo lời dạy mà chứng nghiệm lợi ích, rồi mới phát tâm tin tưởng.

Duyên khởi tuy dị biệt, nhưng một khi đã tin sâu, tâm liền tạm được an trụ. Bệnh thân tiêu, con cái mở khẩu, thấy Phật lực thù thắng nên sinh kính tín. Song nếu chỉ dừng ở đó, rồi lấy bận rộn làm cớ không trì tụng; hoặc thuở đầu tinh tấn mà về sau giải đãi; hoặc chỉ biết nghe lời mà không học, không quán, không tự ngộ – thì chưa thể gọi là định. Khi nghịch duyên hiện khởi: mất việc, tình cảm trắc trở, liền bối rối như thuở chưa học; Hoặc khởi niệm oán than: “Con đã làm theo lời dạy, sao một tháng vẫn chưa có việc?” “Con đã tinh tấn nửa năm, sao duyên lành chưa tới?” Thì nghi tâm đã nổi, định tâm đã động.

Có nghiệp mới sinh chướng; đã có chướng thì “ngã” theo cảnh mà chạy, tâm theo duyên mà dao động. Vì vậy, tu Đại thừa – đạo cứu độ chúng sinh – tất phải lấy Tiểu thừa làm nền. Trước phải điều phục tự tâm rồi mới hóa độ tha nhân. Tự tâm không vướng, gia đình an hòa, nội tâm vô quái ngại, thì mới “vô hữu khủng bố”, mới có thể an trụ chánh định mà luận đến việc cứu độ hữu tình. “Tâm định” có hai tầng nghĩa: Một là tín tâm kiên cố; Hai là chí hướng không lay chuyển.

Nền tảng của định tâm chính là trí tuệ minh triết – hiểu rành pháp thế gian và pháp xuất thế gian; thấu triệt nhân quả; tin rõ thế giới tâm linh chẳng phải hư vô tưởng tác; hiểu cội nguồn của thịnh suy, thăng trầm; lại còn phải thấy được duyên lành – duyên ác, nghiệp lực – trần lao đan xen, không lìa nhau mà vận hành. Có như vậy, tâm mới có chỗ an trú mà tiến tu. Cũng cần hiểu bi nguyện vô lượng của chư Đại Bồ Tát: lòng từ, sức đại lực, đại trí và đại nguyện của các Ngài chẳng bao giờ sai khác. Bồ Tát nghe tiếng khổ mà ứng hiện cứu độ, nhưng người học Phật vẫn phải tự mình tinh tấn, tự gánh phần tu học và trách nhiệm chuyển hóa. Hiểu như thế, mới vững tin rằng nghịch cảnh đều có nhân duyên, khó khăn chỉ là giai đoạn trung chuyển; từ đó tâm không theo cảnh mà động – cảnh đổi, tâm vẫn bình; một hướng mà đi, kiên trì cầu giác ngộ. 

Dĩ nhiên, đây là cảnh giới thâm sâu, chẳng phải ai cũng có thể lập tức thành tựu. Nhưng khi đã thấy được phương, thì nương theo phương mà tiến; biết được đường, thì trên đường mà tinh tấn. Từng bước thể nghiệm, từng bước sáng tỏ. Tâm phù thì tán loạn; Tâm tịnh thì an định; Tâm định thì đạo tự sinh. Tóm lược một lời: Phật pháp trong đời – đời trong Phật pháp. Đem Phật pháp soi rọi vào đời sống; lấy đời sống nghiệm chiếu lại Phật pháp. Chỉ cần bền chí mà đi, kiên trì không thối chuyển, thì tự nhiên từng bước tiến vào cảnh giới an nhiên, sáng tỏ. 

QUYỂN 1 – TẬP 5
BÀN VỀ Ý NGHĨA SINH MỆNH QUA PHẬT PHÁP

Hôm nay, Sư phụ muốn chỉ dạy cho đại chúng: chúng ta phải làm bậc quân tử, chớ đọa thành hạng tiểu nhân.

Thế nào là quân tử? Nói một cách đơn giản , quân tử là người hằng ngày sẵn lòng chịu phần thiệt, biết nhẫn nhịn, tự giác tu hành, lấy đạo nghĩa làm trọng.

Thế nào là tiểu nhân? Tiểu nhân là kẻ ngày ngày đều toan tính mưu lợi riêng tư, tìm cách chiếm tiện nghi từ người khác, chỉ biết lợi mình mà quên lợi chúng sinh.

Sư phụ kỳ vọng mỗi người đệ tử, mỗi một ngày đều phải tự kỷ luật, tự phản tỉnh: quán xét chính mình thuộc hàng quân tử hay tiểu nhân; mỗi ngày phải phát tâm sám hối, tự soi lại bản thân xem đã tạo tác lỗi lầm nào.

Một chúng sinh vì sao trở nên ngu si? Bởi vì không biết quán sát tự tâm, không biết tự phản tỉnh. Mỗi người khi trở về pháp tràng gia đình, nên tự hỏi: hôm nay ta đã tạo tác lỗi lầm gì? Bao nhiêu thiện nghiệp của chúng sinh khác đã phát sinh nhờ nhân duyên với ta? Thế nhưng hiện nay, phần đông chúng sinh khi đối thoại đều chỉ kể công đức bản thân, nêu ra bao nhiêu việc thiện đã làm, bao nhiêu người được giúp đỡ, mà không hề tự quán xét lỗi lầm nơi chính mình.

Bồ Tát thì không luận đến hành vi người khác, chỉ quán chiếu bản tâm mình. Vì sao như vậy? Bởi người biết quán sát tự tâm, chính là người giác ngộ tất cả chúng sinh.

“Không luận đến việc người khác” nghĩa là không để tâm phán xét, quan sát chuyện bên ngoài, không lưu ý đến người khác; 

“Chỉ xét đến bản thân” nghĩa là chuyên tâm tu tập giác ngộ tự tâm, tự sửa đổi bản thân.

Nếu cho rằng chỉ chăm lo bản thân, giác ngộ bản thân mà không quan tâm đến chúng sinh, thì đó chính là tu theo lộ trình Tiểu thừa. Nghĩ như vậy là sai lầm. Bởi vì, người giác ngộ tự tâm là người dùng sự cảm nhận nội tâm của chính mình để thấu triệt tất cả chúng sinh. Mỗi chúng sinh vốn là một thể, bởi mỗi thân thể đều phát xuất từ một nguyên linh.

Chỉ cần dùng nguyên linh để cảm nhận chính mình, thì thực chất, bản thân đang cảm nhận tất cả chúng sinh trong thế gian. Khi nhận biết việc làm của mình đúng hay sai, đó chính là giác ngộ đối với muôn loài, là cảm nhận chúng sinh – đồng thể đại bi.

“Điều cao quý nhất trong đời người là gì?”
Mọi người hãy khắc ghi: “Điều cao quý nhất trong đời người là đối diện với sự giả dối và bất chính nơi người khác, mà vẫn giữ được tâm từ mẫn, gần gũi họ.” Nếu quý vị nhận biết người khác giả dối, nhận biết họ bất chính, nhưng vẫn có thể mỉm cười, thân thiện, quan tâm chân thành, thì đó chính là tâm Bồ Tát. Vậy, có mấy người trong chúng ta thật sự làm được điều ấy?

Hãy học cách bao dung với người khác. Người kia chưa tu hành, vẫn còn phàm phu; quý vị đã tu, có công phu tu tập, biết rõ bản ngã là giả, chớ chấp vào cái “ta” mà xem mình là chân thật.

Người ta nhờ đâu mà được kính trọng? Chính nhờ tu dưỡng bản thân, từ lời nói, cử chỉ, cho đến hành vi nội tâm. Đó chính là ý nghĩa của việc tu tâm tu hành: một lời nói, một hành động, một niệm tâm đều trở thành thước đo.

Một sinh mệnh của con người chỉ thật sự có ý nghĩa khi gắn kết với mạng sống của tất cả chúng sinh khác. Có người kia mới có quý vị, có quý vị mới có tôi, có tôi mới có người kia – thực chất, đó là một vòng tuần hoàn vô tận.

Nếu tình cảm giữa người với người không được kết nối, thì cá nhân đó không thể tồn tại trọn vẹn trong thế gian. Ví dụ, một người không chịu bao dung, không có bằng hữu, bất hòa với cha mẹ, con cái, bạn bè, hay bất kỳ ai, thì làm sao có thể nói rằng sinh mệnh của người ấy thật sự có ý nghĩa?

Vì thế, con người là một thể thống nhất. Theo triết lý huyền môn, con người vốn xuất phát từ một nguyên linh duy nhất. Mỗi chúng sinh ban đầu đều gắn bó với nhau, nên phải yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau. Ngay cả khi thấy khuyết điểm của người khác, nếu việc làm của quý vị là vì lợi ích của họ, thì đừng bận tâm rằng họ có hiểu hay không.

Thế giới vạn vật tồn tại mối quan hệ mật thiết với mọi sinh linh. Tất cả đều có tình, có nghĩa; con người có tình có nghĩa, cây cỏ cũng có tình có nghĩa. Ví như quả dưa hấu mọc ra, sẵn sàng đem đến sự giải khát cho con người; rau củ sinh trưởng, sẵn sàng cung cấp dưỡng chất. Phải chăng cây cỏ không có sinh mệnh? Khi được con người sử dụng đúng cách, vạn vật càng chứng minh giá trị và ý nghĩa tồn tại của mình.

Do vậy, con người cùng muôn vật trên thế gian đều sống trong ý nghĩa và giá trị. Hãy ghi nhớ, chớ tùy tiện phá hoại lương thực, bởi hành vi đó chính là phá hoại sinh mệnh và công đức của vạn vật. Lãng phí thực phẩm cũng chính là cắt đứt phước báo. Nhiều người giàu có khi bố thí thì rộng lượng, nhưng trong tiêu xài cho bản thân lại keo kiệt; điều này không chỉ là tính keo kiệt, mà còn là nỗi sợ tổn hao phước lành, bởi họ hiểu rằng những phước báu ấy không dễ mà có được.

Người ngộ đạo, khi gặp khổ không sinh lo sợ. Tất cả thăng trầm, được mất trong đời người đều phát sinh từ duyên; tâm không tăng giảm, thuận theo mệnh lý, hợp với đạo, chuyển phàm thành Thánh, tâm liền hiển lộ Phật tính.

Bậc ngộ đạo, khi đối diện khổ, không ưu sầu. Họ thấu rõ rằng đời người vốn phải trải qua khổ, khổ là tự nhiên, là điều nên thọ; nên an nhiên thọ khổ, không phiền muộn. Ai còn lo lắng khi gặp khổ, người ấy chưa thật sự giác ngộ.

Con người phải thuận theo duyên, dùng phương pháp thiện xảo nhất để hoàn thành duyên. Kẻ cố chấp sẽ không thể thuận theo duyên. Trong học Phật, khi đối diện sự việc, cần giữ tâm không tăng giảm. Tăng giảm là trọng khinh, là quan tâm thái quá hay thờ ơ; quá trọng sinh áp lực, quá nhẹ trở nên hờ hững.

Người tu hành chân chánh, kể cả âm ty, cũng sẽ thuận theo duyên của họ, không oán trách, không phiền não, tâm luôn an ổn và minh triết.

Chuyển phàm thành Thánh – tức là chuyển bản thân từ phàm phu phiền não, tham ái, thành bậc Thánh nhân. Chúng ta vốn là phàm nhân, dễ sinh phiền não, dễ tham cầu. Như Lão Tử, Khổng Tử, các bậc Thánh nhân đều đề cao khả năng bao dung, tha thứ người khác. Tha thứ chính là khởi điểm của tâm từ bi; nếu không tha thứ, tâm sẽ sinh oán hận, mà oán hận thì không thể sinh ra từ bi.

“Tức Tâm tức Phật” – bốn chữ này hàm chứa muôn pháp. Nghĩa là: tâm thanh tịnh, giác ngộ, không còn vướng bận, chính là Phật. Đồng thời, điều này cũng biểu thị sự thích nghi với cảnh giới, tôn trọng tín tâm, và dùng phương tiện để đạt cứu cánh.

Phải theo cảnh giới mà chuyển hóa tâm. Nếu tâm này là Phật, quý vị chính là Phật; nếu tâm này là ma, quý vị cũng chính là ma.

Phải kính tín tâm mình. Niềm tin của một con người duy trì nhờ đâu? Chính nhờ tôn trọng chính niềm tin ấy. Không phải nhờ người khác kính trọng, mà là chính bản thân phải trân trọng tín tâm của mình. Một người ngay cả bản thân cũng không tin rằng mình có thể thành công, làm sao có thể thực hành việc lành? Một người thiếu tự tin, làm sao có thể học Phật?

Hôm nay nghe người này giảng thấy hợp lý, ngày mai nghe người khác lại thấy hợp lý, cuối cùng sẽ không đi đến đâu. Khả năng con người có hạn; một đời chỉ có thể tinh chuyên tu học một pháp môn để tinh tiến. Nếu muốn học mọi pháp môn, cuối cùng sẽ chẳng đạt gì; thậm chí tu lệch một pháp, đôi khi còn sinh phiền não, khiến ma chướng khởi lên.

Vì vậy, cần tôn trọng tín tâm của chính mình, phát nguyện tinh chuyên tu hành, kiên trì tinh tấn.

Phương tiện chính là cứu cánh. Phương tiện ở đây không phải là sự tiện lợi tầm thường trong thế gian, mà là phương pháp thiện xảo, linh hoạt, dùng để dẫn dắt tâm người, chuyển mê khai ngộ. Đây chính là thuận tiện mà đạt đến cứu cánh tối thượng.

QUYỂN 1 – TẬP 6
TU TÂM NHƯ ĐI TRÊN BĂNG MỎNG

Trên con đường học Phật tu tâm, có bốn chữ mà người tu phải khắc ghi nơi tâm: “bước trên băng mỏng”. Bốn chữ này diễn tả một cách chính xác sự gian nan trên lộ trình tu tâm, đồng thời bày tỏ rõ tâm thái mà chúng ta cần duy trì trong quá trình tu hành. Người mới nhập môn dễ bị lạc hướng; người tu lâu năm dù tinh thâm, cũng có thể vì một sơ sót nhỏ mà công đức trước đó tiêu tan. Không chỉ những người mới bước vào đạo cần thường xuyên nhắc nhở bản tâm, mà tất cả những ai đã đi trên con đường học Phật, đều phải không ngừng xét soi tự tâm từng sát-na, mới có thể chế phục các loại ma tâm và ngoại ma, đạt đến cứu cánh chân chính của việc học Phật.

Dù là chướng ngại, trở lực hay cám dỗ, người nhận biết ra chúng cũng chỉ là tâm; người hiểu thấu, đưa ra kết luận cũng chính là tâm; cuối cùng hành động, quyết định cũng vẫn là tâm. Đây chính là lý do vì sao vạn pháp do tâm mà hiện, học Phật chính là tu tâm. Tu hành chỉ là trợ duyên cho việc tu tâm; so với tu tâm mà nói, thì dễ dàng hơn nhiều. Niệm kinh, làm thiện, tích công đức, bố thí, chỉnh sửa hành vi… những việc này ai cũng có thể làm, chỉ khác nhau về lượng mà thôi. Dù nền tảng tu hành được quyết định bởi tầng thứ của tâm, song rủi ro vẫn nhỏ hơn nhiều. Ngược lại, tu tâm thì luôn phải đối diện với rủi ro từng sát-na, không lúc nào rời.

Tu tâm là tu gì?

Thực ra, tu tâm chính là tu nhận thức và tu hiểu biết, từ đó chọn con đường chánh. Việc này bao gồm: nhận thức và hiểu biết về vũ trụ, về định luật nhân quả và thiên lý, về quy luật luân hồi, về các cảnh giới khác nhau, về nỗi khổ trong địa ngục, về nguyên linh và quy tắc tồn tại của chúng, về nguyên tắc “vạn vật không thể mang theo, chỉ tội nghiệt theo thân”,… và đặc biệt, còn bao gồm nhận thức và hiểu biết về các pháp môn tu tập. Tổng hợp lại, tất cả chính là nhận thức và hiểu biết nền tảng về Phật pháp.

Một người càng thấu triệt những chân lý này, càng gần với chân lý tự thân; tâm càng minh bạch, bước đi trên đường tu càng ít vấp ngã, và cảnh giới tâm sẽ ngày càng rộng mở, sáng tỏ.

Càng hiểu thấu đạo lý này, càng dễ đạt tâm thanh tịnh, bởi biết rằng phiền não thế gian thật ra nhỏ nhoi, danh lợi thế gian thật ra ngắn ngủi. Càng minh triết về nhân quả và thiên lý, càng nhận thức rõ tầm quan trọng của tu tâm lành, vì bất kỳ ý niệm tà ác nào cũng sinh ra nghiệt chướng, dẫn đến duyên ác, và lại phải tốn thời gian, công sức để tiêu trừ.

Càng nhận thức rõ nỗi khổ trong địa ngục, càng không dám làm ác, vì mọi hành vi xấu đều có báo ứng. Càng hiểu thấu nhân quả và luân hồi, càng kiên định niềm tin học Phật tu hành, vì biết rằng Phật pháp cuối cùng có thể giúp mình thoát khổ đạt lạc.

Càng nhận thức đúng đắn về các pháp môn, càng thấy kết quả trong tu hành, ít có nguy cơ đi lệch đường. Càng minh bạch quy tắc tồn tại của nguyên linh, càng dễ phát khởi tâm từ bi, bởi biết rằng vạn linh cùng nguồn.

Còn những chướng ngại và trở lực trên con đường tu tâm, dù phát sinh từ thế gian hay từ cõi linh giới, đều khởi lên từ chấp; chỉ có tâm thanh tịnh mới có thể phá trừ.

Thế nào là “chấp”?
Chấp chính là do nhận thức và hiểu biết về vũ trụ và nhân sinh chưa toàn diện, chưa chân chánh. Khi nhận thức và hiểu biết của một người không đủ để bao quát vấn đề đang đối diện, hoặc không thể giải đáp nguyên nhân của hoàn cảnh khó khăn hiện tại, thì người ấy sẽ căn cứ vào vốn liếng tâm thức của mình để tìm câu trả lời. Kết quả của quá trình ấy, hoặc là ngộ, sáng tỏ minh bạch; hoặc là chấp, mê lầm khởi lên.

Trong đời sống thế gian, chúng ta thường sanh phiền não vì đủ điều tự cho là bất công. Ví như nơi công việc, mình làm nhiều, năng lực vượt trội nhưng không được trọng dụng; siêng năng tận tụy mà chẳng thăng tiến. Trong gia đình, mình đã hy sinh biết bao cho con cái, người thân, nhưng họ lại không biết trân trọng. Mình muốn học Phật tu tâm, nhưng phiền não thế gian cứ không ngừng khuấy động, khiến tâm khó thanh tịnh.

Vậy, có phải vì thế mà không thể học Phật một cách vô ưu vô não? Có phải thế gian này không còn Tịnh độ để tâm an trú?

Trong bệnh viện, nơi tràn ngập cảnh khổ đau, bệnh tật và bi ai của nhân thế, song bác sĩ, y tá vì đã quen mắt mà đôi lúc lơ là, sơ suất, khiến bi kịch phát sinh; nhìn thấy cảnh ấy, có người khởi tâm thoái lui, muốn rời bỏ thế gian, tìm nơi ẩn dật. Những trường hợp như vậy nhiều vô kể.

Ngay cả giữa các đồng tu, do mức độ giác ngộ khác nhau nên nhận thức về sự việc bất đồng, cách cư xử với người khác cũng sai khác. Vì thế, thường dễ bị hiểu lầm, chê bai, thậm chí vu khống – những điều này trong đời sống vốn không thiếu.

Những “bất công” ấy, dù phát sinh từ chủ quan hay khách quan, đều trở thành chướng ngại trên con đường tu tâm giữa thế gian. Các ý niệm ấy một khi đã bám sâu vào tâm, như vết mực khó gột rửa, ngày ngày khuấy động trong lòng, dần dần khiến bản thân tin rằng chỉ có nhận thức của mình là đúng, không còn tiếp nhận được lý giải khác. Từ đó sinh tâm chấp trước, trí tuệ không thể mở rộng, lâu ngày trở thành ma chướng trên lộ trình tu tâm.

Trong những cảnh giới như vậy, chỉ cần tương ứng với giáo pháp, vận dụng trí nhận biết từ Phật pháp mà quán chiếu, thì có thể thấy nhẹ phiền não, buông bỏ cảm giác bất công, tâm liền khai mở, cảnh liền chuyển hoá.

Chẳng hạn, có người lãnh đạo năng lực không vượt trội, nhưng vì người ấy đã tận tụy làm việc suốt mười mấy năm nên được ngồi vào vị trí tổng giám đốc; còn chính mình tự cho rằng tài năng xuất chúng, vậy mà mãi không được trọng dụng.

Phải hiểu rằng: nếu bản thân không được trọng dụng, muốn chuyển việc mà không thông, thì không nên oán trách người khác. Đó chính là nghiệp chướng bản thân còn vướng, là “mã ngựa ngàn dặm mà chưa gặp tri âm”. Muốn hanh thông, trước tiên phải tiêu nghiệp, tu phước.

Khả năng lãnh đạo của người kia thế nào chưa bàn đến; nhưng trong vận trình hiện tại, người ấy có quý nhân phù trợ, con đường tương lai rộng mở, bởi kiếp trước đã từng tận tâm chăm sóc một cụ già cô độc suốt cả đời. Nhận thức như vậy, tự nhiên thấy nhân quả tuyệt nhiên không sai; từ đó càng khẩn thiết tiêu nghiệp, hành thiện tích đức.

Lại như, ở bệnh viện thấy vô số thảm cảnh thế gian. Nếu hiểu nhân duyên, sẽ biết: cậu bé năm tuổi mắc bệnh bạch cầu, trong đời trước vì tình ái mà tổn hại một sinh mạng. Hay một bệnh nhân tử vong vì sơ suất của bác sĩ; tuy bác sĩ kết nghiệp trong đời này, nhưng nguyên nhân sâu xa là vong linh người bệnh bám theo bệnh nhân ấy suốt ba mươi năm, khiến việc cứu chữa bị ngăn trở đúng lúc then chốt. Hiểu được nhân quả như vậy, tâm quý vị còn mờ mịt, còn dao động nữa không?

Cũng có một loại chấp trước phát sinh từ nhận thức sai lầm về vong linh và thần thông. Ví như thường xuyên tưởng niệm người thân bằng hữu đã khuất, vì “không nỡ buông bỏ”, tưởng rằng vong linh hiện diện bên cạnh mình là thiện duyên, thậm chí mong tiếp tục duyên mẫu tử trong đời này.

Song, nếu có thể thấu triệt rằng: bất luận là thiện duyên hay ác duyên, tất cả vong linh đều thuộc nhân duyên đã mãn trong vòng sinh tử, cần được đoạn dứt theo tiến trình tái sinh. Duyên chưa mãn thì sẽ tùy nghiệp tiếp tục trong đời sau, tuyệt đối không nên cưỡng cầu can dự vào hiện tại.

Hơn thế nữa, vong linh nương nơi thân người, tất sẽ tạo tổn hại: chẳng những tổn thương thân thể, mà còn khiến tâm thức bất an, tinh thần hao tổn. Lại nữa, khi khởi tâm muốn nối lại một duyên đã đoạn, rất dễ kéo theo vô số duyên hệ liên lụy; hậu quả sâu rộng khó lường, đúng như lời: “kéo một sợi tóc, động đến cả thân”.

Khi đã hiểu rõ những đạo lý này, chúng ta còn muốn cố chấp nối lại một nhân duyên đã chấm dứt hay không? Chúng ta còn không thể buông xuống người thân, bằng hữu đã lìa đời hay không?

Người xưa học Phật, để biết nhận thức và hiểu biết của mình có đúng pháp hay không, phải nghiêm túc nghiên cứu kinh điển, đồng thời đối chiếu, thảo luận cùng các đồng tu. Con đường ấy vô cùng gian nan — điều đó ai cũng có thể hiểu.

Ngày nay, nhờ công nghệ và thông tin phát triển, chúng ta dễ dàng tiếp nhận lời chỉ dẫn, nhưng đồng thời, do quá nhiều thông tin hỗn tạp có thể tiếp cận, cũng đặt ra cho chúng ta khó khăn không kém trong việc phân biệt và lựa chọn. Điều này cho thấy, từ xưa đến nay, việc nhận thức và hiểu đúng về Phật pháp chưa bao giờ là dễ dàng.

Vì sao nói chỉ có tâm thanh tịnh mới có thể phá trừ “chấp”?

Tâm thanh tịnh không phải là trạng thái không nghĩ suy gì, mà là cảnh giới vượt ngoài mọi tranh chấp thế gian — nơi tâm không bị nhiễm ô, không bị kéo cuốn, không đắm chìm trong phan duyên. Chỉ khi ấy, chúng ta mới có thể quán chiếu muôn pháp, thấy rõ bộ mặt chân thật của vạn tượng nhân gian, mà ngộ nhập đạo lý thâm sâu của Phật pháp.

Vì vậy, dù sau này tu hành đến mức nào, bất kỳ người học Phật nào cũng phải khởi đầu từ những kiến thức cơ bản này. Phải coi Phật pháp như một môn học, bởi Phật pháp dạy cho chúng ta những định luật cơ bản, tựa như công thức toán học. Dưới sự hướng dẫn của Sư phụ, người học sẽ biết ứng dụng Phật pháp vào đời sống, nhìn thấu phiền não, nhận rõ bản chất biến đổi của thế gian, từ đó bình thản trước những thăng trầm của cuộc đời. Khi thấu đạt được tầng pháp này, phía trước vẫn còn những cảnh giới sâu rộng hơn chờ ta chứng ngộ, vì Phật pháp, Phật lý vốn vô biên vô tận.

QUYỂN 1 – TẬP 7
MỐI QUAN HỆ GIỮA CỘNG NGHIỆP VÀ BIỆT NGHIỆP TRONG QUẢ BÁO

Trong phần trước đã đề cập đến cộng nghiệp.
Cộng nghiệp là khi nhiều hữu tình đồng tạo một loại nhân, thì cùng chiêu cảm quả báo tương ứng. Ví dụ rõ ràng nhất trong thời đại hiện nay chính là hiệu ứng nhà kính – hiện tượng được bàn luận rộng rãi trên toàn thế giới. Không thể nói một cá nhân riêng lẻ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn; bởi căn bản, hầu hết chúng ta đều đã góp phần tạo nhân: khí thải xe cộ, chất thải công nghiệp, phá rừng, tiêu thụ quá mức… Tất cả đều thuộc về đại nhân quả của nhân loại.

Theo định luật nhân quả và thiên lý, nhân ác khi đã gieo sẽ không tiêu mất, mà tích lũy, chuyển biến, rồi chín muồi vào thời điểm thích hợp. Vì vậy, những tác động hiện nay như khí hậu nóng lên, thời tiết khắc nghiệt, băng tan, suy giảm tầng ozone… chính là biểu hiện của cộng nghiệp đang hiển hiện. Quả báo có thể thấy trước: nước biển dâng, đất liền thu hẹp, nhiều đô thị ven biển bị nhấn chìm, sinh linh chịu tổn thất lớn lao.

Khi thiên tai phát sinh trên quy mô lớn như vậy, quả báo ác ấy sẽ ảnh hưởng đến những ai? Có phải tất cả những người gặp nạn trong tai kiếp đều đã định sẵn phải gánh chịu cộng nghiệp ấy không? Thật ra, không phải ai rơi vào tai nạn cũng đều vốn định phải thọ quả báo này. Có người vốn dĩ thọ mệnh còn dài, phúc phần cùng nghiệp lực riêng của họ vẫn đang vận hành theo tiến trình khác. Thế nhưng, tất cả những người ấy đều có một điểm tương đồng.

Điểm chung chính là: trong vận mệnh của mỗi người tại thời điểm ấy, đều đang đến kỳ có một kiếp nạn lớn. Kiếp nạn là thời điểm nghiệp chướng nặng đủ duyên hội tụ và phát tác, biểu hiện trên “đồ đằng” như một trường khí u tối, mật độ dày, sức ảnh hưởng mạnh.

Quả báo do cộng nghiệp chiêu cảm chính là “khí đen” của môi trường bên ngoài. Khi cộng nghiệp đã chín muồi, thiên tai xuất hiện, đó là lúc lớp khí đen dày đặc ấy bao trùm, lan rộng. Nếu ngay lúc đó, bản mệnh của một người đang bước vào kỳ kiếp nạn, lại mang trên thân nghiệp khí nặng nề đồng thời cư trú hoặc do nhân duyên nào đó có mặt tại vùng xảy ra thiên tai, thì họ sẽ rơi vào kiếp nạn ấy, khó bề tránh thoát.

Ngược lại, nếu một người sở hữu đủ phước báo hoặc công đức lớn, thì dù vận mệnh có kiếp nạn, đang ở trong vùng thiên tai vẫn có khả năng an toàn, sống sót. Hoặc ngay cả khi đã có duyên đặt chân đến vùng kiếp nạn, cũng có thể vì nhiều nhân duyên khác nhau mà không đến được, nhờ vậy tránh khỏi hiểm nguy. Dĩ nhiên, những thảm họa nhân gian nếu phải trải qua, cũng là kết quả đau khổ của cộng nghiệp vô lượng.

Trong thiên tai, cũng tồn tại những người chưa hết tuổi thọ nhưng không chết trong kiếp nạn; song vì nghiệp chung bao phủ, họ vẫn không thể thoát khỏi môi trường bất lợi. Những linh hồn này, khi xuống địa phủ, theo luật địa phương, không được tiếp nhận, chỉ lang thang nơi trần gian như những vong hồn, cho đến khi tuổi thọ kết thúc. Vì vậy, trong thiên tai hay chiến trận, có rất nhiều linh hồn trong hoàn cảnh như thế.

Đây là cảnh ngộ đáng thương: năng lượng âm bị bao bọc trong năng lượng dương, đường đi ngày càng hẹp, năng lượng bản thân liên tục hao tổn. Ngay cả khi đến thời điểm được tiếp nhận vào địa phủ, sức mạnh linh hồn đã suy yếu nhiều, hoặc trong quá trình chờ đợi, oan khí tích tụ khiến họ đi theo những con đường khác. Do đó, gia quyến càng cần sớm phát nguyện, trợ duyên để siêu độ.

QUYỂN 1 – TẬP 8
AI ĐANG CHI PHỐI VẬN MỆNH

Từ xưa đến nay, biết bao người từng kêu lên rằng: “Ta sẽ siết chặt định mệnh”, nhưng cũng có không ít người, sau biết bao nỗ lực cuối cùng phải cúi đầu trước định mệnh, từ bỏ cuộc tranh đấu. Từng có độc giả chia sẻ trong thư: “Xem xong Liễu Phàm Tứ Huấn, con trở nên bi quan hơn. Nếu số mệnh đã được định sẵn, thì nỗ lực của con để làm gì? Những gì đến sẽ đến, những gì không đến, nỗ lực cũng vô ích.”

Bao nhiêu bi kịch nhân gian bị đổ lỗi cho định mệnh, như thể định mệnh là nguyên nhân sinh ra mọi đau khổ. Chúng ta thường gán những thời kỳ suy thoái trong sự nghiệp, những trắc trở trong tình cảm, bệnh tật của con cái, mâu thuẫn gia đình… cho định mệnh, tưởng rằng như vậy, mình thật sự là những nạn nhân vô tội, bị số phận trêu đùa. Thế nhưng, liệu chúng ta thật sự không chịu trách nhiệm? Liệu chúng ta không có khả năng thay đổi mọi việc sao?

Thực chất, chính chúng ta mới là tác giả của vận mệnh mình, và chỉ có tự thân mới có thể chuyển đổi nó. Định mệnh chỉ là một đoạn trong dòng luân hồi liên tục của đời sống. Mỗi lần tái sinh, giống như bước vào một vở kịch mới: cảnh trí đổi thay, vai trò thay đổi, nhưng kịch bản lại do chính ta đã viết từ trước. Ta nhập vai, trình diễn theo những dòng kịch ấy, chỉ là đã quên mất mình là người viết ra nó, rồi vô thức diễn đúng theo những gì nhân quả đã an bày.

Nguyên lý căn bản của định mệnh:

Định mệnh chính là con đường được tạo nên từ chuỗi quả báo mà chúng ta cần thọ nhận trong đời này. Bất luận là luân hồi hay định mệnh, tất cả đều vận hành theo hai nguyên lý căn bản, tuần hoàn bất tận, không thiên vị một ai. Mọi chúng sinh, từ phàm phu cho đến bậc Thánh, đều nằm trong quy luật này, bình đẳng không hề có sai biệt. Hai nguyên lý ấy chính là căn nguyên của luân hồi; trước chúng, không ai có thể ngoại lệ.

Nguyên lý thứ nhất chính là định luật sơ khai của vũ trụ: luật nhân quả.
Còn gọi là: gieo nhân tất gặt quả; gieo hạt gì, gặt quả nấy; gieo gió, ắt phải gặt bão. Luật nhân quả vận hành trong Tam thiên đại thiên thế giới, không một sức mạnh nào có thể cản trở sự tuần hoàn của nó.

Vì vậy, nếu trong đời này quý vị đối xử bất thiện với mẹ chồng, tạo nhân bất thiện, thì đời sau có thể phải chịu cảnh tình cảm vợ chồng bất hoà, chịu báo khổ; nếu trong nhiều đời sát sinh quá nhiều, thì đời này ắt phải gánh chịu bệnh tật…
Đã gieo nhân thì nhất định phải đối diện quả báo, cho dù có thần thông hay năng lực siêu phàm cũng không thể xoá bỏ quả báo khi nó chưa trổ hiện xong.

Vì vậy, nếu trong những đời trước quý vị đã tạo nhiều ác nghiệp, lẽ phải thọ quả báo về máu huyết, bệnh tật, thì không có bất kỳ sức mạnh nào có thể ngăn cản quả báo ấy chín muồi. Dù trong đời này có được hộ trì bởi năng lực siêu nhiên khiến quả xấu chưa hiện ra, thì trong đời sau vẫn phải hoàn trả. Dĩ nhiên, nếu có bậc thiện tri thức hay lực gia trì nào sẵn lòng gánh chịu thay một phần nghiệp lực cho quý vị, điều đó cũng thuộc về phước báo và nhân duyên riêng của quý vị; chỉ là tuy cách thức vận hành có vẻ phức tạp, nhưng luật nhân quả vẫn không sai chạy, và quả nhất định tương xứng với nhân đã gieo.

Nguyên lý thứ hai: Thiên lý

Thiên lý vận hành tuần hoàn, báo ứng không hề sai lệch – điều này không phải lời nói suông. Thực chất, Thiên lý là một hệ thống vận hành minh bạch, phân định rõ ràng nhân gì sẽ cảm thọ quả gì, bao nhiêu nhân sẽ sinh bao nhiêu quả, và vào thời điểm nào quả báo sẽ đến.

Thiên lý không chỉ chi phối nhân quả của từng cá nhân, mà còn vận hành trên phạm vi rộng lớn: một vùng đất, một triều đại, một quốc gia, thậm chí cả thế giới. Những thiên tai, nhân họa chính là quả báo chung do cộng nghiệp chiêu cảm; hiện tượng hiệu ứng nhà kính là ví dụ rõ ràng nhất. Tất cả đều không rời khỏi khuôn khổ Thiên lý.

Do vậy, khi một người trong khoảnh khắc khởi lên một ý niệm bất thiện hay tạo tác điều ác, theo Thiên lý, quả báo sẽ lập tức được an bài, kết thành nghiệp chướng và định sẵn thời điểm chín muồi — cụ thể đến năm nào, tháng nào, ngày nào trong những đời sau. Ngược lại, các thiện niệm, việc lành và công đức cũng được ghi nhận và sắp xếp để đến lúc thích hợp mà trổ quả phước lành.

Bởi thế, từng ý nghĩ, từng lời nói, từng hành động của chúng ta trong từng sát-na đều đang gieo nhân. Theo định tắc của Thiên lý, những nhân này tự động chuyển hóa thành quả, sắp xếp theo trình tự thời gian của báo ứng. Khi những chuỗi quả báo ấy nối liền nhau, chúng hợp thành “định mệnh” của đời sau.

Nhiều khi, chúng ta không tạo ra thiện nghiệp hay ác nghiệp nào rõ rệt, nên trong sự an bài của định mệnh xuất hiện những khoảng trống gần như trắng xoá. Vì thế mới sinh ra cảm giác đời mình dường như chìm trong vô số chờ đợi: chờ đến tuổi đi học, chờ kỳ thi, chờ tốt nghiệp, chờ gặp người tri kỷ, chờ một bước ngoặt sự nghiệp, chờ vận hội mở ra, chờ con cái ra đời…
Hết thảy như một chuỗi dài đợi chờ vô tận, khiến thời gian trôi qua uổng phí, đời sống bị hao hụt trong những khoảng lặng không mục đích.

Nghiệp chướng từ kiếp trước được mang sang đời này ra sao?

Chúng ta thường nghe, đặc biệt trong giáo lý phương Tây, rằng mỗi con người sinh ra đều mang tội. Điều ấy không sai. Vậy tại sao một đứa trẻ vừa mở mắt chào đời, thuần tịnh và ngây trong như vậy, lại đã có tội? Tội lỗi từ đâu đến? Bằng cách nào mang đến kiếp này?

Trong những trường hợp được nghe từ thính giả, có gia đình chia sẻ rằng: trong ba năm đầu sau khi con chào đời, cha mẹ hầu như không có một đêm ngủ trọn vẹn; đứa trẻ thì hay mắc viêm da, nửa đêm thường giật mình tỉnh giấc khóc thét. Những tình huống như vậy chính là minh chứng sống động cho thuyết “tội nguyên thủy”.

Thực ra, hết thảy chúng sinh nơi cõi người đều mang nghiệp chướng – mà nghiệp chướng chính là điều được gọi là “tội”. Nếu không có nghiệp chướng, không thể giáng sinh vào nhân gian. Bởi vậy, thuyết tội nguyên thủy hoàn toàn chính đáng.

Khi quả báo xấu đã được Thiên lý an bài và chuyển hóa thành nghiệp chướng, nó giống như một chương trình được khắc ghi vào linh thức, lưu trữ toàn bộ thông tin và tiềm phục trong tâm linh của con người. Trên Đồ đằng, đó chính là một khối khí đen ở một vị trí nhất định. Khi những hành vi bất thiện nối tiếp nhau, khí đen ấy lan tỏa khắp nơi trong thần thức.

Khi một người sinh ra, những “khí đen” này sẽ theo linh hồn mang sang kiếp hiện tại, và sẽ khởi hiện ngay đúng thời điểm đã được nhân quả an bài. Đó chính là cách nghiệp chướng luôn đi cùng chúng ta — giống như “bóng theo hình” không rời.

Khi một vùng hay một quốc gia mà con người không hành thiện, chỉ tạo nghiệp, thì nghiệp lực tập thể cũng tích tụ thành khí đen. Từ đó ảnh hưởng đến thời vận, địa thế, trường khí của nơi đó, và cuối cùng dẫn đến quả báo chung.

Vậy nghiệp chướng khi chưa bộc phát có tác động đến chúng ta không? Không chỉ có, mà còn rất mạnh. Khí đen trong thần thức giống như một chất ăn mòn vô hình, âm thầm xâm nhập và gây ảnh hưởng: làm khí huyết khó lưu thông, chèn ép thần kinh, tác động lên cảm xúc và tâm lý.

Vì thế, có những căn bệnh xuất phát từ tâm linh, và cũng có những căn bệnh do nghiệp chướng bám thân mà thành. Đây là lý do Lư Đài trưởng thường phân biệt rất rõ giữa bệnh do vong linh và bệnh do nghiệp lực.

Nghiệp chướng chỉ có hai con đường chuyển hoá: hoặc được tiêu trừ, hoặc chuyển thành nghiệp lực khởi hiện dưới hình tướng linh thức quấy nhiễu. Linh thức này có thể phát sinh từ nghiệp chướng hiện thành, hoặc do duyên kết từ bên ngoài mà đến.

Vấn đề đặt ra: nghiệp chướng vốn là quả trong chu trình nhân quả, lẽ ra tuyệt đối không thể xoá bỏ. Vậy vì sao lại có thể tiêu trừ? Điều gì có khả năng xoá được quả báo ấy? Và vì sao tu học Phật pháp, lễ bái Bồ Tát, trì tụng kinh điển lại có thể tiêu nghiệp?

Nghiệp chướng là quả ác từ nhân mà quý vị đã gieo, và quả này lẽ ra phải nhận. Vì thế, ngoài việc dùng một nhân quả thiện lành khác để bù đắp, không có bất kỳ lực nào có thể động đến nó. Nhân thiện đặc biệt ấy chính là công đức; do đó, chỉ có công đức mới có thể tiêu trừ nghiệp chướng.
(Tham khảo thêm trong Bạch thoại Phật pháp: “Sự khác biệt giữa việc thiện và công đức”.)

Tu Phật là tu gì?
Tu Phật chính là tu tâm: tu để tâm được thanh tịnh, thiện lành, bình đẳng, từ bi; dứt trừ vọng tâm, tham tâm, sân tâm, si tâm, chấp tâm. Ai cũng hiểu rằng thiện và ác chỉ cách nhau trong một niệm; chỉ khi điều phục được tâm, tu dưỡng điều thiện, mới không gieo nhân ác, từ đó tránh được quả khổ. Vì vậy, tu tâm là cốt lõi đầu tiên của sự tu Phật.

Niệm kinh, lễ bái Bồ Tát không phải vì Bồ Tát trực tiếp xoá nghiệp chướng cho quý vị, mà bởi niệm kinh, lễ bái vốn chính là tạo công đức; quả báo của công đức thật khó lường, năng lực thành tựu không thể nghĩ bàn. Trong điều kiện tự nhiên, công đức sẽ theo Thiên lý tự vận hành, không nhất thiết chủ động tiêu trừ một nghiệp chướng cụ thể.

Tuy nhiên, khi quý vị chí thành khẩn cầu Bồ Tát, cầu công việc hanh thông, nhân duyên như ý, thì Bồ Tát có thể lấy thần lực từ bi gia trì, nương vào công đức của chính quý vị, mà tiêu trừ nghiệp chướng cụ thể đang ngăn ngại sự nghiệp hay tình duyên, giúp mọi việc thuận lợi hanh thông. Công đức của quý vị và thần lực từ bi của Bồ Tát đều không thể thiếu một; song căn bản vẫn ở nơi chính mình – mỗi quả thiện là một nhân đủ sức bù đắp và chuyển hóa một nghiệp chướng.

Nếu chỉ cầu khẩn Bồ Tát mà không tạo công đức, không trì tụng kinh điển, thì Bồ Tát cũng khó có thể gia trì. Công đức mỏng, nghiệp chướng sâu dày, thì dù phát nguyện tha thiết, sự cảm ứng cũng khó viên mãn.

Vậy chúng ta phải ứng dụng điều này trong đời sống như thế nào?

Khi đã thấu đạt đạo lý trên, chúng ta sẽ biết trân quý từng sát-na, từng hơi thở mà tinh tấn tu tâm, vun bồi công đức. Đồng thời, hiểu rõ mối liên hệ mật thiết giữa công đức và nghiệp chướng, mỗi người sẽ tự xác lập phương hướng tu tập thiết thực, phù hợp với nghiệp lực hiện tiền của chính mình. 

Người nghiệp chướng sâu dày, thường cảm thấy mọi việc đều không thuận, dù khẩn cầu Bồ Tát, trì tụng kinh điển nhiều, vẫn chưa thấy chuyển hóa – đó là vì nghiệp chướng bám chặt, che lấp vận trình. Khi ấy, cần chuyên tâm, gom lực mà tiêu trừ nghiệp chướng; tinh tấn niệm nhiều “Ngôi Nhà Nhỏ” sẽ dần thấy hiệu nghiệm.

Người nghiệp chướng nhẹ, chỉ một câu niệm kinh đã cảm nhận được sự cảm ứng; mỗi lời cầu Bồ Tát đều ứng hiện – ấy là vì tự thân đã có công đức và căn lành từ trước. Với người như vậy, càng phải nâng cao chí nguyện, tiếp tục tu tâm, tích lũy công đức, đó mới là việc trọng yếu.

Hiểu thấu đạo lý này, mong mỗi người nhận rõ căn nguyên hình thành định mệnh của chính mình, không còn oán trời trách người, không trốn tránh trách nhiệm; mà biết buông gánh nặng trong tâm, chuyên nhất đạo tâm, đem hết thời gian “chờ đợi” trong cuộc sống vào trì kinh, tu đức, hành thiện. Khi ấy, dù mai sau còn trở lại nhân gian, mỗi ngày cũng sẽ trổ sinh quả lành, an nhiên thanh tịnh như ở cõi Trời.

QUYỂN 1 – TẬP 9
CĂN NGUYÊN HỌC PHẬT MÀ VẪN CHƯA ĐƯỢC CHUYỂN HÓA

Gần đây, trong quá trình biên soạn và giải đáp những thắc mắc của các đạo hữu, ta thường lắng nghe được nỗi u hoài nơi tâm họ, đồng thời cảm nhận sâu sắc sự hoang mang mà nhiều người đang đối diện: Vì sao năng lực của mình chẳng hề thua kém ai, vậy mà người khác lại dễ dàng có được công việc mà bản thân hằng khấn nguyện, còn mình đến nay vẫn phải gian nan bôn ba? Vì sao thân thể mang nhiều bệnh tật, dẫu đã trì tụng kinh điển không ít mà vẫn chưa thấy chuyển biến? Những nghi vấn như thế, quả thật không phải là ít.

Đặc biệt, gần đây có một đạo hữu gửi Email hỏi một vấn đề rất điển hình: “Con đã làm hồi hướng riêng, hồi hướng chung cũng đã thực hành đầy đủ. Nhiều năm không thuận lợi, niệm Phật cũng không phải ít, năng lực làm việc rất tốt mà vẫn mãi chẳng tìm được công việc. Con cũng thường cầu Bồ Tát gia hộ để sớm có được việc làm. Những năm qua, con đã trì tụng hàng nghìn biến Chú Đại Bi, hàng trăm biến Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện, gần một triệu biến Chú Chuẩn Đề. Khi gặp thầy xem số mệnh do người khác giới thiệu, họ xem cho con đều không đúng. Các phương diện khác cũng đều gặp chướng ngại. Về công việc, hễ đến trước ngày phỏng vấn là cây nến con thắp liền xảy ra vấn đề; rõ ràng đó là công việc rất phù hợp, vậy mà lại bị người khác đoạt mất một cách oan uổng. Ở những phương diện khác cũng tương tự như vậy. Cả đời này con chưa từng hại ai, cũng chẳng thích tranh giành. Vậy rốt cuộc ai oán ghét con đến mức này, ai đang trêu chọc và làm khó con? Vì sao lại như vậy?” Thật ra, những nghi vấn và tâm thái như thế, tuyệt nhiên không ít người mang theo. Từ đây có thể thấy rõ, trong tâm rất nhiều người đang tồn tại những nhận thức sai lệch phổ biến – điều mà Phật pháp gọi là ma chướng. Chính những ma chướng này khiến khi trì tụng kinh kệ, tâm sinh nghi hoặc, tâm không chân thành, tâm không thanh tịnh, khiến oai lực trì tụng suy giảm rất lớn.

Tâm không thanh tịnh thì sức trì tụng tự nhiên suy giảm, hiệu quả niệm kinh theo đó mà giảm đi rất nhiều. Đồng thời, những người ôm giữ tâm niệm như vậy, lại dễ vô tình tìm kiếm các hiện tượng trong đời sống để tự củng cố nghi hoặc của mình, khiến niềm tin đối với Phật pháp ngày càng suy yếu, thậm chí cuối cùng bỏ dở việc tu học. Sự nguy hại ấy quả thật vô cùng rõ rệt. 

Sai lầm đầu tiên trong loại tâm lý này chính là suy nghĩ: “Cả đời này con chưa từng hại ai, vì sao con lại khổ như vậy? Vì sao con không được như người kia, trong khi năng lực của con còn hơn hẳn?” Thật ra, điều này liên quan trực tiếp đến bản chất của chữ “mệnh”. Mệnh là gì? Mệnh chính là khuôn định của đời sống một người ngay từ khi sinh ra, được hình thành bởi phước báo, công đức, nghiệp chướng và ác nghiệp đã tạo tác trong vô lượng đời kiếp tích tụ lại mà thành. Nó giống như một điệu nhạc đã định sẵn cung bậc – mỗi người sinh ra đều có nền tảng cao thấp, nghèo giàu, thuận hay nghịch khác nhau. Đó là điều mà đời này không dễ thay đổi (dù không phải tuyệt đối).

Khi quan sát Đồ đằng, điều này hiển lộ vô cùng rõ ràng:
Cũng cùng là người tuổi Thìn, nhưng có người thần khí phi dương, vảy râu sống động, uy phong đầy đủ; lại có kẻ u ám bất động như tượng gỗ, tượng đá, thiếu hẳn linh khí. Cảnh giới của rồng cũng chẳng tương đồng: có rồng bay thẳng tầng trời, tiền đồ rộng mở; lại có rồng chìm trong bùn lầy, chướng ngại chồng chất, khó thoát vận ách trì trệ. Như hổ cũng vậy: có con là “quá sơn chi hổ”, tung hoành núi rừng; lại có con “hổ lạc bình dương”, nơi đồng bằng bất khả lộ, khó có ngày ngẩng đầu. Tất cả những biểu hiện ấy đều do phước nghiệp nhiều đời sâu dày hay mỏng bạc mà quyết định.

Bởi thế, có người sinh ra nơi thâm sơn cùng cốc – đó vốn là một loại quả báo phải chịu nơi biên giới; phải trải qua muôn phần gian nan, nỗ lực mới có thể từng bước tiến vào đô thị. Nhưng cũng có người vừa mở mắt chào đời đã ở chốn phồn hoa thành thị, tự nhiên thọ hưởng tiện nghi văn minh. Ngay trong cùng một thành phố cũng vậy: có người sinh ra trong cảnh giàu sang, có người lại khởi đầu giữa nghèo khó. Cùng là bạn học một lớp: có người trí tuệ minh mẫn, tiếp thu nhanh nhạy; lại có người học hành chậm chạp. Nhưng điều kỳ lạ là: người thông minh đôi khi bước vào đời lại chướng duyên trùng điệp, tài năng khó hiển lộ; còn kẻ tư chất bình thường lại thuận buồm xuôi gió, sự nghiệp hiển vinh. Tất cả đều do nhân đời trước cảm thành quả đời này, chẳng sai chạy mảy may.

Đó chính là lời đáp cho vị đạo hữu kia. Tuy đời này quý vị sống thiện lương, chưa từng làm hại ai, nhưng trong vô lượng kiếp quá khứ đã từng gây tạo không ít nghiệp ác. Vì thế căn cơ và định mệnh đời này trở nên thấp kém hơn, cần phải thọ nhận thử thách để trả nghiệp báo. Chúng ta phải hiểu thấu điều này, rồi đem soi chiếu vào thực tế đời sống. Cảnh ngộ hiện tại không phải vì thế gian “bất công”, mà chính vì thế gian vốn công bằng. Nhân quả phân minh, không hề sai lệch; tất cả đều là sự tổng hòa nghiệp lực từ nhiều đời cho đến hiện kiếp, mà hiển bày thành những cảnh “bất công” như chúng ta đang thấy. Mỗi nghiệp duyên hôm nay vẫn tiếp tục ghi nhận, để đời sau còn tiếp tục tính sổ.

Lầm chấp thứ hai là nghĩ rằng: “Con đã tu học Phật pháp rồi thì phải mau chóng đổi khác, phải nhanh chóng tốt lên”. Vậy, tu Phật có thể chuyển mệnh chăng? Có thể thay đổi cục diện căn số chăng? Hổ nơi đồng bằng có thể hóa thành hổ trên sơn lâm? Rồng chìm trong bùn có thể cất cánh bay lượn? Chuột dưới nước có thể trồi lên mặt đất sáng lòa chăng? Những điều ấy, hễ người tu Phật đều một lòng mong mỏi lý giải.

Muốn hiểu rõ, phải quán chiếu cùng “vận”. Vận chính là con đường phía trước của mỗi vật tổ. Dù là rồng bay giữa trời cũng có lúc thăng lúc giáng, lúc gập ghềnh; hổ nơi đồng bằng cũng có khi thuận buồm xuôi gió. Tu hành đúng pháp, có thể san phẳng những đoạn gập ghềnh, kéo dài thời kỳ hanh thông, khiến vận trình thuận lợi như lý như pháp. Trong đời này, điều ấy nghĩa là: vận xấu có thể hóa giải trở nên nhẹ nhàng; vận tốt có thể gìn giữ được lâu dài, phát huy tối thắng lợi lạc. Nhờ vận được chuyển, mệnh cũng chuyển theo mà dần đổi. Nhưng đây là quá trình dài lâu, chẳng thể mong cầu trong khoảnh khắc. Tinh tấn tu tập trong thời gian dài, có thể khiến “hổ nơi đáy vực” từng bước trèo lên sườn núi, “rồng sa bùn đất” dần thoát mà bay lượn; song tất cả đều nương theo nhân duyên và định số, không thể vượt hạn một sớm một chiều. Ví như đứa trẻ đang học lớp hai, dẫu cố gắng hết sức, cũng chỉ có thể tiến lên bậc lớp năm; khó lòng liền trở thành học sinh trung học, lại càng không thể lập tức thành người đỗ đại học hay bậc tiến sĩ. Muốn thành tựu “tiến sĩ” trên con đường đạo, ắt phải tích lũy đại công đức, hoặc là nhiều đời nhiều kiếp tinh tấn tu phước, tu đức mới có thể đạt được.

Bởi vậy, cần rõ biết: căn cơ con người vốn sai biệt; phước lực, trí lực, thiện căn mỗi người không giống nhau. Muốn đời sau được tốt đẹp, đời này phải chí tâm tu hành, gieo trồng ruộng phước, hành thiện tích đức; muốn ngay đời này được an vui, lại càng phải nỗ lực sửa mình, tinh tấn tu tâm dưỡng tánh.

Nếu việc học Phật thực sự có thể chuyển hóa vận mệnh, vậy vì sao vị đạo hữu này vẫn cảm thấy gian nan? Rất nhiều người tu hành cũng khởi nghi như vậy: “Con đã học Phật bấy lâu, trì tụng biết bao kinh chú, vì sao vẫn chưa hanh thông?” Xin phải biết: chư Phật vì chúng sanh mà mở bày tám vạn bốn ngàn pháp môn, sao lại khiến chúng ta chịu thêm khổ lụy? Sao lại khiến mỗi ngày tự trách rằng: “Vì sao con vẫn bất lực?” Tuyệt nhiên không phải vậy. Tám vạn bốn ngàn pháp môn chính là phương tiện thiện xảo, trợ lực chúng ta tu hành dễ dàng hơn, thăng tiến nhanh chóng hơn. Nếu đã tu hành nhiều năm mà vẫn chưa cảm nhận được thần lực từ bi gia hộ của chư Phật, Bồ Tát, thì điều đầu tiên cần phải tự phản tỉnh: Ta đã thật sự hiểu thế nào là tu chưa? Ta đã nắm rõ cốt tủy của đạo tu hành hay chưa? Từ tình huống của vị đạo hữu nói trên có thể thấy, họ tự cho rằng mình tu không đến nỗi tệ; thế nhưng sở nguyện vẫn chưa viên mãn, cảnh giới chưa chuyển, nghiệp tướng hiển hiện trong Đồ Đằng cũng đồng thời xác chứng như vậy. Vậy rốt cuộc vấn đề nằm ở đâu?

Có hai nguyên nhân trọng yếu. Thứ nhất, pháp môn đang hành trì có phần chưa tương ứng. Đức Phật từng dạy: “Pháp như phiệt dụ giả, pháp thượng ứng xá hà huống phi pháp” (Pháp như chiếc bè, pháp còn nên bỏ, huống là phi pháp.”) Bởi lẽ, pháp và pháp môn vốn tùy duyên mà lập, tùy thời mà ứng, không phải cố định bất biến. Như thuở xưa, Phật giáo khuyến tấn lìa tục, nhập núi rừng, xả “tiểu gia” để thành tựu “đại gia”. Nhưng trong thời kỳ hiện đại, trọng tâm lại ở chỗ nhập thế tu hành – tu ngay nơi đời sống, chuyển hóa “tiểu gia” để mở rộng thành “đại gia”. Do vậy, pháp môn cũng tùy nghi tùy duyên mà biến chuyển, hợp thời hợp căn, thuận lợi cho hành giả tiếp cận và hành trì. Hồi hướng không phải là pháp môn mà phàm phu có thể tùy tiện vận dụng. Kinh điển ví như tài sản chân chánh của tự thân; còn hồi hướng, nhất là hồi hướng cho “lịch đại oan gia trái chủ”, chẳng khác nào đem gia tài của mình bố thí khắp thiên hạ. Xin hỏi: phước duyên của quý vị đã đủ thâm hậu chưa? Tự thân đã thực sự viên mãn, no đủ chưa? Mà của cải rải ra khắp thế gian, mỗi nơi được bao nhiêu? Được dăm ba đồng lẻ, liệu có phát sinh bao nhiêu lợi ích?

Vì vậy, học Phật trì kinh, trước hết phải tự tu tự độ, tiêu trừ nghiệp chướng của chính mình, tăng trưởng căn lực và nội đức; khi nội nghiệp đã thanh tịnh, phước lực dần sung mãn, lúc ấy vận mệnh mới có thể chuyển cải. Đợi khi nghiệp trái đã trả, đồ hình tâm linh sáng tịnh, tự nhiên có thể cảm ứng chuyển vận. Nếu khởi niệm rằng: “Con trả không xuể; trước xin cho con hanh thông, rồi con hoàn trả sau có được chăng?” – thì chúng sanh hữu hình hay vô hình kết nghiệp với ta quyết chẳng dễ gì chấp thuận. Nghiệp báo đến thời, tất phải hoàn trả, nhân quả tuyệt nhiên không sai chạy. Cho nên, chớ tùy tiện hồi hướng. Khi bản thân còn chưa viên mãn được no đủ tâm linh, trước phải chí thành siêu độ nghiệp thức nơi tự thân, tinh chuyên tiêu trừ nghiệp chướng; đó mới là đại sự khẩn yếu bậc nhất trên đường tu đạo. Chỉ cần đắc pháp, dẫu vận duyên chưa hiển lộ sự chuyển biến rõ rệt, nhưng hễ tinh tấn tu trì, thì sự chuyển hóa vẫn chân thật diễn bày. Sớm tu thì sớm đắc, tự tu thì tự chứng; không tu thì không thể được. Tựa như nấu nước: tuy chưa thấy nước sôi, nhưng nhiệt đang tăng dần. Người công phu thâm hậu như lửa lớn, một bình nước chóng sôi; người căn lực còn cạn, lửa nhỏ chưa đủ, nhưng chỉ cần bền chí kiên trì, thì sớm muộn gì nước cũng đến lúc sôi.

Nguyên nhân thứ hai chính là chọn lựa kinh văn chưa tương hợp. Không phải bất kỳ ai cũng có thể trì bất cứ bộ kinh nào, bởi mỗi kinh đều mang dược tính sai khác. Mỗi người cần căn cứ căn cơ và nghiệp duyên của chính mình mà chọn pháp môn tương ưng. Kinh điển ví như các môn học ở đại học; nếu một người ôm đồm quá nhiều môn cùng một lúc, tất khó thành tựu. Ngay cả môn chuyên ngành, sinh viên năm nhất cũng không thể học giáo trình của năm ba.

Lựa chọn kinh văn tức là lựa chọn con đường tu. Bởi có kinh là căn bản, có kinh cần công lực thâm hậu mới có thể trì tụng; chẳng thể tùy tiện tùy ý mà niệm. Chỉ cần nắm chắc hai điều này: trước là dùng pháp môn chính pháp mà siêu độ, trả nghiệp; sau là dùng kinh văn đúng pháp mà tăng trưởng tự thân – thì rất nhanh chóng sẽ cảm nhận được sự chuyển hoá minh bạch.

Một nhận thức sai lầm rất phổ biến là cho rằng: “Chúng ta phải hồi hướng, phải cứu người, không nên chỉ nghĩ đến bản thân trước.” Thực tế, đây là cách hiểu phiến diện về Phật pháp. Quả thật, tu hành là để cứu độ chúng sinh, và thước đo trọng yếu chính là tâm từ bi rộng lớn. Nhưng chớ quên: độ người cần có công lực. Tựa như trong cơn lũ muốn cứu người, trước hết chính mình phải đứng vững, thuyền của mình phải kiên cố. Bậc Đại Đức thường dạy “buông xuống”. Đúng vậy, buông xuống thì tâm thanh tịnh sáng tỏ. Nhưng phải buông bằng cách nào? Dẫu ta không tham, vẫn cần nuôi dưỡng gia đình. Như lời Sư phụ Lư khai thị: mỗi người trước hết phải tự cứu, tu sửa chính mình, rồi mới đến gia đình. Khi tự thân an trụ, gia đình vững chắc, chiếc “thuyền” của mình được trau luyện kiên cố, rộng lớn, lúc ấy mới có thể cứu người, lợi sinh. Nếu thuyền mình lỗ chỗ mà vẫn gắng cứu người, thì chẳng cứu được ai, lại tự đắm chìm trước. Hơn nữa, chính bản thân quý vị cũng là một chúng sinh, gia đình quý vị cũng là chúng sinh. Tự độ mình, độ nhà mình, tức là đang cứu độ chúng sinh vậy.

Thông thường, phần lớn vật tổ của chúng ta đều bị che phủ bởi hắc khí do tâm linh chưa khai mở hoặc nghiệp chướng còn sâu dày, đặc biệt nơi những người mang bệnh lâu năm; hắc khí ấy có thể bao trùm gần như toàn bộ vật tổ. Với người vận trình trắc trở, công danh bất thuận, thì không chỉ bản thân vật tổ xuất hiện khí đen, mà hoàn cảnh xung quanh cũng phủ một tầng ám khí dày đặc. Chính lớp ám khí bao quanh ấy là chướng duyên, là nghiệp lực vận hành, ví như hệ thống đèn tín hiệu điều phối dòng xe, chi phối hành trình vận mệnh của một đời người. Dẫu đang ở vận tốt hay vận xấu, tình trạng này đều có thể xuất hiện. Cũng bởi thế, trong vận hanh thông thường tiềm ẩn mầm suy bại. Đó là lý do vì sao “nhà nhà đều có bài kinh khó tụng”; ngay cả người được xem như vận khí hưng thịnh vẫn không thể tránh khỏi điều bất như ý. Khi tu hành đúng pháp, hai sự chuyển hóa trọng yếu sẽ hiển lộ: vật tổ trở nên thanh tịnh, sáng rỡ, và hắc khí quanh thân dần tiêu tán, thậm chí có khi xuất hiện mây trắng vân tụ hộ trì. Chính hai sự hiển hiện ấy khiến vận mệnh chuyển hoá. Vật tổ sáng rỡ tức công đức tăng trưởng, tự lực mạnh mẽ, năng lượng thanh tịnh, sức đề kháng đối với nghiệp báo được nâng cao; nghiệp trái được tiêu giải, oán thân trái chủ được siêu độ đúng kỳ, nên khi gặp vận suy vẫn có thể nhẹ nhàng vượt qua vực sâu trong hành trình; khi vận tốt đến lại càng tăng tốc, thăng tiến cao xa. Khi ám khí chung quanh tan rã, đời người liền thuận cảnh hanh thông, tiền đồ sáng lạn. Vì vậy, bước sơ khởi của người học Phật chính là thực hiện cho được hai điều này.

Ban sơ bước vào đạo, người học Phật như đang dò dẫm trong đêm tối, chưa biết đâu là chính đạo, chưa dám chắc mình đi đúng đường, lòng thường dấy lên nghi hoặc: “Mình đã tu được đến đâu rồi?” Đài Trưởng Lư cùng đại chúng đồng hành trên một con đường, chỉ là Ngài nhìn xa hơn một bước, hiểu sâu hơn một phần. Bởi vậy, Ngài nguyện làm ngọn nến trong đêm, chiếu rõ con đường trước mặt và những chướng ngại bên lối đi cho mọi người; nguyện làm thước đo, liên tục nhắc nhở Phật hữu về mức độ và phương hướng tiến bộ của mình. Đài Trưởng Lư không ngăn việc hỏi về tiền đồ hay nhân duyên thế gian, nhưng kỳ vọng đại chúng quan tâm nhiều hơn đến câu hỏi “làm sao tu đúng – làm sao tinh tấn”. Đó mới là điều đáng để chú tâm. Ngài cũng hi vọng bài pháp này có thể khai mở những hoài nghi trong tâm nhiều người, khiến tâm được thanh tịnh, từ đó tinh tấn tu hành.

QUYỂN 1 – TẬP 10
PHƯƠNG PHÁP NGĂN CHẶN NGHIỆP CHƯỚNG SINH KHỞI

Trong đời này, từng ý niệm, từng hành vi, đều có thể kết nghiệp chướng. Tham, sân, si; chấp ngã, chấp tha – đều là cội nguồn của nghiệp. Vậy phải làm sao để nghiệp chướng chẳng sinh?

Điều thứ nhất là Giới. Giới tức là cải – tức sửa đổi tập khí, sửa đổi thói quen, sửa đổi tánh khí; đoạn tham, dứt sân. Người đời ai cũng mang tật khí, giữ thói quen cố hữu; có người tự nói: “Tánh tôi thẳng, nghĩ gì nói nấy.” Như thế há có thể được chăng? Ngay cả không biết mà tự cho là biết, đã phạm khẩu nghiệp, huống hồ bất kính đối với chư Phật, Bồ Tát. Không sửa đổi thì không trì giới; không trì giới mà vẫn phóng túng, còn uống rượu và ăn thịt, thì làm sao tu tâm? Giới là nền tảng của Giới – Định – Tuệ. Chỉ khi chân thật sửa đổi, nghiêm trì giới luật, thì nghiệp chướng mới giảm dần, tâm mới có thể an trụ, chẳng bị cảnh duyên lôi dẫn, chẳng rơi trong si mờ, và khi ấy trí tuệ chân thật mới hiển lộ.

Khi những đại tập khí đã được đoạn trừ, bước tiến tiếp theo chính là cảnh giới thâm sâu hơn: kiên quyết hàng phục từng vọng niệm ngay khi nó vừa khởi. Đây chính là lời Phật dạy: ngay nơi khoảnh khắc ác niệm hay vọng tâm bất thiện manh nha từ tầng vô thức, người học Phật phải lập tức tỉnh giác, nhận biết rõ đó là điều sai lầm, rồi quyết liệt đoạn diệt ngay lúc chưa thành hình. Như vậy, niệm ấy không thể kết nghiệp. Bằng không, buông tâm theo dòng ác niệm, để nó tiếp tục vận hành, thì vọng tâm sẽ thành hình, ác niệm liền kết nghiệp. Cảnh giới này hiển nhiên khó hơn rất nhiều so với việc trì giới từ bỏ uống rượu, ăn thịt. Tiếp nữa, là cảnh giới thâm sâu hơn nữa – tâm ma. Tâm ma do nghiệp chướng giao cảm mà sinh, lại có thể dẫn sinh nghiệp lực sâu dày hơn nữa. Chỉ những bậc công phu tu hành thâm hậu mới đủ khả năng đối diện cảnh giới này; và chỉ bằng cách trực diện soi chiếu, thấu đạt bản tánh, minh tâm mà giác ngộ, mới có thể hàng phục và đoạn trừ ma tâm.

Dĩ nhiên, thấy thấu triệt chẳng phải điều dễ dàng. Trong đó hàm chứa những cảnh giới tu hành rất cao, như đoạn trừ ngã chấp, đoạn trừ tha chấp, phá các tướng, không còn tướng chúng sinh. Chỉ nương vào lý thuyết mà học thì tuyệt nhiên không thể giải quyết được vấn đề. Lấy một ví dụ giản dị trong đời sống: khi thấy một cô gái dung mạo xinh đẹp, người thường chỉ dừng nơi sắc tướng bên ngoài, chỉ biết tán thưởng dung mạo ấy. Nhưng người có công phu sâu dày, đạt đến cảnh giới như Lư Đài Trưởng, liền khởi niệm: “Ôi, một thiên nữ giáng phàm, đã phạm nghiệp duyên mà phải đến cõi này. Phải tinh tấn tu hành, nếu không e là khó trở về, thật đáng thương xót.” Bởi Ngài có thể quán thấy tiền kiếp của người ấy, tiếp nhận thông tin rộng sâu hơn, trí tuệ viên dung, thấu đạt nhân duyên – nghiệp báo. Vì thế có thể nhìn xuyên thân tướng giả hợp, lìa mọi chấp trước, không trụ nơi sắc tướng. Đó chính là Tuệ. 

Lại nói, đối với tiền tài và danh vọng, trong đời có mấy ai thật sự nhìn thấu và buông xả được? Lư Đài Trưởng có thể buông, bởi Ngài thấy rõ luân hồi; thấy vị lão nhân này đời sau sẽ chuyển sinh làm nam tử, tiếp tục nghiên cứu khoa học; thấy rõ đời này người ấy được tài phú là nhờ phước đức nhiều đời vun bồi; biết kẻ đời này gian nan trắc trở chính vì nghiệp chướng đời trước sâu dày. Ngài thấu rõ: một đời người chỉ như khoảnh khắc ngắn ngủi giữa dòng sinh tử vô tận; chỉ có công đức tu hành mới là pháp tài chân thật, có thể mang theo mà đi.

Tiền tài cũng như thân sắc: được hay mất đều có nhân duyên, đều chịu sự vận hành của luật nhân quả. Người tu minh triết hiểu điều ấy; giống như một vận động viên leo núi chuyên nghiệp đang hướng về đỉnh tuyết sơn – biết rằng sức lực vô cùng quý báu, từng bước phải chuẩn xác, không thể phung phí; hành trang phải vừa đủ – thiếu thì không vượt núi, dư thì thành gánh nặng; lại biết rõ trước khi trời tối và bão tuyết kéo đến, nhất định phải đến được điểm trú an toàn tiếp theo. Trong cảnh như thế, nếu nhìn thấy kẻ khác lệch lộ trình – người thì mải mê cảnh đẹp, kẻ lại đuổi theo bóng linh dương – người học Phật liền khởi tâm cảnh tỉnh: hãy đi đúng đường; đừng tiêu hao lực; mau tiến bước, bão tuyết sắp tới, linh dương chẳng thể cứu người. Đó chính là chỗ khác biệt giữa kẻ thấy thấu và kẻ chưa thấy thấu. Mà muốn nhìn thấu, tất phải có trí huệ; trí huệ chỉ hiển lộ khi lấy Giới làm nền tảng, lấy Định làm cửa ngõ, lấy Tuệ mà sáng soi.

Phương tiện tu tập thứ hai để ngăn nghiệp chướng sinh khởi chính là nuôi dưỡng “tâm cảm ân”. Ở đây, “cảm ân” không chỉ là một trạng thái tâm, mà là một pháp khí, một pháp môn tu hành chân thật. Trong thất tình lục dục của con người, mỗi tình, mỗi dục đều có thể tạo nghiệp; chỉ có tâm cảm ân mới có thể đoạn tuyệt nghiệp chướng, là tâm “duy nhất” có thể khiến nghiệp không sinh, đồng thời là pháp khí hữu hiệu để đối trị tham, sân, si. Vì vậy, người học Phật khi dần tập quen nhìn mọi người, mọi sự quanh mình bằng tâm cảm ân, nghiệp chướng tự nhiên ngày càng tiêu giảm, không còn điều kiện phát khởi.

QUYỂN 1 – TẬP 11
SỰ KHÁC BIỆT GIỮA “THIỆN SỰ” VÀ “CÔNG ĐỨC”

Ai cũng từng nghe câu: “Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo.” Dưới ánh sáng Phật pháp, lời này hoàn toàn chính xác. Mỗi hành động thiện lành, mỗi ý niệm tốt đẹp đều được ghi nhận; khi nhân duyên hội đủ, tất yếu sẽ trổ thành quả lành. Ngược lại, mọi ác niệm và ác hạnh cũng không thể vượt ngoài định luật nhân quả, sớm hay muộn đều phải thọ nhận quả báo tương ứng, không sai chạy dù chỉ một mảy may. Tuy nhiên, cần hiểu một điều then chốt: thiện hạnh và thiện niệm tuy có thể chiêu cảm phước báo, nhưng không đủ sức xoá trừ những ác nghiệp đã gây tạo. Nghĩa là, một người dẫu làm rất nhiều việc thiện, nhưng nếu từng tạo ra trọng nghiệp, thì phước báo của việc thiện vẫn tới, đồng thời quả báo của ác nghiệp ấy cũng không thể tránh khỏi. Chính vì vậy, trong đời vẫn có những người được ca ngợi là lương thiện suốt cả cuộc đời, nhưng khi thân mạng chấm dứt vẫn phải đọa lạc vào ác đạo để thọ khổ báo.

Trong Phật pháp, “công đức” là một khái niệm được nhấn mạnh đặc biệt. Vậy công đức rốt cuộc là gì, và có năng lực như thế nào? Thực ra, công đức cũng khởi từ những việc thiện và tâm thiện, nhưng điểm căn bản khác biệt nằm ở chỗ: đó là những thiện hạnh và thiện niệm đã được phát tâm, phát nguyện trước chư Phật, Bồ Tát. Khi ấy, việc thiện mới vượt khỏi phạm vi của thiện nghiệp thông thường để trở thành công đức. Còn những việc thiện mà chúng ta làm trong đời sống hằng ngày , dẫu xuất phát từ lòng tốt tự nhiên hay từ cảm xúc sau khi nghe pháp , nếu chưa từng phát tâm, phát nguyện trước Tam Bảo, thì vẫn chỉ thuộc về thiện hạnh cá nhân. Những việc ấy biểu hiện thiện tâm của “cái tôi”, nhưng chưa chuyển hóa thành công đức chân thật. Ví như có người ăn chay suốt nhiều năm, nhưng chưa từng phát tâm phát nguyện trước Bồ Tát. Dẫu ăn chay mười năm vẹn toàn, điều ấy vẫn chỉ dừng lại ở mức thói quen, xu hướng sống hay lựa chọn cá nhân. Chỉ khi người ấy phát nguyện giữ giới không sát sinh trước Bồ Tát, thì việc ăn chay mới thật sự trở thành hành trì, mới được ghi nhận là công đức. Cũng như vậy, việc bố thí, giúp người, làm công quả, hay hiếu kính cha mẹ, hoà thuận anh chị em , nếu có phát tâm phát nguyện, thì phước báo càng thù thắng, và thiện hạnh ấy mới viên mãn ý nghĩa của công đức. Tuy nhiên, cần biết rằng: những thiện sự được thực hiện trong chùa, hoặc nơi có sự gia trì của Tam Bảo, thì tự nhiên đã thành tựu công đức, không nhất thiết phải lập nguyện riêng. Có thể hiểu một cách giản dị: một văn bản cần có con dấu xác nhận mới phát sinh hiệu lực; cũng vậy, thiện hạnh khi được “ấn chứng” bởi Bồ Tát liền chuyển hoá thành công đức viên mãn.

Vậy công đức rốt cuộc có tác dụng gì? Mọi người đều biết tác hại của nghiệp chướng hay nghiệt chướng. Chúng giống như những “vi-rút” tiềm ẩn sâu trong A-lại-da thức của con người; đến khi nhân duyên hội đủ, liền phát khởi, chiêu cảm thành các hiện tượng tâm linh, rồi trực tiếp tác động và chi phối đời sống. Đây cũng chính là nguyên nhân vì sao có người vốn đang mạnh khoẻ bỗng nhiên lâm bệnh nặng, gặp tai nạn bất ngờ, hoặc rơi vào những biến cố nghiêm trọng; thậm chí có người do nghiệp chướng quá sâu dày mà cả đời lận đận, sắc diện u ám, tâm thường oán hận, trách trời trách người. Trong đời này, nếu vẫn tiếp tục tạo ác nghiệp hoặc sát sinh, mà phước báo đời trước chưa tiêu hết, thì những ác nghiệp ấy sẽ chưa lập tức trổ quả, mà tạm thời ẩn phục, trở thành nghiệt chướng được lưu trữ trong A-lại-da thức. A-lại-da thức –  tức thức thứ tám trong bát thức, còn gọi là A-lại-da căn bản thức – chính là căn gốc phát sinh thiện ác. Trong đó tàng chứa vô lượng chủng tử nghiệp, có khả năng dẫn khởi mọi hành vi, lời nói và ý niệm thiện ác của con người, đặc biệt chi phối các động niệm trong tư duy.

Nghiệt chướng ẩn sâu nơi A-lại-da thức không thể dùng thiện hạnh thông thường mà chuyển hóa; chỉ có đại công đức mới đủ lực thấm nhập, hoá giải và thanh lọc các chủng tử nghiệp, từ đó đạt đến hiệu quả làm sạch nghiệt chướng một cách căn bản. Đây chính là ý nghĩa sâu xa của bài kệ:

“Thân thị Bồ đề thụ
Tâm như minh kính đài
Thời thời cần phất thức
Vật sử nhạ trần ai”.

(Thân là cây Bồ đề,
Tâm như đài gương sáng;
Phải luôn siêng lau chùi,
Chớ để bụi trần bám.)

Công đức chính là pháp khí để lau sạch “bụi trần” nơi tâm thức. Vì vậy, một trong những công năng trọng yếu nhất của công đức chính là tiêu trừ và hoá giải nghiệt chướng. Đây cũng là nhiệm vụ tối thượng của người tu Phật, tu tâm. Chỉ khi nghiệt chướng được thanh lọc, thì tâm mới trở nên thanh tịnh, sáng suốt; trí tuệ mới dần hiển lộ, và người học Phật mới thật sự có khả năng đi đến giác ngộ.

QUYỂN 1 – TẬP 12
BÀN VỀ “NHÂN KHÔNG” VÀ “QUẢ KHÔNG”

Thế nào là “Không”? Quý vị đều biết rằng, trong Phật giáo, “Không” là cách nhìn thấu suốt bản chất rốt ráo của vạn pháp. Người học Phật ngày nay không chỉ dừng lại ở việc tiếp nhận giáo lý, mà còn cần vượt ngoài khuôn khổ của thời gian và không gian, để trực nhận chữ “Không” như một cái thấy chân thật về bản thể của thế giới. “Không” ở đây mang ý nghĩa tuyệt đối, vượt ngoài mọi vọng tưởng phân biệt. Tuy nhiên, “Không” không chỉ có một tầng nghĩa; giữa Phật giáo Tiểu thừa và Phật giáo Đại thừa cũng có những cách lý giải khác nhau. Trong giáo lý Phật giáo Tiểu thừa, “Không” trước hết được giảng là Ngã Không. 

Vậy “Ngã Không” là gì? Nghĩa là cái gọi là “ta” vốn không có tự tánh. Trong đời này, không tồn tại một bản ngã hay tinh thần nào có thể hiện hữu vĩnh viễn. Chúng ta thường chấp rằng có một “tôi” đang tồn tại, được điều khiển bởi một tinh thần hay ý niệm thường hằng. Thế nhưng, xét cho cùng, không hề có bất kỳ thực thể tinh thần vĩnh cửu nào đứng sau và chi phối cái gọi là “ta”. Đây chính là cách nhận thức về “Không” trong Phật giáo Tiểu thừa. Bên cạnh đó, Phật giáo Tiểu thừa còn giảng về “Quả Không”.

Vậy “Quả Không” là gì? “Quả Không” chỉ rõ rằng mọi kết quả, mọi hiện tướng xuất hiện trong tiến trình nhân – quả của một chúng sinh đều không có tự tánh. Trong thế gian này, không có bất kỳ sự kết hợp nào của các yếu tố căn bản có thể tồn tại vĩnh hằng. Những gì ta gọi là “quả”, là “kết cục”, xét đến cùng chỉ là sự tạm hợp của các duyên mà thành. “Quả Không” cũng cho thấy rằng bản chất của tâm thức, của cái gọi là “tinh thần” nơi con người, vốn là rỗng không; các yếu tố mà ta cho là đang chi phối tâm thức ấy, rốt ráo cũng đều là không, không thật có. Ví như nước được cấu thành từ vô số phân tử, chỉ là một dạng kết hợp tạm thời. Khi nước bốc hơi, thì hỏi rằng “nước” còn ở đâu? Tư tưởng của con người cũng như vậy: có thể vừa khởi lên trong khoảnh khắc, nhưng ngay giây sau đã tan biến, không lưu lại dấu vết nào. Bởi thế, cả “ngã” lẫn “quả”, xét đến cùng, đều không có thực thể cố định, vĩnh hằng. Vậy tại sao một lý luận sâu sắc như vậy trong Phật giáo Tiểu thừa lại chưa được chấp nhận trọn vẹn trong Phật giáo Đại thừa? Bởi vì quan điểm ấy vẫn được thiết lập trên nền tảng của “cái đang hiện hữu”. Nói cách khác, “Không” vẫn được nói ra trên nền của “Có”. Trên nền “Có” mà luận “Không” thì rốt cuộc vẫn còn “Có”, vẫn chưa đạt đến thể tánh “Không” tuyệt đối. 

Phật giáo Đại thừa giảng “Nhân Không”. Vậy “Nhân Không” là gì? Nghĩa là ngay cả “nhân” của nhân – quả cũng vốn là không, huống chi là “quả”. Tức là, vốn không thật có cái gọi là “nhân” ấy. Ví như hôm nay có người nói những lời bất thiện về quý vị, nếu quý vị không tiếp nhận, thì cái “nhân” ấy không được gieo vào tâm; do đó không sinh sân hận, không buồn khổ, cũng không tạo thành “quả”. Trong Phật giáo Tiểu thừa, khi nghe lời ấy, tâm đã khởi “quả”, rồi mới dùng phương pháp tu tập để hóa giải, diệt trừ “nhân”. Còn “Nhân Không” nghĩa là nhân vốn không có thật , nên không thể hình thành quả nơi tâm; đó chính là lập trường căn bản của Phật giáo Đại thừa. Đại thừa cũng chỉ rõ rằng ngay cả những yếu tố căn bản cấu thành vạn Pháp cũng đều là không. Như Thiền tông nói: “Bản lai vô nhất vật, hà xứ nhiễm trần?” – “Vốn xưa không một vật, làm sao vướng bụi trần?”

Phật giáo Đại thừa còn giảng “Pháp Không”. Vậy “Pháp Không” là gì? Nghĩa là tất cả những gì mắt thấy tai nghe đều là không, đều không có thực thể chân thật; do đó muôn pháp thế gian vốn là không. Vì vậy, đừng chấp, đừng sân hận, cũng đừng mê lầm. Phật giáo Đại thừa giảng rằng bản nguyên của thế giới vốn là không, nghĩa là thế giới này từ gốc đã không thật có; tất cả chỉ là giả tướng, hư huyễn, muôn pháp nơi thế gian đều như ảo ảnh. Vậy trong cõi đời này, điều gì mới là thật? Ví như hôm nay vợ chồng yêu thương thắm thiết, thề sống chết có nhau; vài ngày sau lại oán hận như kẻ thù – đó chẳng phải đều là giả tạm hay sao? Vì thế, mỗi người nhất định phải có trí tuệ sáng suốt để chiến thắng chính sự ngu si của mình. Không có trí tuệ thì không thể vượt qua mê lầm. Khi thấu rõ vạn pháp vốn không thật, quý vị sẽ hiểu rằng tất cả những gì hiện đang sở hữu chỉ là tạm bợ, là giả tạm; một khi mất đi thì không còn gì nữa. Như khi cha mẹ qua đời, thân thể, danh phận… đều tan biến. Mọi thứ nơi thế gian đều vô thường, biến đổi không ngừng; đừng lầm tưởng rằng có được hôm nay thì sẽ còn mãi. Vì vậy, hãy quán chiếu mọi sự bằng cái nhìn động, khách quan; nhờ đó, quý vị sẽ không còn khóc than, buồn khổ hay đau đớn. Khi nhìn sự việc trong dòng chuyển động vô thường, không cố chấp cứng nhắc, quý vị sẽ sống trong niềm hy vọng. Người sống trong hy vọng sẽ thấy thế giới vô cùng tươi đẹp. Ngược lại, nếu cho rằng vạn pháp bất động, không thể đổi thay, thì sẽ thấy cuộc đời tối tăm như tận thế; từ đó sinh tâm chán nản, mất mát, thậm chí nghĩ đến việc tự hủy hoại bản thân. Hãy ghi nhớ: người có trí tuệ không bao giờ làm tổn hại chính mình; chỉ kẻ mê lầm, không thông suốt mới tự làm khổ mình.

Phải dùng chính sự giác ngộ của bản thân để tự mình thể nghiệm và thấu triệt cuộc sống. Tu tâm là quá trình tự kềm chế, không ngừng nâng cao cảnh giới nội tâm; đồng thời cũng là sự chịu đựng và vượt qua khổ đau, nên gọi là khổ tu. Người học Phật cần biết chế ngự mọi dục vọng, đồng thời thường xuyên tự quán chiếu để sửa đổi những lỗi lầm và khuyết điểm của chính mình. Chỉ khi đoạn trừ được các tập khí và thói quen xấu nơi tự tâm, quý vị mới có thể từng bước tiến tu và đạt đến chánh quả.

QUYỂN 1 – TẬP 13
TÂM BẤT TÙY CẢNH, LINH BẤT TÙY DUYÊN ( Giữ tâm bất động giữa cảnh duyên đổi thay)

Quý vị hãy ghi nhớ: trong đời, một việc có thể viên mãn hay không không nằm ở năng lực, mà phụ thuộc vào nhân duyên. Mấu chốt không phải là “có làm được hay không”, mà là duyên đã chín hay chưa. Dẫu quý vị nỗ lực đến đâu, tài năng lớn đến mức nào, cũng chưa chắc đã thành tựu, bởi phước báo ở nhân gian chỉ hình thành khi nhân và duyên hòa hợp. Có nhân đúng thì mới cảm được duyên; khi nhân lành và duyên lành tương ứng, giao hội đầy đủ, việc ắt thành. Vì vậy, khi mong cầu một việc được viên mãn, trước hết hãy tự xét xem nhân duyên đã đủ chưa, chớ chỉ nhìn vào năng lực mà cho rằng chỉ cần cố gắng là có thể hoàn thành mọi việc.

Quý vị cũng cần luôn ghi nhớ: phải thường xuyên quán niệm vô thường. Trong tâm nên khởi lên nhận thức rằng thế gian này không có gì bền lâu; đã không bền lâu thì không phải là chân thật. Thế gian vốn vô thường, vô ngã—không có cái gì tồn tại mãi, cũng không có một cái “ta” cố định—vì vậy chớ sinh chấp trước. Khi tai nạn hay nghịch duyên bất chợt ập đến, tâm phải giữ được an định, không hoảng loạn, và cần kiên cố niềm tin. Dù là định nghiệp, vẫn có thể chuyển đổi. Định nghiệp là những việc thuộc về số mệnh, có thể suy đoán trước, nên gọi là “mệnh”. Ví như xem mệnh cho biết đến một độ tuổi nào đó sẽ gặp một cửa ải—đó chính là định nghiệp. Nhưng định nghiệp không phải là bất biến. Chỉ cần có tín tâm kiên định, biết tích lũy thiện hạnh, phát khởi đại nguyện, siêng năng bố thí, chí thành tinh tấn trì tụng kinh chú, thì nhất định có thể chuyển hóa nghiệp lực. Vì vậy, dù là định nghiệp cũng có thể chuyển; điều quan trọng là phải chuyên cần niệm kinh, học Phật, chớ nương cậy bói toán hay tìm cầu tà pháp. Người học Phật không nên quá lệ thuộc vào xem mệnh, mà cần chân thật tu hành, vững tin vào oai lực gia trì của chư Phật, Bồ Tát để trợ duyên cho sự chuyển nghiệp của chính mình. Đồng thời, phải thật sự rèn luyện tâm bất động. Miệng có thể nói “tôi không động tâm”, nhưng hễ thấy lợi liền khởi tham, như vậy vẫn chưa đạt. Tâm bất động chân thật chỉ có thể được hun đúc và chứng nghiệm ngay trong hoàn cảnh, giữa mọi cảnh duyên.

Nếu ngoài miệng nói là không động tâm, nhưng trong lòng lại dấy lên những niệm khác, thì lời nói và tâm niệm đã không tương ưng. Quý vị thử tự hỏi: trong đời này, có mấy ai thật sự làm được điều gọi là “kiến tài bất động tâm”? Ví như đang đi trên đường, bỗng thấy tiền rơi ngay dưới chân—quý vị có nhặt không? Tâm có khởi động không? Trước lợi ích hiện tiền, liệu chúng ta có thật sự không sinh niệm tham? Một khi tâm đã động, ắt sẽ chiêu cảm quả báo tương ứng với niệm khởi ấy. Khởi niệm thì rất dễ, nhưng khi quả báo hiện tiền, liệu quý vị có đủ sức gánh chịu chăng? Người có thể giữa trần thế mà bất động trước vinh nhục, lợi hại, danh sắc, mới thật sự là bậc cao thượng, đã bước vào dòng Thánh. Chỉ đến địa vị Bát địa Bồ Tát mới đạt cảnh giới vô tướng, vô công dụng—không cần cố gắng mà mọi thiện hạnh tự nhiên vận hành—bởi chỉ ở địa vị ấy mới có định lực chân thật, tâm mới hoàn toàn bất động.

Xưa kia, Đức Phật cũng từ phàm phu mà từng bước tu hành, rồi mới chứng đắc Thánh quả. Người học Phật ngày nay cũng vậy: kẻ vốn keo kiệt mà nay biết mở lòng; người xưa chưa từng bố thí, nay có thể phát tâm cúng dường, trợ duyên cho chúng sinh—đó chính là tiến trình chuyển hóa. Bố thí chính là phương thuốc đối trị tâm tham: biết xả thì tham tâm tự lui; còn tham thì không thể xả. Vì thế, người tu phải khéo léo vận dụng pháp phương tiện để hàng phục tập khí, chuyển hóa những thói quen bất thiện nơi chính mình. Dù cảnh giới bên ngoài biến đổi thế nào, tâm cũng không được tùy cảnh mà chuyển. “Cảnh giới đến” là khi trong thân tâm khởi lên các niệm bất thiện, hoặc khi hoàn cảnh bên ngoài trở nên trái ý, nghịch lòng. Khi ấy, điều quan trọng nhất là dứt tạp niệm, an trụ chánh niệm, giữ cho tâm không lay động.

Thứ nhất: Huệ quán. Phải dùng trí tuệ để soi chiếu, quán sát rõ ràng rằng các pháp thế gian đều vô thường, chỉ là tạm bợ, không có gì bền lâu. Dùng trí để quán thì sinh trí; lấy tuệ mà nhìn thì tuệ tự khai mở. Nhờ vậy, tâm dần dần sáng tỏ, các vọng niệm cũng theo đó mà lắng xuống.

Thứ hai: Quán địa ngục khổ. Khi tâm sắp khởi lên nghiệp bất thiện, phải lập tức nhớ đến quả báo nơi địa ngục. Hãy quán tưởng cảnh thọ khổ trong địa ngục để tự nhiếp tâm, chế phục vọng niệm. Ví như khởi tâm lừa dối, làm hại người khác, phải nghĩ ngay: hậu quả tương lai sẽ đọa lạc, chịu hình phạt đau đớn ra sao. Nhờ quán như vậy mà ác niệm được dừng lại, không tiếp tục tạo nghiệp.

Thứ ba: Quán ngạ quỷ khổ. Hãy quán tưởng cảnh giới của loài ngạ quỷ: miệng nhỏ như kim, bụng lớn như trống; đói khát triền miên, khổ não vô lượng, vô cùng đáng thương. Quán nỗi khổ ấy để sinh tâm sợ nhân ác, sợ quả đọa lạc, đồng thời nuôi dưỡng lòng từ bi, biết tự thúc liễm thân tâm, không để ác niệm phát sinh.

Thứ tư: Trì chú, sám hối. Đây chính là chuyên tâm niệm kinh, trì chú và chí thành sám hối. Khi tâm loạn, vọng tưởng dấy lên, phiền não bủa vây, hãy nhất tâm trì tụng và thành khẩn sám hối. Nếu tụng niệm bằng tâm chân thật, thì phiền não sẽ dần tiêu tan, nghiệp chướng theo đó mà mỏng nhẹ, tâm ma không còn chỗ nương bám, các chướng duyên gây khổ não cũng khó lòng can nhiễu. Việc niệm kinh quan trọng nhất là nhất tâm; nếu tâm còn tán loạn, khi nhớ việc này, lúc nghĩ việc khác, thì tiếng niệm tán, tâm cũng tán, công đức khó thành viên mãn. Vì vậy, phải lấy tâm chân thành và chánh niệm tập trung mà trì tụng.

Nếu cảm thấy trì niệm không được tương ứng, ngoài nguyên nhân tâm chưa đủ chí thành, còn có yếu tố nhân duyên bên ngoài, như việc ăn mặn hoặc dùng ngũ tân, khiến Hộ Pháp khó đến gia trì. Ngũ tân gồm: hành, tỏi, hẹ, kiệu, nén—những thứ có mùi vị kích thích mạnh, dễ làm động thần kinh, khởi tham dục, khiến tâm nhiễm loạn. Khi Thần Hộ Pháp không gần, sự tu trì cũng khó đạt được cảm ứng tương thông.

Để việc trì tụng được thành tựu, cần ghi nhớ ba pháp hợp nhất:

1) Tâm – khí hợp nhất: Tâm nương theo hơi thở, hơi thở nương theo tâm; tâm an, khí điều, hơi thở và niệm hòa làm một.

2) Thanh – khí hợp nhất:Âm thanh phát ra từ khí lực, tròn đầy, không gấp gáp, không rời chánh niệm; tiếng niệm đi đến đâu, chánh khí hiển lộ đến đó.

3) Thân – tâm – khí hợp nhất: Thân an tĩnh, tâm thanh tịnh, khí hòa điều; ba yếu tố hòa làm một, chẳng tán loạn, chẳng phân li.

Đây chính là pháp tam hợp nhất trong khi trì tụng kinh chú, là nền tảng để niệm lực được viên thành.

QUYỂN 1 – TẬP 14
LUẬN VỀ TRÌ GIỚI VÀ KHAI NGỘ

Hôm nay, chúng ta bàn về pháp Trì Giới. Đức Phật dạy: “Người biết trì giới, biết thuận pháp, thì thân tâm mới được an ổn.” Nếu một người giữ được giới – hiểu rõ điều nên làm, điều không nên làm, và nghiêm thân hộ niệm – thì tự nhiên thân tâm sẽ được định tĩnh. “Thuận pháp” nơi nhân gian là tuân thủ pháp luật; nơi âm giới là thuận theo âm luật; nơi thiên giới là hành đúng thiên luật. Người trì giới, thuận pháp, mới có thể đạt được an ổn thân tâm. Vì sao trì giới mang đến an định? Bởi giới luật chính là phương thuốc trị phiền não, ưu sầu và sợ hãi. Người không tạo điều bất thiện thì không lo âu, không sợ hãi; dù có ai gõ cửa cũng không khởi tâm hoảng loạn, bởi không có điều gì khiến bất an. Ví dụ, người thân thể quá béo, bác sĩ cảnh báo rằng nếu tiếp tục phóng túng ăn uống sẽ mắc bệnh tim. Người ấy nghe lời, giữ giới – không dùng thực phẩm nhiều cholesterol, không ăn đồ dầu mỡ – thì lo lắng tự nhiên tiêu tan. Khi ưu tư không còn, thân tâm liền an định.

Quý vị có biết, rốt ráo tu tâm là tu điều gì? Tu tâm, xét theo nghĩa sâu xa, chính là trì giới: điều không nên làm, nhất định không làm; điều không nên nói, quyết không nói; điều không nên khởi niệm, dứt chẳng cho tâm vọng động. Mọi việc phải tự khống chế, tự điều phục – đoạn trừ tập khí xấu nơi chính mình. Người không thể trì giới tức là chưa thực sự tu tâm; họ chỉ theo nghiệp lực và số mệnh mà trôi lăn. Ngày nay, nhiều người giữ giới, tu tâm, trì tụng kinh điển – thân liền an lạc, sức khỏe tự nhiên hưng thịnh. Đức Phật dạy về Ngũ Giới, trong đó có Giới “Không trộm cắp”: Nếu khởi tâm trộm cắp mà không giữ giới, thử nghĩ có tránh khỏi pháp luật nhân gian không?
Giới “Không sát sinh”: Sát hại con người là phạm dương luật, phải chịu trừng trị; sát hại loài vật tuy thế gian không luận tội, nhưng phạm âm luật, quả báo vẫn phải thọ lãnh. Vì vậy, Ngũ Giới không chỉ dành cho hàng xuất gia; bất kỳ ai tu hành, ai mong đời sống thiện lành, thanh tịnh – đều nên trì giữ.

Ở thế gian này, có hai điều cần khắc ghi sâu sắc.

Thứ nhất: Điều gì đã xảy ra, hãy để nó xảy ra. Đừng tự hỏi: “Vì sao lại là tôi? Vì sao việc này giáng xuống đời tôi?” Thật ra, không có “vì sao” nào cả. Bệnh đến thì bệnh, tử đến thì tử. Biết bao người chưa kịp chuẩn bị một niệm, mà nghiệp duyên đến liền lập tức phát sinh – không ai tránh khỏi.

Thứ hai: Tiền một khi đã rời khỏi tay, thì không còn thuộc về mình nữa. Nếu bị lừa, nếu đã cho đi, thì hãy xem đó như phước – nghiệp đã an bài. Người đời vì tham lợi mà vọng cầu phát đạt, mong có “kỳ tích” nơi trần gian – nhưng cần nhớ: trong cõi nhân thế, không có kỳ tích vô cớ. Nếu có “phước kỳ diệu”, ắt là do đời trước đã vun bồi thiện nghiệp mà thành. Bình an chính là đại phúc. Một đời có thể an nhiên mà đi cho trọn vẹn, ấy là người thật sự hữu phúc. 

Sư phụ từng dạy về Giới – Định – Tuệ: nhờ trì giới mà có định; giữ giới thì thân tâm dần tĩnh lặng, vọng niệm ngừng, dục vọng lắng xuống, tâm tự nhiên thanh tịnh. Nhờ có định mà khai tuệ – tâm lặng thì trí sáng, gặp cảnh liền an hòa, không tranh, không động, không náo loạn. Hôm nay, Sư phụ giảng về “tiểu tam khiếu” – tức là khai mở trí tuệ, gồm ba bước: Nghe – Đọc – Nhập.

Trước hết là nghe Phật pháp, nghe kinh điển, nghe chánh lý. Phải dùng tai mà nghe, nghe nhiều lần, kiên trì. Một người thường xuyên lắng nghe Phật pháp, nghe lời thiện, nghe giáo huấn sẽ khai mở trí tuệ, tâm dần thâm nhập, trí tuệ tự nhiên khai phát.

Sau khi nghe, bước tiếp là Đọc – đọc kinh, đọc sách của Sư phụ. Dù sách của Sư phụ không phải kinh điển chính thức, nhưng có khả năng phá mê khai ngộ, giúp con người hiểu đạo, thấu suốt luật nhân quả. Bởi Sư phụ giảng về đạo lý, mà chữ “lý” vô cùng trọng yếu. Khi kết hợp chữ “lý” với chữ “số” thành “lý số”, nghĩa là đạo lý cũng có lượng số, tà lý cũng có lượng số. Ví dụ như nhiệt kế: trên 0 độ là hướng lên, là số dương, thuộc chính lý; dưới 0 độ là hướng xuống, là số âm, thuộc tà lý. Nếu đổi “lý số” thành “số lý”, tức là dùng con số để giải quyết vấn đề thế gian – đó là toán lý, hóa lý. Còn “lý số” lại giúp giải quyết cảnh giới tư duy của con người; trí tuệ cao thực chất chính là quan niệm cao và năng lực lĩnh hội sâu. Muốn hiểu đạo, cái lý phải được đặt trên mặt chính. Sư phụ tôn trọng quý vị, tôn trọng lý tưởng, tôn trọng sự cầu đạo của quý vị. Những điều tinh túy nhất, mỹ hảo nhất – những điều thế gian khó học được – Sư phụ đều truyền trao cho quý vị.

Nghe Phật pháp, đọc kinh văn, cần thâm nhập và nhuần nhuyễn. Nghe rồi, đọc rồi, sau đó mới thực hành, ứng dụng vào đời sống; như vậy mới gọi là Nhập, mới thật sự bước vào cảnh giới ấy. Đây không phải cảnh giới tầm thường, mà là cảnh giới của sự khai ngộ.

Đời người có hai căn gốc.

Một là thân căn – tức sắc thân này. Thân chính là gốc của khổ. Vì sao khổ? Bởi nhờ có thân mà mọi bệnh tật, thất bại, tai nạn đều phát sinh. Thân là cội nguồn của mọi đau đớn nơi thế gian. Ví như khát nước, muốn uống mà không có nước thì khó chịu; muốn mua nước mà không có tiền thì phải dùng thân đi lao nhọc kiếm tiền.

Hai là vật căn – tức dục vọng đối với vật chất. Thấy gì cũng sinh tâm muốn chiếm hữu; mà cầu không được thì khổ. Đây cũng là “bệnh gốc” của chúng sinh. Chỉ cần còn mang sắc thân, chúng ta tất yếu phải trải qua sinh – lão – bệnh – tử. Chỉ cần còn nương nơi vật chất thế gian, vạn pháp đều vận hành theo quy luật thành – trụ – hoại – không. Ví như một chiếc bàn: ban đầu lấy gỗ tạo thành – ấy là thành; dùng lâu rồi gỗ mục – đó là trụ; khi đã hư hoại, không còn sử dụng – ấy là hoại; đến lúc bị bỏ đi, tan rã – đó là không. Vạn pháp nơi cõi đời cũng vận hành theo chu trình ấy.

Người – sinh, lão, bệnh, tử.

Vạn vật – thành, trụ, hoại, không.

Phật giáo Đại thừa là tâm trí và hạnh nguyện của Bồ Tát. Đại thừa dạy chúng ta cứu độ hết thảy chúng sinh. Bồ Tát không chỉ tự nhận biết nỗi khổ của bản thân để cầu giải thoát, mà còn phát tâm cứu độ muôn loài. Ví như khi tai nạn xảy ra, người đời thường cứu người theo thứ tự: cứu ai trước, ai sau. Nhưng Bồ Tát thì không phân chia như vậy; không luận thân sơ, không chọn lựa đối tượng – chỉ một lòng cứu độ tất cả.

Trong đời, những ai học Phật theo hạnh Đại thừa, phát tâm cứu độ mọi chúng sinh hữu duyên, là rất hiếm – vì người đời còn nhiều tâm phân biệt. Bồ Tát dạy: “Cứu độ vô lượng vô biên chúng sinh, nhiều như cát sông Hằng” – nghĩa là không thể đếm lường. Trong pháp Đại thừa, việc cứu người gọi là bình đẳng phổ độ: cứu người một cách bình đẳng, không phân biệt hoàn cảnh, già trẻ, nam nữ, sang hèn hay giàu nghèo.

Ví như hôm nay, quý vị đang lắng nghe khai thị của Sư Phụ. Mỗi người có đạo hạnh khác nhau, mức độ hiểu khác nhau, khả năng tiếp nhận cũng khác nhau. Nhưng Sư Phụ trao pháp lực bình đẳng đến từng đệ tử. Sự khác biệt chỉ xuất phát từ mỗi người: năng lượng quý vị tiếp nhận không đồng đều, không phải vì Sư Phụ không bình đẳng, mà do căn cơ, công phu và năng lực lĩnh hội của từng người khác nhau. Sư Phụ đã ban pháp lực bình đẳng; còn quý vị tiếp nhận được bao nhiêu – là do chính bản thân mình.

Trong Phật giáo Tiểu thừa, khi cứu độ chúng sinh, thường còn phân biệt đối tượng: người mình ưa thì cứu, người không ưa thì không cứu. Tâm còn chấp trước, còn yêu ghét, nên việc cứu người cũng theo tâm phân biệt. Người học Phật phải luôn tu theo Đại thừa, phát nguyện cứu độ hết thảy chúng sinh hữu duyên.

Trong Tiểu thừa còn có điểm khác: chỉ cứu khi chúng sinh cầu. Quý vị hiện nay có rơi vào tình trạng này không? Người ta không cầu, quý vị có khởi tâm chủ động giúp họ không? Phật pháp dạy: “Vô duyên bất độ” – không phải là vĩnh viễn không cứu, mà là chờ khi nhân duyên chín muồi thì cứu. Không được hiểu sai lời Phật dạy.

Trí tuệ của Bồ Tát là viên dung, chánh đẳng chánh giác. Học Phật phải tinh tấn toàn diện, không phải vui thì cứu, không vui thì không cứu; không phải có duyên mới cứu, mà ngay cả khi duyên chưa đủ cũng khởi tâm tạo duyên để cứu. Mong tất cả quý vị đều có thể làm được như vậy.

Hôm nay, Sư Phụ giảng cho quý vị về cảnh giới linh giới. Cảm thọ, ý thức và thần thức nơi mỗi con người chính là phần giao tiếp với linh giới. Linh giới có tri giác, có thần thức – đó là lĩnh vực của vong linh mà con người đang tiếp xúc. Đây là một cảnh giới vô cùng rộng lớn, đồng thời cũng là một con đường, bao gồm quỷ đạo, A-tu-la đạo và thiên đạo.

Vậy thế nào là “thần”? Ví như khi trong tâm khởi niệm: “Nguyện người kia đối xử tốt hơn với mình”, không cần tụng niệm ra tiếng, chỉ cần ý niệm liên tục hướng về điều đó – người ấy liền có cảm ứng. Đây chính là sự giao cảm của tâm thức trong linh giới. Khi con người tiếp xúc với nhau, chỉ trong khoảnh khắc đã cảm nhận được thiện cảm hay không – ấy chính là vận hành của thần thức.

Nói đến phóng sinh, công đức lớn nhất chính là cứu độ những vị Phật tương lai. Hôm nay quý vị cứu một sinh mạng, mai kia khi thoát khỏi thân súc sinh, có thể tái sinh làm người. Hoặc khi con cháu chứng kiến hành động phóng sinh, nơi tâm khởi lên hạt giống từ bi, biết đâu tương lai đó chính là nhân thành Phật đạo.

Hãy nhớ rằng, tấm gương có sức mạnh vô lượng. Sinh mạng hôm nay quý vị thả về với tự do, biết đâu từng là thân quyến của mình trong quá khứ. Hãy dùng tâm đại từ, đại bi, không sợ hãi mà hành trì – khi ấy, bản tánh thanh tịnh sẽ tự hiển lộ.

QUYỂN 1 – TẬP 15
LUẬN VỀ “SỦNG – NHỤC” VÀ “BẬN TÂM”

Con người sống giữa thế gian, mọi thứ đều có cảm thọ, đều có giác quan. Thân thể của chúng ta vốn cấu tạo kỳ diệu, và mọi hoạt động đều do thần trí điều khiển. Khi tinh thần tập trung, tất cả chức năng của thân thể đều phát huy tối đa. Ngược lại, khi tinh thần phân tán, mọi chức năng suy giảm ngay lập tức, không còn hiệu lực.

Hôm nay, khi quý vị chí tâm lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát, quý vị dựa vào sức mạnh nào để tâm định? Chính là sức mạnh của thần trí. Nhờ sức mạnh này, niềm tin được khởi lên. Nếu thiếu niềm tin, mọi việc đều không thể thành tựu, và ánh sáng của tương lai sẽ mãi mờ mịt. Niềm tin là trụ cột của tu tâm, bởi chỉ nhờ niềm tin, quý vị mới vững bước, kiên định trên đường tu. Nếu không có niềm tin, mọi nỗ lực sẽ trở nên vô hiệu.

Hãy tưởng tượng một gia đình đứng trước nguy cơ tan vỡ. Nếu vợ chồng thật sự muốn gìn giữ hôn nhân, họ cần dựa vào niềm tin và sức mạnh tinh thần để an trú, nâng đỡ lẫn nhau, tin rằng mọi chuyện sẽ được cải thiện, và từ đó, hôn nhân sẽ chuyển hướng tích cực. Nhưng niềm tin này bền vững hay không lại phụ thuộc vào cảm thọ và giác quan của mỗi người: nhìn lại quá khứ, hướng về tương lai, nhưng điều quan trọng nhất là tự hỏi: bản thân có thực sự đang tu tâm hay không. Nếu hôm nay họ thật sự tu tâm, niềm tin và hy vọng sẽ tự nhiên khởi lên. Ngược lại, nếu không tu tâm, hy vọng sẽ cạn kiệt, và mọi cảm thọ, mọi giác quan chỉ còn là hư không, không thực.

Hôm nay, Sư phụ giảng cho quý vị về “Sủng” và “Nhục”.

Thực ra, cả sủng lẫn nhục đều là biểu hiện của tâm kinh sợ. Ví như một người cả ngày được sủng ái, cũng sinh ra tâm kinh sợ, vì không biết ngày mai sẽ ra sao, liệu ưu ái hôm nay có còn hay không. Hoặc như một công nhân bình thường, bỗng nghe sếp nói:

“Ngày mai tôi sẽ thăng chức cậu làm quản lý.”

Người ấy lập tức ngạc nhiên, vui mừng – nhưng thực chất, đó cũng là một dạng kinh sợ. Dù được sủng hay chịu nhục, bản chất đều là kinh sợ – thứ kinh sợ này chính là nguồn gốc phiền não lớn nhất cho bản thân. Như câu thường nói:

“Nhẫn nhục bất kinh, sủng nhục bất kinh.”

Hôm nay được thăng chức, không kinh sợ; Ngày mai bị khiển trách, giáng chức, cũng không kinh sợ. Người sở hữu tâm thái như vậy mới thực sự vững vàng, không bị niềm vui hôm nay hay nỗi buồn ngày mai chi phối, và không để sự biến chuyển của thế gian làm dao động nội tâm. Cho nên, đừng để phiền não đọng lại trong tâm. Khi nhận sủng hay chịu nhục, thường sẽ sinh ra phản ứng quá lớn nơi chính mình. Ở đây, “nhục” không chỉ là bị sỉ nhục hoàn toàn, mà còn là khi quý vị muốn thực hiện một việc mà không thành – thực ra, không thành cũng là một dạng nhục. Còn “sủng” thường dành cho kẻ hèn yếu, hoặc những việc chưa có thực chất, bỗng nhiên được nâng lên, liền lầm tưởng là sủng, sinh ra niềm vui. Nhưng niềm vui ấy chỉ mang tính tạm thời.

Ví dụ, trong phim Một triệu bảng Anh, tấm séc trị giá triệu bảng trao cho một người nghèo, cuối cùng vẫn bị thu hồi. Khi một người gặp chuyện tốt, thường kinh ngạc, nhầm tưởng thế gian ban tặng niềm vui thật sự; nhưng niềm vui ấy qua đi, tiếp theo là mất mát, rồi lại sinh kinh sợ. Chẳng hạn, hoàng đế nói:

“Hôm nay phong ngươi làm thừa tướng, vì thừa tướng cũ không hoàn thành chức trách.”

Khi được làm thừa tướng mà không đủ năng lực, người ấy sẽ sống trong kinh sợ mỗi ngày, không biết ngày nào sẽ bị giáng chức, thậm chí còn tệ hơn người tiền nhiệm, nguy cơ bị xử trảm luôn hiện hữu. Đừng nhầm lẫn rằng tạm thời đạt được là điều tốt – đó chính là kinh sợ của kẻ ngu muội.

Khi được sủng, thì vui mừng; khi thất sủng, liền chán nản. Khi bị nhục, thì đau khổ; khi nhục qua đi, lại cảm thấy như trút được gánh nặng. Một tâm như vậy, giữa thế gian luôn dao động, chẳng hề yên ổn. Ai ai cũng mong cầu một đời bình yên, nhưng tâm ấy mỗi ngày trôi nổi, làm sao có thể an lạc? Ví như một người chưa bệnh, nhưng vì công việc mà phiền não liên miên: Lúc thì sếp hay đồng nghiệp không thuận ý; Lúc thì công việc trục trặc. Nếu bệnh nặng, mất việc, phiền về công việc thôi, nhưng thân thể lại sinh ra lo lắng khác. Hỏi xem, tâm ấy khi nào mới được yên tĩnh? Khi không có sự tĩnh lặng, cảm xúc thất thường, buồn vui bất định, người sống giữa thế gian cũng như đang mắc bệnh. Nhìn thân thể, tuy hiện tại không đau, nhưng tâm hồn đã bệnh. Vì sao? Bởi ngày ngày sợ hãi: Nghe lời hay cũng nghi ngờ; Nghe lời chê bai cũng hoang mang. Con người hiện nay nhạy cảm, một lời khen cũng tự hỏi: liệu có ẩn ý mỉa mai hay không? Suy nghĩ như vậy, có phải là dấu hiệu tâm bệnh phát sinh không? Do đó, ngày nay thế gian nhấn mạnh phải chăm sóc sức khỏe toàn diện: Không chỉ thân thể mạnh khỏe; Mà tâm hồn cũng phải an lạc. Khi đối diện sủng hay nhục, cần xem nhẹ, không khởi tâm mừng hay buồn quá độ. Hôm nay mất việc, không sao, còn cơ hội khác; Hôm nay phát hiện bệnh, cũng không sao, sẽ có phương pháp chữa trị. Người không vướng bận, mới thực sự là người vô ngã, vô tư. Nghe có vẻ khó hiểu: không vướng bận sao lại vô tư? Thực ra, không vướng bận chính là không còn tư tâm, không còn “cái tôi” trong tâm. Nếu suốt ngày lo lắng cho bản thân – công việc, tương lai, gia đình, v.v…,thì chẳng phải đang còn nặng tư tâm hay sao? Phải hiểu theo cách khác: người nào lo lắng cho quá nhiều thứ, thì chính là tư tâm nặng nề.

Quán Thế Âm Bồ Tát đến thế gian để cứu độ chúng sinh.

Nếu Ngài lúc nào cũng bận tâm đến cõi trời, hay nghĩ: “Ta đã chịu bao khổ trong đời, nên trở về thôi,” thì làm sao cứu độ chúng sinh được? Nhiều tăng ni, pháp sư phát nguyện: sẽ cứu độ chúng sinh, xuất gia tu hành, và nguyện trở lại để cứu độ nhiều hơn – đó chính là “thừa nguyện tái lai”. Đây là tinh thần vô tư, vị tha, dấn thân phục vụ chúng sinh mà không vướng bận lợi riêng. Một người không còn vướng bận, mới thực sự là người vô tư, vị tha. Người ấy đã biết cống hiến, không còn bận tâm đến bản thân, gia đình, sự nghiệp, tiền tài hay tương lai – đã biết buông bỏ. Chỉ khi biết buông bỏ, mới thực sự là người vô tư; giúp đỡ người khác phải xuất phát từ tâm vô ngã, không mong cầu lợi ích cho bản thân. Nếu giúp người với ý muốn họ sau này giúp lại mình hoặc gia đình mình, thì sự giúp đỡ ấy vẫn mang tính tự lợi, còn tư tâm. Bởi trong tâm còn vướng bận, đó gọi là giúp đỡ có điều kiện, là sự giúp đỡ kèm theo sự mong cầu hồi báo.  Lôi Phong đã giúp đỡ rất nhiều người, nhưng ông có từng nghĩ cho bản thân mình không? Có từng nghĩ đến việc được đền đáp hay không? Đó mới gọi là giúp đỡ không vướng ngại, là từ bi vô điều kiện, là sự cống hiến vô tư.

Chỉ người thật sự không còn vướng mắc, mới có thể trở thành người chân chính vô úy. Trước hết phải vô tư, vô ngã, rồi sau đó mới có thể vô úy; bởi vì chỉ khi đã buông xả tất cả, con người mới không còn gì để sợ hãi. Trong rất nhiều bộ phim, ta có thể thấy kẻ xấu bắt cóc con cái người khác, chính là vì chúng biết cha mẹ có sự vướng mắc với con cái. Chúng lợi dụng điểm yếu ấy để khiến người ta sinh tâm sợ hãi, từ đó đạt được mục đích của mình. Nếu đứng từ góc độ thế gian mà nhìn, khi con cái hoặc người thân bị bắt cóc, sao có thể nói là không vướng mắc? Vậy làm sao lại cho rằng đó là đại vô úy được? Kỳ thực, hiểu như vậy là mê lầm. 

Khi một người đã phát khởi được tinh thần vô tư, đại vô úy, lại tu hành đúng pháp và vững vàng, thì Bồ Tát sẽ hộ trì cho họ; khi ấy con cái, gia quyến tự nhiên được bình an, ổn định, không rơi vào ác duyên hay tai họa. Nếu gia quyến còn bất an, kỳ thực là do người ấy tu chưa đủ tốt, công đức chưa viên mãn, phước báo chưa đủ đầy, nên mới chiêu cảm sự đau khổ và phiền não hiện tiền nơi gia đình. Chỉ người thật sự vô úy, mới là người có thể làm nên đại sự; và cũng chỉ người có thể làm đại sự, mới đủ tư cách tiếp nhận trọng trách mà Thiên thượng giao phó.

QUYỂN 1 – TẬP 16
THIỆN – ÁC VÀ NHÂN QUẢ

Con người vốn mang trong mình hai bản năng thiên tính. Thứ nhất là thực – tự nhiên biết ăn để duy trì sự sống. Thứ hai là sắc – lòng tham ái giữa nam và nữ. Hai bản năng ấy đều phát sinh từ bản tính nơi nhân gian, gọi chung là thực sắc tính. Vậy khi đối diện với thực và sắc, làm sao để tâm được an định? Bởi chỉ khi an định, con người mới có khả năng kiềm chế được thực sắc. Có lời dạy rằng: “Dục trung ly dục, hỏa trung sinh liên” – ở trong dục mà lìa được dục, như sen mọc giữa lửa Phật, vô cùng khó thực hiện. Chính vì thế, nhiều người không thể trọn vẹn trì giữ Ngũ Giới.

Người tại gia sống giữa thế gian, tiếp xúc thường xuyên với trần cảnh, nên dễ khởi vọng tưởng, việc tu hành lại càng không dễ. Muốn đạt được cảnh giới “trong dục mà lìa dục”, người tại gia cần công lực lớn gấp nhiều lần. Trong khi đó, người xuất gia sống nơi chốn thanh tịnh, ít tiếp xúc thế sự, nên tâm không dễ sinh tưởng, việc giữ giới tương đối thuận lợi hơn. Còn người tại gia, giữa đời ký thác, mọi hành vi và từng niệm tâm đều cần tự điều phục. Sư phụ thường nhắc nhở: Muốn an định, trước hết phải giữ giới. Nhưng giữ giới thôi vẫn chưa đủ, mà còn cần một “liều thuốc” đặc biệt, đó chính là từ nhẫn. Người tu hành muốn đoạn trừ thói quen xấu và tập khí lâu đời nơi thân tâm, phải thực hành nhẫn nại bằng từ bi. Ví dụ, khi đối diện một người mang đầy hận thù, nếu trong tâm có thể khởi lên niệm: “Thực ra người này cũng rất đáng thương,” thì một niệm từ bi sinh khởi, hận thù tự nhiên tan biến, đó chính là từ nhẫn.

“Ý kiến” giống như một chiếc đinh: đã đóng vào thì càng ngày càng sâu. Khi ta nói ra ý kiến của mình với người khác, ta có thể không để tâm, không cố ý, nhưng người nghe lại khắc sâu trong lòng. Vì vậy, chớ mang ý kiến đối với người khác. Người đời thường nói: “Có ý kiến thì cứ nói ra cho xong,” nhưng đó chỉ là lời tự dối mình. Bởi chúng ta là con người, không phải Thần Thánh; mỗi ý kiến ném ra đều có thể gieo vào tâm người khác mầm mống của hận thù, để rồi kết thành nhân quả về sau.

Nếu người học Phật phân biệt thiện – ác quá rạch ròi, thực ra đang vô tình phạm phải một lỗi rất lớn, đó chính là đại sân tâm. Bởi một khi tâm khởi niệm: “Ta ghét ác như thù,” thì trong lòng đã chất chứa hận thù rồi. Người học Phật không nên lấy tâm phân biệt để phán xét thiện – ác, bởi tất cả hiện tượng nơi nhân gian đều là giả tướng, đều sinh khởi từ nhân – duyên – quả. Ví như đời này bị người khác làm tổn hại, ấy chính là quả báo của nhân đã gieo trong tiền kiếp. Nếu lúc này khởi niệm: “Người ấy thật xấu, ta phải báo thù,” thì hận tâm đó sẽ tiếp tục gieo thêm nhân xấu, làm sân tâm càng tăng trưởng, hoàn toàn đi ngược con đường tu tâm. 

Cần phải hiểu sâu sắc rằng: Mọi việc xảy ra đều là nhân quả của quá khứ; quả hiện tại chỉ có thể chuyển hóa bằng chính sự tu tâm ở hiện tại. Phân biệt thiện – ác quá nặng, sân tâm quá sâu, rất dễ rơi vào cõi A-tu-la. Trong cõi A-tu-la, nam giới thường mang sân tâm rất mạnh; còn nữ giới thì dễ mê luyến tình cảm, bị ái dục chi phối. Đó là bởi trong tiền kiếp, có những nhân duyên tình cảm chưa đoạn, nên tâm chấp vẫn còn lưu lại. Tuy vậy, đầu thai vào cõi A-tu-la vẫn là một dạng phước báo, bởi A-tu-la thuộc về cõi linh thể, có năng lực và thần thức. Trong Phật pháp, nhiều vị Hộ pháp vốn xuất thân từ cõi A-tu-la. Nếu xúc phạm, họ có thể nổi giận; nhưng các Đại Hộ pháp vẫn luôn giữ tâm thiện, lấy hộ trì chánh pháp làm gốc. Vì thế có thể thấy rằng: Thiện – ác nơi nhân gian không phải là đúng hay sai tuyệt đối, mà chỉ là sự vận hành liên tục của nhân – duyên – quả. Nhân gian không có đúng hay sai, chỉ có nhân và quả.

Sư Phụ truyền dạy một phương pháp chế ngự tâm, được truyền thừa từ các bậc cao tăng xưa:

Phỉ báng ta – phải nhẫn chịu;
Lừa gạt ta – phải để yên;
Sỉ nhục ta – phải tránh xa;
Chê cười ta – phải mặc kệ;
Khinh rẻ ta – phải tôn kính.

Nếu hôm nay quý vị phát tâm làm việc lành, xuất phát từ ý nguyện chân thật, với thiện niệm thanh tịnh không cầu báo, thì đó chính là một báu vật vô giá. Bởi khi một thiện niệm khởi lên từ tâm, trong Bát thức điền liền gieo trồng một hạt giống lành. Hạt giống ấy chính là tài sản chân thật nhất, là nguồn năng lực âm thầm nhưng vô cùng trọng yếu, nâng đỡ mỗi người trên con đường tu hành dài lâu.

Một người chỉ có tự do bên ngoài mà không có tự do nội tâm thì sự tự do ấy không có giá trị chân thật.  Bởi tự do, rốt ráo mà nói, chính là tự tại.

Tự do bên ngoài là gì? Ví như hôm nay hoàn cảnh thuận lợi, đi làm mà sếp vắng mặt, không ai quản thúc; muốn làm thì làm, muốn nghỉ thì nghỉ – đó chỉ là tự do bên ngoài. Thế nhưng khi ngồi một mình trong phòng làm việc, nội tâm lại khởi đủ thứ: lúc thì thương cảm, lúc thì phiền não, lúc thì vọng tưởng sinh khởi: Gia đình giờ thế nào? Mẹ có đau ốm nặng không? Sếp quay về có biết việc hôm nay không? Cuộc sống sao lại bất lực như vậy… Chính những khổ đau trong tâm, cùng với sự vô minh nội tại, là nguyên nhân khiến con người không có tự do nội tâm. Khi nội tâm bất tự do, tội ác và tư tâm dễ sinh; tâm sinh sợ hãi, không thể tự điều phục. Chỉ khi tự do nội tâm và tự do bên ngoài hòa làm một, đó mới gọi là tự do chân thật. Tự do bên ngoài không bao giờ có thể che lấp sự bất tự do bên trong.

Bản giác và vô minh, không phải là một, cũng không phải là hai. Thực tướng của vô minh, chính là Phật tánh. Tâm mà chúng ta vốn có từ thuở ban đầu, chính là Phật tâm sẵn đủ. Chỉ vì thêm vào sự không hiểu, không thông suốt, nên mới gọi là vô minh. Nhưng dù nói là bản giác hay vô minh, rốt cuộc không phải hai thực thể tách rời, mà chỉ là một đạo lý dưới hai cách thấy. Thân người ta gọi là “tướng”. Thực tướng vô minh chính là thân thể vô minh ấy – tuy chưa biết, chưa hiểu, nhưng nền tảng của nó vẫn là Phật tánh. Ví như tấm gương bị bụi bẩn che phủ: bản chất của gương vốn trong sáng, chỉ vì bụi bám mà không soi chiếu. Hoặc như nước bị khuấy động mà thành sóng: nước vẫn là nước, chỉ tạm thời mất sự lặng trong mà thôi. 

Cho nên, thực tính vô minh chính là vô minh cộng với bản tính; mà bản tính ấy vốn chính là bản thể chân thật. Dù vô minh che lấp, nhưng thực tướng và bản tính vốn là một thể đồng nhất, chưa từng rời nhau. Ví như mặt trời: mặt trời vốn rực rỡ sáng ngời – đó là bản tính. Khi mây đen che phủ, mặt trời không hề mất đi ánh sáng, chỉ là tạm thời bị che khuất. Mây đen chính là những tập khí, những nhiễm ô tạm thời của đời người, là các niệm chưa thiện. Khi mây tan, trời quang, mặt trời tự hiện. Cũng vậy, khi vô minh được gạn lọc, bản tính thiện lương vốn có của mỗi người liền hiển lộ, sáng ngời, thanh tịnh, chưa từng mất.

QUYỂN 1 – TẬP 17
HUYỄN HÓA KHÔNG THÂN VÀ Ý THỨC HƯ VỌNG

Phật pháp giảng rằng: Pháp thân, Báo thân và Hóa thân vốn đầy đủ nơi mỗi chúng sinh, không phải do tu mới có, mà là vốn sẵn hiện hữu. Pháp thân là thân thanh tịnh, vô nhiễm, không sanh không diệt. Báo thân là thân thọ quả báo; thân xác hiện tại của chúng ta, mang nghiệp lực đời trước, chính là Báo thân. Hóa thân là thân do nguyên linh hóa hiện để thọ nhận quả báo – tức thân người hiện đời này. Tuy gọi là ba, nhưng Pháp thân – Báo thân – Hóa thân vốn là một thể. Nếu không có Pháp thân, lấy gì để thọ nhận quả báo? Nếu không có thân xác hiện tiền, làm sao quả báo có chỗ hiện hành? Trong linh giới, thọ báo là sự trừng phạt nơi linh hồn. Trong nhân gian, thọ báo là sự trừng phạt nơi Pháp thân thông qua thân xác này. Sở dĩ gọi thân hiện tại là Hóa thân, vì thân này không phải là “ta” của kiếp trước, mà là một sự hóa hiện từ nguyên linh quá khứ. Ví như kiếp trước là Lý A, kiếp này đã hóa thành Vương B. Danh – tướng đổi thay, nhưng nghiệp lực và Pháp thân vẫn tiếp nối không ngừng.

Phật pháp dạy: “Huyễn hóa không thân, tức Pháp thân.” Thân này vốn không thật có, chỉ là thân huyễn do Ngũ uẩn giả hợp. Khi mạng chung, thân xác tan rã, không thể mang theo. Ngũ uẩn giai không, tứ đại phi hữu, đó chính là huyễn hóa không thân. Có một phương pháp để thể nghiệm thân này không thật, gọi là pháp phân tích để giải thoát. Khi phân tích sâu, sẽ thấy thân người mong manh vô cùng: tai nạn khiến mất tay, bệnh tật khiến mất chân, một niệm vô thường đến, thân này liền không còn nguyên vẹn. Thân đã là giả hợp, thì không có gì nắm giữ được lâu dài. Vật vốn giả, làm sao tồn tại bền chắc? Vì vậy, đừng quá chấp thủ nơi thân này. Thân không thể mang theo, chỉ có tâm linh và công đức tu hành mới là thứ theo ta khi mạng chung. Phải biết rằng, tâm linh là thật, là nền tảng để tu hành, là điều có thể chứng đắc chánh quả, và là hành trang duy nhất đồng hành cùng ta vượt khỏi sanh tử luân hồi.

Nếu học Đại thừa, khi đã nhận thức trọn vẹn vạn pháp, khi bản thể đã sáng tỏ nơi chân không, thì không còn cần phân tích thêm nữa. Khi đã thấy rõ rằng tất cả mọi sự vật nơi nhân gian đều là không thật, thì cũng không còn phải phân biệt đúng – sai, không còn đối phó hay chống đỡ.

Bản tánh của chúng ta vốn xuất phát từ Phật; thế thì vì sao Pháp thân tự nhiên vẫn phải trải qua Ngũ uẩn và Tam độc? Vì sao Pháp thân lại biểu hiện thành Ngũ uẩn vốn không thật? Điều ấy cũng giống như ánh sáng mặt trời vốn chiếu rọi khắp nhân gian, đem lại quang minh cho muôn loài, nhưng vẫn có lúc bị mây đen che phủ. Không phải ánh sáng mất đi, mà là mây xuất hiện. Bởi vì thân tự nhiên và Ngũ uẩn – Tam độc vốn có sự hòa hợp trong nhân gian. Chúng ta sống trong nhân đạo, thì tất yếu phải đi qua Ngũ uẩn, phải đối diện với tham – sân – si. Tâm các vị vốn thiện lương. Khi khởi hận thù, đó không phải bản tâm, chỉ là mây đen nhất thời che phủ. Cũng vậy, khi si mê một đối tượng nào đó, khi quá khát khao truy cầu, thì trí tuệ chân thật bị che lấp, không phải vì trí tuệ mất đi, mà vì tâm đang bị mây vô minh che phủ.

Ý thức là tất cả những gì khởi lên trong tâm não: những ý nghĩ, suy tưởng, nhận định mà chúng ta thường ngày tạo ra. Hư vọng là khi ý thức ấy chạy theo những điều không chân thực, không có nền tảng nhân quả, không có lý lẽ rõ ràng, chỉ đuổi theo ảo ảnh do vọng tưởng dựng nên. Ví như: không có tiền, không gieo nhân, nhưng mỗi ngày chỉ mơ tưởng trúng số độc đắc – đó gọi là hư vọng. Khi ý thức đi theo con đường ấy, đi trên nền tảng không thật, thì sẽ dẫn dắt con người sống trong thế giới giả dối. Do đó, hư vọng trong ý thức chính là sự hiểu lầm, là nhận thức sai lệch đối với thực tại.

Làm sao biết bản thân mình hư vọng? Chỉ khi có cảnh giới nhận thức, mới thấy được lỗi lầm. Hôm nay, khi quý vị học Phật pháp, quý vị phải hiểu rằng không nên cờ bạc, không nên mua cổ phiếu hay trông chờ may rủi để kiếm tiền. Việc phát tài phải dựa vào công việc chân thật, dựa vào chính đôi tay của mình để lao động kiếm sống, không nên dựa vào đầu cơ, trục lợi. Những thứ này, trong Phật pháp, tướng số hay Kinh Dịch đều thuộc về tiền ngoài chính đạo (thiên tài). Thiên tài không phải chính tài; những thứ không phải chính tài chỉ tồn tại trong chốc lát, không bền lâu. Nếu chưa đạt tới một cảnh giới nhất định, sẽ dễ lầm tưởng rằng đánh bạc, mua cổ phiếu cũng là cách kiếm tiền – đó chính là đi vào hư vọng, sai lệch với chân lý nhân sinh và Phật pháp.

Học Phật phải giống như gieo một mầm cây, trước hết cần có gốc rễ vững chắc. Khi học Phật, điều quan trọng nhất là xây dựng nền tảng kiên cố; có nền tảng tốt, từ từ tu học mới sinh ra quả lành, mới có thể nảy mầm, trổ cành, sinh lá, kết quả tươi tốt. Nếu chỉ chạy theo danh lợi thế gian, thì cũng giống như xây dựng một kim tự tháp: càng leo lên cao, con đường càng hẹp; đến khi chạm đỉnh rồi thì không còn lối để tiến tiếp nữa. 

Học Phật là để thành tựu trí tuệ, vì vậy nhất định phải chú trọng xây dựng nền tảng; giống như trồng cây, cây càng lớn thì càng cao, càng vững, càng sinh nhiều hoa trái, hoàn toàn không giống kim tự tháp, khi lên đến đỉnh thì trống rỗng, không còn gì để tăng trưởng. Bởi thế, người học Phật phải biết trồng nhiều cây công đức, phải biết tích lũy vô lượng công đức, tức là công đức không thể đo lường, không thể nghĩ bàn. 

Vậy vô lượng công đức sinh ra từ đâu? Chính là sinh ra từ tín tâm, từ hỷ xả và từ tấm lòng biết ơn. Tín tâm là gốc rễ của mọi công đức: muốn làm công đức, trước hết phải có niềm tin, tin vào chính bản thân mình, đồng thời tin sâu vào Quán Thế Âm Bồ Tát. Kế đến là hỷ xả: thấy việc thiện thì lập tức thực hành, có duyên ở đâu thì làm thiện ở đó, không do dự, không chờ đợi, đó gọi là hỷ xả chân thật. Sau cùng là tấm lòng biết ơn: người muốn tạo công đức vô lượng vô biên thì nhất định phải nuôi dưỡng tâm biết ơn; dù làm việc thiện trong thuận cảnh hay nghịch cảnh, cuối cùng đều phải nhớ ơn Quán Thế Âm Bồ Tát đã gia trì cho chúng ta mỗi ngày được an ổn, thân thể khỏe mạnh; bởi khi còn sống trong sự an ổn ấy, con người càng cần phải thường xuyên nuôi lớn lòng biết ơn trong tâm mình.

Vô lượng vô biên Phật pháp, vô lượng vô biên trí tuệ, vô lượng vô biên công đức, đều bắt đầu từ từng chút một, tích lũy dần dần, lâu ngày huân tập, cuối cùng mới viên mãn tựu thành đại viên mãn.

QUYỂN 1 – TẬP 18
NÓI VỀ THẦN THÔNG VỚI CÁC ĐỆ TỬ

Hôm nay, Sư phụ giảng cho đại chúng về phương pháp đoạn trừ một tập khí xấu nơi con người, đó chính là nóng giận. Phương pháp căn bản và thù thắng nhất, dĩ nhiên vẫn là niệm kinh, trì giới, lấy giới – định, làm gốc để điều phục thân tâm. Ngoài ra, còn có một phương pháp rất thiết thực, đó là tu tập thành thói quen.

Mỗi khi trong tâm vừa khởi lên một niệm sân hận, hãy lập tức phản tỉnh và tự nhắc nhở mình rằng: “Ta không thể nóng giận. Nóng giận sẽ tổn hại thân thể, ảnh hưởng đến tim mạch. Nóng giận khiến người khác chê cười. Nóng giận còn thiêu đốt công đức mà ta đã khổ công tu tập, tích lũy suốt bao lâu.” Nếu thường xuyên quán chiếu như vậy, lâu ngày dài tháng, những niệm này sẽ tự nhiên trở thành một thói quen trong tâm. Đến khi ý niệm sân giận vừa manh nha khởi lên, trong tâm liền tự hiện ra một hàng rào vô hình, kịp thời ngăn chặn cơn giận trước khi nó bộc phát thành lời nói hay hành vi. Hàng rào tự nhiên ấy vốn sẵn có trong mỗi con người, chỉ là lâu nay chúng ta chưa biết cách dựng lên và nuôi dưỡng nó mà thôi. 

Ví như có một người chồng thường xuyên nổi nóng trong gia đình, nhưng người vợ đã sớm xây dựng được hàng rào tự nhiên trong tâm. Cho dù người chồng có giận dữ đến đâu, bà vẫn giữ được sự bình thản, không để tâm dao động, cũng không biểu lộ bất kỳ cảm xúc đối kháng nào ra bên ngoài. Trong tâm bà chỉ khởi lên một niệm rất đơn giản: “Thật đáng thương, thần trí lại không được bình thường nữa rồi.” Chính một niệm ấy đã lập thành hàng rào tự nhiên. Trong giáo lý Phật pháp, trạng thái này được gọi là “vô biểu sắc” – tức là không biểu hiện ý niệm ra bên ngoài, không bộc lộ sắc tướng đối lập. Thực ra, “sắc” ấy vốn là không; nó không phải vật chất hữu hình, mà là một loại sức mạnh tĩnh lặng, mềm mại nhưng vững chắc trong tâm. Vì vậy, người tu hành cần học cách tự chọn cho mình vài lý do thật thuyết phục, thật sâu sắc, để giúp tâm được giải thoát, rồi ghi nhớ và huân tập chúng trong lòng. Khi cơn giận vừa khởi, chỉ cần hồi quang phản chiếu, nhớ đến những lời đã lưu giữ trong tâm, thì chính những niệm ấy sẽ tự nhiên ngăn chặn lời nói và hành vi, giúp quý vị giữ được chánh niệm và an ổn nội tâm.

Nhiều người trong thế gian đều mong cầu được học thần thông. Hôm nay, Sư phụ giảng cho đại chúng để hiểu rõ thế nào là thần thông chân chính. Thực ra, người niệm Phật đều có thần thông. Như lời chư Tổ từng dạy: “Niệm Phật tức có thần thông, chỉ là chư Tổ và các bậc Đại đức không nói ra mà thôi.”

Con người vốn sẵn đầy đủ Ngũ nhãn và Lục thông. Hôm nay, Sư phụ chỉ giảng riêng về Lục thông, để quý vị hiểu đúng, không mê cầu, không chấp trước.

Thứ nhất: Thiên nhãn thông. Người có Thiên nhãn thông có thể nhìn thấy những việc chưa xảy ra trong tương lai. Có người cũng có thể thấy được quá khứ; tuy nhiên, thông thường Thiên nhãn thông chủ yếu hiển lộ năng lực thấy được tương lai, còn việc thấy rõ quá khứ thì ít hơn. Muốn sinh khởi Thiên nhãn thần thông, cần phải hội đủ hai loại đức hạnh. Một là Báo đức –  tức phúc đức vốn sẵn có khi sinh ra. Báo đức này được tích lũy từ tiền kiếp, từ tâm tính và phẩm hạnh của chính mình trong quá khứ, nên đã tiềm ẩn sẵn trong bản thân mỗi người. Hai là Tu đức –  tức đức hạnh do tu tập mà có, được bồi đắp thông qua nỗ lực tu hành, giữ giới, hành thiện, và sửa đổi phẩm hạnh ở đời này. 

Thứ hai: Thiên nhĩ thông. Thiên nhĩ thông là năng lực nghe được âm thanh ở khoảng cách rất xa, thậm chí có thể nghe được âm thanh của những sự việc chưa xảy ra. Thiên nhĩ thông không nương vào lỗ tai phàm phu, mà khởi phát từ sự cảm ứng của tâm linh –  chính là thần thức. Năng lực này là kết quả của công đức tu tập tích lũy từ nhiều đời quá khứ.

Thiên nhĩ thông nương vào sự cảm ứng của linh giới, và được thành tựu nhờ công phu tu tập chân thật. Người có Thiên nhĩ thông có thể nghe được âm thanh hoặc thông tin liên quan đến những sự việc sắp xảy ra trong khoảng nửa tháng đến một tháng, đồng thời cũng có thể nghe được dư âm, dấu vết năng lượng của những sự kiện đã xảy ra trong cùng khoảng thời gian ấy.

Thứ ba: Tha tâm thông. Tha tâm thông là khả năng biết được tâm niệm của người khác, thực chất là sự cảm ứng vi diệu giữa tâm với tâm. Người sở hữu Tha tâm thông có thể thấu hiểu điều người khác đang nghĩ, đang làm, và thậm chí những gì họ sắp làm, đó chính là bản chất của Tha tâm thông. 

Tha tâm thông được chia thành hai loại: Một là Tha tâm thông hiện tại: khả năng cảm nhận trực tiếp qua giác quan – mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, thân cảm nhận – nhờ đó thông đạt tâm ý của người đối diện. Hai là Tha tâm thông vị lai: khả năng biết được tâm niệm và vận hành tương lai của một người; chỉ cần người đó đứng trước mặt mà chưa nói điều gì, vẫn có thể hiểu rõ tâm niệm và ý nghĩ của họ, như thể “tâm linh tương thông”, “tâm tâm tương ấn”. Thật ra, ai cũng sẵn có phần Tha tâm thông. Ví như khi một đứa trẻ vừa sinh ra, cha mẹ đã có thể cảm nhận được phần nào tính cách và tương lai của con. Đứa trẻ tính khí cứng cỏi, ắt sau này duyên tình cảm sẽ gặp thử thách; đứa trẻ dung mạo kém thuận, nhân duyên hôn phối tương lai cũng khó tránh khúc quanh. Phần lớn con người không chịu quan sát, không chịu suy xét thấu đáo, nên không nhận ra rằng bản thân vốn đã sở hữu chủng tử của Tha tâm thông.

Thứ tư: Túc mệnh thông. Túc mệnh thông là năng lực biết được quá khứ của người khác. Khi thấu hiểu quá khứ của người khác, đồng thời cũng sẽ nhận thức được quá khứ của chính mình. Đây là sự chiếu soi từ nhân quả tiền kiếp, giúp nhận ra các nhân duyên đã sinh, từ đó có thể tu hành và chuyển hóa một cách đúng đắn, không bị vướng mắc bởi mê lầm hay phiền não.

Thứ năm: Thần túc thông. Thần túc thông không phải là ý niệm hay linh hồn bay khắp nơi trong cõi linh, mà là năng lực khiến đôi chân quý vị có thể đi tới nhiều nơi. Trong đời thường, những người thích du ngoạn khắp nơi cũng là biểu hiện của Thần túc thông. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải hiểu rõ mục đích và ý nghĩa của những chuyến đi này. Thần túc thông chỉ thực sự thành tựu khi người tu hành thực hiện công đức; nó là kết quả của sự tu tập lâu dài, kiên trì và tinh tấn.

Thứ sáu: Lậu tận thông, hay gọi đầy đủ là “Lậu tận trí chứng thông”, là khả năng tự đoạn tận phiền não, tiêu trừ những tâm niệm chưa thiện, làm sạch mọi nhiễm ô từ thế gian. Khi người hành giả có thể buông xả, đoạn trừ phiền não, đó chính là cảnh giới của Bồ Tát. Trong sáu thần thông, năm thông đầu — Thiên nhãn, Thiên nhĩ, Tha tâm, Túc mệnh, Thần túc — tương đối dễ đạt được. Tuy nhiên, nếu đạt đến cảnh giới tối thượng của Lậu tận thông, tức là thành tựu Phật và Bồ Tát. Khi phiền não đã đoạn trừ, năm thông đầu trở nên không còn cần thiết nữa, vì người tu đã tự giải quyết mọi vấn đề.

Nếu đạt đầy đủ năm thông, đó là cảnh giới của tiên nhân; nếu thành tựu cả sáu thông, chính là thành Phật, Bồ Tát. Vậy tại sao hiện nay, khi học Phật, nhiều người chưa kịp cầu học thần thông? Bởi vì thần thông là cảnh giới mà người học Phật có thể đạt tới, nhưng đồng thời cũng là điều không nên cố ý tìm cầu. Những gì tự nhiên hiển lộ mới thật sự là của chính mình, còn những gì cố gắng truy cầu thì không thực sự thuộc về quý vị.

Hôm nay, Sư phụ giảng về thần thông, nhằm giúp quý vị hiểu rõ và nắm vững lý đạo, từ đó tránh việc học tràn lan hay thử nghiệm bừa bãi. Sư phụ không khuyến khích việc cầu thần thông sớm, vì sợ dẫn đến “lửa nhập ma”, tức vong linh bị chi phối sai hướng. Thay vào đó, quý vị nên chuyên tâm tu dưỡng tâm, tu công lực đến đâu, thần thông sẽ tự nhiên hiển lộ đến đó.

Nếu một người có thần thông nhưng chưa đạt tới một cảnh giới nhất định, rất dễ sa vào ma đạo. Ma đạo là con đường dựa vào sức mạnh của linh giới để đạt những điều mình mong muốn, chứ không phải xuất phát từ công hạnh chân chính. Ma đạo có năm loại thần thông:

Một là Tu thông: thần thông do tự tu luyện mà thành.

Hai là Y thông: thần thông nhờ sự trợ giúp của các năng lực thần thông khác.

Ba là Báo thông: thần thông là quả báo từ các kiếp trước, nhờ tu tâm tích đức mà đạt được.

Bốn là Quỷ thông: thần thông nhờ sự chi phối của quỷ, bởi quỷ vốn sở hữu năm loại thông.

Năm là Yêu thông: thần thông nhờ sự tác động của yêu quái, giúp người hiển lộ năng lực.

Sau khi minh tâm kiến tánh, thần thông sẽ tự hiển lộ mà không cần suy nghĩ hay gắng gượng. Minh tâm là phát hiện bản tâm chân thật của mình; kiến tánh là nhận ra bản tính chân thật vốn có. Khi quý vị thật sự thấy được bản tính này, các năng lực thần thông sẽ tự nhiên hiển lộ, không cần cưỡng cầu, tự nhiên thành tựu.

Vì vậy, quý vị cần chuyên tâm tu dưỡng, rèn luyện tâm, không nên tìm cầu những thứ thuộc cõi linh. Hãy luôn nhớ rằng, bất cứ nơi nào, chỉ cần một lòng niệm Phật, thì nơi đó đều là Tịnh Thổ của chính mình.

QUYỂN 1 – TẬP 19
PHẬT PHÁP VÀ DƯỠNG SINH

Sư phụ sẽ chia sẻ về đạo dưỡng sinh theo Phật pháp. Quý vị nên thường xuyên quán tưởng, tức dùng “đôi mắt tâm” quan sát thân thể của chính mình; việc này vô cùng lợi ích cho sức khỏe và tu dưỡng tâm thân.

Quán tưởng đầu: Thường xuyên quán tưởng đầu óc luôn minh mẫn, sáng suốt. Như lời người đời vẫn thường nói: “Đầu óc phải sáng suốt.”

Quán tưởng tim: Quán tưởng tim của mình có màu đỏ. Tim được bao quanh bởi máu, và máu vốn có màu đỏ, giúp duy trì sinh lực.

Quán tưởng phổi: Quán tưởng phổi của mình trắng tinh khiết. Khi quán tưởng, phổi sẽ cảm nhận sự sáng khỏe; ngược lại, nếu hút thuốc hay phổi bị ứ nước, viêm nhiễm, phổi sẽ xuất hiện màu đen.

Quán tưởng thận: Quán tưởng thận của mình luôn ấm áp. Thận cần duy trì trạng thái cân bằng, không quá nóng cũng không quá lạnh; nếu thận quá nóng hay quá lạnh, hệ tiết niệu sẽ gặp vấn đề.

Quán tưởng tinh, dương khí vững (đối với nam giới). Trong đạo dưỡng sinh, nam giới nên quán tưởng tinh, nữ giới quán tưởng tinh thần. Khi nói “tinh nguyên vững,” chữ vững không mang nghĩa cứng rắn vật lý, mà là dùng nguyên thần để bảo hộ tinh khí. Nguyên thần vô cùng quan trọng. Nhiều nam giới có ánh mắt vô thần, tối tăm, thực ra là do tinh khí đã suy yếu; tinh khí không vững thì thần khí cũng suy giảm. Nếu một người nam biết dưỡng tâm, giữ tư tưởng lành, tinh lực sẽ dồi dào, cơ thể có thần, ánh mắt sáng rực; ngược lại, mắt vô thần chính là dấu hiệu tinh khí không vững.

Quán tưởng các tạng phủ:

Dạ dày: Quán tưởng dạ dày luôn hòa hoãn, bình ổn; không ăn quá nhiều, cũng không quá ít.

Gan: Quán tưởng gan luôn thư thái, thoải mái. Y học cổ truyền có câu: “Can khí bất thư,” nghĩa là gan không được thông suốt. Gan chủ về sinh huyết, do đó cần luôn thư giãn; nếu có sỏi mật, hãy thường xuyên quán tưởng sỏi tiêu tan. Theo y học, một người có thể hình thành sỏi mật sau khoảng 20 năm nếu không chăm sóc gan.

Ruột: Quán tưởng ruột luôn mềm mại, ẩm nhuận; ruột khô sẽ sinh bệnh.

Tỳ: Quán tưởng tỳ luôn khỏe mạnh; tỳ hư yếu sẽ sinh ra nhiều di chứng.

Tổng kết dưỡng sinh cơ thể: Quý vị cần quán tưởng để cơ thể luôn khỏe mạnh: đầu minh mẫn, phổi trắng tinh khiết, tim đỏ rực, thận ấm áp, tinh khí vững. Dạ dày hòa hoãn, ruột mềm mại, trơn tru; gan luôn thư thái, tỳ khỏe mạnh, sỏi mật tiêu tan.

Quán tưởng tâm linh: Hằng ngày, quý vị nên tự nhủ: “Ngô thiện dưỡng ngô hạo nhiên chánh khí, hạo hạo hồ tắc hồ thiên địa chi gian.” Mỗi người đều cần dưỡng khí, nhưng quan trọng là dưỡng hạo nhiên chính khí, để trở thành một con người đàng hoàng, chính trực. Chân thân của ta đứng trên đất, đầu chạm trời, kết nối chính khí trời đất; làm người phải có hạo nhiên chính khí.

Làm sao để niệm chú có hiệu quả? Thực ra, niệm chú cũng là niệm kinh. Những bài ngắn gọi là chú, những bài dài gọi là kinh. Khi niệm chú, cần dùng ngôn ngữ thanh tịnh, ý niệm vô lượng, và giữ tính bí ẩn, không thể dịch. Khi niệm kinh, phải niệm sạch sẽ, tâm an tĩnh, và nghe kinh văn một cách rõ ràng. Khi tâm tĩnh lặng, hiệu quả của việc niệm kinh đạt đến cao nhất. Khi niệm kinh với ý niệm vô lượng, ý niệm của quý vị trở nên vô biên, vô tận.

Tại sao không nhất thiết phải hiểu ý nghĩa kinh văn? Bởi vì kinh văn mang tính bí mật, không thể dịch hay giải thích trọn vẹn. Nó giống như một mật mã; không cần đi tìm ý nghĩa, chỉ cần niệm đúng theo văn tự là đủ. Chú tâm của Bồ Tát không phải là điều phàm nhân có thể hiểu trọn vẹn, giống như mật mã điện báo – không cần biết tại sao những con số ấy phải đặt cạnh nhau, hay ý nghĩa thật sự của chúng là gì. Nếu hiểu sai, thậm chí còn làm giảm hiệu quả khi niệm kinh. Do đó, chỉ nên niệm theo âm thanh, không được dịch theo ý nghĩa. Kinh và chú đều là chân ngôn của Bồ Tát, làm sao có thể dùng trí tuệ phàm nhân để giải thích trọn vẹn? Những người niệm kinh phải luôn ghi nhớ: chỉ niệm âm thanh nguyên bản, theo đúng cách phát âm của chữ. Những lời giảng của cao tăng hay đại đức về kinh chú chỉ là ý nghĩa bề ngoài; còn nội hàm thật sự của kinh chú Bồ Tát, có mấy người thực sự hiểu được?

Vậy tại sao hiệu quả niệm kinh ở mỗi người lại khác nhau?

Thứ nhất, do nhân quả và nghiệp lực khác nhau. Mỗi người sở hữu nghiệp lực riêng, nên hiệu quả niệm kinh cũng không đồng đều. Người tạo nhiều nghiệp xấu thì niệm kinh hiệu quả kém; nghiệp lực càng sâu, kết quả niệm kinh càng giảm.

Thứ hai, do ý niệm khác nhau. Khi niệm kinh mà tâm trí loạn động, đầy phiền não, hiệu quả sẽ kém. Ngược lại, khi tâm thanh tịnh, ý niệm tập trung, hiệu quả niệm kinh sẽ cao hơn nhiều.

Thứ ba, do âm thanh khác nhau. Giọng niệm kinh phát ra không đồng nhất, sóng âm truyền ra cũng khác, nên hiệu quả niệm kinh sẽ khác nhau. Giọng niệm kinh cần hùng dũng như chuông đồng, mạnh mẽ như sóng biển. Người thân thể yếu thì niệm kinh không có sức mạnh, do đó kinh niệm ra khó đạt hiệu quả tối ưu.

Khi niệm kinh, nếu tâm trạng vui vẻ, niệm càng vui thì hiệu quả càng cao. Khi mở miệng niệm kinh, nên mở mắt ra, bởi lúc đó quý vị hòa tâm, linh và ý niệm với tự nhiên, với vạn vật. Nói cách khác, niệm kinh mở mắt giúp kết nối với trời đất, hòa nhập làm một với tự nhiên, từ đó trước mắt sẽ xuất hiện ánh sáng minh triết. Vì vậy, khi bắt đầu niệm kinh, hãy mở mắt, niệm chậm rãi, rồi từ từ nhắm mắt lại. Muốn niệm kinh đạt hiệu quả, cần niệm đến mức thân tâm đều quên, tức là tâm không còn nghĩ ngợi, thân không còn cảm giác – khi đó, bản ngã tan biến, hòa làm một với trời đất.

Cách niệm kinh để có hiệu quả:

Thứ nhất, niệm đúng pháp, đúng mục đích. Niệm kinh phải “đúng bệnh đúng thuốc”. Nếu niệm kinh không phù hợp với tâm lý, cảnh giới hay nhu cầu của bản thân, sẽ không có hiệu quả và không mang lại lợi ích thật sự.

Thứ hai, thư giãn, tĩnh tâm và mỉm cười. Niệm kinh cần giữ tâm bình an, cơ thể thư giãn, gương mặt nhẹ nhàng, mỉm cười. Niệm đến mức tràn đầy pháp lạc, tâm vui như hoa nở, niềm hỷ lạc tự nhiên dâng trào trong tâm.

Thứ ba, quán tưởng và nghe âm thanh. Khi niệm kinh, tập trung tư tưởng, quán tưởng đến Quán Thế Âm Bồ Tát và đồng thời lắng nghe chính âm thanh niệm kinh của mình. Khi chú tâm vào âm thanh, tâm không rong ruổi, không bị loạn tưởng chi phối, giúp niệm kinh tập trung và đạt hiệu quả cao hơn.

Thứ tư, đón nhận quang minh của Bồ Tát. Trong khi niệm kinh, quán tưởng ánh sáng vàng rực rỡ từ Bồ Tát chiếu rọi lên thân, soi sáng toàn thân – từ phổi trắng, tim đỏ… Đây là sự kết hợp giữa thực tại và Phật pháp, ứng dụng trực tiếp vào đời sống. Trí tuệ giống như một khối ánh sáng; nếu tâm rối loạn, ánh sáng trí tuệ sẽ tản mác, không thể hiện được hiệu quả. Khi tâm tĩnh lặng, ánh sáng trí tuệ hội tụ, giúp minh mẫn, sáng suốt và đạt được lợi ích chân thật của việc niệm kinh.

Trí tuệ và tài năng của con người vốn tự thân như một khối ánh sáng thuần nhất. Nếu tâm trí rối loạn, vọng niệm dấy khởi, ánh sáng ấy sẽ tản mác, không thể hiện được sự minh mẫn và trí tuệ chân thật. Muốn đạt được trí tuệ chân thực, tâm phải tĩnh lặng. Chỉ khi tâm tĩnh, ánh sáng trí tuệ mới tập trung, hội tụ, soi rọi toàn thân và hướng dẫn hành giả trên con đường tu học.

QUYỂN 1 – TẬP 20
NÓI VỀ ” KIẾN TƯ HOẶC” CÙNG ĐỆ TỬ

Người thường dâng hoa sẽ trở nên xinh đẹp; người thường dâng trái cây sẽ hiểu rõ nhân quả và khai mở trí tuệ; người thường dâng dầu sẽ có đôi mắt sáng tinh tường. Vậy tại sao phải dâng hoa? Bởi vì hoa tượng trưng cho nhân: gieo nhân nào, gặt quả nấy. Khi quý vị nhìn hoa nở, đó là lời nhắc nhở bản thân biết gieo nhân lành, tránh ác nghiệp. Chỉ khi gieo nhân tốt, quả tốt mới hiển hiện, cũng như hoa mới nở. Những vật phẩm cúng dâng cho Bồ Tát, như hoa quả, thực chất không phải dành cho Ngài, mà là dành cho chính người cúng. Khi dâng trái cây, đó là lời nhắc nhở bản thân gieo nhân lành, vì chỉ khi gieo nhân lành, quý vị mới nhận được quả lành.

Hôm nay, Sư phụ giảng về “kiến tư hoặc”. “Kiến tư hoặc” là sự mê lầm trong nhận thức và tư tưởng. Trong đó, kiến hoặc là sự mê lầm về tri kiến, nhận thức sai lạc, bao gồm năm loại: kiến ngã, tức tôi kiến; kiến biên, tức đoạn kiến; kiến tà, tức tà kiến; kiến thủ, tức kiến chấp; và kiến giới, tức kiến giới chấp. Còn tư hoặc là mê lầm trong tư tưởng, bao gồm năm phiền não: tham, sân, si, mạn và nghi.

Kiến ngã, tức “tôi kiến”, là khi đặt cái tôi lên trước hết, luôn cho rằng mình đúng, mọi sự việc đều xoay quanh chữ “tôi”. Đây cũng là điều Sư phụ thường gặp nhất khi trả lời thính giả: một chuỗi dài “tôi làm như thế này, tôi nghĩ như thế kia, tôi thấy, tôi cho rằng…” – đó chính là kiến ngã. Cần hiểu rằng, cái “tôi” trong nhân gian là giả ngã, không phải chân ngã. Nếu quá chấp vào cái tôi này, sẽ rất bi thương, rơi vào vòng luân hồi của chữ “tôi”, và không bao giờ thoát khỏi khổ đau. Tất cả những con người đau khổ đều khởi nguồn từ cái tôi này. Quý vị có biết tại sao con vật khó được thân người, luôn bị luân hồi trong đường ác thú không? Chính vì chúng quá chấp vào cái tôi của bản thân, không buông bỏ được – chấp thủ vào tướng ngã.

Vì vậy, quý vị cần học cách buông bỏ cái tôi này. Chỉ khi không còn “tôi”, bản thân mới thực sự hòa nhập vào siêu thực, và từ đó không sinh sân giận. Khi còn “tôi”, sân hận, buồn bực, không vui, hận thù… tất cả đều sinh khởi. Nếu có thể buông bỏ chữ “tôi”, sân giận và phiền não sẽ không còn. Một người hằng ngày sống vui vẻ, an lạc trên đời, chính là đang sống ở Thiên giới, ở Thiên đường. Ngược lại, nếu hằng ngày giận hờn, phiền muộn, thì chính là đang sống ở địa ngục. Phiền não làm tổn hại thân thể, rút ngắn tuổi thọ; tâm hẹp, không chứa được sự việc, có thể vì giận mà hại mạng.

Sư phụ mong mỗi đệ tử biết tương kính, bao dung và yêu thương lẫn nhau. Sư phụ nói rằng, dù người khác nói gì, họ đều đúng, không ai sai; sai là ở chính bản thân mình, vì bản thân còn chấp vào cái tôi.

Kiến biên là khi nghi ngờ về người xung quanh hoặc những gì quý vị thấy, không tin vào thực tại mà chỉ dựa vào phán đoán lệch lạc. Kiến tà là khi tự cho rằng những gì quý vị thấy là đúng, nhưng thực chất là sai lầm; đó chính là tà kiến, sự nhận thức sai lệch từ chính bản thân. Kiến thủ là những gì quý vị nhìn thấy và nhận được, nhưng chưa chắc đã đúng; những gì nhận được cũng chưa hẳn là chân thật. Kiến giới là khi rõ ràng không phải nguyên nhân thật mà vẫn cho rằng đó là nguyên nhân. Ví dụ, rõ ràng không phải do người này gây ra, nhưng quý vị vẫn cố chấp cho rằng là người đó làm – đó cũng là một loại tà kiến.

Khi mắt nhìn thấy và tâm tưởng tượng bị mê hoặc, người ta thường nghĩ mọi thứ là thật. Nhưng trong thế gian, không có gì là thật cả. Nếu cho rằng thân xác là thật, khi chết đi, nó còn không? Nếu cho rằng cha mẹ là thật, khi họ qua đời, họ còn không? Tư hoặc là mê hoặc trong tư tưởng, đồng thời là một trong những chướng ngại lớn của con người.

Hôm nay, Sư phụ sẽ giải thích về “Kiến tư hoặc” và mối liên hệ của nó với đời sống thực tiễn. Nếu trong cuộc sống, quý vị hoài nghi người khác, đó chính là biểu hiện của kiến tư hoặc. Đây cũng là dạng mê hoặc dễ sinh nhất nơi con người. Mọi điều quý vị thấy, mọi điều tưởng tượng rằng mình muốn có, đều có khả năng dẫn đến mê lầm.

Tại sao nói con người ở nhân gian dễ tu hành hơn cõi trời? Bởi vì tại cõi trời, hưởng phúc lâu dài, thời gian trôi rất nhanh; một ngày ở cõi trời tương đương với một năm ở nhân gian. Do sống lâu trong sung sướng và phúc lạc vô tận, người trời thường khó tinh tấn tu hành. Những ngày tháng quá tốt đẹp, sung sướng quá, không giúp con người phát triển tâm tu hành. Cho nên, nhiều người chỉ thật sự nghĩ đến việc tu hành khi gặp khổ đau.

Nếu một người sống mà không biết trân trọng mạng sống của chính mình, thì người đó chẳng khác gì đã chết. Mạng sống vốn quý báu, nhưng nếu không dùng mạng sống để làm những việc có ý nghĩa, giá trị của nó sẽ mất đi, chỉ còn lại sự lãng phí. Đừng để tâm trí chứa đầy những điều xấu ác. Nếu tâm trí quý vị đầy những điều tốt lành, thiện lương, thì quả báo sinh ra cũng sẽ tốt lành. Ngược lại, nếu tâm trí đầy những điều xấu ác, ô uế, thì quả báo cũng sẽ bất thiện.

Tu tâm phải đi kèm với sự suy xét cẩn trọng; tâm phải luôn minh bạch và theo kịp dòng chảy của thời gian. Thời gian là tấm gương phản chiếu chân thực nhất cho mọi người; hãy tiến bộ cùng thời gian, bởi thời gian không vì bất cứ sự kiện nào mà ngừng vận hành. Tu hành xuất phát từ tâm, không phải từ những tham vọng ích kỷ. Nếu một người chỉ tu cho bản thân, chỉ mong bản thân trở nên tốt hơn, thì hiệu quả tu hành và công đức của người đó chỉ đạt đến mức Tiểu thừa mà thôi.

Phải học cách nói “xin lỗi”, “thật ngại”, cùng những lời khiêm tốn, lễ phép khác. Đây là thước đo mức độ tu hành của quý vị, đồng thời phản ánh phẩm chất đạo đức của mỗi người. Những lời này không làm mất thể diện hay giảm giá trị bản thân, mà ngược lại, giúp rèn luyện tâm hồn và nâng cao đạo đức. Dù từ nhỏ, quý vị đã nghe những câu lễ phép này, nhưng thực tế, đã áp dụng được bao nhiêu lần? Nguyên nhân sâu xa là còn “ngã” trong tâm, còn chấp ngã, còn sợ mất mặt, còn không chịu được xấu hổ. Ai cũng có lúc mắc lỗi; mắc lỗi không phải là điều nghiêm trọng, quan trọng là biết nhận lỗi và sửa đổi.

Bây giờ, Sư phụ sẽ giảng về cách tiêu trừ nghiệp chướng, và tại sao công đức có thể tiêu trừ nghiệp chướng. Trong bát thức của con người có A-lại-da thức, tức thức thứ tám, còn gọi là tàng thức. Đây là nơi cất giữ tất cả hạt giống thiện ác. Mỗi chúng sinh, mỗi khởi niệm, mỗi lời nói hay hành vi đều tạo ra một hạt giống nghiệp. Những hạt giống này trước khi thọ quả đều được cất giữ trong A-lại-da thức. Khi có công đức, công đức này sẽ nhập vào thức này, tiêu trừ những nghiệp chướng bất thiện. 

Bát thức gồm: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt-na thức và A-lại-da thức.

QUYỂN 1 – TẬP 21
NGƯỜI TU HÀNH ỨNG MINH GIÁC HẰNG TRỤ

Hôm nay, Sư phụ sẽ giảng về “người tu hành”. Mỗi chúng ta đều có một quá trình tu tập, vậy “người tu hành” rốt cuộc mang ý nghĩa gì? Các đệ tử của Sư phụ có thật sự xứng đáng được gọi là người tu hành hay chưa? Một người tu hành phải có cảnh giới, phải có khả năng chịu đựng mọi khổ đau nơi nhân gian. Cảnh giới ấy không thể đạt được trong một sớm một chiều, mà phải được nâng cao từng bước, từng tầng. Khi tu đến một giai đoạn nhất định, người tu hành cần thuận theo duyên mà không còn khởi tâm cảm thọ khổ đau; bởi nếu vẫn còn cảm thấy khổ, tức là chưa thật sự lìa khổ, chưa thật sự vượt thoát. Cảnh giới của người tu hành phải được nâng lên đến một mức độ nhất định, khi ấy mới xứng danh là người tu hành chân chính. Là người tu hành, điều đầu tiên là không để cho phiền não sinh khởi. Nếu hôm nay quý vị đang tu hành mà phiền não vẫn nổi lên, thì vẫn chưa thể gọi là người tu hành chân chính. Khi phiền não sinh khởi, người tu hành phải dùng trí tuệ lập tức chế ngự trong tâm; như vậy mới xứng danh là người tu hành chân chính. Tại sao nói “dù phiền não đã sinh khởi”? Bởi con người vốn có thất tình lục dục, phiền não tất sẽ hiện lên; nhưng khi phiền não khởi, người tu hành phải ngay lập tức chế ngự.

Trong quá trình tu tập, Sư phụ muốn nhắc mọi người rằng trong tâm sẽ xuất hiện một loại ma, trong Phật pháp gọi là ma phiền não. Phiền não càng nhiều, ma chướng càng sâu; do đó, chúng ta phải tận lực trừ diệt ma chướng này. Làm sao để diệt phiền não ma? Trước hết, phải nhớ rằng mình là người tu hành, khác với người thường. Không thể chịu khổ một cách thụ động, mà khi đau khổ xuất hiện, cũng phải chế ngự, từ từ đến mức không còn thấy đau khổ.

Khi ma phiền não xuất hiện, phương pháp tốt nhất là thuận theo hoàn cảnh. Gặp thuận cảnh, thuận theo dòng chảy của cảnh giới; gặp nghịch cảnh, vẫn giữ tâm bình thản, không khởi sóng gió. Bất luận tai họa hay khó khăn nào xảy đến, điều trước tiên là phải giữ sự bình tĩnh, tâm không dấy loạn – đây chính là thiền định trong Phật pháp. Thiền định là cảnh giới cao trong sự tu học. Nếu không có định lực, bất kỳ sự việc nào trong nhân gian cũng đều có thể khiến quý vị khởi lên phiền não.

Do đó, cần tu học thiền định. Thiền định giúp trí tuệ an tĩnh, làm lắng dịu những dòng suy nghĩ hỗn loạn. Bất luận chuyện nhân gian nào cũng không khiến quý vị bị cuốn theo; phải học tinh thần của thiền: trong thuận cảnh hay nghịch cảnh đều thuận theo duyên, tâm bất động, như dòng nước nhỏ đổ vào biển lớn, mọi sóng gió đều tan biến. Người có thiền định thì tâm rộng lớn như đại dương, có thể dung chứa muôn ngàn sóng gió mà không khởi một bọt nước. Thiền định trước hết làm ổn định tự thân, rồi mới có thể an định được tâm, giữ vững cảnh giới của người tu hành chân chính.

Tâm khí tùy vận: Trường khí sinh khởi từ tâm của một người; hãy để nó vận hành tự nhiên, đừng cưỡng ép hay ngăn chặn. Ví như khi một người đang sân giận hoặc sầu muộn, nếu bảo họ “đừng giận, đừng buồn”, ngược lại, cảm xúc ấy càng dễ bị dồn nén, tích tụ và sinh bệnh. Hãy để họ bộc lộ, giãi bày; khi đã xả được, tâm khí tự nhiên sẽ trở lại ổn định. Ngăn cản sự lưu thông của trường khí rất dễ dẫn đến bệnh tật, thậm chí phát sinh ung thư hoặc các chứng bệnh liên quan đến gan.

Tâm khí đi đến đâu, việc tu hành phải theo đó mà ứng dụng. Người thật sự có cảnh giới sẽ không để hoàn cảnh lay động khí trường của mình; không sinh khí thì cũng không cần vận khí, tâm tự nhiên an ổn. Đồng thời, tu hành không phải chỉ thực hiện khi gặp thuận cảnh, rồi buông lơi khi gặp nghịch cảnh; việc tu phải bền bỉ trong mọi thời, bất luận vận tốt hay xấu, luôn giữ tâm bình thản và tinh tấn.

Minh giác hằng trụ: Khi đã hiểu rõ và giác ngộ, điều đầu tiên chính là giảm bớt chấp thủ. Người còn chấp thủ là người chưa hiểu lý; còn người đã hiểu lý thì tuyệt đối không chấp trước. Diệu minh thường trụ nghĩa là sự minh bạch và giác ngộ vĩnh hằng; từ đó mới giữ được Phật tính thường tồn, duy trì bản thể Phật nơi tự tâm. Người chưa khai ngộ, chưa hiểu lý thì không thể giữ vững sự giác ngộ vĩnh hằng ấy, nên Phật tính khó lưu giữ. Nói theo ngôn ngữ đời thường, đó chính là “nhìn thấu mọi sự”. Khi đã nhìn thấu, không còn ích kỷ, không còn chấp trước vào danh lợi, tâm liền trở nên minh bạch và giác ngộ; trạng thái vĩnh hằng ấy có chỗ an trụ trong tâm, gọi là thường trụ.

Hãy luôn ghi nhớ: “Lai diệc tự nhiên, khứ diệc tự nhiên”. Mọi pháp trong đại thiên thế giới, dù thiện hay bất thiện, đều sinh diệt theo quy luật tự nhiên; đến cũng là không, đi cũng là không. Nếu thường quán niệm như vậy, tâm sẽ không còn khởi sóng gió. Quý vị sẽ nhận ra rằng mọi điều xảy đến với thân này, mọi cảnh duyên tiếp xúc hằng ngày, đều chỉ là những hiện tượng tự nhiên.

Nỗi khổ hiện tại chính là quả báo từ nhiều đời nhiều kiếp chưa tu, nên nay phải thọ nhận – đó là điều rất tự nhiên. Vậy còn gì để chấp thủ? Khi tâm không còn chấp trước, trí tuệ thanh tịnh sẽ hiển lộ và thường trụ giữa thế gian. Hãy rời xa ham muốn và mong cầu, bởi ham muốn chính là cơn khát vọng tràn đầy mong cầu. Nhưng con người thực sự có thể đạt được tất cả những gì mình mong cầu không? Nếu không đạt được điều mong cầu, nỗi đau và phiền não liền sinh khởi. Những gì quý vị cầu xin, quý vị nghĩ là của mình, thực chất không phải là của quý vị; việc tìm cầu chỉ mang lại khổ đau. Người tu hành trong nhân gian nên hoàn toàn buông bỏ ham muốn và mong cầu. Chỉ những gì tự nhiên đến mới thực sự là của mình.

Mọi ý niệm khởi lên đều có thể được diệt trừ ngay trong một sát na; đừng để chúng lưu lại trong tâm, bởi khi lưu lại, chúng sẽ sinh ra tai họa. Trong Phật pháp, mọi việc, mọi ý niệm đều có thể tiêu trừ tức khắc. Tuy nhiên, nếu quý vị buông mặc cho ý niệm bay lượn trong tâm, khi một ý niệm bất thiện khởi lên mà để nó tuôn theo tự nhiên, rắc rối và phiền não sẽ sinh khởi.

Ví dụ, khi nghe một người bạn chơi cờ bạc thắng tiền, trong tâm bỗng khởi lên ý niệm: “Mình cũng có thể may mắn như vậy.” Ngay khi ý niệm này xuất hiện, cần lập tức diệt trừ, tự nhủ: “Mình không được nghĩ như vậy, càng không được hành động như vậy. Tuyệt đối không được làm.” Ý niệm ấy phải được xóa bỏ ngay lập tức. Hoặc ví dụ khác, khi dùng bút mực viết trên bảng đen, dù là mực màu đen, ngay sau khi viết xong còn có thể dễ dàng lau sạch, nhưng chỉ vài giây sau thì trở nên khó xóa. Tương tự, khi một ý niệm bất thiện khởi lên, nó gieo hạt nhân xấu trong cánh đồng Bát thức điền của quý vị, từ đó sinh ra phiền não và tạo tác quả bất thiện.

Bồ Tát dạy một phương pháp diệt trừ: khi ý niệm xấu vừa xuất hiện, khi cơn giận dâng lên, hãy ngay lập tức tiêu trừ trong sát na ấy. Nếu làm được điều này, quý vị chính là người trí. Khi một ý niệm bất thiện sinh khởi, ngay trong tâm nó sẽ gieo quả ác. Không được để niệm ấy lưu lại; nếu tồn dư, nó sẽ để lại vết nghiệp xấu trong tâm quý vị. Bồ Tát dạy rằng phải lập tức đoạn trừ, thanh tịnh hóa tâm ý, ngăn chặn mọi bất thiện gieo rắc bóng tối trong nội tâm.

Thông thường, những người chưa chứng đạo, chưa khai ngộ, nếu phỉ báng pháp môn khai ngộ, sẽ gặp trăm kiếp nạn, nghìn kiếp luân hồi, và trăm đời mất Phật tính. Người chưa khai ngộ, chưa đạt đạo Phật Bồ Tát, nếu phỉ báng pháp môn khai ngộ, chắc chắn sẽ gặp ác quả. Pháp môn khai ngộ là pháp môn giảng phổ quát, không dành riêng cho một pháp môn nào. Nếu quý vị chưa khai ngộ, quý vị chưa được sở hữu pháp môn này; chỉ khi khai ngộ, quý vị mới có thể sở hữu pháp môn ấy. Nếu phỉ báng pháp môn khai ngộ, sẽ phải chịu trăm kiếp khổ nạn – mỗi kiếp là một sự thống khổ; nghìn đời luân hồi; và trăm đời mất Phật tính, không còn thấy Phật tính nữa.

Người chưa khai ngộ thực ra chưa đạt được cảnh giới này. Người chưa có cảnh giới, không nên tự ý giảng pháp cho người khác. Sư phụ giảng rằng, nhiều đệ tử hiện nay vẫn tu hành, nhưng tâm trí họ chưa thật sự thoát khỏi bụi trần thế gian. Tu hành chân chính phải là siêu thoát khỏi bụi trần nhân gian, và sự siêu thoát này chính là khai ngộ. Khi đã khai ngộ, cách tu hành cũng như cảm nhận về tu hành hoàn toàn khác biệt so với những người còn vướng bụi trần phiền não.

Một người tu hành mang theo phiền não, và một người tu hành hoàn toàn thoát khỏi con đường phiền não, liệu kết quả tu luyện có giống nhau không? Người tu hành đã khai ngộ có tâm trí trong sạch, tinh khiết như được đóng gói chân không, trong khi người tu còn phiền niệm thì tâm trí liên tục đầy vọng tưởng. Ví dụ, khi quý vị niệm kinh mà vừa làm việc vừa niệm, so với việc ngồi yên trong Phật đường, tập trung an tĩnh niệm kinh, liệu hiệu quả niệm kinh có giống nhau không? Rõ ràng là không thể bằng. Nếu quý vị kéo cảnh giới tu tâm của mình xuống con đường phiền não, việc tu hành sẽ trở nên nặng nề và mệt mỏi.

QUYỂN 1 – TẬP 22
NHÂN SINH VÔ TƯỚNG TỨC LÀ TƯỚNG, KHAI NGỘ TƯƠNG ỨNG

Hôm nay, Sư phụ sẽ giảng về “vô tướng”. Trong kinh Phật, vô tướng bao hàm mười loại tướng của thế gian:

1. Sắc tướng: Là pháp tướng nhân gian, không giới hạn ở sắc nam hay nữ. Sắc tướng bao gồm tất cả sự vật hiện hữu trong thế gian.
2. Thanh tướng: Là các âm thanh mà tai có thể nghe được. Thanh tướng cũng có hình, có tướng. Ví dụ, khi nghe điện thoại, quý vị có thể nhận biết người bên kia là nam hay nữ nhờ âm thanh.
3. Hương tướng: Khi mũi ngửi được mùi, hình tướng sẽ hiện ra trong tâm. Ví dụ, khi ngửi hương hoa, hình tướng của hoa lập tức xuất hiện trong tâm trí.
4. Vị tướng: Khi miệng nếm thức ăn, lưỡi cảm nhận hương vị, hình tướng cũng hiện ra trong tâm. Ví dụ, nhắm mắt ăn chocolate, ngay khi nếm, hình tướng chocolate lập tức hiện hữu trong tâm trí.
5. Xúc tướng: Là cảm giác khi chạm vào vật. Ví dụ, một người mù dùng tay sờ vật sẽ nhận ra hình tướng của vật ấy; chạm vào người, tướng người hiện ra; chạm vào vật, tướng vật xuất hiện trong tâm.
6. Sinh tướng: Là tướng khi sinh ra, hình hài ban đầu của mỗi chúng sinh.
7. Trụ tướng: Là tướng của nơi an trụ. Ví dụ, nhà cửa, vị trí, phương hướng khác nhau đều thuộc trụ tướng.
8. Hoại tướng: Không chỉ là tướng con người xấu, mà là những vật phẩm sẽ dần hư hỏng, tiêu tan theo thời gian.
9. Nam tướng: Là tướng nam, hình dáng giống nam. Tuy nhiên, có những người nam lại mang hình tướng nữ, với hình tượng và tư duy giống nữ.
10Nữ tướng: Là tướng nữ, hình dáng giống nữ. Nhưng có những người nữ lại mang hình tướng nam, với hình tượng và tư duy giống nam.

Vô tướng là không có tướng; đó chính là bản chất vô tướng của tất cả các tướng nhân gian. Tất cả các tướng ở nhân gian đều là giả hữu. Như người xưa thường nói: “Nhân sinh như mộng.”

Cuộc đời chính là vô tướng; mọi việc khi kết thúc, tựa như tỉnh dậy sau một giấc mơ. Khi giấc mơ kết thúc, tướng còn tồn tại hay không? Không còn gì cả, tất cả đều hư ảo. Sau giấc mơ, con người vẫn trở về đời sống nhân gian: kẻ chịu khổ vẫn khổ, kẻ hưởng phúc vẫn hưởng phúc; trong mơ không thực sự đạt được gì – đây chính là vô tướng nhân gian. Tất cả tướng nhân gian, khi khởi thì có chung, khi kết thúc lại trở về hư vô – đó là vô tướng. Bề ngoài tưởng có tướng, nhưng khi kết thúc, tất cả đều trở thành vô tướng. Chỉ cần có khởi thì tất có chung, có sinh thì tất có tử; cuối cùng, mọi sự đều trở về không, chính là vô tướng.

Nếu quý vị có thể làm chủ bản thân để đạt được vô tướng, đó chính là cơ sở để khai ngộ. Khi hiểu vô tướng, hiểu được khởi và chung của thế gian, thực ra quý vị đã cơ bản khai ngộ. Nhân sinh như giấc mộng: từ khi sinh ra đến khi mất đi cũng như một giấc mơ; khi giấc mộng kết thúc, tất cả trở về vô tướng. Người xưa cũng nói: “Nhân sinh như một vở kịch.” Kịch có khởi thì có chung; khi kết thúc, còn tướng gì nữa? Thật đơn giản.

Ví dụ, khi làm bố thí, nếu không nói ra thì là vô tướng bố thí; còn nếu tuyên bố ra thì là hữu tướng bố thí. Khai ngộ nhân sinh là khi còn tại thế, hãy biến cuộc đời này thành con đường khai ngộ. Muốn gần đến khai ngộ, trước hết phải đạt được vô tướng. Vậy làm thế nào để khai ngộ nhân sinh? Chính là vô tướng. Nhìn tất cả mọi sự trong đời như không, giữ tâm thái bình thản; việc gì cũng có thể có, việc gì cũng có thể không – đó là gần với khai ngộ. Sư phụ dạy các đệ tử: “Lai diệc tự nhiên, khứ diệc tự nhiên.” Mọi khổ nạn, khó khăn, vui mừng, hạnh phúc… khi đã đến thì đến, đều là tự nhiên; khi đi cũng là tự nhiên. Đó chính là vô tướng.

Một ví dụ từ cuộc sống thường ngày: Sư phụ có một người bạn, mối quan hệ vợ chồng của họ không thuận. Sư phụ bảo với vợ ông ấy:

“Chồng của cô mỗi ngày đang diễn trên sân khấu, còn cô là khán giả; hãy bình tĩnh quan sát màn diễn ấy. Khi vở kịch kết thúc, vì sao cô lại phải nhảy lên sân khấu cùng diễn với ông ấy? Tại sao vội vàng bị cuốn vào những gì giả tạo, tưởng là thật, rồi cùng đấu tranh, tranh cãi với ông ấy? Khi đó, cô cũng trở nên ngu muội như ông ấy – cái giả che mất cái thật, và khi giả trộn thật, thật cũng trở nên giả.”

Qua ví dụ này, chúng ta thấy rằng khai ngộ nhân sinh không phải là nói: “Sư phụ ơi, con đã khai ngộ rồi.” Bề ngoài nghe có vẻ là “tôi đã giác ngộ”, nhưng nếu nói ra, nghĩa là quý vị vẫn còn chấp vào cái ngã, vẫn còn tự hào về bản thân, tức là chưa thật sự khai ngộ. Người thật sự khai ngộ sẽ không tuyên bố: “Tôi đã giác ngộ.” Biểu hiện của khai ngộ trong đời sống là quý vị đang trên con đường giác ngộ, nhưng chưa phải là khai ngộ viên mãn hoàn toàn. Cuộc đời là biểu tượng, mọi sự trong thế gian cũng là biểu tượng, bởi bản thân nó vốn là biểu tượng. Khai ngộ nhân sinh vốn dĩ là không.

Khi quý vị thực sự hiểu được tánh không ấy, quý vị sẽ không còn nói: “Ồ, tôi đã nghiên cứu ra rồi, tất cả đều là không,” bởi bản chất vốn đã là không. Khi quý vị tự nhận thấy bản thân đã khai ngộ, đó chưa phải là khai ngộ thật sự. Thực tế, nhân gian vốn chỉ là một giấc mộng, một vở kịch; tất cả đều hư huyễn. Khi quý vị rời đi, mọi sự đều trở về hư không. Sự giác ngộ là sự nâng cao của cảnh giới, chứ không phải chỉ là sự nhận thức thuần lý trí. Ngày xưa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dưới gốc Bồ đề đã chứng ngộ chân lý, và sự giác ngộ ấy tuyệt đối không giống với sự hiểu biết của chúng sinh phàm phu. Ngài giác ngộ bản tánh, còn những gì chúng ta trong nhân gian gọi là giác ngộ chỉ là bề mặt hiện tượng. Ví dụ: “À, hóa ra người ấy đối với tôi không tốt là vì tôi từng nói điều không hay về họ.”

Phật pháp vốn thâm sâu, nhưng những điều thâm sâu không nhất thiết là không thể dùng phương pháp đơn giản nhất để giải thích. Giống như hiện nay Sư phụ đang dạy quý vị Phật pháp sâu xa, nhưng lại dùng những cách tu hành đơn giản và dễ thực hành nhất để truyền dạy, để khai mở cho quý vị .Cũng như trong vật lý học hay toán học, khi nghiên cứu đến một mức độ nhất định, ắt sẽ có những công thức để áp dụng. Chỉ cần đưa dữ liệu vào công thức là có thể thành công; quý vị không cần phải nghiên cứu lại mọi thứ mà người đi trước đã tìm ra như công thức, định luật…, rồi làm cho nó trở nên phức tạp thêm.

Tâm của kẻ ngu muội ở trên miệng; tâm của người trí ở trong lòng. Một người rất ngu si thì tâm của họ nằm ngay trên miệng, thích nói năng bừa bãi. Còn người có trí tuệ thì tâm họ đặt trong nội tâm, chứ không đặt trên miệng. Lời nói càng nhiều thì sức gây tổn hại càng lớn. Tương tự, mua sắm quá nhiều thứ không cần thiết, hoang phí tiền bạc, lâu dần quý vị sẽ không còn khả năng mua những thứ thực sự cần. Sư phụ lấy điều này để mở rộng ra cho quý vị: nếu thường xuyên đọc những cuốn sách không cần đọc, quý vị sẽ không thể tiếp thu những sách thật sự mang lại lợi ích. Khi đọc những sách không đáng đọc, làm sao có thể hiểu được chánh pháp? Tương tự, nếu nghe quá nhiều những lời mê tín, rối rắm, sẽ khó tiếp nhận Phật pháp chân chính.

Đối với bản thân, những việc không nên nghĩ, những điều bất hạnh trong cuộc sống, nếu quý vị cứ mãi giữ trong lòng thì sức tổn hại mà nó gây cho chính mình sẽ ngày càng lớn. Khi một người có chút khai ngộ, nên đọc nhiều những bài viết của người dẫn dắt mình khai ngộ, cũng giống như đọc nhiều những lời khai thị mà Sư phụ chỉ dạy cho đệ tử. Khi quý vị đã thật sự khai ngộ, rồi lại đọc kinh văn của Bồ Tát hay mọi bài giảng khác, quý vị sẽ không còn lạc hướng nữa, và sẽ đạt đến sự khai ngộ chân thật – cũng gọi là khai ngộ tương ưng.

Sư phụ cứu độ chúng sinh, truyền dạy Phật pháp là để người thường cũng có thể thọ nhận, với lời dạy ngắn gọn, dễ hiểu. Chỉ cần theo đúng pháp môn Sư phụ truyền, nhất định sẽ thay đổi cách nhìn về cuộc đời của quý vị. Thường đọc những bài khai thị mà Sư phụ đã để lại, từng câu từng chữ đều mang đến giác ngộ tương ứng. Khi quý vị khai ngộ, mọi lời Phật pháp học được đều hướng tới giác ngộ; mọi điều quý vị thấy trong thế gian đều trở nên tươi đẹp, thiện lành.

QUYỂN 1 – TẬP 23
LẠI LUẬN VỀ SỰ KHÁC BIỆT GIỮA THIỆN SỰ VÀ CÔNG ĐỨC

Hôm nay, Sư phụ sẽ giảng về “công đức”. Chúng ta ngày ngày đều nhắc tới công đức, nhưng công đức thực chất là gì? Tại sao thiện sự và công đức lại là hai khái niệm khác nhau? Tại sao công đức có thể tiêu trừ nghiệp chướng, trong khi những việc thiện quý vị làm lại không thể? Và tại sao cùng một việc, có lúc là công đức, nhưng có lúc chỉ là thiện sự?

Chứng kiến được Phật tánh chính là công đức. Nói một cách bình dân, nếu quý vị làm một việc thiện, mà việc ấy phát xuất từ nội tâm, và được thực hiện dựa trên Phật tánh sẵn có trong bản tánh, thì đó chính là công đức. Khi quý vị có thể chứng ngộ Phật tánh trong lúc làm việc thiện, tức là đang làm việc ấy như Bồ Tát, quý vị đã chứng kiến Phật tánh. Như vậy, khi quý vị làm thiện sự và đồng thời cảm nhận được bản chất Phật tánh trong hành động ấy, việc làm đó chính là công đức.

Ví dụ, khi quý vị dành một giờ làm việc Phật tại nhân gian, tất cả hành động đều trở thành công đức. Khi quý vị dành nửa giờ làm việc cứu độ của Bồ Tát tại nhân gian, toàn bộ việc làm đó đều là công đức. Cụ thể, hôm nay quý vị đang thuyết pháp cho mọi người; nếu lúc ấy cảm nhận mình như Bồ Tát đang cứu độ chúng sinh, từ nội tâm cảm thấy họ thật đáng thương, và thật lòng muốn cứu họ, thì tất cả lời nói và hành động của quý vị đều trở thành công đức. Ngược lại, nếu quý vị giảng pháp hay làm việc ấy chỉ vì người đó là thân thích hay bạn bè, hoặc vì tư tâm, vì lợi ích cá nhân, thì dù nỗ lực đến đâu, tất cả cũng chỉ là thiện sự, không mang lại công đức thật sự.

Nhìn từ bản tánh, khi chứng kiến Phật tánh của chính mình và áp dụng vào việc làm, tức là quý vị đang thực hành Phật tánh nơi nhân gian, thì việc đó chính là công đức. Hãy nhớ rằng: Khi con người tái sinh vào cõi người, nếu người đó có Phật tánh, đồng thời chứng ngộ được Phật tánh ấy, và thực hành Phật tánh trong đời sống, thì đó chính là công đức. Đức là gì? Đức chính là bình đẳng. Một người có tâm bình đẳng mới có thể tỏa ra ánh sáng đại từ, đại bi. Nếu không có tâm bình đẳng, làm sao có thể phát ra ánh sáng đại từ đại bi ấy? Quán Thế Âm Bồ Tát, nếu không có tâm bình đẳng, làm sao Ngài có thể cứu độ vô lượng chúng sinh nơi thế giới Ta Bà? Ngài vì có tâm từ bi, vì có đức, và đức ấy chính là bình đẳng, nên mới cứu độ chúng sinh.

Vậy nên, trong chữ “Đức” của công đức, bình đẳng là điều rất quan trọng. Trước đây, Sư phụ đã nói với các đệ tử rằng, bình đẳng này được xây dựng trên cơ sở mọi người đều sở hữu Phật tánh khi đầu thai vào cõi người, chứ không dựa vào số lượng công đức đã làm ở kiếp trước. Bình đẳng ở đây có nghĩa là mọi người đều có cơ hội bình đẳng để học Phật, đều sở hữu Phật tánh, và từ điều kiện này, mọi người bắt đầu tu học một cách bình đẳng. Sau khi đầu thai, tất cả mọi thứ bình đẳng: mọi chúng sinh đều có Phật tánh. Bồ Tát dạy về bình đẳng này dựa trên Phật tánh nơi mọi chúng sinh, chứ không dựa trên việc quý vị đã làm bao nhiêu thiện hay ác ở kiếp trước, hay quý vị sinh vào gia cảnh nào ở kiếp này. Đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau.

Đừng nhầm lẫn: bình đẳng về Phật tánh không đồng nghĩa với bình đẳng về phúc báo hay kết quả đời này. Bình đẳng ở đây là cơ hội tu học, chứ không phải là bình đẳng về thành quả hay quả báo của mỗi người. “Kiến tánh là công, bình đẳng là đức.” Kiến được bản tánh là công: Khi quý vị thấy được bản tánh chân thật của mình, đó chính là công. Bình đẳng là đức: Khi quý vị có tâm bình đẳng, đức hạnh tự nhiên thể hiện ra. Trong tu hành: Khiêm nhường trong tâm là công – một người tu hành cần có tâm khiêm nhường, hạ mình, xuất phát từ nội tâm. Những gì phát ra từ nội tâm mà khiêm nhường thì chính là công đức. Lịch sự, lễ phép bên ngoài là đức – khi giao tiếp với người ngoài, quý vị tôn trọng lễ nghi, lịch sự và văn minh, đó là thể hiện đức hạnh. Thực chất, đây là lời dạy của Bồ Tát về cách làm người: Nội tâm phải khiêm nhường; Bên ngoài phải biết lễ phép. Tu hành và hành xử trong đời sống hằng ngày đều phải chú ý, đừng để người khác coi thường.

Hiểu được bình đẳng, và hiểu rằng bình đẳng được thiết lập trên nền tảng gì, thực chất quý vị đã chứng ngộ được Phật tánh. Nghĩa là, quý vị đã vận dụng phương pháp tu tâm, tu hành của mình để giác ngộ Phật tánh. Trên thực tế, cầu phước báo không phải là công đức, điểm này cần phân biệt rõ ràng. Người cầu phước sẽ nhận được phước báo từ nhân thiên, nhưng rất nhiều người chỉ biết cầu phước báo mà không cầu công đức. Ví dụ, ở Quán Âm Đường, quý vị cầu Bồ Tát phù hộ cho con cái, cầu sức khỏe, cầu tài vận… Đây đều là cầu nhân thiên phước báo, không phải công đức. Phước báo từ nhân thiên, nghiệp chướng và tâm linh đi song song cùng nhau.

Chẳng hạn, nếu quý vị có nghiệp chướng nhưng làm nhiều việc thiện, và cầu nhân thiên phước báo để có con, khi con quý vị ra đời, đó là phước báo. Tuy nhiên, nghiệp chướng của quý vị không giảm bớt chút nào. Quý vị không thể nói: “Tôi đã làm nhiều việc thiện nên nghiệp chướng được tiêu trừ” – điều đó là không thể. Vậy, thế nào là công đức thật sự? Công đức thật sự là khi quý vị đã giác ngộ và dùng Phật tánh để làm mọi việc. Nếu chưa giác ngộ mà nói: “Dùng Phật tánh để làm việc này việc kia”, thì đó chỉ là lời nói suông, không mang lại công đức thật sự.

Ví dụ: Hôm nay, Sư phụ giúp một cụ già cầu Bồ Tát gia trì để kéo dài tuổi thọ. Nếu lúc ấy Sư phụ chưa khai ngộ, và trong tâm chỉ khởi niệm: “Cụ đối xử với mình rất tốt, thường giúp đỡ mình, cụ thật tội nghiệp, tuổi đã cao…”
Rồi từ đó mà cầu xin cho cụ, thì việc làm ấy không phải công đức. Bởi trong nội tâm không có tấm lòng đại từ đại bi, không có tinh thần cứu độ của Quán Thế Âm Bồ Tát, mà chỉ xuất phát từ cảm xúc thương xót hay sự báo đáp cá nhân. Như vậy, việc làm ấy chỉ có thể gọi là thiện sự, chứ không phải công đức, và hiệu quả cũng sẽ không lớn. Đó chính là trường hợp ngoài miệng nói “dùng Phật tánh để giúp cụ già cầu Bồ Tát gia trì kéo dài tuổi thọ”, nhưng trong bản tánh thực sự lại không khởi lên tâm đại từ đại bi như Quán Thế Âm Bồ Tát. Như vậy, lời nói và nội tâm không tương ưng, nên việc làm ấy không thể trở thành công đức.

Quý vị có biết Sư phụ cầu xin như thế nào không? Khi Sư phụ cầu Bồ Tát gia trì để cụ được tăng thọ, đó là bởi cụ đang chân thật tu tâm, tu Phật; tuổi đã cao nhưng vừa mới khai ngộ, đang bước đầu trên con đường tu tâm. Sư phụ chí thành thỉnh nguyện Quán Thế Âm Bồ Tát, từ bi gia hộ cho bản tánh – Phật tánh của cụ được thêm thời gian hiện hữu nơi nhân gian, để cụ có thể chứng ngộ thêm nhiều điều, thâm nhập Phật pháp.

Sự chứng ngộ ấy của cụ sẽ khiến nhiều người khởi tín tâm, tin sâu vào sự từ bi và cứu độ của Quán Thế Âm Bồ Tát. Nếu quý vị có thể cầu như vậy, thì Phật tánh chân thật trong bản tánh của quý vị sẽ hiển lộ. Cần buông bỏ hết thảy tạp niệm, không vướng một chút tư tâm nào, khơi dậy Phật tánh từ tận sâu trong nội tâm, rồi dùng Phật tánh ấy để làm từng việc một – đó mới thật sự gọi là công đức.

Một người muốn có công đức, trước hết phải chứng ngộ; phải đầy đủ Đức của Phật tánh, đồng thời phải đầy đủ Công của Phật tánh. Khi Công và Đức tương ưng, hợp lại, mới thành công đức của Bồ Tát.

“Niệm niệm vô trệ” nghĩa là: mọi suy nghĩ của quý vị, bất cứ việc gì vừa khởi lên trong tâm, đều không còn bị chướng ngại. Nói cách khác, tâm trí quý vị có thể hoàn toàn điều phục chính mình, tư tưởng không còn vướng mắc hay bị ngăn trở bởi bất kỳ điều gì. Khi trong tâm không còn chướng ngại, quý vị sẽ thường thấy được bản tánh của mình.

Khi ý niệm không còn tạp niệm, quý vị có thể thường xuyên quán chiếu và nhận biết bản tánh ấy. Nhưng chỉ thấy bản tánh thôi thì chưa đủ; còn phải biết vận dụng Phật tánh trong đời sống. Ví dụ, một người biết rằng mình đang làm việc của Bồ Tát, biết giữ gìn hình tượng của mình, giữ gìn lời nói, giữ gìn tư duy – nhưng như thế vẫn chưa đủ. Bởi nếu quý vị không mang những lời dạy trong kinh điển của Bồ Tát, không đem tư duy thiện lành, hành vi thanh tịnh ấy truyền dạy cho mọi người, nếu quý vị không thực sự áp dụng những phẩm hạnh của Bồ Tát vào đời sống của chính mình, thì quý vị chưa thể gọi là đang hành Bồ Tát đạo, và những việc làm ấy cũng chưa thể trở thành công đức.

QUYỂN 1 – TẬP 24
DIỆU DỤNG CỦA PHẬT TÁNH

Diệu dụng của Phật tánh chính là những phương pháp, tư tưởng và hành động mà chư Phật, chư Bồ Tát thật sự vận dụng để cứu độ chúng sinh. Hiện nay, những diệu pháp mà Sư phụ đang ứng dụng đều do Quán Thế Âm Bồ Tát từ bi chỉ dạy, với mục đích duy nhất là cứu người. Sư phụ nương vào những diệu pháp ấy mà độ sinh: thông qua phát thanh, Internet, đem chánh pháp lan truyền khắp nơi. Chỉ cần ai có duyên được nghe, được thấy, được tiếp xúc, liền phát tâm học theo; vừa học vừa trì tụng kinh, lập tức có cảm ứng, linh nghiệm hiện tiền.

Cứu người cần có phương pháp, nhưng quan trọng hơn hết chính là phải nắm được diệu pháp. Sư phụ kể lại một câu chuyện:

“Có một người con vô cùng bất hiếu với mẹ; chỉ cần người mẹ nhìn thấy anh ta là sợ hãi đến run rẩy. Thế nhưng, người con ấy lại có niềm tin nơi Phật. Một ngày nọ, anh đến cầu xin Bồ Tát gia hộ hiển linh. Quả nhiên, Quán Thế Âm Bồ Tát hiện tướng mà dạy rằng:

“Quán Thế Âm Bồ Tát vốn đang ở ngay trong nhà con – chính là người mỗi ngày mang giày trái ngược, áo quần mặc ngược. Chỉ cần con khởi tâm cầu, Ngài liền có mặt.”

Anh lập tức chạy về nhà. Vừa đến cửa, liền lớn tiếng gọi và gõ cửa thật mạnh. Nghe tiếng con, người mẹ hoảng sợ vô cùng; vội vàng mặc áo, mang giày… tất cả đều mặc ngược, mang ngược, rồi run rẩy bước ra mở cửa. Cửa vừa mở, người con đứng sững lại, lặng người. Anh đã hiểu. Anh biết đó chính là Bồ Tát đang điểm hoá mình. Muốn lễ bái Bồ Tát, trước hết phải hiếu dưỡng mẹ cha. Đến ngay cả tư cách lễ Phật, nhiều người còn chưa đầy đủ. Đại chúng cần thấu suốt đạo lý này.

Người tu hành phải thường xuyên chiếu soi bản tánh, để bản tánh thường trụ; đồng thời phải biết vận dụng diệu dụng của Phật tánh. Khi ba yếu tố này hòa hợp, đó mới thật sự gọi là công đức. Đem Phật tánh ứng dụng vào từng việc trong đời sống hằng ngày, chính là tạo công đức. Hãy luôn ghi nhớ: bất kỳ việc thiện nào, chỉ khi được thực hiện bằng tâm Phật tánh, việc ấy mới trở thành công đức. Hiểu một cách sâu hơn: bản tánh chính là Phật, tự tánh vốn là Phật. Khi quý vị thấy và chứng được tự tánh, ấy chính là thấy Phật, là minh chứng rằng mình có phần trong hạnh nguyện của Bồ Tát. Quán tưởng Phật, tâm thường nhớ Phật, thì tâm tức là Phật, cảnh đều là Phật. Ứng dụng Phật, đem giáo pháp và tư tưởng của Phật vận dụng trọn vẹn vào mọi hành xử trong đời sống, chính là công đức.

Trong các pháp hội, mọi việc lành, mọi sự hỗ trợ, hộ pháp, đều là công đức. Ví dụ, khi quý vị kiên trì giúp đỡ người khác, quên cả bản thân mình, thì trong mắt người khác, quý vị giống như một vị Bồ Tát; và chính quý vị, khi nhìn lại mình, cũng nhận ra tâm đang hành theo hạnh của Bồ Tát. Khi ấy, công đức mới thật sự vô lượng.

Một người nếu tự nói: “Tôi khai ngộ rồi”, thì thật ra chính là chưa khai ngộ. Bởi người thật sự khai ngộ không bao giờ tự xưng mình đã khai ngộ, và người thật sự hiểu cũng không bao giờ nói mình đã hiểu. “Minh tâm khai ngộ” theo nghĩa lý là khai ngộ trên đạo lý: hiểu ra chân tướng nào đó, hiểu được nguyên lý vận hành của vũ trụ vạn hữu. Nhưng nếu không đem điều đã hiểu ấy ứng dụng vào thực hành, thì vẫn là chưa khai ngộ. Quý vị biết thế gian này là giả, là không, hiểu được như vậy là khai ngộ trên lý.

Nhưng có thật sự ứng dụng vào đời sống hay chưa? Nếu từ những đạo lý ấy, quý vị phát tâm muốn giúp nhiều người lìa khổ, muốn đem sự sáng tỏ mà mình nhận ra chia sẻ cho mọi người, thì chính khi ấy, quý vị đang hành hạnh của Bồ Tát. Ngược lại, nếu tự mình đã hiểu mà không chịu nói cho người khác biết, không chịu cứu giúp người khác, thì làm sao gọi là hiểu? Làm sao gọi là khai ngộ? Khai ngộ chân thật phải được ứng dụng vào thực tiễn, phải đem trí tuệ ấy sống trong từng việc, từng niệm, mới thật sự gọi là minh tâm kiến tánh. Khai ngộ còn phải được vận dụng trên tinh thần bình đẳng.

Lúc trước là giảng về “nhận thức bình đẳng”, bây giờ chính là “ứng dụng bình đẳng”. Nếu cho rằng giáo pháp có tánh không bình đẳng, thì trí tuệ ấy sẽ không thể ứng dụng được. Ví dụ: người khác có tiền, quý vị không có tiền, mà trong tâm liền khởi niệm bất bình đẳng, chính niệm ấy đã khiến quý vị không thể hành được hạnh bình đẳng, và như vậy thì không thể thật sự khai ngộ. Hành sự ở đời chính là đang thực hành những lễ nghi bình thường. Khi quý vị đem những lời nói và hành vi đã tu tập của mình truyền đạt cho người khác, đó chính là đức. Từ nội tâm hiểu biết, khởi lên tâm khiêm nhường và bình đẳng, rồi biểu hiện ra bên ngoài qua lễ nghi, thì mọi hành vi thiện lành phát sinh từ sự thấu hiểu đạo lý, tổng hòa lại chính là công đức của quý vị. 

Chư Bồ Tát dạy rằng: tự tánh kiến lập vạn pháp là công, bởi bản tánh của chính mình được kiến lập trên nền tảng của vạn pháp. Mọi hành vi, cử chỉ, lời nói trong nhân gian đều gọi là vạn pháp. Nếu bản tánh của quý vị được thể hiện trong từng lời nói, từng hành vi, thì khi ấy quý vị đã có công đức. Mọi vạn pháp đều lưu xuất từ tự tánh. Nói cách khác, tất cả các pháp môn, tất cả các trạng thái đi, đứng, ngồi, nằm, tư duy, cũng như mọi điều thiện lẫn bất thiện trên đời, đều là sự biểu lộ của tự tánh của chính quý vị. Vậy tại sao biểu lộ cuối cùng vẫn có điều không thiện? Bởi qua nhiều kiếp luân hồi, dần dần nhiễm vào những điều bất thiện, và quá trình này thường diễn ra một cách vô thức, do đó sinh ra nghiệp chướng.

Tất cả sự vật trên thế gian đều là sự hiển lộ của Phật tánh. Mọi hiện tượng vật chất, mọi ý niệm trong tâm chúng sinh, đều là sự hiển hiện và biến hóa của Phật tánh. Nếu quý vị có thể thấy rằng mọi điều trong đời đều mang Phật tánh, thì ngay giây phút đó, quý vị đã bước vào cảnh giới của chư Phật. Ví dụ: hôm nay quý vị được ngồi tại đây, hãy biết ơn trời đất, vạn vật đã ban cho quý vị chiếc ghế để an trú. Được ngồi nghe pháp, hãy biết ơn Quán Thế Âm Bồ Tát đã ban cho quý vị một Minh sư dẫn dắt trên con đường tu học. Khi trở về nhà và hòa thuận với gia đình, hãy biết ơn Bồ Tát đã trao cho quý vị một mái ấm tốt đẹp. Khi quý vị nhìn mọi sự trên đời đều mang Phật tánh, đều là sự gia trì của chư Phật Bồ Tát, và trong tâm luôn khởi lên lòng cảm ân, thì lúc ấy, quý vị đang sống trong cảnh giới của Phật.

QUYỂN 1 – TẬP 25
BÌNH LUẬN VỀ TÂM NIỆM CỦA CHÚNG SINH

“Tâm thể lìa niệm” chính là đức, tức là coi tâm như một thể năng lượng. Nếu tâm của quý vị không bị chi phối bởi ý niệm, thì đó chính là đức. Quý vị cần thấu triệt: tâm mình chứa gì? Đang làm gì? Lượng năng lượng đi vào tâm – tức là các ý niệm, hành vi – ra sao? Nếu vào tâm là những điều thiện, tâm của quý vị chính là Phật. Nếu vào tâm là những điều ô nhiễm, bất thiện, tâm của quý vị trở thành ma.

Quý vị cần hiểu rõ tâm mình, biết tâm mình đang làm gì. Trong Phật pháp có câu: “Tâm thể lìa niệm”, nghĩa là tâm phải hoàn toàn tách rời khỏi mọi ý niệm, mọi việc làm đều do tâm chân thật điều khiển. Nếu tâm quý vị tiếp nhận những điều lành, đó là đức, vì khi thiện pháp vào tâm, quý vị nhận biết bản thân có đức hạnh, trở thành người có đạo đức. Nếu tâm tiếp nhận những điều ô uế, bất thiện, đó là thiếu đức. 

Vậy làm sao để tránh tạp niệm và giữ tâm không tạp niệm? Trước hết, phải lìa niệm. Lìa niệm là vô niệm, và vô niệm chính là đức. Khi quý vị không còn ý niệm, khi rời bỏ ý niệm, tức là quý vị đã có đức. Ngược lại, bất kỳ ý niệm nào xuất hiện đều làm tâm dao động, không ổn định, giống như kim đồng hồ: khi có ý niệm, tâm quý vị lung lay; khi không có ý niệm, kim đứng yên, tâm an định. Ý niệm sinh ra sai biệt, chênh lệch, vì vậy hãy nhớ: vô niệm chính là đức. Khi quý vị thường xuyên vô niệm, tâm sẽ chuyển sang một trạng thái cao hơn, gọi là vô vô niệm. Nếu còn ý niệm, sẽ sinh phiền não. Phiền não chính là ý niệm. Biến từ có ý niệm thành vô ý niệm, chính là đức. Chân lý của vũ trụ là: “vạn biến bất ly kỳ tông” – nghĩa là nguyên tắc cốt lõi và bản chất không thay đổi, dù hình thức bên ngoài có muôn vàn biến hóa. Giống như lục đạo luân hồi, con người luân chuyển trong sáu nẻo mà không thoát ra được nếu không có Minh sư dẫn dắt, kéo quý vị ra khỏi mê lầm. Tuy nhiên, nhiều người vừa mới thoát ra một chút, lại bị cuốn trở lại, bởi cuộc đời giống như một vòng xoáy lớn: vừa ra khỏi được một ít, lại bị cuốn trở lại. Hãy nhớ: biến phiền não thành vô phiền não, lúc đó đức của quý vị sẽ hiện ra.

Chúng sinh ai cũng có ý niệm, nhưng ý niệm không làm nhiễu loạn Phật tánh, và Phật tánh cũng không can thiệp vào ý niệm. Ý niệm của quý vị không thể ảnh hưởng đến Phật tánh sâu thẳm trong nội tâm. Phật tánh vốn sẵn trong quý vị, không can thiệp vào ý niệm, dù là thiện hay bất thiện. Ngay cả khi một người lâm tù tội, Phật tánh vẫn tồn tại. Vì vậy, Phật tánh phải được thường trú, mọi điều thiện phải thường trú trong tâm. Ý niệm không còn là ý niệm chính là đức. Khi quý vị không nghĩ gì, ngay cả khi nói: “Tôi không có ý kiến về việc này”, thực ra, ý niệm vẫn hiện hữu. Ý niệm không có hình tướng ấy chính là Phật tánh. Không lìa tự tánh nghĩa là trong đời sống, quý vị phải luôn không rời bỏ bản tính của mình, không rời Phật tánh, đó chính là công. Phật tánh tự nhiên không bị ô nhiễm, và khi được ứng dụng trọn vẹn trong đời sống, đó chính là đức. 

Vừa rồi, Sư phụ đã giảng về hai ý nghĩa của công đức: Thứ nhất, công đức phát xuất từ nội tâm: phải dựa trên Phật tánh và thực hành công đức của Phật Bồ Tát. Thứ hai, pháp thân có công đức: như Sư phụ đã nói, nếu quý vị thực hành công đức trọn vẹn, thân xác của quý vị trở thành pháp thân, nghĩa là thân công đức, và đó chính là công đức chân thật. Công đức pháp thân là công đức chân thật, và lúc đó Phật tánh chân thật trong quý vị sẽ hiển lộ. Khi thân xác quý vị tạo ra những biểu hiện từ bản tính chân thật, Phật tánh thật sự trong tâm quý vị sẽ hiện ra, và đây chính là nền tảng để quý vị thực sự học Phật và hiển lộ Phật tánh. Chỉ khi dựa trên Phật tánh chân thật, những việc làm mới trở thành công đức. Nếu không, tất cả chỉ là thiện sự và phước báo. 

Chư Phật Bồ Tát sẽ gia trì những người sẵn sàng giúp bản thân, nghĩa là những ai biết nhìn lại và sửa chữa khuyết điểm nơi chính mình. Người không chịu hối cải, Bồ Tát sẽ không gia trì. Nói cách khác, phải có tâm hối lỗi mới được cứu, phải hối cải trước mới được cứu độ. Nếu quý vị không biết hối cải thói quen xấu nơi bản thân, làm sao có thể được cứu? Phật là người bình thường nhất trên thế gian, bởi Ngài đã khôi phục trạng thái nguyên bản của Phật tánh. Chúng ta vốn là những người thiện lành; khi tu tâm đến cùng, Phật tánh hiển lộ, ta trở về trạng thái nguyên sơ của Phật, tức là nguyên linh của Phật Bồ Tát. 

Trên thế gian, mọi hiện tượng, mọi sự việc đều có thể trở thành nhà tù nhân gian. Nếu quý vị tin vào chúng và hành động theo chúng, quý vị tự nhốt mình trong nhà tù đó, bị sự vật trói buộc, không thể thoát ra. Nhà tù này là do chính quý vị tự giam mình. Ví dụ: khi ai đó làm hại quý vị, quý vị ghét người ấy và luôn nghĩ rằng họ sẽ hại mình, thì có phải quý vị đã bước vào nhà tù của chính mình không? Ngược lại, nếu quý vị tôn trọng người khác, quý vị đang trang nghiêm chính mình, là người đã tu học, hiểu Phật pháp, biết lễ nghi. Điều này vừa lợi cho bản thân, đồng thời nâng cao phẩm hạnh. Phật pháp là phương tiện để hoàn thiện giác ngộ trong đời sống. Quý vị cần thức tỉnh, bởi nhờ phương pháp này, quý vị sẽ thật sự nhận ra chân lý của vũ trụ và đời người. 

Sư phụ hôm nay giảng một câu: Thế gian này chính là một vở hài kịch lớn.” Thế gian tựa như sân khấu, quý vị chính là người tạo nên hài kịch cho chính mình. Khi nghĩ về người thân đã quá cố, quá khứ của bản thân, tương lai phía trước, hay những việc quý vị từng làm, tất cả đều thật buồn cười, thật phi lý. Mọi sự vật đều giả tạm: một hơi thở lên xuống, cũng chẳng còn gì; Đến rồi đi, mọi thứ đều trống rỗng. Tóm lại, mọi sự trên nhân gian đều là giả, đến cũng trống rỗng, đi cũng trống rỗng. Hôm nay, vì thời gian có hạn, Sư phụ dạy chỉ đến đây thôi.

QUYỂN 1 – TẬP 26
VẬN DỤNG “NGŨ LỰC” NHẬN DIỆN BẢN TÁNH

“Tâm thể lìa niệm” chính là đức, tức là coi tâm như một thể năng lượng. Nếu tâm của quý vị không bị chi phối bởi ý niệm, thì đó chính là đức. Quý vị cần thấu triệt: tâm mình chứa gì? Đang làm gì? Lượng năng lượng đi vào tâm – tức là các ý niệm, hành vi – ra sao? Nếu vào tâm là những điều thiện, tâm của quý vị chính là Phật. Nếu vào tâm là những điều ô nhiễm, bất thiện, tâm của quý vị trở thành ma.

Quý vị cần hiểu rõ tâm mình, biết tâm mình đang làm gì. Trong Phật pháp có câu: “Tâm thể lìa niệm”, nghĩa là tâm phải hoàn toàn tách rời khỏi mọi ý niệm, mọi việc làm đều do tâm chân thật điều khiển. Nếu tâm quý vị tiếp nhận những điều lành, đó là đức, vì khi thiện pháp vào tâm, quý vị nhận biết bản thân có đức hạnh, trở thành người có đạo đức. Nếu tâm tiếp nhận những điều ô uế, bất thiện, đó là thiếu đức. 

Vậy làm sao để tránh tạp niệm và giữ tâm không tạp niệm? Trước hết, phải lìa niệm. Lìa niệm là vô niệm, và vô niệm chính là đức. Khi quý vị không còn ý niệm, khi rời bỏ ý niệm, tức là quý vị đã có đức. Ngược lại, bất kỳ ý niệm nào xuất hiện đều làm tâm dao động, không ổn định, giống như kim đồng hồ: khi có ý niệm, tâm quý vị lung lay; khi không có ý niệm, kim đứng yên, tâm an định. Ý niệm sinh ra sai biệt, chênh lệch, vì vậy hãy nhớ: vô niệm chính là đức. Khi quý vị thường xuyên vô niệm, tâm sẽ chuyển sang một trạng thái cao hơn, gọi là vô vô niệm. Nếu còn ý niệm, sẽ sinh phiền não. Phiền não chính là ý niệm. Biến từ có ý niệm thành vô ý niệm, chính là đức. Chân lý của vũ trụ là: “vạn biến bất ly kỳ tông” – nghĩa là nguyên tắc cốt lõi và bản chất không thay đổi, dù hình thức bên ngoài có muôn vàn biến hóa. Giống như lục đạo luân hồi, con người luân chuyển trong sáu nẻo mà không thoát ra được nếu không có Minh sư dẫn dắt, kéo quý vị ra khỏi mê lầm. Tuy nhiên, nhiều người vừa mới thoát ra một chút, lại bị cuốn trở lại, bởi cuộc đời giống như một vòng xoáy lớn: vừa ra khỏi được một ít, lại bị cuốn trở lại. Hãy nhớ: biến phiền não thành vô phiền não, lúc đó đức của quý vị sẽ hiện ra.

Chúng sinh ai cũng có ý niệm, nhưng ý niệm không làm nhiễu loạn Phật tánh, và Phật tánh cũng không can thiệp vào ý niệm. Ý niệm của quý vị không thể ảnh hưởng đến Phật tánh sâu thẳm trong nội tâm. Phật tánh vốn sẵn trong quý vị, không can thiệp vào ý niệm, dù là thiện hay bất thiện. Ngay cả khi một người lâm tù tội, Phật tánh vẫn tồn tại. Vì vậy, Phật tánh phải được thường trú, mọi điều thiện phải thường trú trong tâm. Ý niệm không còn là ý niệm chính là đức. Khi quý vị không nghĩ gì, ngay cả khi nói: “Tôi không có ý kiến về việc này”, thực ra, ý niệm vẫn hiện hữu. Ý niệm không có hình tướng ấy chính là Phật tánh. Không lìa tự tánh nghĩa là trong đời sống, quý vị phải luôn không rời bỏ bản tính của mình, không rời Phật tánh, đó chính là công. Phật tánh tự nhiên không bị ô nhiễm, và khi được ứng dụng trọn vẹn trong đời sống, đó chính là đức. 

Vừa rồi, Sư phụ đã giảng về hai ý nghĩa của công đức: Thứ nhất, công đức phát xuất từ nội tâm: phải dựa trên Phật tánh và thực hành công đức của Phật Bồ Tát. Thứ hai, pháp thân có công đức: như Sư phụ đã nói, nếu quý vị thực hành công đức trọn vẹn, thân xác của quý vị trở thành pháp thân, nghĩa là thân công đức, và đó chính là công đức chân thật. Công đức pháp thân là công đức chân thật, và lúc đó Phật tánh chân thật trong quý vị sẽ hiển lộ. Khi thân xác quý vị tạo ra những biểu hiện từ bản tính chân thật, Phật tánh thật sự trong tâm quý vị sẽ hiện ra, và đây chính là nền tảng để quý vị thực sự học Phật và hiển lộ Phật tánh. Chỉ khi dựa trên Phật tánh chân thật, những việc làm mới trở thành công đức. Nếu không, tất cả chỉ là thiện sự và phước báo. 

Chư Phật Bồ Tát sẽ gia trì những người sẵn sàng giúp bản thân, nghĩa là những ai biết nhìn lại và sửa chữa khuyết điểm nơi chính mình. Người không chịu hối cải, Bồ Tát sẽ không gia trì. Nói cách khác, phải có tâm hối lỗi mới được cứu, phải hối cải trước mới được cứu độ. Nếu quý vị không biết hối cải thói quen xấu nơi bản thân, làm sao có thể được cứu? Phật là người bình thường nhất trên thế gian, bởi Ngài đã khôi phục trạng thái nguyên bản của Phật tánh. Chúng ta vốn là những người thiện lành; khi tu tâm đến cùng, Phật tánh hiển lộ, ta trở về trạng thái nguyên sơ của Phật, tức là nguyên linh của Phật Bồ Tát. 

Trên thế gian, mọi hiện tượng, mọi sự việc đều có thể trở thành nhà tù nhân gian. Nếu quý vị tin vào chúng và hành động theo chúng, quý vị tự nhốt mình trong nhà tù đó, bị sự vật trói buộc, không thể thoát ra. Nhà tù này là do chính quý vị tự giam mình. Ví dụ: khi ai đó làm hại quý vị, quý vị ghét người ấy và luôn nghĩ rằng họ sẽ hại mình, thì có phải quý vị đã bước vào nhà tù của chính mình không? Ngược lại, nếu quý vị tôn trọng người khác, quý vị đang trang nghiêm chính mình, là người đã tu học, hiểu Phật pháp, biết lễ nghi. Điều này vừa lợi cho bản thân, đồng thời nâng cao phẩm hạnh. Phật pháp là phương tiện để hoàn thiện giác ngộ trong đời sống. Quý vị cần thức tỉnh, bởi nhờ phương pháp này, quý vị sẽ thật sự nhận ra chân lý của vũ trụ và đời người. 

Sư phụ hôm nay giảng một câu: Thế gian này chính là một vở hài kịch lớn.” Thế gian tựa như sân khấu, quý vị chính là người tạo nên hài kịch cho chính mình. Khi nghĩ về người thân đã quá cố, quá khứ của bản thân, tương lai phía trước, hay những việc quý vị từng làm, tất cả đều thật buồn cười, thật phi lý. Mọi sự vật đều giả tạm: một hơi thở lên xuống, cũng chẳng còn gì; Đến rồi đi, mọi thứ đều trống rỗng. Tóm lại, mọi sự trên nhân gian đều là giả, đến cũng trống rỗng, đi cũng trống rỗng. Hôm nay, vì thời gian có hạn, Sư phụ dạy chỉ đến đây thôi.

QUYỂN 1 – TẬP 27
CHÁNH THUYẾT – DẪN THUYẾT ĐỀU LÀ DIỆU PHÁP

Tại sao phải học Phật? Học Phật là để cứu độ chúng sinh, không phải chỉ vì bản thân mình. Chỉ khi cứu độ chúng sinh, quả vị của quý vị mới thăng tiến, cảnh giới mới nâng cao. Quả vị càng cao, khả năng cứu độ chúng sinh càng rộng lớn. Ngược lại, nếu chỉ lo cho bản thân, quý vị thực ra không có khả năng cứu độ chúng sinh, không thể tích lũy công đức. Ví dụ, nếu mỗi ngày chỉ niệm kinh cho riêng mình, đó thực chất là vì còn quá nhiều nợ nghiệp chưa trả, làm sao còn sức làm công đức? Làm sao có thể cứu độ chúng sinh? Giống như quý vị kiếm tiền chỉ để trả nợ, đâu còn dư để giúp người khác? Cứu độ chúng sinh là mục đích của chúng ta, vậy làm sao để cứu độ? 

Trước hết, phải phá tà lập chính, loại bỏ những điều tà ác, phi chính, mới có thể trong tâm dựng lập năng lượng chính. Chỉ vì lợi ích cá nhân mà làm việc là phi chính. Vì vậy, cần loại bỏ mọi điều bẩn thỉu trong tư tưởng, thì mới có thể lập chính. Khi phá tà lập chính xong, trí tuệ sẽ dần sinh ra sự viên dung; trong Phật pháp gọi là định tuệ viên minh – tức là khi tâm đã an định, trí tuệ sẽ mở ra, toàn diện và sáng tỏ. Ví dụ, nhìn gương mặt một số người, quý vị có thể thấy họ rất thông minh, còn người trí tuệ kém nhìn là biết ngay. Định tuệ viên minh là kết quả của phá tà lập chính, và là yếu tố vô cùng quan trọng trong tu học và cứu độ chúng sinh.

Biện tài vô ngại tức là dùng miệng nói, dùng trí tuệ thuyết pháp. Ví dụ, khi cứu người, khuyên người khác tu tâm, nếu miệng không nói được, gặp câu hỏi mà không có khả năng giải thích, thì chân lý rõ ràng cũng trở nên mù mờ. Biện tài là khả năng thuyết lý, còn vô ngại là không bị trở ngại. Khi đi hoằng pháp, nếu miệng không nói được, pháp làm sao truyền bá? Vô ngại là khi giảng pháp thật tốt, không gặp trở ngại. Điều này vô cùng quan trọng. Một người muốn hoằng pháp phải có nhiều năng lực: trí tuệ, tinh thần đại vô úy, tức là quên mình, không đặt bản thân lên trước. Nếu người này khi hoằng pháp, bất luận là chánh thuyết hay dẫn thuyết, trên thực tế, đó đều là Diệu Pháp. Chánh thuyết là nói một cách chính xác, nghiêm khắc, trực tiếp, để người nghe biết cái gì có thể làm, cái gì không thể làm. Vậy tại sao phải dùng dẫn thuyết? Dẫn thuyết cũng là lời nói, nhưng đôi khi để đả thông tư tưởng của người này, quý vị có thể dùng nhiều phương pháp để dẫn họ thức tỉnh. 

Nếu phương pháp bình thường không hiệu quả, quý vị có thể dùng phương pháp khác. Ví dụ, bác sĩ nói với bệnh nhân rằng loại bệnh này nếu không điều trị tốt sẽ trở nặng; vị bác sĩ này không hề nói sai. Nhưng bình thường, bác sĩ không nên nói quá nghiêm trọng, vì trong lòng bệnh nhân sẽ sinh sợ hãi, áp lực. Đối với một số bệnh nhân cơ bản không hiểu, không tin, nếu không nói nghiêm trọng một chút, họ sẽ không xem trọng bệnh của chính mình. Chánh thuyết và dẫn thuyết đều là Diệu Pháp. Nếu mục đích thật sự của quý vị là cứu độ chúng sinh, một chút dẫn thuyết cũng là Diệu Pháp, nhưng phải chủ nhân căn chính, tức là nguyên nhân chính xuất phát từ thiện ý, thì dù có dẫn dắt cũng không thành vấn đề. Con người phải có tín niệm, nếu phát chính tâm, sẽ sinh ra muôn phương Diệu Pháp.

Sư phụ nhắc về căn cơ học Phật: người trung hạ căn khi nghe pháp sẽ có “đại phản ứng”, tức là bị kinh ngạc, sợ hãi. Trung hạ căn là tu tập bình thường; căn là gốc, có được do tu tập tiền kiếp. Người căn cơ thấp khi nghe đến Phật pháp sẽ kinh hãi, hoảng sợ. Ví dụ, khi Sư phụ thuyết pháp, nếu nhắc đến một số việc, người có căn cơ quá kém sau khi nghe sẽ sợ hãi. Khi quý vị có suy nghĩ, biểu hiện, điều đó chứng tỏ căn cơ của quý vị còn nông. Điều này có nghĩa là, khi hoằng pháp cho người căn cơ trung bình thấp, nếu quý vị khuyên họ học Phật, họ sẽ vô cùng kinh ngạc: “Hóa ra nhân gian còn có những chuyện như thế này à!”, và sau đó hoảng sợ. Khi quý vị khuyên họ học Phật, chính là phải cho họ cảm nhận một chút hoảng sợ, để tỉnh ngộ. Ví dụ, người thường xuyên sát sinh, quý vị nói cho họ biết: “XXX chính là bởi vì thường xuyên sát sinh nên đã như thế này, như thế kia.” Họ nghe xong sẽ kinh sợ, hoảng sợ, và cảm thấy bản thân không thể tiếp tục làm những việc này nữa. Đây chẳng phải là quý vị đã cứu họ rồi sao? Đối với những người có trung hạ căn, phải dùng phương pháp như vậy, làm cho họ hoàn toàn giác ngộ minh bạch, mới có thể thay đổi được.

Lão Tử có nói: “Hạ sĩ văn đạo, đại tiếu chi, bất tiếu bất năng vi đạo.” Nghĩa là: đối với người thiếu hiểu biết, khuyết ngộ tính, khi nghe đến Đạo, họ sẽ cười to không ngừng, biểu hiện sự khinh bỉ, kèm theo ngôn ngữ và thái độ châm biếm. Bởi lý luận cao thâm của Đạo không dễ để lý giải. Nếu mọi người đều có thể dễ dàng tiếp thu và lý giải, thì không còn xứng đáng gọi là Đạo nữa. Thực ra, rất nhiều pháp môn giảng đạo đều là phương pháp để học Phật, tu tâm. Chỉ khác nhau ở cách gọi, nhưng bản chất đều hướng đến sự giác ngộ và hoàn thiện bản thân.

Sư phụ dạy cách sống và xử thế như sau:

An lạc là pháp đầu tiên trong xử thế.
Khiêm nhường là pháp để bảo vệ thân.
Bao dung là pháp để xử với người.
Phóng khoáng là pháp để dưỡng tâm.

Như vậy, đời sống tu hành không chỉ là học pháp, mà còn là thực hành những giá trị này trong từng lời nói, cử chỉ và hành vi hằng ngày.

QUYỂN 1 – TẬP 28
NHÍN THẤU, BUÔNG XẢ – CHÍNH LÀ BÁT NHÃ

Hôm nay, Sư phụ muốn nhắn nhủ với quý vị rằng: “Sắc thân là vô minh.” Ở đây, “sắc” không phải là sắc đẹp nam nữ, mà là tất cả những gì chúng ta thấy và sở hữu trong cõi đời này – những pháp hữu vi có hình tướng. “Thân” chính là thân xác của chúng ta. “Vô minh” là những tập khí mê lầm; khi tâm không rõ biết, chìm trong trạng thái mờ mịt, trống rỗng, đó chính là vô minh.

Sư phụ thường dạy rằng, tập khí vô minh chính là những ác tập được lưu giữ qua hàng trăm, hàng ngàn năm, do nguyên linh của quý vị chưa tu tập trọn vẹn; tất cả đều là những tập khí bất thiện. Chư pháp vốn vô tự tánh. Tất cả pháp môn, tất cả các pháp trong thế gian này đều thuộc về pháp giới, mà pháp giới thì không có tự tánh; ý nghĩa rốt ráo là Không.

Con người đến với thế gian này, rốt cuộc có thứ gì thật sự thuộc về mình? Thực ra, chẳng có gì cả. Ngay cả bản tính chân thật cũng bị che lấp; từ lúc sinh ra, bản tính ấy đã bị phủ kín bởi tiền kiếp, bởi vô lượng kiếp trước… nên trong đời này, quý vị không còn là chính mình nguyên bản nữa, không còn giữ được bản tính sơ nguyên, giống như khi trưởng thành mà không còn tìm lại được sự thiện lương thuần khiết thuở bé. Nghĩ xem, trong thế gian này, còn điều gì là bản tính chân thật của quý vị? Bản tính tuy có thể bị che mất, nhưng Phật chủng vẫn hiện khởi từ duyên sinh. Ta bà cũng chính là Cực Lạc. Nói cách khác, nếu quý vị chuyển hóa cõi Ta bà này bằng tư tưởng và nhận thức của mình, nơi đây sẽ trở thành một thế giới Cực Lạc. Phật chủng, tức mầm Phật – linh nguyên của chư Phật Bồ-tát, đều từ duyên sinh mà xuất hiện.

Khi học Phật, điều trước nhất là nhận ra Phật tánh: đó là mầm Phật, là linh nguyên sơ khởi của chư Phật, Bồ Tát. Khổng Tử nói: “Nhân chi sơ, tính bản thiện”, nghĩa là bản tính nguyên sơ của con người vốn thiện lương, đó chính là Phật tánh. Nhưng con người sinh ra trong thời nay, phần lớn đã không còn giữ được bản tính nguyên thủy ấy.

Hôm nay quý vị mang một cái tên, nhưng trong tiền kiếp lại mang một cái tên khác; trải qua vô số kiếp sinh tử, nhiều đời luân hồi mới có hình hài hiện tại. Vậy quý vị còn là bản nguyên như thuở đầu hay không? Nếu một người không thể điều phục hỷ, nộ, ái, lạc, tức không kiểm soát được cảm xúc, thì đó là người vô năng, không làm chủ được bản tính, cũng không thể làm chủ vận mệnh; thật ra chẳng khác nào loài động vật. Ví dụ, người không thể tự chế ngự: vui thì cuồng vui, buồn thì thống khổ tột cùng, đó chính là biểu hiện của chư pháp vô tự tánh.

Sư phụ thường giảng về việc giữ giới. Vì sao phải trì giới? Bởi trì giới có thể lấp đầy tất cả những khe hở phước đức trong quá trình tu tâm của quý vị. Ví dụ, quý vị làm nhiều việc thiện, nhưng chỉ một lời nói thiếu thận trọng khiến người khác phật ý, thì phước đức và công đức cũng có thể bị tổn hao. Sư phụ từng dạy: khi vừa tụng kinh xong, khí trường vô cùng thanh tịnh; nhưng chỉ cần đi trò chuyện rồi lỡ nói những điều không đúng mực, thì công đức vừa vun bồi sẽ bị suy giảm.

Nhiều người không buông bỏ được con cháu, ngày ngày lo nghĩ, sống trong ưu phiền vì chúng. Có người tuổi đã cao, vẫn mãi bận lòng về hậu thế, trong khi điều nên quan sát là mình còn bao nhiêu thời gian ở đời, cần chịu trách nhiệm với những tội nghiệp đã gây; phải sám hối để trả nghiệp, thì mới được nhẹ nhàng, vô sự. 

Muốn biết tội nghiệp quá khứ ra sao, hãy nhìn vào báo ứng hiện tại. Tuổi già bệnh tật, đau đớn triền miên, thường gặp ác mộng ban đêm, đó là lúc oan gia trái chủ tìm đến; khi ấy phải thành tâm hối lỗi với những nghiệp chướng đã tạo.

Mặt khác, nếu con cháu giỏi hơn quý vị, thì còn để lại tài sản cho họ để làm gì? Nếu con cháu không bằng quý vị, lại để tài sản làm gì? Nếu con cháu sa vào chơi bời, rượu chè, cờ bạc, mà vẫn để tài sản cho họ, chẳng phải giúp họ tạo thêm nghiệp chướng hay sao? Vậy, để lại điều gì là tốt nhất? Hãy để lại đức hạnh, phước lành cho con, đó quý hơn tất cả. Nếu cha mẹ cả ngày cãi vã, thì còn để lại gì cho con? Nếu con có tương lai, tiền bạc không quan trọng; nếu con chưa tốt, thì cho tiền làm gì? Tài sản để lại càng nhiều, càng sinh tranh chấp, kiện tụng. Cha mẹ chân chính cần hiểu điều gì thật sự nên để lại cho con.

Mỗi người sẽ gặp tai họa, hoạn nạn. Khi gặp phải, đó chính là lúc tu tâm mài luyện. Quý vị có biết vì sao phải nói vậy chăng? Bởi chỉ khi khổ đau, con người mới nghĩ đến lễ Phật, niệm kinh. Chỉ khi gặp khó khăn, người ta mới tinh tấn; chỉ khi nghèo, mới nỗ lực; chỉ khi bệnh tật, mới chăm sóc cơ thể. Con người thường đến khi sự việc đã xảy ra mới nhận ra phải làm gì, vì thế nên luôn chuẩn bị trước, sớm nghĩ đến hậu quả.

QUYỂN 1 – TẬP 29
CHÂN TÂM SÁM HỐI – TIÊU TRỪ VỌNG NIỆM

“Thiên niên ám thất, nhất đăng tức phá” – “Ngàn năm u tối, một ngọn đèn sẽ phá tan.” Vô minh trong tâm chúng ta, sự mờ mịt trong lòng chúng ta, giống như một căn phòng u tối ngàn năm; chỉ cần một ngọn đèn sáng, tất cả sẽ được chiếu tỏ.

Trong truyện cổ tích của Andersen, câu chuyện “Cô bé bán diêm” kể rằng mỗi khi cô thắp một que diêm, cô sẽ thấy những vật trong quá khứ hoặc tương lai; mỗi que diêm hé lộ một phần thế giới linh hồn hay thiên thượng. Nhưng khi hết diêm, cô chẳng còn thấy gì nữa.

Điều chúng ta cần không phải một que diêm, cũng không phải cả một hộp diêm, mà là ngọn đèn sáng thường hằng. Ngọn đèn sáng thường hằng này phải nhờ Bồ-tát thắp sáng, không thể dựa vào sức yếu kém của chính mình.

Khi tạo nghiệp ác, phải chân thành hối cải. Tâm tạo nghiệp ác giống như ở trong căn phòng u tối, chẳng thấy lối thoát. Nhưng khi hối cải chân thành, giống như một ngọn đèn sáng, có thể soi rọi tất cả những lỗi lầm ác đã làm trong quá khứ.

Tuy nhiên, phải thật sự chân thành hối cải; chỉ sau hối cải, tâm quý vị mới bắt đầu thanh tịnh. Ai mà chưa từng làm điều sai? Ai mà chưa từng phạm lỗi? Chỉ cần là con người, tất sẽ có sai lầm, nhưng phải biết hối cải. Nếu không hối cải, sẽ mãi mãi không tìm thấy hướng đi.

Trong cuộc sống có câu: “Bất chàng nam tường bất hồi đầu” – “Chưa đụng tường Nam thì chưa quay đầu lại.” Bao nhiêu người trong hôn nhân, sự nghiệp, rõ ràng phạm sai, rõ ràng đã đụng tường, nhưng vẫn lao tiếp; rõ ràng biết việc làm đó tạo nghiệp, vẫn cố làm; rõ ràng biết con mình nếu chiều quá sẽ đi sai đường, vẫn tiếp tục nuông chiều – đó là vì trong lòng còn vô minh và chướng ngại.

Sư phụ thường dạy rằng, tu thân dưỡng tâm phải giảm dục vọng, để tâm thanh dục tiệm, không chạy theo danh lợi. Chỉ khi tâm thanh tịnh, dục vọng mới giảm bớt; dục vọng ít thì tâm mới thực sự an nhiên.

Tu tâm thật sự rất khó; phải hợp nhất tâm và thân, người ấy mới thành công. Như người đời thường nói: thân tâm khỏe mạnh, nhưng tâm là quan trọng nhất, hơn cả thân; thân là do hậu thiên tạo dựng, chỉ khi thân tâm nhất trí, mới khỏe mạnh và phát sinh trí tuệ.

Khi gặp người ác, người xấu, chúng ta phải làm gì? Hãy xem họ đến để thử thách mình. Khi biết người đó xấu, quý vị phải kiểm soát bản thân, không tranh cãi, không mâu thuẫn, xem họ như người tốt – đó mới là cách nâng cao tu dưỡng. Nếu cả đời không gặp người ác, không có thử thách, sẽ không có tu dưỡng. Giống như trong y học, nếu không gặp vi khuẩn, không thể nghiên cứu kháng thể. Khi gặp người xấu, hãy biết ơn họ, vì họ giúp quý vị hiểu rằng thế gian còn có kẻ xấu; lần sau gặp kẻ tương tự, quý vị sẽ không bị lừa.

Thực ra, điều này là học cách chế ngự chính mình, học nhẫn nhục. Gặp ma cũng là một thử thách. Nếu chưa từng gặp ma, lời nguyện của quý vị sẽ không kiên định, không vững chắc; gặp ma chính là thử thách để quyết tâm sửa những tính xấu. Ví dụ, khi người nhà quá cố đến đòi “Ngôi nhà nhỏ”, quý vị nên biết ơn họ. Nếu không, nghiệp chướng của quý vị sẽ không tiêu trừ, vong linh không siêu thoát, và sẽ gây ra những đau đầu, đau lưng… Nếu hôm nay quý vị bị ngã, hãy biết đó là ma, cần đề phòng, đồng thời niệm “Ngôi nhà nhỏ” cúng dường cho họ, hiểu rằng đó là những nghiệp chưa trả từ tiền kiếp. Báo ứng này không thể tránh khỏi, phải tự gánh chịu. Chỉ những người thường giữ tâm biết ơn mới có thể tiêu diệt ma quỷ và nghiệp chướng.

Sư phụ từng dạy: nếu trong tâm khởi vọng tưởng, tức là trong tâm có ma. Ma này chính là kẻ trộm. Quý vị để kẻ trộm này tồn tại trong lòng, nó sẽ trộm đi thiện lương của quý vị, khiến quý vị phiền muộn, giận hờn, tâm không yên.

Hãy suy ngẫm: mọi phiền não, khổ sở bắt nguồn từ đâu? Tất cả đều từ tâm. Vì vậy, phải triệt để tiêu trừ “kẻ trộm” trong tâm; kẻ trộm ấy chính là vọng niệm của quý vị. Mỗi người đều có vọng niệm, và cách tốt nhất để diệt vọng niệm là đừng để tâm đến nó. Khi nâng chánh niệm, trong tâm chỉ còn chánh niệm, vọng niệm sẽ dần tiêu giảm. Chánh niệm chính là phương pháp tối thượng để loại bỏ vọng niệm.

QUYỂN 1 – TẬP 30
PHẬT PHÁP LUẬN GIAO HỮU

Hôm nay, Sư phụ sẽ giảng về bạn bè: bạn bè nên kết giao và bạn bè không nên kết giao.

Trước hết, người nghiêm trì giới luật thì nên thân cận. Nếu trong số bạn bè có người nghiêm trì giới luật, quý vị nên gần gũi họ. Khi thân cận với những người ấy, dục vọng của quý vị sẽ dần nhạt đi, nhìn đời nhẹ nhàng hơn, không bị cuốn theo nhiều ham muốn.

Người có trí tuệ rộng lớn cũng nên thân cận. Người này có trí tuệ uyên bác, Sư phụ nhấn mạnh là trí tuệ, không chỉ thông minh. Gần gũi những người trí tuệ rộng lớn, quý vị sẽ thoát khỏi mê mờ, hướng tâm về chân lý.

Người bạn khiêm nhường, nhẫn nhục nên thân cận. Nếu người bạn khiêm nhường, biết nhẫn nhục, quý vị nên gần gũi. Nhờ đó, ngã mạn được tiêu trừ, tự mãn và kiêu căng dần loại bỏ.

Người bạn luôn nắm giữ văn tự nên thân cận. Người bạn luôn truyền đạt lời hay, ý đẹp, nhắc nhở rằng: “phi lễ bất ngôn, phi lễ bất thính”, đều là giáo lý văn tự. Quý vị nên thân cận, bởi từ văn tự có thể học được lễ nghĩa, hiểu đạo làm người, và giải đáp các thắc mắc trong đời.

Người bạn thẳng thắn khuyên bảo nên thân cận. Người bạn thẳng thắn, tâm chính trực, là bạn thật sự; quý vị nên gần gũi. Họ giúp quý vị nhận ra sai lầm, khuyết điểm. Lưu ý, có người lấy “thẳng thắn” làm cớ để chỉ trích, chê bai; đó không phải thật thẳng thắn mà là thiếu tu dưỡng, lệch khỏi tâm chính trực. Bạn bè thẳng thắn khuyên bảo giúp quý vị sửa mình, vì vậy nên kết giao.

Người bạn dũng mãnh, tinh tấn cũng nên thân cận. Người luôn nỗ lực tinh tấn, quý vị nên kết giao, bởi gần họ, quý vị sẽ tốc thành đạo quả. Hành động quyết liệt và tinh tấn của họ giúp quý vị phát triển nhanh chóng trên con đường tu học.

Người bạn “khinh tài hảo nghĩa” nên thân cận. Người coi nhẹ tiền bạc nhưng trọng nghĩa khí, quý vị nên gần gũi. Nhờ họ, quý vị sẽ tiêu trừ tính keo kiệt, đồng thời hiểu được giá trị cao quý của nhân nghĩa trong đời sống.

Người bạn nhân từ, yêu thương muôn vật cũng nên thân cận. Người có lòng nhân ái, từ bi, quý vị nên gần gũi. Gần họ, quý vị sẽ tiêu trừ ngã chấp, học cách sống hòa ái, không hoang phí, biết yêu thương và bảo vệ mọi sinh vật quanh mình.

QUYỂN 1 – TẬP 31
HỌC PHẬT TRỌNG TÂM – TRÍ TUỆ NGÔN (PHẦN 1)

Trí giả nhất ngữ, năng lệnh chúng sanh, phá mê khai ngộ.

Hôm nay, Sư phụ dùng ngôn ngữ đời thường, giản dị mà gần gũi, hòa cùng tinh túy Phật pháp để khai thị. Từng câu từng chữ đều hướng dẫn mọi người từ từ lìa mê vọng, trở về với chánh niệm, khai mở trí tuệ sẵn có trong tự tâm.

Mọi người cần hiểu rằng tu hành là tự tu, tự chứng, chỉ có nỗ lực của chính mình mới dẫn đến thành tựu. Học theo Phật pháp là gì? Chính là tu từ căn bản, lấy tâm làm gốc. Việc bái sư học đạo không phải để dựa dẫm, mà để mở rộng tri kiến, tiếp nhận nhiều pháp môn thiện xảo, từ đó có thể cứu giúp người khác.

Việc thu nhận đệ tử cũng vì mục đích đó: giúp quý vị khai mở trí huệ, nâng cao cảnh giới tư tưởng. Khi cảnh giới thăng tiến, vọng niệm và chấp trước sẽ tự nhiên tiêu trừ; ngược lại, nếu cảnh giới thấp, phiền não và chướng ngại càng nhiều, con đường tu hành sẽ khó mà thông suốt.

Dù là bái sư hay thỉnh đức Quán Thế Âm Bồ Tát, mục đích duy nhất vẫn là tu sửa chính mình, đoạn trừ vô minh, chuyển hóa tập khí xấu nơi thân tâm. Thỉnh Phật, trì kinh, tu tâm… tất cả vốn là những việc rất tự nhiên, lấy trí tuệ và giác ngộ của chính mình làm nền tảng để tu tập.

Sư phụ muốn nhắn nhủ quý vị: thịt trên thân là mẹ ban cho, xương cốt là cha truyền lại. Vì vậy, khi da thịt tổn thương, nghiệp chướng thường khởi từ mẹ; khi xương cốt bị tổn thương, nghiệp chướng thường liên quan đến cha.

“Khúc dạo đầu của sinh mệnh là vài tiếng khóc; đoạn kết chỉ là một tiếng thở dài.” Nghĩa là, đời người mở đầu bằng tiếng khóc chào đời, khép lại bằng tiếng thở dài khi rời cõi thế. Hãy tự hỏi: giữa dòng vô thường trôi chảy không ngừng ấy, có điều gì thật sự đáng để chấp trước? Mắt vừa chớp, mọi cảnh đã trôi qua, không điều gì trở lại như cũ. Nỗi khổ của đời người bắt đầu bằng tiếng khóc khi sinh ra; đến lúc nhắm mắt, chỉ còn một tiếng thở dài, không biết mình sẽ đi về đâu.

Bởi vậy, nhất định phải tu tâm, niệm kinh, vun bồi phước đức để kéo dài thọ mạng. Và việc kéo dài tuổi thọ không chỉ vì bản thân, mà còn để cứu giúp nhiều người hơn, giúp chúng sinh tiêu trừ nghiệp chướng. Ngay cả việc cứu độ con cái, cũng chính là đang cứu một phần chúng sinh trong cõi đời này.

“Sinh mệnh chỉ là một hơi thở, hạnh phúc chỉ là một niệm.” Khi một hơi thở không còn nâng lên, sinh mệnh liền chấm dứt. Niềm vui cũng vậy, chỉ khởi lên trong một niệm tâm. Khi nghĩ đến điều thiện lành, những chuyện tốt đẹp, tâm liền hoan hỷ. Ngược lại, nếu ôm giữ oán hận đối với một người nào đó, thì chính niệm ấy sẽ khiến ta không thể có được hạnh phúc. Đạo lý rất đơn giản: vui hay buồn đều nằm trong một niệm. Con người thường vì một niệm sai khác mà tạo nên những hành vi ngu si. Bởi vậy, người tu học cần học cách quán sát và điều phục chính tâm mình.

 “Muốn cho sinh mệnh nở hoa kết trái, nhất định phải trải qua sự gột rửa và tưới tẩm của gian nan, hoạn nạn. Nếu thường xuyên sống trong bầu không khí an nhàn, ngược lại sẽ khiến cành hoa của sinh mệnh trở nên mềm yếu, không có sức lực; chỉ cần gặp một biến cố bất ngờ liền bị gãy đổ, héo tàn”. Người chưa từng trải qua nghịch cảnh thì khó trưởng thành, khó khai mở giác ngộ. Chỉ những ai từng nếm trải khổ đau mới thật sự biết trân quý cuộc sống. Người sống trong an nhàn lâu ngày thường dễ quên tu tâm, quên nuôi dưỡng trí tuệ. Một chút khó khăn, thử thách chính là cơ duyên mài giũa ý chí, mở rộng nhận thức và tăng trưởng nội lực. Thế gian vô thường, không điều gì bất biến, không gì không đổi dời.

Bất luận việc gì, chỉ cần chân thành niệm kinh, tha thiết cầu Quán Thế Âm Bồ Tát gia hộ, ác duyên có thể hóa lành, nghịch cảnh có thể xoay chuyển. Khi niệm kinh, cần biết quán tưởng: dùng tâm niệm, dùng tâm thấy mình được nước cam lồ thanh tịnh của Bồ Tát tưới xuống từ đỉnh đầu, tắm gội toàn thân. Làm bất kỳ việc gì cũng phải dụng tâm, mới đạt kết quả viên mãn. Gặp khó khăn, phải biết thấy ánh sáng trong khổ; trong niềm vui cũng phải nhớ có mầm khổ bên trong, vì “lạc cực sinh bi.” Mọi người cần thấu suốt đạo lý này để giữ tâm bình hòa, tinh tấn tu sửa, không bị dòng đời cuốn đi theo mê lầm.

“Nhân gian chi đại trí, tại hồ động tất bổn thân chi khuyết điểm”. Người thông minh nhận ra khuyết điểm của bản thân và biết che lại khi cần. Nhưng chỉ che giấu thôi thì chưa đủ – đó chỉ là khéo léo của thế gian. Điều quan trọng hơn là phải thật sự thấu hiểu và nhận diện những thiếu sót ấy. Che giấu là bước đầu; sửa chữa là bước thứ hai; còn chuyển hóa tận gốc là bước thứ ba – đây mới là người thật sự có trí tuệ. Người học Phật phần lớn đều bắt đầu từ ba bước này: nhận ra, sửa đổi và chuyển hóa. Khi nội tâm được chuyển hóa, trí tuệ mới hiển lộ, con đường tu hành mới thật sự mở ra.

“Giá trị con người nằm ở chỗ biết trọn vẹn thực hiện bổn phận của mình.” Bổn phận của con người là gì? Chính là cứu độ chúng sinh, để mọi người xung quanh cảm nhận được ánh sáng Phật pháp, được sự gia hộ của Quán Thế Âm Bồ Tát. Phạm vi cứu độ không chỉ rộng lớn trong xã hội mà còn ngay trong gia đình nhỏ bé. Trong gia đình, kính trên yêu dưới, nấu ăn, dọn dẹp, tất cả đều là thực hiện bổn phận. Cứu người từ những việc nhỏ cũng chính là thể hiện giá trị chân thật của con người.

““Niềm vui và tâm an lạc vốn cao quý hơn mọi tài vật trần gian.” Có nhiều loại vui: uống rượu, tụ họp bạn bè, người già thích đánh mạt chược… nhưng đó có phải là niềm vui tâm an lạc thật sự hay không? Niềm vui tâm an lạc là trạng thái bình an, hòa ái, không bị chi phối bởi tam độc phiền não. Chỉ khi tâm vô ngã, niềm vui mới thật sự viên mãn.

“Tâm an lạc là tâm thái khoáng đạt, nhạt dục, thuận theo tự nhiên, đối diện mọi biến đổi vô thường của đời sống, hạ thấp đau khổ phiền não đến mức tối thiểu, và trong từng giây phút đều tràn đầy vui mừng, mãn nguyện, nội tâm an nhiên, không oán hận, nghi ngờ hay than phiền.”

Tham, sân, si, ngã mạn, nghi hoặc, tà kiến… tất cả đều ảnh hưởng đến lời nói và hành vi. Lâu ngày, chúng trở thành thói quen, tạo thành lực chi phối, chính là nguyên nhân khổ đau của chúng sinh. Khi tham, sân, si, ngã mạn, nghi hoặc, tà kiến khởi lên, chúng trực tiếp ảnh hưởng đến lời nói và hành vi – chắc chắn là có.

“Tà kiến” là nhìn và suy nghĩ bằng tâm tà, bằng mắt tà. Ví dụ, một người thành tâm, từ bi đang lễ Bồ Tát, bên cạnh có kẻ không thích Phật pháp, mang định kiến, sẽ nghĩ: “Hừ! Giả vờ…” – đó chính là tà kiến.

Một người khi tâm chứa tà kiến hay sân hận, lời nói và hành vi sẽ bị chi phối, bộc lộ ra bên ngoài. Lâu ngày, những thói quen này tích tụ thành lực chi phối, chính là nguyên nhân sinh ra khổ đau, gom góp tất cả những đau khổ trong đời. Trong con người, tâm từ bi là quan trọng nhất. Ai không có từ bi, thì đừng bàn chuyện tu hành. Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi, luôn lấy từ bi làm tâm. Người dùng sân hận đối với người khác là kẻ thiếu từ bi, thiếu trí tuệ.  Do đó, phải thường khởi tâm từ bi. Lâu ngày, trong bát thức điền sẽ gieo nhân lành; khi nhân lành kết quả, sẽ gặp được duyên lành tốt đẹp. Đức Phật dạy: “Người đã bắt đầu sống đời sống tâm linh (tức đời sống nội tâm và tinh thần), giống như thắp lên ngọn đèn trong một căn phòng tối tăm; lập tức xua tan bóng tối. Chỉ cần kiên trì thực hành lối sống ấy, nội tâm của chúng ta nhất định sẽ trở thành một thế giới tràn đầy ánh sáng,từ bi và trí tuệ”.

Sư phụ giảng dạy đều là Phật pháp giữa nhân gian, để mọi người hiểu rằng khi làm người, phải học Phật pháp, và trước hết phải học cách làm người đúng đắn.

QUYỂN 1 – TẬP 32
HỌC PHẬT TRỌNG TÂM – TRÍ TUỆ NGÔN (PHẦN 2)

Hôm nay, Sư phụ giảng: “Sau khi kiến tánh, huệ quang sẽ hiển lộ.” Kiến là thấy, tánh là bản tánh; chỉ khi quý vị thật sự thấy được bản tánh của mình, ánh sáng trí tuệ (huệ quang) mới tỏa rực. Không kiến tánh là chỉ lo lợi ích trước mắt, dùng khôn lỏi mà không quan tâm kết quả lâu dài, không nhìn thấu bản chất sự vật. Ngược lại, kiến tánh là hiểu rõ những gì đang khởi nghĩ trong tâm, dùng tâm minh bạch, trong sáng để nhận ra bản tánh. Người tâm không minh bạch, dù cố gắng thế nào, cũng không thể nhận ra chân tánh của chính mình; thử nghĩ người say rượu, làm sao thấy được bản tánh? Rất nhiều người chưa khai ngộ, tâm còn mơ hồ, vẫn chìm trong mê lầm.

“Vi thiện tất xương, vi thiện bất xương, tất hữu dư ương, ương tẫn tất xương.

Vi ác tất ương, vi ác bất ương, tất hữu dư xương, xương tẫn tất ương.”

Một người thật sự hành thiện chắc chắn sẽ được thịnh vượng. Nếu làm việc lành mà chưa nhận được quả báo tốt, điều đó chứng tỏ trong kiếp trước đã từng làm nhiều việc ác và những ác nghiệp đó vẫn còn tồn tại trong thân, chưa được hóa giải. Khi tất cả tai họa và khổ nạn của quý vị kết thúc, thiện ác hoàn toàn triệt tiêu lẫn nhau, quý vị chắc chắn sẽ nhận được phúc báo và thịnh vượng. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết là quý vị phải có thiện tâm; nếu không có việc lành, khi tai họa đã hết, cũng không thể thịnh vượng. Nếu đã làm nhiều việc thiện mà chưa nhận được quả tốt, đó gọi là tàn dư của tai họa. Nguyên nhân là vì trong kiếp trước nhất định đã làm nhiều việc ác mà đến nay vẫn chưa hóa giải, nên mới còn tồn lại tàn dư của tai họa.

 Nếu làm việc ác, chắc chắn sẽ gặp tai họa. Nếu một người đã làm nhiều việc xấu mà chưa gặp tai họa, chưa nhận báo ứng, chưa chịu quả báo, thì đó là vì phúc đức thiện nghiệp tích lũy từ kiếp trước vẫn còn tồn tại trong thân, nên chưa đến lúc nhận báo ứng. Khi quả báo đến, người đó sẽ gặp tai họa – “vi ác tất ương”. Nếu chưa gặp tai họa, nghĩa là trong người vẫn còn một phần thiện nghiệp, giúp trì hoãn quả báo.

Vậy tại sao có những người làm điều ác, sát sinh, phá hoại… mà lại sống rất tốt? Chính là vì họ còn sở hữu thiện nghiệp từ kiếp trước, nên chưa phải chịu hết quả báo. Khi báo ứng đến, chắc chắn họ sẽ gặp tai họa. Đây chính là nguyên lý nhân – quả: gieo gì gặt nấy, không sai chạy. Vì thế, một người không nên sinh tâm sân – tức là tâm giận dữ và phiền não. Sân là giận dữ; phiền não là lo lắng, khó chịu, ganh tị… Ví dụ, khi cơ thể hơi khó chịu, người có phiền não sẽ nghĩ ngay đến bệnh ung thư, còn người bình thường sẽ nhận ra đó chỉ là vết côn trùng cắn, không sao.

Tâm con người chủ trị sinh mệnh; tâm linh chủ trị mạng sống. Nhiều người hiện nay lại để thân xác chủ trị tâm linh, nên sinh ra sai lầm. Ví dụ, biết không được lái xe khi uống rượu nhưng vẫn uống, dẫn đến bị phạt hay tai nạn. Thân xác đòi hỏi rượu, tình dục, vọng niệm… là dùng thân xác để điều khiển tâm. Con người là loài cao cấp vì có linh hồn và tư duy; tư duy là linh tính cao cấp. Vì vậy, cần dùng tư duy để kiểm soát linh hồn, tránh sai lầm.

Ngoài ra, cần hiểu rằng nếu một người không có thiện tích, sau khi tai họa qua đi, chưa chắc đã được thịnh vượng. Nhiều người làm việc thiện mà chưa nhận được quả tốt là vì còn tai ương từ kiếp trước chưa hóa giải. Làm điều ác chắc chắn sẽ mang họa; nếu ai làm ác nhưng chưa gặp báo ứng, đó là nhờ phúc thiện tích từ kiếp trước. Khi báo ứng tới, họ sẽ gặp hậu quả xứng đáng.

Người tu học cần thường sinh tâm hoan hỷ, dùng trí tuệ để vượt qua phiền não, buồn phiền và khó khăn. Tâm hoan hỷ có thể chuyển hóa cảnh giới, tạo duyên lành, hình thành khí trường an hòa, giúp con người sống nhẹ nhàng và sáng suốt hơn.

Đồng thời, phải thường sinh tâm từ bi. Từ bi chính là nguồn sinh của trí tuệ: từ là đem hạnh phúc đến cho người khác, bi là giúp người khác giảm bớt khổ đau. Người có tâm từ bi luôn biết quan tâm, nghĩ cho người khác; trong hành vi biểu hiện bằng sự hòa ái, nhẫn nhịn, không dễ nổi nóng. Ngược lại, tâm hận vô cùng nguy hiểm: chỉ một niệm sân hận khởi lên cũng có thể khiến công đức tích lũy bao năm hóa thành tro bụi, sinh ra vô lượng phiền não.

Sư phụ dạy rằng:

“Một nén lửa vô minh, công đức hóa tro; một niệm sân hận, mở triệu cửa nghiệp.”

Chỉ cần một niệm sân sinh khởi, vô số nghiệp ác liền theo đó hiện hành. Vì vậy, người tu phải biết theo duyên tiêu trừ nghiệp cũ, tuyệt đối không tạo thêm họa mới.

Nghiệp cũ là nghiệp đã tạo từ kiếp trước. Nghiệp cũ không nên chấp trước, vì đã tạo thì không thể xóa bỏ, chỉ có thể chuyển hóa. Nghiệp đời này chính là quả báo của nhân đời trước; khi tiêu nghiệp cũ, cần thuận theo nhân duyên, biết nương thiện duyên để hóa giải ác duyên. Tu hành cốt yếu là không tạo nghiệp mới; nếu tiếp tục tạo nghiệp, nghiệp chồng nghiệp, đời sau tất sẽ vất vả, dễ sa ngã.

Vì vậy, tu tâm không chỉ là tu riêng nội tâm, mà còn phải kết duyên rộng rãi. Không có duyên, sự tu tâm khó tiến triển.

QUYỂN 1 – TẬP 33
LÝ NIỆM HỌC PHẬT

Khi niệm kinh, điều quan trọng nhất không nằm ở số lượng hay hình thức, mà ở tâm có thanh tịnh hay không. Người niệm kinh cần giữ tâm an định, không khởi vọng niệm, không chấp trước vào bất kỳ cảnh giới, cảm thọ hay hiện tượng nào. Chỉ cần trong tâm còn chấp thủ, rất dễ rời xa chánh đạo mà không hay biết.

Có người trong lúc niệm kinh lại khởi tâm cầu thần thông; có người bị cuốn theo những nhân duyên kiếp trước; có người chìm trong nhớ thương, lưu luyến người thân đã khuất… Những ý niệm ấy nếu lặp đi lặp lại trong quá trình niệm kinh hay niệm Ngôi Nhà Nhỏ, lâu ngày sẽ hình thành một trường khí tương ứng. Trường khí này không thanh tịnh, rất dễ cảm ứng những năng lượng không phù hợp đến bản thân, khiến việc tu hành bị lệch hướng mà chính mình không nhận ra.

Vì vậy, cách tốt nhất để tránh lệch lạc khi niệm kinh là luôn quán chiếu rằng: mỗi lần niệm kinh chính là đang trực tiếp giao cảm với Bồ Tát. Tâm phải đặt nơi chánh niệm, giữ “tâm tĩnh vô dục”. Phật dạy: “Vô dục tự nhiên tâm như thủy” – khi không còn dục cầu, tâm tự nhiên lắng trong, sáng rõ và an ổn.

Chìa khóa tu hành không nằm ở bên ngoài, mà ở nội tâm của chính mình. Người tu cần thường xuyên quán sát tâm niệm: tư tâm còn nhiều hay đã bớt, vọng niệm đã giảm hay chưa. Mỗi ngày đều phải tự lau rửa tâm hồn, giữ tâm trong sạch và thanh khiết.

Tâm càng thanh tịnh thì Phật tánh càng dễ hiển lộ; khi Phật tánh đã hiển lộ, tự nhiên những năng lượng không phù hợp, các vong linh không tương ứng cũng khó có thể xâm nhiễu. 

Trước khi niệm kinh, cần thành tâm cầu Quán Thế Âm Bồ Tát gia hộ, xưng rõ họ tên của mình, dùng tâm chí thành và lòng cung kính để niệm. Nếu có điều mong cầu, nên phát nguyện trước khi niệm kinh, nhưng chỉ trong phạm vi chính đáng và đúng chánh đạo. Tuyệt đối không cầu những điều vượt ngoài chánh pháp, như cầu đại phát tài, cầu thần thông, hay mong thấy các cảnh giới đặc biệt.

Cần hiểu rõ rằng âm dương không thể cưỡng cầu kết nối. Nhân duyên tiền kiếp giống như đang ở một “kênh” khác, không nên chủ động tìm cách nối lại. Dù là thiện duyên hay ác duyên trong quá khứ, về bản chất đều chỉ là quá trình trả nợ hoặc đòi nợ, là những nhân duyên tạm thời, đến lúc đủ duyên thì tự nhiên phải kết thúc.

Tu tâm là một quá trình học Phật lâu dài, đòi hỏi sự tinh tấn, thận trọng và kiên nhẫn, giống như đi trên băng mỏng, từng bước đều phải giữ tâm tỉnh giác. Thần thông chỉ là hiện tượng phụ trong quá trình tu hành, giống như nước chảy lâu ngày tự nhiên thành sông. Khi công phu và nhân duyên đầy đủ, thần thông sẽ tự nhiên hiển lộ; tuyệt đối không nên cố cầu.

Bởi chỉ cần khởi tâm ham cầu, rất dễ bị các vong linh hoặc tà khí dẫn lạc, khiến con đường tu hành lệch hướng mà bản thân không hay biết. Phải hiểu rằng thế giới tâm linh vô cùng phức tạp, còn con người thì nhỏ bé và yếu ớt trước các cảnh giới ấy. Khi chưa có đủ năng lượng tự bảo vệ, điều quan trọng nhất không phải là thể hiện hay truy cầu, mà là giữ tâm khiêm hạ, an định, chuyên tâm học hỏi và tinh tấn tu hành.

“Ác nhân thông tam thế” có nghĩa là: với phần lớn chúng sinh, một nhân quả thường được thanh toán xuyên suốt ba đời – quá khứ, hiện tại và vị lai, trừ một số trường hợp đặc biệt. Trong thực tế, những ví dụ như vậy không hề hiếm. Qua việc xem Đồ đằng hằng ngày trên đài, Đài trưởng đã ghi nhận rất nhiều trường hợp tương tự.

Nguyên lý là: nhân thiện hay ác đã gieo từ đời trước, đời này nhất định phải gánh chịu quả báo; nếu chưa trả xong thì đời sau sẽ tiếp tục hoàn trả cho đủ. Đó chính là định luật nhân quả – một quy luật bất biến, không ai có thể ngăn cản hay thay đổi. “Quả” muốn chín cần thời gian, giống như một hạt giống muốn kết thành quả ngọt, phải trải qua đủ duyên, đủ điều kiện và đủ sự thúc đẩy thì mới có thể trưởng thành. Thân hiện tại và hoàn cảnh của đời này ví như đất và nước – chính là môi trường nuôi dưỡng các hạt giống nghiệp đã gieo từ nhiều đời. Nếu để nhân duyên tùy thuận phát triển, không điều chỉnh, không tu sửa, thì quả báo sớm muộn cũng khó tránh khỏi. Tuy nhiên, trước khi “quả” chín muồi, con người vẫn còn quyền chủ động chuyển hóa.

Thông qua việc niệm kinh, phát nguyện, phóng sinh, làm việc thiện, tích lũy công đức, ta có thể tạo ra những duyên mới để chuyển hóa nghiệp cũ. Những thiện duyên này sẽ làm thay đổi môi trường nuôi dưỡng quả ác. Khi đất không còn màu mỡ, nước không còn phù hợp, quả ác sẽ mất đi “chất dinh dưỡng”, dần dần héo úa và tiêu tan trước khi kịp trổ quả. Đồng thời, nếu kiên trì tu hành, tiếp tục gieo trồng và chăm sóc hạt giống thiện, thì hạt thiện ấy sẽ được đủ duyên trưởng thành, để cuối cùng kết thành quả lành tròn đầy.

Khi quán tưởng đến nỗi khổ nơi địa ngục, hãy luôn khởi phát Bồ-đề tâm. Trong quá trình tu hành, lấy những khổ đau ấy làm tấm gương tự tỉnh, để thường xuyên nhắc nhở chính mình, thấu hiểu nhân quả, tinh tấn tu thiện và giữ tâm hướng về điều lành. Sự quán chiếu về khổ cảnh địa ngục giúp chúng ta nhìn thấu hậu quả của từng khởi niệm, từng hành vi trong hiện tại. Nhờ đó, ta có thể cắt đứt ác niệm ngay từ khi còn manh nha, buông bỏ những ham muốn ích kỷ, và chủ động tránh xa tham – sân – si. Khi đã nhận biết rõ hành vi nào sẽ dẫn đến khổ đau, người tu hành tự nhiên sinh tâm cảnh tỉnh và dè dặt, biết cách điều chỉnh tâm niệm và hành vi trong đời sống hằng ngày.

“Ứng dĩ thập ma thân đắc độ, tựu dĩ thập ma thân đắc độ” nghĩa là: dùng thân nào có thể độ được chúng sinh thì liền hiện thân ấy để độ. Dù ở cõi nào, hoàn cảnh nào hay địa vị nào, chúng sinh đều có cơ hội được độ. Việc có được độ hay không, trước hết phụ thuộc vào tâm nguyện của chính bản thân. Nếu không phát tâm cầu được độ, thì dù Phật Bồ Tát có từ bi đến đâu cũng không thể độ thay.

Yếu tố quan trọng thứ hai là nhân duyên: có phát tâm mà không gặp đúng nhân duyên thì vẫn chưa thể được độ; có nhân duyên mà không chịu phát tâm thì cũng không được độ. Tám vạn bốn nghìn pháp môn đều sinh ra tùy theo nhân duyên của chúng sinh. Gặp được pháp môn do Đài trưởng truyền dạy là một cơ duyên vô cùng quý báu, nhưng nếu không chịu ngộ, còn do dự, còn nhìn quanh, chưa thật sự phát tâm, thì cũng sẽ tự đánh mất cơ hội được độ.

Trong quá trình tu hành, nương nhờ lòng từ bi của chư Phật, Bồ Tát và sự chỉ dẫn của Đài trưởng, người học Phật cần chân thật tinh tấn, kiên trì tu tập. Khi trí tuệ dần khai mở, giác ngộ sinh khởi, mới thực sự bước vào con đường tu hành đúng nghĩa, từng bước tiến đến viên mãn trí huệ.

QUYỂN 1 – TẬP 34
NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI HỌC PHẬT Ở NHÂN GIAN

Phàm phu dùng tâm sinh diệt để nhìn nhận pháp xuất thế, vì vậy thường cho rằng pháp xuất thế cũng theo sự kết thúc của đời người mà tiêu mất, từ đó không có nhận thức chân thật về pháp xuất thế. Do không hiểu rõ, người đời cho rằng tu hành, công đức và việc thiện là mơ hồ, xa vời; lại còn sai lầm khi nghĩ rằng con người chết đi như ngọn đèn tắt, không còn gì tiếp nối. Chính vì thế mà lẫn lộn, không phân minh giữa pháp thế gian và pháp xuất thế.

Người đời cho rằng mọi pháp tắc của thế gian đều chấm dứt theo cái chết của con người, nên suốt đời chạy theo hưởng thụ vật chất và tranh đoạt nơi nhân thế. Đến cuối cùng, tất cả cũng chỉ như một giấc mộng hư không. Mọi danh lợi ở cõi người đều là hư ảo; thứ duy nhất mang theo được, chỉ có nghiệp lực theo thân.

Pháp xuất thế là bất sinh bất diệt, tiếp tục phát huy tác dụng tùy theo sự tồn tại của nguyên linh. Nguyên linh của con người không mất đi cùng với sự hoại diệt của thân xác, mà vẫn tiếp tục tồn tại trong những không gian và thế giới khác nhau. Trong một số trường hợp đặc biệt, nguyên linh có thể bị tan rã, tức là diệt vong theo nghĩa rốt ráo. Ví dụ, trong các cảnh giới khổ như địa ngục, với những hình phạt cực nặng như “xuống chảo dầu” hay “vào biển lửa”, nguyên linh ở trạng thái giống như thủy ngân; khi trải qua những cảnh giới ấy sẽ bị phân tán, trở thành các linh thể rời rạc, rồi chuyển sinh thành những sinh vật nhỏ thuộc dạng thấp sinh hoặc noãn sinh. Khi đó, nguyên linh gốc không còn tồn tại – đây mới gọi là tận diệt thực sự. Còn trong điều kiện bình thường, linh hồn không diệt.

Dùng tâm “ngã tri, ngã kiến” (ta thấy, ta biết ) để nghiên cứu Phật pháp thì càng đi xa Phật pháp. Lấy những gì mình biết, mình thấy để hiểu Phật pháp, hay để phán xét sự tu hành của người khác, rốt cuộc chỉ là quan điểm cá nhân. Có người cho rằng mình đúng, còn các tông phái hay pháp môn khác là sai. Nhưng mỗi người có trải nghiệm, hoàn cảnh và nhân duyên khác nhau; cùng một sự việc, ở mỗi người lại sinh ra những nhận định khác nhau.

Nếu dựa vào kết luận cá nhân và tư duy chủ quan để nghiên cứu Phật pháp, rất dễ hình thành thiên kiến, sinh ra ngã chấp hoặc tha chấp, từ đó che mờ khả năng nhận thức chân lý. Chỉ khi buông bỏ “ngã”, con người mới tránh được thiên lệch, và mới có thể tìm ra chánh pháp giữa vô số pháp.

Học Phật chính là tu tâm. Vạn pháp duy tâm, nên con đường tu tâm cũng chính là con đường học Phật.

“Tâm phù tắc phiêu, tâm bất định tắc hồn phiêu” – tâm xao động thì đời sống phiêu dạt, tâm không định thì linh hồn khó an trú. Khi tâm đầy vọng niệm, lo âu, phiền muộn và khổ đau, thì tâm không an, linh hồn không yên.

“Tâm tịnh tắc định” – chỉ khi tâm trong sạch, tâm mới tĩnh, linh hồn mới có chỗ nương tựa.

“Tâm định tắc sinh đạo” – khi tâm an định, đạo hạnh mới khởi, trí tuệ dần khai mở, từ đó sinh ra giác ngộ và thấu hiểu Phật pháp.

Muốn tâm được thanh tịnh, trước hết cần hiểu rõ nhân quả, nhận thức luân hồi và thấu suốt chữ duyên. Khi đã hiểu sâu nhân quả và duyên khởi, con người tự nhiên không tham, không sân, bởi biết rằng mọi sự đều có nguyên nhân và thời điểm của nó. Sống tùy duyên nhưng không bám chấp: nhiều việc trong đời cần nhìn cho đúng, không cưỡng cầu. Bởi lẽ, điều gì cưỡng cầu mà được thì cũng không thật sự thuộc về mình. Duyên đến có dấu hiệu của duyên đến, duyên chưa tới cũng có dấu hiệu của duyên chưa tới. Hiểu được điều này, tâm sẽ nhẹ nhàng, không vọng động, không oán trách.

“Giác tâm tiên cầu tự giác nhi hậu giác tha” – sự tỉnh giác phải bắt đầu từ chính bản thân mình, rồi mới có thể lan tỏa đến người khác. Muốn giúp người khác giác ngộ, trước hết bản thân phải giác ngộ; nếu tự mình còn hiểu chưa trọn vẹn, thì cần quay lại tu sửa chính mình trước.

Cũng như vậy, muốn cứu người, bản thân phải có công lực. Tu dưỡng chưa đủ thì không thể gánh vác việc độ người; thuyền mình chưa vững thì không thể chở người qua sông. Chỉ khi tự thân đứng vững trong tu hành, mới có thể thật sự giúp người khác an ổn và tỉnh thức.

“Tự tâm sở niệm, tất hữu sở hiện” – tâm khởi thế nào thì cảnh hiện thế ấy. Mọi pháp môn đều do tâm sinh: tâm chánh thì pháp chánh, tâm tà thì pháp tà. Vì vậy, học Phật tuyệt đối không được nhìn nhận một chiều, càng không nên khởi tâm cho rằng người khác sai, mình đúng. Chấp kiến như vậy không phải là chánh luận.

Hành vi của tổ tiên trong một gia đình nếu có thiếu sót, không tích lũy phúc đức, thì phạm vi ảnh hưởng rất rộng, bao gồm mộ phần tổ tiên, phong thủy, cũng như nhân duyên thiện ác từ tiền kiếp. Nếu nghiệp do tổ tiên tạo không lớn, thì truyền đến đời thứ hai là có thể báo trả xong. Nhưng nếu là nghiệp sát sinh, thì thường truyền qua ba đời, bốn đời; nghiệp sát càng nặng thì ảnh hưởng đến hậu đại càng sâu và càng lâu. Nguyên lý này giống như thân thể con người bị thương: vết thương nhẹ thì chỉ cần nghỉ ngơi một thời gian ngắn là hồi phục; vết thương nặng thì phải nằm dưỡng bệnh lâu dài mới có thể lành.

Hậu duệ bản thân có nghiệp chướng, nên mới phải thọ nhận loại quả báo này, và vì vậy đầu thai vào gia đình như thế. Tổ nghiệp hoặc tổ đức giống như môi trường xã hội mà chúng ta đang sống, đều do phúc đức hoặc nghiệp chướng từ tiền kiếp của một người quyết định. Tiền kiếp có phúc đức thì sinh ra đã “ngậm chìa khóa vàng”, hưởng phúc ấm tổ tiên; nếu nghiệp chướng sâu nặng thì sinh vào cảnh nghèo khổ. Vì vậy, phải có trách nhiệm với con cháu: tích đức hành thiện, không tạo nghiệp, đặc biệt là tuyệt đối tránh tạo nghiệp sát sinh.

QUYỂN 1 – TẬP 35
NHÂN DUYÊN VÀ THẦN THÔNG

Hôm nay Sư phụ nói về thần thông: khi tu luyện đến một mức độ nhất định, thần thông sẽ tự nhiên hiển lộ. Tu luyện bao gồm các phương pháp như: lễ Phật, niệm kinh, tọa thiền, quán tưởng…

Trong giai đoạn đầu, khi mới tiếp xúc với các cảnh giới vô hình, có thể xuất hiện những hiện tượng thông linh, biểu hiện dưới nhiều hình thức như: mộng cảnh, cảm ứng hoặc ảo giác. Ảo giác là trạng thái bản thân cảm nhận rất rõ ràng như đang thấy một cảnh tượng nào đó, nhưng sau đó cảnh ấy lại nhanh chóng biến mất.

Những hiện tượng thông linh này có thể phân thành đại thần thông và tiểu thần thông.

Tiểu thần thông là khả năng biết được một số việc, nhìn thấy một số hiện tượng trong linh giới; phần nhiều chỉ là cảm giác hoặc cảm ứng thoáng qua trong khoảnh khắc, không ổn định.

Đại thần thông và tiểu thần thông khác nhau cả về tầng bậc lẫn bản chất. Tiểu thần thông thực chất thuộc về quỷ thông. Ai cũng biết quỷ có ngũ thông, trong đó có âm dương nhãn, có thể nhìn thấy linh giới. Vì vậy, nếu có người nói: “Tôi thấy được cái này, tôi biết được cái kia”, thì trên thực tế rất có khả năng là đã bị quỷ linh nương dựa, chứ không phải do công phu tu hành chân chính mà có.

Người tu hành chân chính không truy cầu thần thông. Càng khởi tâm theo đuổi thần thông thì ma quỷ càng dễ thừa cơ mà nhập thân. Con đường tu đúng đắn chỉ có một: chân thành tin Phật, chuyên tâm tu tâm, lấy thanh tịnh và giác ngộ làm gốc.

Có ba nguyên nhân khiến một người có thể nhìn thấy thế giới linh giới:

1. Có tu tập từ tiền kiếp.
2. Âm khí quá nặng.
3. Bị ma quỷ nhập thân.

Trong đó, khoảng 95% các trường hợp ma quỷ nhập thân sẽ sinh ra cái gọi là “tiểu thần thông”, nhưng đây không phải thần thông của chánh đạo, mà là quỷ thông. Trên con đường học Phật, điều quan trọng nhất là chánh tín và chánh kiến. Cần hiểu rõ rằng có thần thông chưa hẳn là điều tốt.

Đại thần thông chân chính không phải là quỷ thông, mà là lục thông như Sư phụ đã giảng. Tuy nhiên, có đại thần thông cũng không đồng nghĩa với việc người đó đã hoàn toàn giải thoát. Khi đạt đến cảnh giới giải thoát, tức là tự giải thoát ngay trong đời này, thì thần thông sẽ tự nhiên hiển lộ – đó mới gọi là thần thông chân thật. Vậy giải thoát là gì? Là khi đáng lo mà không lo, đáng buồn mà không buồn; bị lừa cũng không khởi oán hận; gặp bệnh tật thì tùy duyên tiếp nhận, tâm không dao động. Người thật sự giải thoát là người tâm đã vượt khỏi sinh diệt. Khi ấy, đại thần thông có thể tự nhiên hiển lộ, nhưng căn bản vẫn là giải thoát, chứ không phải vì có thần thông mà được giải thoát.

Nói cho quý vị hiểu, giải thoát chân thật chính là dứt sạch phiền não, buông bỏ mọi vướng mắc trong tâm. Khi đã giải thoát, không còn gì có thể trói buộc hay cản trở được mình. Mọi việc trong đời không do người khác quyết định, mà đều do chính mình lựa chọn và gánh chịu, là quả báo từ những nhân mà bản thân đã gieo.

Trên đời có người dùng thần thông để xin quẻ, xem bói. Thần thông nhỏ càng mạnh thì ma quỷ càng dễ nhập thân, từ đó có thể giao tiếp với âm giới, dùng vào việc bói toán, nhưng đó không phải là tu tâm.

Tu tâm và thần thông là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Người học Phật phải chân tín, chánh niệm, chánh tu, tuyệt đối không chấp vào thần thông.

Vậy tu tâm là gì?

Tu tâm chính là minh tâm kiến tánh, tu cho tâm sáng suốt, thấy rõ bản tính chân thật của chính mình, mà bản tính ấy chính là Phật tính, Bồ Tát tính. Người tu phải làm chủ chính mình, không để nghiệp lực dẫn dắt sinh tử. Muốn thấy được bản tính, trước hết phải thoát khỏi sự quấy nhiễu của nghiệp, đạt được giải thoát từ gốc rễ, nghĩa là hiểu thấu mọi sự trên đời. 

Trong thế gian, yêu và hận chính là những nguyên nhân khiến con người luân hồi không dứt. Yêu dễ sinh chấp trước, nên kiếp sau phải chịu khổ; Hận nuôi dưỡng oán kết, khiến luân hồi tiếp nối không ngừng. Ví dụ có người nói: “Đời này tôi quá yêu anh/yêu em, kiếp sau chúng ta vẫn làm vợ chồng.” Nhưng ai có thể bảo đảm kiếp sau vẫn là vợ chồng?

Yêu và hận cần được xử lý đúng cách, bằng ba phương pháp giúp thoát khỏi luân hồi:

Thứ nhất là quyết đoán trong đời sống. Từ bỏ những yêu thương không còn đúng đắn, không còn ý nghĩa. Ví dụ, trong mối quan hệ mẹ – con nếu thường xuyên căng thẳng, đứa trẻ này khởi tâm muốn giết mẹ, muốn đuổi mẹ ra ngoài. Thực chất, mối quan hệ giữa những đứa con như vậy với mẹ đều là ác duyên. Lúc này, người mẹ cần có sức quyết đoán, rời xa đứa con, không nên cứ cho rằng mình vẫn là mẹ của nó mà tiếp tục vướng bận, lo lắng. Càng vướng bận thì càng sinh hận; hận tích trong tâm sẽ gieo nhân xấu, đời sau lại tiếp tục luân hồi báo ứng.

Thứ hai là sức cắt bỏ: phải dứt khoát loại bỏ những thói quen xấu, tật xấu và những điều không tốt trong bản thân, tuyệt đối không để lại “khối u độc” trong chính mình.

Thứ ba là “duyên tận lực” – phải tin rằng duyên đã tận thì mới có thể đoạn được yêu và hận. Bất kỳ thành viên nào trong một gia đình cũng đều là một loại duyên; khi duyên hết thì mối liên hệ cũng chấm dứt. Vì vậy, khi yêu và hận đan xen, khiến lòng vừa thương vừa oán, chỉ cần tin sâu vào chữ duyên, con người mới có thể buông xả được.

QUYỂN 1 – TẬP 36
ĐIỀU TÂM TỨC TU THÂN DƯỠNG TÍNH

Hôm nay Sư phụ giảng về “Điều Tâm”. Mỗi người cần học cách điều chỉnh và quản lý tâm lý của chính mình.

Điều tâm vô cùng quan trọng. Người đã khai ngộ cần giữ tâm thanh lương: đầu óc minh mẫn, con người bình tĩnh, tâm luôn ổn định và vững vàng. Mục đích của điều tâm là sửa chữa những thói quen và tính cách chưa tốt của bản thân.

Ví dụ, quý vị bị tiểu đường nhưng vẫn thích ăn socola hay đồ ngọt. Quý vị có thấy thói quen này có lợi không? Những thói quen xấu, không lành mạnh cần được loại bỏ. Điều tâm chính là làm cho tâm được cân bằng. Tu tâm cũng là điều tâm, tức là tu tâm dưỡng tính. Trong Nho gia, việc này cũng được gọi là tu thân dưỡng tính.

Sư phụ nói với các quý vị một phương pháp tu luyện rất hiệu quả để tiến bộ nhanh hơn, đó là cộng tu. Khi tu cùng nhau, người ta dễ tiến bộ hơn. Cùng nhau tu tâm, niệm kinh sẽ giúp hòa với Phật ấn tâm. Vậy Phật ấn tâm là gì? Nghĩa là khi cùng nhau tu tâm, niệm kinh, mọi người đều có Phật tính, đều có khí trường tốt. Khi niệm kinh cùng mọi người, quý vị sẽ nhận được niềm tin, năng lượng, và Phật quang – Phật tâm chiếu rọi vào trong tâm của mình. Nếu một người tự tu, đôi khi sẽ sinh tâm lười biếng, khó giữ Phật trong tâm, vì lúc một mình, từ trường và Phật tính không đủ, cộng với ý niệm cá nhân, Phật Bồ Tát sẽ rời đi. Một người tự tu tâm cũng không thể ngay lập tức đạt được tâm thanh tịnh và tâm tự tại, và nếu tưởng mình đã thanh tịnh, tự tại thì thực ra vẫn chưa hiểu nghiệp lực của chính mình.

Ví dụ, nếu quý vị còn nợ nhiều tiền, thì số tiền kiếm được mỗi ngày thực ra không hoàn toàn thuộc về mình, vì vẫn còn vướng nợ người khác. Câu “Nghiệp lực thị bất khả tư nghị” nhấn mạnh rằng nghiệp lực chuyển hóa theo cảnh giới: tâm chuyển theo cảnh, tâm chuyển theo nghiệp. Chẳng hạn, hôm nay nghiệp báo đến, quý vị sinh tâm hận với một người; tâm sinh sân thì cơ thể cũng bị ảnh hưởng: ăn không ngon, ngủ không yên, nét mặt trở nên dữ tợn, sự nghiệp gặp trắc trở, sức khỏe suy giảm. Đây chính là kết quả của nghiệp lực phát sinh từ tâm hận.

Người đệ tử tu hành theo Sư phụ hôm nay cần hiểu rằng: không nên truy cầu bất kỳ cảm ứng nào. Sư phụ thường nhắc: tu tâm niệm kinh không nhằm tìm thần thông hay cảm ứng, mà để chú tâm ngăn chặn nghiệp xấu đang hiện đời. Nghiệp tích lũy từ nhiều đời sẽ được trả hết; một số nghiệp sẽ kết thúc tự nhiên, giống như hồ sơ thuế sau 5 năm tự động hủy.

Nhưng quý vị cần nhớ kỹ: vì quý vị đang tu hành chánh pháp, Phật và Bồ Tát sẽ gia hộ cho quý vị. Phật Quang chiếu soi trên đầu giúp tiêu trừ những nghiệp chướng nhỏ, đồng thời ngăn chặn nghiệp tích lũy từ nhiều đời xâm nhập vào thân hiện tại. Sư phụ hướng dẫn quý vị niệm “Lễ Phật Đại Sám Hối Văn” nhằm sám hối nghiệp kiếp trước, nhưng cũng chỉ là nghiệp của kiếp trước mà thôi.

Phật và Bồ Tát dạy về nhân quả ba đời: kiếp trước, kiếp này, kiếp sau. Người tu tốt cả ba đời chính là người thiện lành, có tu lực. Với những nợ nghiệp từ kiếp trước, kiếp này cần cố gắng không để nghiệp phát sinh. Niệm “Lễ Phật Đại Sám Hối Văn” giúp tiêu trừ những nghiệp nhỏ và kích hoạt nghiệp lớn; sau đó niệm “Ngôi Nhà Nhỏ” để trả nợ. Đây chính là phương pháp ngăn chặn nghiệp nhiều đời xâm nhập vào đời hiện tại.

QUYỂN 1 – TẬP 37
TÂM VÔ SỞ TRỤ, TU SỬA HÀNH VI CỦA CHÍNH MÌNH

Nghiệp chướng và trược khí vận hành theo luật nhân quả, bám vào linh thể con người, đồng thời ảnh hưởng đến cả linh tính lẫn thân xác. Vì sao nghiệp chướng nhất định phải được tiêu trừ? Bởi vì bất cứ nghiệp chướng nào cũng đều mang theo trược khí, là trường khí không tốt. Trược khí theo quan hệ nhân – quả mà bám vào linh thể con người. Xét theo góc độ Đông y, điều đó chính là làm cản trở sự lưu thông của khí huyết, từ đó sinh ra bệnh tật và đau đớn.

Như Đài Trưởng thường khai thị, khi thân thể tích tụ quá nhiều nghiệp chướng thì kinh mạch bế tắc, khí huyết vận hành bất thông, lâu ngày ắt sẽ phát sinh bệnh tật. Tu hành, tu tâm chính là dùng tâm niệm và hành vi để khai mở, làm sáng tâm linh; khi con người tích lũy nhiều thiện nghiệp, tâm tự nhiên trở nên an ổn, nhẹ nhàng và hoan hỷ. Tu về tâm linh không chỉ dừng lại ở việc tu sửa nội tâm, mà còn là một quá trình khai mở “cửa sổ tâm linh” –  cánh cửa của linh hồn.

Vì Phật pháp quá sâu xa, vô hình vô tướng, không thể nhìn thấy, không thể sờ chạm; nên khi nói với mọi người rằng Phật pháp là tốt, vậy rốt cuộc tốt ở chỗ nào? 

Khi con người rơi vào cảnh khổ đau cùng cực, bất lực tột cùng, thì Phật pháp đã sớm thấm nhập vào trong tâm họ. Nói cách khác, vì sao khi một người khổ nhất, cũng chính là lúc họ dễ khởi sinh lòng tín Phật nhất?

Bởi chỉ khi một người lâm vào cảnh khốn cùng, tuyệt vọng, họ mới có thể nhất thời buông xả, buông được chấp trước, buông được ngã tướng, để chân tâm có cơ hội hiển lộ. Khi nỗi khổ đã đến tận cùng, đó là thứ khổ đau thấu tim gan, đau chạm đến tận bản tánh của con người; lúc ấy Phật tánh chân thật mới có thể hiển lộ, và họ mới thật sự có khả năng tiếp nhận Phật pháp chân chính.

Khi một người đang ở vào lúc thuận duyên, có tiền bạc, không vướng khổ não, thông thường họ khó có thể thật sự chú tâm tu tâm dưỡng tánh. Nhưng khi một người rơi vào cảnh phiền não cùng cực, bất lực tột cùng, nếu quý vị kịp thời đưa tay trợ giúp, thì dễ nhất khiến họ quay về nương tựa nơi cửa Phật. Bởi vì chỉ khi không còn chỗ nương tựa, con người mới có thể tìm cầu và gặp được vị Phật nơi sâu thẳm trong chính nội tâm mình.

“Tánh Không” chính là khi bản tánh khởi dụng trong việc thiện, mà tâm vẫn rỗng rang, vô sở cầu; chỉ khi ấy mới thật sự thấu hiểu thế nào là giúp người bằng chân tâm. Nếu khi giúp người mà trong tâm còn tồn tại mong cầu, thì đối phương tự nhiên cũng sẽ cảm nhận được rằng tâm ấy chưa thuần tịnh, chưa phải chân tâm.

Làm việc thiện mà hữu mục đích, thì không sinh công đức, chỉ chiêu cảm thiện báo mà thôi. Chỉ khi làm việc thiện mà tự quán chiếu, tự thấy được Tánh Không nơi chính mình, thì mới có thể gọi là viên mãn; bằng không, đó chỉ là thiện nghiệp hữu lậu, chứ chưa phải công đức vô lậu. Khi giúp người mà trong tâm vẫn chưa có Tánh Không, thì việc làm tuy là thiện sự, nhưng chưa thể gọi là công đức, bởi căn nguyên vẫn xuất phát từ tâm hữu cầu.

Tu hành, chính là điều Đài Trưởng thường xuyên khai thị cho đại chúng: đó là tu sửa thân – khẩu – ý của chính mình, phải tu trong hành, hành trong tu, tuyệt đối không thể tách rời. “Hành” chính là đem đời sống hằng ngày chuyển hóa thành đạo nghiệp; trong công việc và sinh hoạt thường nhật, không ngừng quán chiếu nội tâm, sửa đổi tập khí sâu dày và những hành vi bất thiện.

Lấy công việc làm đạo tràng, lấy tu hành làm sinh hoạt, tu trong công việc, làm việc trong tu hành, khiến tu và hành dung hợp, hòa nhập trọn vẹn vào đời sống thường nhật. Đừng cho rằng chỉ khi đến Quan Âm Đường mới gọi là tu hành; rời khỏi đó rồi thì tu hành liền gián đoạn. Làm việc không quên tu hành, tu hành không quên công việc; trong sinh hoạt và công việc hằng ngày, mọi lời nói, cử chỉ, hành vi đều là biểu hiện trực tiếp của sự tu hành.

“Tâm vô sở trụ” nghĩa là tâm không an trú cố định ở bất kỳ cảnh giới nào, không chấp trước vào một vị trí, một trạng thái hay một ý niệm. Đặt ở đâu cũng được, không đặt ở đâu cũng được; vô sở trụ, nên vô sở chấp. Tâm không nên quá chú trọng, bám chặt vào một điểm nào. Vậy thế nào gọi là “trụ tâm”? Phàm tâm chú trọng vào tham dục, vào ẩm thực, vào sự nghiệp, hay bất kỳ đối tượng nào, đều gọi là trụ tâm. Tâm vô sở trụ là đối với mọi việc vụn vặt, nhỏ nhặt trong thế gian, không để chúng lưu lại, kết tụ trong tâm thức. Chỉ khi tâm vô sở trụ, mới có thể kiến Phật tánh, minh tâm khai ngộ, khai mở trí tuệ giác ngộ nơi chính mình.

Cuộc đời vốn là sự dung hợp giữa chân thật và mộng ảo. Đời sống tuy là thật, nhưng có lúc lại tựa như một giấc mộng; có khi chỉ trong khoảnh khắc, giấc mộng ấy lại hiện ra vô cùng chân thật. Thực và mộng đan xen, cảnh đời biến hóa vô thường: chân thật mà như mộng ảo, mộng ảo mà lại tựa chân thật. Đài Trưởng mong quý vị làm việc phải thận trọng, nói năng phải dè dặt, giữ tâm tỉnh giác trong từng nhân duyên. Trong cuộc sống hiện thực như mộng ảo này, tuyệt đối chớ tùy tiện gieo nhân.

QUYỂN 1 – TẬP 38
KHI PHIỀN NÃO ĐẾN – VÔ SỞ VỊ

Trong nhân gian, chúng ta thường hay nói một câu là “không sao đâu”. Hôm nay, nâng câu nói ấy lên thành lý luận Phật pháp để giảng giải, thì “vô sở vị” chính là phương pháp diệt trừ phiền não. Nếu đối với bất cứ việc gì quý vị cũng không còn truy cầu, không chấp trước, xem nhẹ được mọi thứ, thì phiền não tự nhiên sẽ không còn. Muốn được như vậy, phải nhìn thấu hết thảy; nếu không nhìn thấu, không buông bỏ được, thì trong tâm vẫn còn “sở vị”. Mọi sự trên thế gian này đều do nhân duyên hòa hợp mà thành; con người sống ở đời chính là đang sống trong nhân duyên. Nhân duyên vốn là tự sinh rồi tự diệt: khi nhân đã khởi, đợi đến lúc duyên chín muồi thì tự nhiên tan mất, không còn tồn tại nữa.

Ví dụ như mẹ sinh chúng ta ra, đến khi chúng ta trưởng thành thì mẹ qua đời; mối nhân duyên giữa chúng ta và mẹ trong đời này cũng theo đó mà chấm dứt, tức là diệt.

Thực ra, giữa mẹ và chúng ta trong suốt một đời chỉ có bấy nhiêu nhân duyên, đó chính là nhân duyên.

Nhân duyên vốn là tự sinh rồi tự diệt: có sinh thì ắt có diệt, sinh và diệt vốn đi cùng nhau, gọi là tự sinh tự diệt.

Đã có sinh ra thì nhất định sẽ có lúc diệt đi. Cũng vậy, con người đã sinh ra thì về sau nhất định sẽ chết. Lại giống như hôm nay quý vị ăn phải thứ không tốt, đã tạo ra cái nhân ấy thì thân thể tất sẽ sinh ra phản ứng khó chịu. Đó chính là đạo lý: có nhân thì có quả.

Nhân duyên, xét theo Phật pháp thì gọi là “pháp duyên”.

Nhân duyên chân chính nhất định sẽ kéo dài vài chục năm, thậm chí vài trăm năm, đó là một sự phát sinh rất tự nhiên. Nhưng dù là nhân duyên kéo dài đến mấy trăm năm thì cuối cùng cũng sẽ tự nhiên kết thúc.

Ví dụ như: hôm nay quý vị yêu thương sâu đậm đến đâu, dù là mẹ hay cha của quý vị, đến một thời điểm nhất định rồi cũng sẽ không còn nữa. Phải ghi nhớ rằng nhân duyên là sự sinh khởi tự nhiên, rồi cũng sẽ tự nhiên diệt đi, tự nhiên tan biến. Vì vậy, đối với bất cứ sự việc hay bất cứ điều gì, cũng không nên xem quá nặng, quá chấp trước.

Trong nhãn quan của người đã khai ngộ hoặc bậc trí giả, nhân duyên vốn không thật có sinh diệt; cái gọi là sinh diệt chỉ là một quá trình liên tục tiếp nối không dứt. Vì vậy, trong Phật pháp, “tự nhiên” được quy về vô sở vị. Những gì đến một cách tự nhiên thì xem là vô sở vị; tự nhiên đến thì tự nhiên đi. Khi có thể chuyển “tự nhiên” thành “vô sở vị”, thì trên thực tế đã siêu vượt sinh diệt: không chấp vào sinh, cũng không chấp vào diệt. Đạo lý này cần được thể ngộ thấu triệt từ nội tâm, chứ không chỉ dừng ở sự hiểu biết trên mặt ngôn từ.

Thoạt nhìn, rõ ràng là có sinh có diệt, vậy vì sao lại nói là không sinh không diệt? Chẳng phải vừa rồi sư phụ đã giảng rằng nhân duyên vốn có sinh có diệt đó sao? Vậy vì sao lại nói là không sinh, không diệt? Thực chất, sinh diệt của nhân duyên chỉ là một loại pháp duyên, mà pháp duyên thì vô cùng vô tận: khi nhân duyên này đã mãn, thì nhân duyên khác lại tiếp tục sinh khởi.

Ví dụ như một người sau khi ly hôn, cho rằng cả đời này sẽ không còn hôn nhân nữa; nhưng khi có người mai mối, tâm niệm lại khởi lên, rồi tiếp tục bước vào một mối nhân duyên mới, yêu đương và kết hôn. Các quý vị thử suy ngẫm xem: như vậy rốt cuộc là có sinh có diệt hay không?

Muốn hiểu rõ, cần phải thấu triệt đạo lý sinh diệt. Rõ ràng trong tâm chúng sinh vẫn còn vô minh, chưa thật sự minh bạch, còn mơ mơ hồ hồ; vậy vì sao trong kinh lại nói: “vô vô minh diệc vô vô minh tận”? Bởi vì vô minh vốn không có điểm tận cùng, cho nên xét theo pháp tánh, cũng không có sinh diệt.

Lại ví dụ như: rõ ràng con người có lão rồi có tử – người già rồi ắt sẽ mất – nhưng trong Tâm Kinh lại nói “diệc vô lão tử tận”, tức là chỉ rõ rằng sự lão–tử ấy, xét theo pháp tánh, vốn không có điểm tận cùng. Khổ nạn của con người cũng như vậy: đời này mệnh chung, đời sau lại tiếp tục thọ sinh, cứ thế luân hồi bất tận.

Rõ ràng là có phiền não –  phiền não của chúng sinh, phiền não do nghiệp lực – những điều ấy hiển nhiên tồn tại; vậy vì sao trong pháp lại nói là “vô phiền não”? Bởi vì khi đã an trụ một tâm đại vô úy, một thái độ vô sở vị, thì khi ấy bản chất của phiền não liền được chuyển hóa. Phiền não không còn đứng trên lập trường của chấp trước, mà trở về với bản tánh vô tự tính của nó.

Hôm nay sư phụ giảng cho các quý vị về “vô sở vị”; một cách lý giải khác của vô sở vị chính là đại vô úy. Đại vô úy là đã nhìn thấu hết thảy, buông bỏ hết thảy; khi ấy, mọi cảnh đều trở nên vô sở vị, vậy còn điều gì để vướng bận nữa? Nếu đối với bất cứ sự việc nào cũng đều vô sở vị, thì phiền não tự nhiên không còn chỗ nương tựa mà sinh khởi.

Thế nhưng, có bao nhiêu người trong đời này thật sự có thể đạt đến cảnh giới vô sở vị mà không sinh phiền não? Mà hết thảy những điều ấy, xét theo Phật pháp, đều thuộc về vô tự tính.

Vô tự tính nghĩa là không có bản tính cố định, không có nguồn gốc căn bản; trong Phật pháp gọi là vô tính. Bởi vì vạn pháp đều là vô tính, cho nên xét đến cùng vốn không thật có, rốt ráo đều quy về không.

Phiền não cũng giống như một con nhện, tự mình đang giăng một tấm lưới cho chính mình; tấm lưới ấy chính là lưới phiền não . Phiền não càng nhiều, tấm lưới được giăng ra càng lớn; nếu cứ đem toàn bộ phiền não chất chứa trong tâm, thì tấm lưới ấy sẽ ngày càng mở rộng, và bản tính chân thật bị che lấp, đánh mất càng nhiều.

Vì vậy, chớ để những phiền não của mình, như con nhện kia, dệt nên một tấm lưới trong tâm. Tấm lưới ấy cũng được gọi là lưới oán kết, bởi lẽ mọi phiền não đều do nhân duyên hòa hợp mà sinh

Ví dụ như có những người con không hòa hợp với cha mẹ: con oán hận cha mẹ, cha mẹ cũng oán hận con; càng oán hận thì tấm lưới ấy càng bị dệt lớn.

Tấm lưới đó chính là lưới nhân duyên. Việc con cái đối xử không tốt với cha mẹ, xét đến cùng, đều là do nhân duyên từ quá khứ mà ra.

Khi quý vị cho rằng nhân duyên là một thứ hoàn toàn chân thật, thì trong tâm mới sinh ra được–mất. Sư phụ thường giảng rằng: phàm những gì có sinh có diệt thì ở nhân gian đều không thể lâu dài; mà những gì không thể lâu dài ở nhân gian thì đều là giả. Vì thế, nhân duyên vừa là thật, lại vừa là giả.

Nếu quý vị không đặt phiền não vào trong tâm, thì tự nhiên sẽ không có phiền não.

Phiền não từ đâu mà sinh ra?

Chính là vì quý vị đặt nó trong tâm, lại đặt phiền não ở vị trí quan trọng nhất trong lòng, cho nên mới không ngừng sinh khởi ngày càng nhiều phiền não.

QUYỂN 1 – TẬP 39
SẮC TỨC THỊ KHÔNG, KHÔNG TỨC THỊ SẮC

Thân xác là huyễn; thân xác của chúng ta chỉ là huyễn ảnh, là giả tạm. Hôm nay còn có thân để ăn, để uống, để mặc y phục…, nhưng khi hơi thở chấm dứt, thân xác ấy liền tan rã, không còn tồn tại — chẳng phải cũng như một bóng huyễn đó sao? Phật pháp giảng rằng: thân như huyễn ảnh, thân xác chỉ là giả hợp. Thân thể vật chất này vốn không có tự tánh, bởi hoàn toàn chịu sự chi phối của linh hồn. Linh hồn có thể khiến thân xác khổ đau, cũng có thể khiến thân xác chịu thống khổ; vì vậy thân xác không có quyền tự chủ, không có tự tánh chân thật.

Khi nhân duyên đã mãn, thân xác này cũng theo đó mà hoại diệt; mọi duyên phận đều tan rã, vậy còn điều gì đáng để sợ hãi? Trong thế gian, hết thảy vạn sự vạn vật đều vận hành giữa có và không: cái có rồi cũng sẽ trở về không, cái không lại có lúc duyên hội mà thành có — đó chính là đạo lý “sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Những gì chỉ là giả tạm trong một giai đoạn nhân duyên, tuyệt đối chớ lầm cho là vĩnh hằng.

Con người sống giữa thế gian cần quán chiếu vạn sự vạn vật đều là động, đều là biến; chỉ khi thấu rõ tính vô thường ấy, tâm mới không sinh chấp trước. Phải lấy tư duy khai ngộ mà soi chiếu cõi nhân gian, khi ấy mới có thể nhận ra Phật tánh nơi chính mình. Sư phụ thường khai thị: hãy nhìn thấu hồng trần, nhưng không được lìa bỏ hồng trần; mà phải mượn cái giả của thế gian để tu cái chân của tự tánh.

Muốn tìm lại Phật tánh chân thật nơi chính mình, nhất định phải tu tâm song hành với học Phật. Quý vị cần chân thành tinh tấn tu hành, tu với tâm khát cầu đạo pháp như người đói khát tìm thức ăn, nước uống. Rất nhiều người tuy đang tu tâm và làm việc thiện, nhưng điều họ tích lũy được chỉ là nhân thiên phúc báo. Nay dạy quý vị tu công đức: công đức chỉ thật sự sinh khởi khi đã thấy được Phật tánh của chính mình; chỉ khi xuất phát từ Phật tánh mà phát khởi mọi hành vi, thì những việc làm ấy mới gọi là công đức chân thật.

Phàm những gì phát khởi từ bản tánh và lương tâm thanh tịnh đều gọi là công đức; công đức chân thật chính là công đức không nhiễm ô. Ví như hôm nay đi giúp đỡ một người, muốn thành tựu công đức chân chính, thì trong tâm không được khởi lên dù chỉ một mảy may nhiễm trước, không nghĩ đến bất kỳ sự hồi báo nào. Nếu khi giúp người mà trong tâm còn xen lẫn ý niệm, quan điểm hay tâm cầu mong, thì đó không phải là công đức. Cần phải ghi nhớ: công đức nhất định phải xuất phát từ tâm thuần khiết.

Làm việc thiện để tu nhân thiên phúc báo cũng là điều đáng quý. Một người có thể phát tâm làm việc thiện, chiêu cảm được nhân thiên phúc báo, tức là đã bắt đầu tiếp xúc với Phật tánh, là khởi điểm của quá trình nhận thấy Phật tánh nơi chính mình. Khi mới bước vào con đường làm thiện, làm điều tốt, dù trong tâm còn xen lẫn mong cầu nhân thiên phúc báo, thì trên thực tế người ấy đã bước đầu tiếp cận Phật pháp. Bởi lẽ, chỉ người có thiện tâm và lương tri mới có thể khởi tâm làm việc thiện. Người lương tâm bất thiện thì ngay cả thiện sự cũng không chịu làm; những kẻ chỉ biết cầu thủ mà không biết bố thí, chỉ biết nhận lấy mà không biết cho đi, là người không có thiện tánh, không có lương tâm, và cũng không thể chân thật hành thiện.

Con người vốn mang tập khí căn cơ thấp kém. Khi nội tâm không muốn lắng nghe ý kiến của người khác, trong ý thức liền tự nhiên hình thành một lớp chướng ngại, dựng lên hàng rào che chắn, đẩy những quan điểm trái ý ra ngoài và không chịu tiếp nhận. Lớp chướng ngại ấy chính là căn nguyên của nghiệp chướng. Khi một người không thể tiếp nhận lời khuyên hay ý kiến của người khác, thì trí tuệ và mức độ giác ngộ của họ đang ở vào trạng thái thấp nhất, tức là chưa khai ngộ. Sư phụ gia trì cho quý vị không phải để tăng thêm phúc báo hữu lậu, mà là để giúp quý vị khai mở trí tuệ, tăng trưởng giác ngộ và nâng cao cảnh giới tâm linh.

Sư phụ gia trì cho quý vị cũng giống như chư Phật, Bồ Tát gia trì cho quý vị vậy. Những gì quý vị nhìn thấy chỉ là nhục thân của Sư phụ đang gia trì, nhưng điều then chốt là quý vị phải cảm nhận được sự cảm ứng của Phật tánh giữa Sư phụ và chính bản thân mình. Chỉ khi có niềm tin sâu sắc thì sự gia trì mới có thể sinh khởi. Sự gia trì của chư Phật, Bồ Tát là vô hình vô tướng, gia trì trực tiếp vào ý thức và tâm niệm của con người; nếu không thể cảm nhận được, thì chứng tỏ giác ngộ vẫn chưa đầy đủ. Phật, Bồ Tát có gia trì mà quý vị không cảm nhận được, thì cũng không thể tiếp nhận được sự gia trì ấy. Còn Sư phụ gia trì cho quý vị, ngoài việc khai mở tâm linh, còn có một lợi ích khác, đó là có thể chữa bệnh và hóa giải tai ương.

Người tu hành, ngoài nỗi sợ hãi sinh tử ra, điều đáng sợ nhất chính là ma chướng. Tu hành mới đi được nửa chặng đường mà ma chướng hiện tiền, rất dễ khiến tâm người hoảng loạn, sợ hãi đến tột độ. Ma vốn là thứ chuyên đến quấy nhiễu, phá hoại người tu. Nhưng trong quá trình tu hành, nếu gặp ma chướng, nhất định phải giữ tâm “bất động”; trong Phật pháp gọi là như như bất động – bất luận gặp cảnh giới nào, tâm cũng không dao động. Phải thấu hiểu đạo lý Tánh Không, bởi ma vốn không có tự tánh, không có Phật tánh, cũng không có bản nguyên chân thật; bản chất của nó chính là không. Vì vậy không cần sợ ma: ma là không, là vô tự tánh. Chỉ có linh hồn mới là hữu tự tánh mà thôi.

Chính vì vậy, trong tâm mỗi người đều cần kiến lập một đạo tràng như như bất động – đó chính là đạo tràng của vô ngã tướng. Nếu trong tâm quý vị, trước mọi cảnh duyên đều có thể giữ được như như bất động, quán chiếu các pháp đều là không, thì ngay nơi nội tâm ấy đã hiện tiền một đạo tràng của Phật. Đạo tràng này là một không gian thanh tịnh, trong sạch và trang nghiêm, nơi ma chướng không có chỗ nương trú; vì thế tâm tự nhiên an định, không dao động. Mỗi người đều phải kiến lập một đạo tràng trong chính nội tâm mình, và đó phải là đạo tràng của Phật; như vậy thì ma chướng làm sao có thể xâm nhập? Nếu tự thân không giữ vững được đạo tràng nội tâm, ma chướng ắt có cơ hội xâm lấn. Còn khi chính khí trong tâm hạo nhiên, chánh niệm đầy đủ, thì ma chướng làm sao có thể đến gần?

QUYỂN 1 – TẬP 40
TAM GIỚI VỐN NHƯ ẢO, PHIỀN NÃO TỨC BỒ ĐỀ

Tam giới chính là đạo tràng, có thể xem là nơi không có chỗ để chấp trước hay nương tựa. Tam giới gồm Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới. Cần quán chiếu tam giới như một đạo tràng thanh tịnh, và kiến lập tam giới ấy ngay trong tâm mình. 

Khi tâm không đắm nhiễm, không xem tam giới là nơi đáng ưa thích hay nương tựa, thì ngay tại nơi tâm ấy đã hiện tiền một đạo tràng thanh tịnh. Phải quán chiếu tam giới, liễu ngộ rằng đời sống con người vốn vô tự tánh, và tam giới chỉ là cảnh giới sắc – không. Nếu có thể nhìn toàn bộ tam giới chỉ là hư không huyễn hóa, sẽ không bị cuốn vào, không sa lầy trong đó. Ví như việc uống rượu: có thể xem là một sự hưởng thụ, nhưng nếu quá nhiều sẽ say, dễ bị cuốn vào. Phàm những gì gọi là hưởng thụ, nếu tâm còn đắm nhiễm, đều dễ khiến con người chìm đắm và sa lầy.

Phiền não tức là Bồ đề, tam giới là đạo tràng. Phiền não khởi sinh chính là để khai mở trí tuệ nơi quý vị. Vì sao chỉ khi có phiền não trí tuệ mới sinh khởi? Nếu không có phiền não, làm sao trí tuệ có thể phát hiện? Chính là phải biết lợi dụng phiền não để khai mở trí tuệ nơi bản thân. Bản tánh chúng sinh vốn vô ngã, không có “ngã” riêng; do đó phải phát Bồ đề tâm và giữ tâm thanh tịnh. Bồ đề tức là trí tuệ; khi sở hữu trí tuệ Bồ đề, phiền não sẽ không khởi sinh. Hãy ghi nhớ rằng, tam giới đều là đạo tràng để tu tâm.

Sư phụ cũng sẽ sơ lược nói đôi điều về cảnh giới Thiên Sắc Giới cho quý vị nghe. Thiên Sắc Giới bốn phương tràn ngập tiếng chim hót, hương hoa và muôn sự vi diệu. Trong đó còn có những âm nhạc tuyệt diệu: vui trong vi diệu, hành trong vi diệu, đẹp trong vi diệu, thơm trong vi diệu, tất cả đều hòa nhập trọn vẹn trong diệu pháp. Tuy nhiên, những cảnh giới tuyệt diệu này cũng không bền lâu; các Thiên nhân vẫn phải trải qua năm lần suy tàn, hết phúc thọ sẽ giáng xuống. Cảnh giới của Phật, Bồ Tát là để thấy rõ bản chất hư ảo của chúng; người thực sự có cõi sáng minh phải nhìn thấu điều này. Sư phụ thường dạy rằng, mọi vật chất không bền lâu đều là hư ảo. Tam giới luân hồi là cảnh giới: khi sinh lên trời rồi cũng sẽ giáng xuống, tức là luân hồi sáu cõi. Dù ở bất cứ cõi nào, đó cũng chỉ là một cảnh giới; mọi cảm nhận đều thuộc về chính mình, và tất cả thuần là hư ảo.

Tam giới luân hồi hoàn toàn là hư ảo: một niệm thiện sẽ thăng lên, một niệm ác sẽ giáng xuống. Bồ Tát thì vô ngại, nên không bị cuốn vào bất cứ cảnh giới nào; bất cứ cảnh giới nào cũng đều có thể được giải thoát. Chỉ khi quý vị không bị cuốn hút, không còn ý niệm chấp trước vào tam giới, thì mới có thể giải thoát khỏi mọi cảnh giới. Thấu hiểu như vậy, trí tuệ sẽ vô ngại; nếu mỗi người nhận thức sự việc mà không còn chướng ngại, thì sẽ thuận lợi, vô ngại, không có đối lập. Muốn đạt đến trạng thái vô trệ, vô ngại, khi trong tâm thức thực sự phá trừ tất cả những vọng niệm, thì sẽ không còn chướng ngại gì nữa.

Duyên đến là do nguyện lực mà đến; duyên phận phát sinh từ nguyện lực của chính mình. Nguyện lực càng lớn, thiện duyên tự nhiên đầy đủ. Vì thế, nếu có thể nhận ra sự gian trá của người khác mà không tỏ ra ngoài lời nói; nếu có thể chịu nhục mà không động sắc mặt, đạo Phật đã rất gần. Biết người khác lừa dối mà không phản ứng, chỉ mỉm cười; chịu nhục mà không nổi giận, tinh tấn nhẫn nhục — nếu một con người giữ được vài chữ này trong đời, thì việc học Phật đã tiến gần đến thành tựu. Khi cảnh giới đến, không sợ hãi; đến đi đều không bám giữ, mọi sự đều thuận theo duyên, tâm tự nhiên tự tại, không buồn phiền. Khi biết buông bỏ duyên phận, lập tức được giải thoát.

Nếu quý vị là người có trí tuệ, sẽ không bao giờ trách móc người khác; trước khi xét lỗi người khác, hãy tự kiểm điểm chính mình. Sư phụ dạy rằng: thông minh đã khó, khờ dại càng khó hơn. Trong cõi nhân gian, học thông minh đã rất khó, học cách khờ dại lại càng khó. Vì vậy mới có câu: “Khó được khờ dại.” Cái khờ dại này là khờ dại của người thông minh, có trí tuệ; người thật sự buông bỏ thì không còn khờ dại, còn kẻ thật sự khờ dại thì lại không thể buông bỏ.

Tóm lại, khi thất vọng hay bất mãn, hãy dùng nhẫn nhịn để chế ngự; khi vui sướng hay thuận lợi, hãy dùng tâm thái bình thản để điều hòa. Khi vui vẻ hay gặp chuyện tốt, nên giữ tâm trung dung, không để lòng bị tăng giảm, đó mới là dấu hiệu của bậc nhập đạo, là người có tu dưỡng thực sự.

QUYỂN 1 – TẬP 41
DUNG HÓA PHẬT PHÁP, THÔNG SUỐT KHAI NGỘ

Học Phật, học pháp cần lấy một chữ “hòa” làm chuẩn. Phật pháp dù học giỏi đến đâu, nếu không hòa nhập và thông suốt, cũng coi như học vô ích. Có những người bề ngoài tưởng đang học, nhưng chưa thật sự hòa Phật pháp vào tâm, chưa để Phật pháp thấm nhập vào hành vi và tu dưỡng, dẫn đến tu hành mà vẫn chưa khai ngộ.

Vậy làm thế nào để dung hóa Phật pháp? Trước hết cần vận dụng Ý Thức Vũ Trụ. Ý Thức Vũ Trụ chính là không gian tư duy của quý vị phải rộng lớn tựa Vũ Trụ. Khi quán chiếu, phải đồng cảm với nỗi khổ của toàn nhân loại; tâm phải bao la như Vũ Trụ, cảm giác và trải nghiệm cũng rộng lớn như không gian vô tận. Mọi khổ đau phát sinh đều phải được cảm nhận như khổ đau của chính bản thân: người khác đau, quý vị cũng đau, từ đó sinh khởi Từ Bi Tâm. Chỉ khi có nhận thức và cảm thọ như vậy, quý vị mới thật sự dung hóa Phật pháp vào tâm và tư duy. Chỉ khi ấy, quý vị mới có thể dung hóa tinh túy Bồ Tát, thấu triệt nhập tâm, nhờ vậy mới tri túc thường lạc, an nhiên tự tại.

Nhưng nếu không học Phật, mấy ai có thể sở hữu tấm lòng bao la như vậy? Con người vốn là sinh vật có tư duy cao cấp, khác biệt lớn nhất giữa người và loài vật chính là khả năng tư duy. Khi học Phật, ta học tư duy Phật, chính là dung nhập. Cần vận dụng Ý Thức Vũ Trụ để tư duy, biến tư tưởng của Phật, Bồ Tát hòa nhập vào đời sống mỗi người, bao dung toàn thể chúng sinh, thậm chí toàn vũ trụ. Chỉ khi tư duy rộng lớn như vậy, mới thực sự là tư duy Phật.

Sư phụ mỗi ngày giảng pháp, pháp âm lan tỏa đến khắp mọi góc trên thế giới, đến với từng chúng sinh hữu duyên. Chỉ cần có duyên biết đến blog của Sư phụ, biết sử dụng internet, đều có thể nhìn thấy Sư phụ và nghe được pháp âm của Sư phụ. Đây chính là nhân duyên học Phật, là trí tuệ của chư Phật và Bồ Tát, có khả năng bao dung tất cả chúng sinh hữu duyên trong thế gian, để ai nấy đều có cơ hội học Phật pháp. Đồng thời, nhờ đó mà những tội nghiệp đã tạo từ nhiều đời trước được hóa giải và tha thứ, giúp chúng sinh hiểu rõ đạo lý, giảm bớt khổ đau và phiền não, học được cách dung hoá Phật pháp vào đời sống, thấu hiểu sự vận hành của vũ trụ, đạo lý vũ trụ và các nguyên lý của trời đất.

Ví dụ: Ai lại muốn ủng hộ sát nhân? Ai lại mong chiến tranh? Con người vốn dĩ hòa vi quý, yêu chuộng hòa bình; những ai không yêu hòa bình chính là đi ngược đạo lý thường tình, trái với đạo lý vận hành tự nhiên của vũ trụ. Chúng ta cần biết dung hợp tư duy của mình với cảnh giới Phật, Bồ Tát; trong không gian vũ trụ, trong chân lý vĩ đại ấy, soi chiếu và định hướng hành trình đời sống của bản thân, thì sẽ không đi sai đường. Con người phải học cách thấu triệt và bao dung; mọi việc đều cần bao dung nhẫn nhịn, lấy đó làm chuẩn mực hành xử.

Ví dụ, khi người khác phạm lỗi, quý vị cần thấu hiểu, tha thứ và bao dung họ. Nhưng như Sư phụ vừa giảng, “dung” là hòa nhập sâu vào tâm, là hòa tan Phật pháp vào chính tâm mình. Còn “nhẫn dung” chỉ là một điểm, một điều kiện, nhưng không đồng nghĩa với việc Phật pháp thực sự đã thấm nhập vào tâm quý vị; nhẫn dung chỉ là điều kiện, còn dung mới là khi quý vị thực sự sở hữu trí tuệ Phật.

Chúng ta cần có khả năng tiếp nhận Phật quang từ trời cao chiếu xuống. Phật quang phổ chiếu, như ánh sáng mặt trời, soi rọi đến mọi ngóc ngách. Có câu: “Phật quang phổ chiếu” – ánh sáng Phật thường tồn tại, chỉ vì quý vị chưa thấy, chưa tiếp nhận được. Tại sao không cảm nhận được? Bởi nghiệp chướng sâu nặng, tâm còn ô nhiễm nên chưa khai ngộ Phật quang. Tâm còn nhiều ô uế, như quý vị ở trong căn phòng, đóng kín hết cửa ra vào, kéo kín rèm. Khi ấy, quý vị còn thấy ánh nắng bên ngoài chăng? Còn tiếp nhận Phật quang trong tâm chăng?

Chẳng lẽ Phật, Bồ Tát nói “Phật quang phổ chiếu” là sai sao? Không, Phật quang phổ chiếu là thật. Chỉ vì quý vị đã đóng kín cửa sổ, cửa ra vào, nên chưa thể tiếp nhận Phật quang. Do đó, phải ghi nhớ: khi Phật quang chiếu đến, cần phải tiếp nhận, và thân thể lẫn tâm hồn phải thật trong sạch mới có thể tiếp nhận ánh sáng Phật.

Nếu Phật quang phổ chiếu mà quý vị không tiếp nhận được, gọi là “vô duyên”. Ánh sáng mặt trời chiếu tới đâu, nơi đó sáng; nhưng nếu quý vị ẩn trong căn phòng, ánh sáng mặt trời không chiếu vào. Người ẩn trong phòng ấy, giống như nghiệp chướng che phủ tâm, nên không thấy ánh sáng, không cảm nhận được mặt trời – gọi là “chúng sinh vô duyên”.

Phật quang phổ chiếu, ánh sáng này chiếu vào thân thể qua toàn thân các huyệt vị và kinh mạch. Khi chiếu đến thân thể, nếu có bệnh tật, bệnh sẽ được từ từ hóa giải và chữa lành; các huyệt vị, kinh mạch cũng sẽ từng bước được khai thông.

Sư phụ thường dạy các con nên ra phơi nắng, để ánh nắng chiếu vào lưng, rất có lợi và đem lại cảm giác dễ chịu. Nếu thân thể được thanh tịnh khỏi bệnh tật, không còn làm ác, không tạo nghiệp, thì thân xác sẽ từ từ chuyển hóa thành Pháp thân – thân thể thanh tịnh, trong sạch. Pháp thân chính là thân thể mà con người vốn nên sở hữu.

Pháp thân cần được tu luyện; sau khi tu luyện, thân phải thanh lọc hết nghiệp chướng, hoàn toàn thanh tịnh, để có thể lưu giữ trường năng lượng từ bi, khiến mọi hành động đều linh nghiệm. Pháp thân còn gọi là thân thanh tịnh.

Nhân thân ai cũng có lậu, nhưng lậu không nhất thiết chỉ phát xuất từ các cơ quan vật lý của thân. Tâm thần cũng có thể phát lậu; ví như khi tâm nghĩ những điều bất thiện, công đức sẽ bị thất thoát. Khi niệm kinh mà ý niệm không tập trung, tinh thần cũng phát lậu. Lậu trên thân thể biểu hiện qua việc hành ác, làm điều xấu.

Lậu ở nhân thân không chỉ là lỗ hổng ở cơ quan vật lý, mà còn biểu hiện ở tai nghe lời bất thiện, miệng nói lời ác, tinh thần và tâm trí cũng đều phát lậu. Khi tâm thần phát lậu, cơ quan cũng phát lậu; ngược lại, cơ quan bị lậu cũng đồng nghĩa với tâm thần phát lậu. Tinh thần ảnh hưởng đến thân thể: nếu ý niệm thường xuyên phân tán, đầu óc luôn động não, tâm trí khó chịu, tinh thần sẽ bị lậu, cơ thể mệt mỏi, đau dạ dày, đau tim… Thân thể không khỏe lại tác động trở lại tinh thần, và tinh thần lại ảnh hưởng đến thân thể.

Vì vậy, người tu hành chân chính là người hợp nhất hai thành một, gọi là “nhất thể song tuệ”. Trong một thể này bao hàm cả linh thể lẫn vật thể. Song tuệ gồm mệnh tuệ và thân tuệ: mệnh tuệ là mệnh mạng, linh hồn của quý vị, là sự kết hợp của nghiệp lực từ các đời trước; thân tuệ là thân xác vật chất, cũng là sự hội tụ của nghiệp lực quá khứ.

Tu song tuệ là phải tu cho thân xác vật chất được thanh tịnh, không dùng thân tạo nghiệp ác – đó là thân tuệ; đồng thời phải tu cho thân linh, tức tinh thần, được trong sạch – đó gọi là nhất thể song tuệ, hay còn gọi là nhất thể song tu.

QUYỂN 1 – TẬP 42
DÙNG TÂM THANH TỊNH KHAI PHÁT KHO BÁU NỘI TẠI CỦA TỰ THÂN

Trong Phật pháp thường dạy phải tu thân, tu tâm. Thân tâm là sắc thân và tâm linh, hai mặt này nhất định phải song tu. Song tu vốn không phải việc dễ thành tựu. Có những người chỉ tu nơi thân, chỉ làm việc thiện bên ngoài, nhưng tâm linh không được thăng hoa, cảnh giới không nâng cao, nên vẫn chưa đạt đến chân tu thực chứng.

Có những người sẵn lòng lao động, chịu khổ vì chủ nhân, nhưng không chịu nổi lời quở trách hay chê bai; bên ngoài hành động có vẻ thiện, nhưng bên trong tâm lại bất an, tâm cảnh không nâng cao. Đây gọi là đơn tuệ, tức trí tuệ thiên lệch, chỉ tu được một mặt.

Ngược lại, có những người chỉ thích suy nghĩ, tính toán, lo toan nhiều chuyện, nhưng không chịu hành động thực tế, không dám trải nghiệm, chỉ nói mà không làm. Đây gọi là vô trí, tức không có trí tuệ chân chính. Khởi ác niệm, làm việc ác, tạo việc thiếu đức, đó là vô trí vô đức. Vô đức thì trái đạo, vô trí thì lạc lối; đã không có đạo hạnh, lại chẳng trí tuệ, rốt cuộc công đức chẳng thành, lợi ích cũng không đạt.

Có pháp môn thiên tu thân, có pháp môn thiên tu tâm; nhưng chỉ tu thân mà không tu tâm, hành thiện mà tâm chẳng khai; chỉ tu tâm mà không tu thân, niệm nhiều mà hạnh thiếu. Pháp môn chân chính phải là thân tâm song tu, nội ngoại tương ứng, trí hạnh viên dung: thân hành thiện pháp, tâm chứng giác đạo.

Tu thân, ví như chăm sóc người già yếu, tàn tật, hành thiện, bố thí, nhưng nếu không tu tâm, không niệm kinh, thì công đức chưa viên mãn.

Tu tâm, ví như chuyên cần niệm kinh, tu tâm, chỉ lo thanh tịnh tự tâm, mà không giúp người, không lợi tha, thì tâm hạnh cũng còn hạn chế. 

Vì vậy, chân chính tu hành không chỉ dừng ở việc niệm kinh, tọa thiền để an định tâm linh, mà còn phải thường hành thiện pháp, lợi tha cứu người, tích lũy công đức, cứu độ chúng sinh. Chỉ khi kết hợp cả hai mới xứng gọi là Phật pháp Đại thừa chân thật.

Tiếp theo, Sư phụ sẽ giảng rõ bốn chỗ mà tâm thường sinh lậu. Phàm người tu tâm, ai cũng khó tránh khỏi các lậu này.

Thứ nhất là Ái – ái khởi từ dâm lậu. Khi trong tâm sinh khởi tình ái, tư tưởng liền tán loạn, vọng niệm dấy lên, tâm lý dao động, khiến tâm không thể an định; đó chính là tâm đã phát lậu. Vì vậy, hễ tâm còn ái trước, tất nhiên sẽ dẫn đến dâm lậu.

Thứ hai là Tham — tham khởi từ thần lậu.

Người thường khởi tâm tham thì tư tưởng khó được chuyên nhất, ý niệm phân tán; thần hồn bất định, hồn phách không toàn, tinh thần tán loạn, khó giữ sự tỉnh giác. Khi một niệm tham vừa sinh, thần thức liền mê mờ, không còn minh bạch, đó chính là thần lậu. Vì vậy, trên phương diện tinh thần, tuyệt đối không nên khởi tham; hễ tham niệm dấy lên, tâm liền phát lậu, gọi là thần lậu.

Thứ ba là Bất chánh kiến – lậu phát từ những lỗ chân lông nhỏ li ti. Bất chánh kiến nghĩa là nhìn nhận sự việc không đúng chánh kiến, nhận thức sai lệch, lý giải lệch lạc. Khi tư tưởng khởi tà, lệch, liền sinh ra sân tâm; vừa sinh sân, khí huyết trong người sẽ nghịch hành, huyết áp tăng cao, chính khí trong thân bị tán thất, rò rỉ qua các lỗ chân lông. Hiện tượng này giống như khi con người nổi giận, khí từ miệng phun ra liên tục; vì nội tâm tích tụ tà khí, nên tất phải tìm đường thoát ra ngoài.

Ví dụ, dung mạo của mỗi người đều tùy tâm mà biến đổi. Một khuôn mặt vốn đoan chánh, nếu thường xuyên khởi bất chánh kiến, suy tư tà lệch, lâu ngày dung nhan sẽ trở nên thô xấu, khó coi. Các lỗ chân lông là nơi biểu hiện sự chuyển hóa ấy trên da thịt và thân thể. Người mang bất chánh kiến sẽ khiến chính khí suy tổn, còn tà khí uế trược tích tụ trong thân; lâu ngày kết thành sân khí, âm thầm tổn hại cả thân thể và tâm thức.

Những điều Sư phụ khai thị đều là Phật pháp nhập thế, là Phật pháp ứng dụng ngay trong đời sống thường nhật.

Thứ tư là Vô minh – khởi từ khẩu lậu.

Vô minh tức là không minh bạch, không liễu giải; do vô minh mà phát sinh các hành vi tâm lý tà lệch, như chửi mắng, vọng ngữ, ác ngôn. Vì thế mới nói: vô minh phát sinh từ khẩu lậu.

Cần biết rằng, khẩu là nơi phát lậu nghiêm trọng bậc nhất. Những lời nói phát ra từ miệng chính là chỗ làm tiêu tán công đức, đồng thời cũng rất dễ tạo thành khẩu nghiệp. Do không minh lý, do bất chánh kiến, nên miệng mới buông lời hồ đồ, nói năng bừa bãi, từ đó chiêu cảm họa khẩu nghiệp. Miệng chính là nguồn phát sinh họa hoạn. Cổ nhân có câu: “Họa tòng khẩu xuất, bệnh tòng  khẩu nhập.”

Vì vậy, khẩu nghiệp phải được nhiếp hộ cẩn mật; chỉ một lời nói thiếu chánh niệm cũng có thể chiêu cảm họa sát thân. “Nhất ngôn hưng bang, nhất ngôn táng bang” — đều là lời chân thật, tuyệt chẳng phải hư ngôn. Thật ra, khẩu lậu chính là tâm lậu.

Sư phụ vừa khai thị về bốn lậu này, tất thảy đều phát xuất từ tâm. Vì vậy, người tu hành chân chính cần giữ tâm thanh tịnh, bắt đầu từ bốn chỗ ấy mà nhiếp hộ, kịp thời bịt chặn các lậu, không để tâm mình tiếp tục rò rỉ, tán thất công đức.

Con người tu học Phật pháp nhất định phải có tịnh tín. Tịnh tín chính là dùng tâm thanh tịnh để tin sâu, tin trọn Phật pháp; là sự tin tưởng phát xuất từ tâm chân thành, không xen tạp, không nghi hoặc, không dao động. Chỉ khi có tịnh tín, sự tu hành mới có căn bản vững chắc, mới có thể tiến tu lâu dài mà không thối chuyển. Vậy thì tịnh tín rốt cuộc có lợi ích ở chỗ nào?

Tịnh tín có thể trợ giúp hành giả tăng trưởng năng lực, gia tăng công lực.

Công lực của người tu hành chính là nương nơi tịnh tín mà sinh khởi, mà tích tụ. Vì vậy, phải toàn tâm toàn ý tin sâu Quán Thế Âm Bồ Tát, lấy chân thành tín tâm làm gốc, không xen tạp vọng niệm, không khởi một mảy may nghi hoặc. Khi quý vị có thể hoàn toàn tín thọ việc này, trong tâm liền sinh khởi một nguồn năng lực vô cùng mạnh mẽ.

Ví như có người mắc trọng bệnh, như ung thư, nếu trong tâm kiên cố tin rằng: “Quán Thế Âm Bồ Tát nhất định sẽ cứu con, nhất định sẽ không để con mất đi”, chỉ cần lực tín chân thật, thuần khiết và kiên định, thì Bồ Tát tất sẽ từ bi gia hộ, ứng hiện cứu độ người ấy.

Chính lực tịnh tín này có thể chuyển hóa cảnh giới, đối trị bệnh khổ, khiến nghiệp bệnh dần được chế phục; đồng thời phát sinh một nguồn lực thần kỳ, giúp con người kiên cường đối diện và vượt qua khổ nạn của thân và tâm.

Trong tịnh tín còn bao hàm hai loại tín tâm mà người tu học nhất định phải ghi nhớ rõ ràng:

Thứ nhất, Vĩnh cửu tín

Đối với pháp môn này, đối với chư Phật, chư Bồ Tát, phải khởi tâm vĩnh cửu tín thọ, trước sau như một, tín tâm kiên định, không thoái chuyển. Chỉ có vĩnh cửu tín mới có thể thành tựu đạo nghiệp, cũng chỉ có vĩnh cửu tín mới duy trì và bảo hộ tịnh tín lâu dài. Một khi tín tâm gián đoạn, tịnh tín liền khó giữ trọn.

Thứ hai, Thực chứng tín

Thực chứng tín là tự thân tu hành, chứng nghiệm, chân thật xác chứng rằng con đường này là chánh đạo, pháp môn này là khả hành, khả chứng. Khi đã có thực chứng tín, tín tâm liền trở nên kiên cố; tín tâm kiên cố, tịnh tín mới chân thật sinh khởi.

Muốn khai phát kho tàng thân tâm của chính mình, trước hết phải biết khai mở kho tàng nơi thân thể và kho tàng nơi tâm linh.

Quý vị theo Sư phụ học Phật pháp, Sư phụ mong muốn khai phát kho tàng nơi thân của quý vị, kỳ thực chính là khai mở trí huệ nơi linh hồn, đánh thức lục thông tiềm ẩn trong tự tánh của mỗi người.

Tuy nhiên, lục thông tuyệt đối không thể cưỡng cầu mà khai, mà phải thuận theo nhân duyên, để các năng lực ấy tự nhiên hiển lộ trong quá trình tu tâm, tu hạnh. Một khi cưỡng ép khai phát, tất sẽ sinh sai lệch; sai lệch nơi năng lực, tức là vấn đề nơi tinh thần, mà tinh thần đã xuất vấn đề, thì tư duy tất rối loạn, đường tu liền dễ lệch hướng, lạc đạo.

Khai phát kho tàng nơi thân, ví như: tay nghề khéo léo, biết đàn, biết đan dệt, biết đánh máy… tất thảy đều là những năng lực tiềm tàng của sắc thân. Còn kho tàng tinh thần, chính là kho tàng nơi tâm linh. Khi kho tàng tâm linh ấy được khai mở từng phần, từng bước, thì các hiển hóa sẽ tự nhiên xuất hiện, không cầu mà đến, không ép mà sinh.

Đây chính là điểm then chốt mà Sư phụ hôm nay muốn khai thị cho quý vị:

Thông qua niệm kinh tu tâm, tâm linh của quý vị sẽ dần dần bắt đầu hiển hóa. Nhưng tâm linh ấy nhất định phải thanh tịnh, nhất định phải từ thiện, nhất định phải bi mẫn; chỉ khi hội đủ ba điều này, sự hiển hóa mới là chánh hiển, mới tương ưng với Phật tính, và không rơi vào tà lệch.

Nếu tâm linh của quý vị đã thăng hoa đến cảnh giới của chư Phật, Bồ Tát, thì đó chính là Phật tính khai mở. Phật tính một khi khai mở, giác ngộ liền sinh; giác ngộ sinh thì trí tuệ hiện tiền; trí tuệ hiện tiền rồi, vạn sự vạn pháp đều có thể thông đạt, viên dung và giải quyết.

Khi trí tuệ đã hiện, cảm ứng đạo giao sẽ dần phát sinh: có thể ngửi được hương lành, nhãn căn thấy được một số cảnh giới, có thể tự tri, tự giác Bồ Tát quang lâm.

Tuy nhiên, người tu hành nhất định phải tu đến cảnh giới “tâm vô sở trụ” – tức là tâm không chấp trước, không cưỡng cầu, không vọng động; tuyệt đối không được cưỡng ép cầu thần thông khi nhân duyên chưa thuần thục. Khi duyên chưa đủ mà cố cầu thần thông, đó không phải giác ngộ, mà là vọng tâm khởi động.

Người tu chân chính cần lấy những thần thông tự nhiên hiển lộ làm phương tiện, để điều phục tâm linh, để chữa lành thân tâm của chính mình. Thần thông hiển lộ một cách từ từ, tự nhiên, chính là giác ngộ đang sinh khởi; năng lực được khai phát tuần tự, chính là Phật tính đang dần hiển hóa nơi tự thân.

Tu hành cần nắm vững hai điểm then chốt:

Thứ nhất, phải vô ngã, chân thật đoạn trừ vô minh và tập khí của chính mình.

Thứ hai, phải dùng những năng lực đã tự hiển bày để chữa lành bệnh nơi linh hồn và thân thể, chứ không để tăng trưởng ngã chấp, không rơi vào tà kiến hay chấp tướng.

QUYỂN 1 – TẬP 43
NỀN TẢNG HUYỀN HỌC

Quý vị thân mến, xin chào tất cả quý vị!

Khi Sư phụ đi trên đường, có rất nhiều thính giả không nhận ra Sư phụ, nhưng chỉ cần nghe giọng nói này thôi, nhiều thính giả liền có thể phân biệt được đó là giọng của Lư Đài Trưởng.

Trước hết, Sư phụ xin bày tỏ lòng cảm ân sâu sắc đến quý thính giả đã đồng hành cùng Sư phụ suốt tám năm qua. Khi nhìn thấy mọi người, Sư phụ thực sự cảm nhận được sự ấm áp trong lòng. Nhân đây, xin cho phép Sư phụ gửi đến quý vị những lời chúc chân thành và sâu sắc nhất: chúc mọi người thân thể khỏe mạnh, vạn sự như ý, sự nghiệp hanh thông, phát đạt. Xin chân thành cảm ơn!

Rất nhiều thính giả khi lần đầu gặp Sư phụ, so sánh với giọng nói đã từng nghe trên Đài phát thanh, lần nào cũng nói: “Lư Đài Trưởng, giọng nói của Sư phụ nghe có vẻ rất già, giống như một người lớn tuổi, nhưng khi gặp trực tiếp thì lại thấy Sư phụ khá là tràn đầy sức sống.”

Thật ra, Sư phụ thường xuyên niệm kinh, tọa thiền, đôi khi cũng là nương vào một loại năng lực nào đó để tự điều hòa bản thân. Trên Đài phát thanh, Lư Đài Trưởng thường giúp mọi người xem đồ đằng. Vậy đồ đằng rốt cuộc là chuyện như thế nào? Đó là khi một người còn ở nhân gian, thì trên trời sẽ có một hình ảnh tương ứng của người ấy. Người Trung Quốc có mười hai con giáp; ví dụ như quý vị tuổi Hợi, thì trên trời sẽ có đồ đằng hình con heo của quý vị; nếu tuổi Dậu, thì trên trời sẽ có đồ đằng hình con gà tương ứng. Vậy thì theo cách giải thích của phương Tây, như cung Sư Tử hay các cung hoàng đạo khác, thực ra đạo lý cũng hoàn toàn giống nhau. Nghĩa là trên trời có đồ đằng, dưới địa phủ có danh xưng; vì thế, việc xem đồ đằng thông thường là rất chính xác. Quan trọng nhất vẫn là sự lĩnh hội và cách hiểu của bản thân sau khi nhìn thấy đồ đằng.

Thật ra, ở các nước Âu Mỹ, Âm dương bát quái đã được mã hóa thành mật mã gen. Những mật mã gen mà họ tạo ra, khi được Trung Quốc giải mã, thì chính là bát quái của Trung Hoa thời cổ đại. Vì vậy có thể nói đây là khoa học. Ví dụ, công nghệ màn hình tinh thể lỏng mà con người hiện đại đang sử dụng, thực chất cũng được nghiên cứu và chế tạo dựa trên 64 quẻ của Trung Quốc. Phần này Sư phụ sẽ không nói quá nhiều. Sư phụ chỉ kể rằng, các nhà khoa học từng có những cuộc tranh luận chuyên đề với các nhà tôn giáo về vấn đề này. Có một nhà thiên văn học đã nói: “Tôi quan sát bầu trời suốt cả đời, chỉ thấy các vì sao và mặt trăng; Tôi chưa từng nhìn thấy Thượng Đế, chưa từng thấy thiên sứ, cũng chưa từng thấy Bồ Tát, vì vậy tôi không tin rằng những điều đó tồn tại.” Vị học giả tôn giáo liền đứng dậy hỏi nhà thiên văn học kia rằng: “Xin hỏi ngài, ngài đã từng nhìn thấy gió chưa? Xin hỏi ngài, ngài đã từng nhìn thấy điện chưa?” Mọi người đều nói là chưa từng nhìn thấy. Vị học giả tôn giáo bèn hỏi tiếp: “Nhưng gió và điện có tồn tại không?” Mọi người đều đáp: “Có tồn tại.” “Mỗi ngày chúng ta đều sử dụng điện, mỗi ngày chúng ta đều cảm nhận được gió; đó chính là một loại cảm thọ. Vậy trước khi con người phát hiện ra điện, chẳng lẽ điện không tồn tại hay sao?” 

Sau đó, lại có một nhà khoa học khác đứng lên nói: “Tôi là một bác sĩ ngoại khoa, cả đời tôi làm phẫu thuật. Tôi muốn nói một điều: tôi chưa từng nhìn thấy linh hồn, vì vậy tôi không tin rằng linh hồn tồn tại.” Vị học giả tôn giáo liền nói với ông ta rằng: “Xin hỏi vị bác sĩ ngoại khoa này, ông có yêu vợ mình không?” Ông ta đáp: “Tôi rất yêu.” Vị học giả lại hỏi: “Vậy ông có thể mở ra cho tôi xem tình yêu của ông nằm ở đâu không? Ông có thể phẫu thuật, mổ xẻ thân thể mình ra để chúng tôi nhìn xem ông yêu cô ấy như thế nào không?” Những điều ấy rõ ràng là không thể nhìn thấy được.

Rất nhiều thính giả thật ra đều biết rằng Lư Đài Trưởng có năng lực đặc biệt là xem đồ đằng nên mới tìm đến. Nhưng nếu trong tâm không có niềm tin, thì dù có xem cũng chẳng có tác dụng gì. Điều này cũng giống như việc kết giao bạn bè: Hôm nay ta giới thiệu cho bạn rất nhiều người bạn tốt, “Tôi giới thiệu với bạn, đây là ông Lý, ông Lý có thể giúp bạn…”  “À, chào ông Lý. Ông có thể giúp tôi được không?” Nếu ngay cả niềm tin quý vị cũng không có, thì vị ông Lý ấy sẽ không giúp quý vị được. Việc xem đồ đằng cũng là như vậy: nếu bản thân quý vị không có tâm thành để tin tưởng một cách nghiêm túc, thì quý vị rất khó đạt được điều này.

Sư phụ đã nói với rất nhiều thính giả rằng, năng lực này của Sư phụ là do Bồ Tát gia trì. Nhưng nếu quý vị chịu khó niệm kinh, chịu khó tu hành, thì có lẽ đến một ngày nào đó, chính quý vị cũng có thể nhìn thấy. Khi ấy, Lư Đài Trưởng cũng chẳng có gì là đặc biệt nữa. Bởi vì khi quý vị thấy được, quý vị cũng sẽ nói với Sư phụ rằng: “À, thưa Lư Đài Trưởng, chúng con cũng đã nhìn thấy rồi.” Những điều các quý vị nói với Sư phụ đều là chân thật, giống hệt như những gì hiện giờ Sư phụ đang nhìn thấy. Cho nên, những thứ mà con người chưa phát hiện ra, không có nghĩa là chúng không tồn tại.

Mọi người thử nghĩ xem, những thứ mà các quý vị không nhìn thấy, chẳng lẽ có thể vì thế mà cho rằng chúng không tồn tại hay sao? Trực giác của con người là một điều vô cùng quan trọng. Chúng ta thường gặp tình huống trong xã hội: quen biết giới thiệu bạn bè cho nhau. Khi tiếp xúc với một người nào đó, vừa gặp mặt đã giới thiệu: “À, chào anh, đây là anh Trương, đây là anh Lý.” “À, chào anh, chào anh.” Nhưng chỉ nói với người ấy vài câu, tự nhiên trong lòng lại nảy sinh cảm giác không muốn tiếp tục trò chuyện, cảm thấy người này rất khó ưa. Vì sao lại như vậy? Đó là vì trường khí của con người không tương hợp. Trường khí chính là khí của mỗi người không giống nhau. Việc không muốn giao du với người đó, thực chất là vì khí của quý vị và khí của họ không tương đồng.

Tiếp theo, trước hết Sư phụ muốn nói vì sao trên thế gian này lại có âm dương. Thật ra rất đơn giản. Ví dụ như: mặt trời thuộc dương, mặt trăng thuộc âm; nam giới là dương, nữ giới là âm. Nhưng vì sao âm dương lại không điều hòa? Khi âm dương không điều hòa thì sẽ phát sinh những vấn đề gì? Nếu một người nữ có dương khí quá thịnh, che lấp mất âm khí của mình, thì tính cách của cô ấy sẽ giống như đàn ông: làm việc rất dứt khoát, rất quyết đoán. Trong gia đình, nếu người chồng cũng thuộc dương, mà người vợ lại có dương khí rất mạnh, thì hai bên sẽ thường xuyên va chạm, trong nhà dễ xảy ra cãi vã liên tục. Cũng tương tự, nếu một người nữ âm khí quá thịnh, thường xuyên cảm thấy không thoải mái, không vui, nói năng cũng nhẹ nhàng, thì người nam lại nhút nhát, dè dặt, việc gì cũng không dám quyết định – tức là người nam âm khí nhiều hơn dương khí. Trong trường hợp này, khi hai người sống chung trong gia đình, chẳng ai giải quyết được vấn đề cho ai, chẳng ai có thể nói “chúng ta cùng thảo luận, quyết định việc này,” nên mọi việc đều không thể giải quyết. Do đó, âm dương phải điều hòa, thì đời sống con người mới phát triển tốt đẹp. Vì vậy, âm dương thật sự là một vấn đề vô cùng quan trọng. 

Quý vị nhìn xem Hàn Quốc ấy, họ cũng có Bát quái, tức là âm dương, và âm dương này cần phải điều hòa tốt. Sư phụ muốn nói về lý do hiện nay âm dương bị đảo ngược. Sư phụ muốn hỏi quý vị, những tờ tiền mà chúng ta cầm trên tay thuộc âm hay dương? Xin nói rõ, tiền trong tay chúng ta thuộc âm. Vật thuộc âm thì cần phải cất giữ cẩn thận. Không ai lại treo tiền trên ban công cả, người ta chỉ để trong két sắt, trong ví, hay trong túi quần túi áo. Bởi vì vật thuộc âm không thể thường xuyên phơi bày; nếu để lộ nhiều sẽ dễ sinh phiền phức.  Ví dụ, nếu quý vị rất “ngầu”, trong túi có một xấp tiền 100 tệ, quý vị đi đến cửa hàng và lấy tiền ra đếm từng tờ trước mặt nhân viên, lại còn có người đang nhìn quý vị, thì sẽ có người theo dõi quý vị, và đến lúc nào đó có thể cướp tiền quý vị. Hiểu không? Đây chính là phân biệt âm dương. Ngày nay con người thậm chí còn đảo lộn âm dương. Lấy một ví dụ đơn giản: nhiều người ban đêm không ngủ, nhưng ban ngày thì lại ngủ khi mặt trời đã lên cao. Những ai hiểu y học Trung Hoa hoặc học về y học đều biết rằng ngũ tạng lục phủ ban đêm phải nghỉ ngơi. Nếu ban đêm không ngủ mà ban ngày ngủ, ngũ tạng lục phủ của họ sớm muộn cũng sẽ gặp vấn đề.

Sư phụ cũng muốn nói với mọi người về cái gọi là huyền học. Mọi người đều biết như bói toán, phong thủy, xem xương, giải mộng, rút xăm, xem tướng mặt, tướng tay, thậm chí cả tướng chân. Sư phụ đã giảng trên Đài về câu nói: “Nhất mệnh, nhị vận, tam phong thủy” suốt một thời gian dài, đã được tám năm. Bây giờ Sư phụ muốn hỏi mọi người: mệnh trong cuộc đời con người chiếm bao nhiêu phần trăm? Có ai biết không? Đúng rồi, là 40%. Nếu toàn bộ vận mệnh là 100%, thì mệnh chiếm 40%. Còn thứ hai là vận. Vận cũng chiếm 40% trong vận mệnh của quý vị. Chính vì vậy, nhiều người từ khi sinh ra đã đi xem bói, và người xem bói sẽ nói: “À, đứa trẻ này tốt lắm, sau này lớn lên sẽ không tầm thường, đứa trẻ này chắc chắn sẽ rất có vận khí.” “À, rất tốt, rất tốt.” Nhưng tại sao khi đứa trẻ đó lớn lên, đến lúc đáng lẽ phát tài lại không phát tài, đáng lẽ gặp vận may lại không gặp? Bởi vì mệnh không thể thay đổi, nhưng vận thì có thể thay đổi. Vì 40% vận một khi thay đổi có thể che lấp 40% mệnh của quý vị. 

Ví dụ, 40% mệnh vốn rất tốt, trong vòng năm năm sẽ có một giai đoạn vận tốt; nhưng nếu quý vị làm việc xấu, 40% vận sẽ che lấp 40% mệnh tốt đó. Còn lại 20% là phong thủy. Khi mệnh và vận tương khắc, thì phong thủy trong nhà hay nơi làm việc sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quý vị. Phải nhớ rằng, mặc dù phong thủy rất quan trọng, nhưng chủ yếu vẫn phải dựa vào mệnh và vận của quý vị. Trong đó, sống động nhất là 40% vận trình, còn 20% là phong thủy. Nhiều người chỉ chú ý tới 20% phong thủy mà không nghĩ đến việc phải cải vận. Mệnh và vận luôn gắn liền với nhau. Khi nói ai đó có mệnh tốt hay không, ít ai biết rằng mệnh không thể thay đổi, nhưng vận thì có thể điều chỉnh được. 

Hôn nhân cũng ảnh hưởng tới vận mệnh của một người. Ví dụ, người này vốn đi đường đời rất thuận lợi, nhưng sau khi kết hôn, vận mệnh của họ có thể thay đổi. Tại sao lại thay đổi? Bởi vì sau khi kết hôn, mệnh của họ và mệnh của vợ/chồng sẽ kết hợp lại, gọi là “hợp bát tự”. Ban đầu, nếu người này mệnh tốt nhưng lấy vợ/chồng có mệnh xấu, thì từ đó họ sẽ bắt đầu đi vào vận suy kém. Ban đầu, vận của người này khá xấu, nhưng nếu họ lấy một người vợ có vận cực tốt – chúng ta thường gọi là “mệnh giúp chồng” – thì vận trình của người chồng sẽ thay đổi. Vì vậy, việc lấy vợ hay lấy chồng phải được xem trọng, vì người phối ngẫu có thể giúp đỡ, làm thành toàn vận mệnh của quý vị.

Ngày xưa, khi con cái kết hôn, lời mai mối và cha mẹ sắp đặt, mặc dù không hoàn toàn tự do, nhưng trước khi gả con gái hay gả con trai, cha mẹ thường tiến hành một bài kiểm tra xem bát tự của con gái và bát tự của con trai có hợp nhau hay không. Nếu hợp thì sẽ cho cưới. Vì thế, thời xưa, tỷ lệ ly hôn khá ít, mặc dù vẫn chịu ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến. Ngày nay, nhiều người kết hôn theo tình yêu sét đánh, một số cặp trẻ kết hôn nhanh cũng ly hôn nhanh. Đây chính là mâu thuẫn hiện tại. Vậy trong xã hội ngày nay, với khoa học phát triển và tiến bộ không ngừng, làm thế nào để chúng ta tự giải thoát khỏi những vấn đề này?

Hiện nay, ai cũng biết thiên tai và nhân họa liên tục xảy ra. Mỗi người đều có ba tật xấu: một là tham, một là sân, và một là si. Nhiều người học Phật đều biết ba thứ này chính là tham – sân – si. Các bạn có biết tham – sân – si gây ra những tai họa như thế nào cho sự nghiệp, cho quốc gia và cho thế giới không? Có thể các quý vị chưa biết. Một quốc gia mà lòng tham quá lớn, luôn muốn xâm lược nước khác, thường sẽ gặp lụt lội, thậm chí lũ lụt lớn; một quốc gia mà tất cả mọi người luôn căm ghét người khác, thì hậu quả là hỏa hoạn sẽ xảy ra; Một quốc gia mà dân chúng đều ngu si, ngày ngày chỉ muốn cái này cái nọ, lại còn mơ làm bá chủ thế giới, thì hậu quả sẽ là thiên tai, gió bão kéo đến. 

Có người sẽ thắc mắc: “Lư Đài Trưởng ơi, sao trường khí của một người xấu mà lại có thể ảnh hưởng đến thiên nhiên?” Thực ra thiên tai là do con người mà ra. Sư phụ nói một câu quý vị sẽ hiểu: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa – thiên nhân hợp nhất. Thời tiết thay đổi dựa vào con người, con người thay đổi dựa vào thiên thời. Thiên thời không ngừng biến hóa, nên từ đó sinh ra những thiên tai. Những hành vi ác nghiêm trọng của con người sẽ ảnh hưởng đến thiên thời. Ngày xưa, các Hoàng đế thường phải lên Thiên Đài cúng bái tổ tiên để cầu mưa; nếu không cúng bái, dân chúng sẽ chịu khổ, giống như trong nhà quý vị nếu gặp tai ương cũng sẽ bị ảnh hưởng. Đây đều là những lý lẽ rất đơn giản. Vì vậy, mọi người đừng làm những việc của tham, sân, si. 

Quý vị cũng không nên vì thấy Đài Trưởng đã mở thiên nhãn, có khả năng như vậy mà thần thánh hóa hay quá tôn sùng. Mỗi người trong quý vị đều có những năng lực tiềm ẩn rất lớn. Lấy một ví dụ đơn giản: khi đến xem một căn nhà mới, nếu bước vào trong cảm thấy khó chịu, sống lưng lạnh toát, lông gáy dựng đứng, thì đó chính là dấu hiệu của căn nhà có âm khí nặng – và đây chính là cảm nhận tự nhiên của mỗi người. Giống như mỗi người ngồi ở đây vậy, khi người ấy cười với quý vị, quý vị mỉm cười với người ấy, quý vị nói: “Người này thật tốt,” thì tại sao người ấy tốt? Thứ nhất, nhìn bên ngoài khuôn mặt ấy có thiện cảm; thứ hai, quý vị có thể nhìn thấy lòng dạ người ấy có thiện hay không. Điều tệ là hiện nay có nhiều người giả dối, bên ngoài họ tỏ ra tốt đẹp nhưng chỉ là che giấu. Sư phụ dạy quý vị cách nhìn, cách dự đoán không phải để mê tín, mà là để mọi người biết làm nhiều việc thiện, biết phân biệt những kẻ xấu để không bị lừa gạt. Ít nhất, dù chúng ta đã từng bị lừa, nhưng tuyệt đối không để con cháu mình bị lừa nữa. Nếu để con cháu bị lừa, như vậy thật sự là phụ lòng chính mình.

Nhiều người nghĩ rằng hiếu thảo chỉ là đối xử tốt với cha mẹ, mua cho họ đồ ngon hay quà cáp này nọ. Thực ra, quý vị có biết không, bảo vệ cơ thể của chính mình cũng là hiếu thảo. Bởi vì xương của các quý vị là do cha ban cho, thịt da là do mẹ ban cho. Nếu quý vị làm hại cơ thể mình, cha mẹ sẽ rất đau lòng, thậm chí còn đau hơn chính quý vị. Khi quý vị nằm trên giường bệnh, người buồn nhất không phải là quý vị mà chính là cha mẹ quý vị. Vì vậy, hiếu thảo cũng đồng nghĩa với việc phải chăm sóc và bảo vệ tốt cơ thể của chính mình.

Khi Sư phụ khuyên mọi người làm việc thiện, có người nói: “Lư Đài Trưởng, tính khí của con như thế này, tôi không thể thay đổi được.” Quý vị có biết tính khí là gì không? Sư phụ đã suy nghĩ một chút, không biết mọi người có đồng ý không. Tính khí chính là thói quen lâu ngày hình thành từ việc tự cho rằng mình đúng. Trẻ con khi sinh ra có tính khí gì đâu? Chính là do được nuông chiều, do tự cho rằng mình đúng mà hình thành. Nhiều cô gái tự cho mình đúng, nghĩ rằng bạn trai phải đối tốt với mình, phải chiều chuộng mình, nhưng lại không coi trọng chàng trai, từ đó dần hình thành tính khí kiêu ngạo, nghĩ rằng “Tôi là như thế này, tôi có tính khí này, yêu thì yêu, không yêu thì mặc kệ.” Rồi khi đến 50 tuổi, chẳng còn ai yêu thương nữa. Nguyên nhân là gì? Chính là tính khí. Vì vậy, đừng nghĩ rằng: “Mình không thể thay đổi gì, tính khí của mình là vậy.” Sư phụ nói với quý vị: tính khí chính là định mệnh của quý vị. Nếu thay đổi được tính khí, quý vị sẽ thay đổi được định mệnh của mình.

Nhiều người khi không làm kinh doanh thì kiêu ngạo lắm, nhưng khi bắt đầu kinh doanh lại cười tươi hết cả mặt, vì trong quán chẳng có ai, thấy khách bước vào là vội vàng chào: “Xin mời, xin mời, đồ ăn của chúng tôi rất ngon.” Đó chính là cách thay đổi tính khí. Nếu không thay đổi tính khí, quý vị mở quán thì làm sao bán được, kiếm tiền từ đâu? Không thay đổi tính khí, vợ sẽ bỏ đi, chồng sẽ ra đi, con cái cũng sẽ rời nhà. Tại sao nhiều đứa trẻ lại rời xa cha mẹ? Cha mẹ các em rất tốt, nhưng tính khí không tốt. Thế nào là tính khí không tốt? Là suốt ngày la mắng người khác, vậy một người như vậy có tốt không? Vì vậy, đừng lấy lý do này để che giấu những khuyết điểm của bản thân. 

Nhưng Sư phụ muốn nói với mọi người một điều tốt: không phải tất cả lỗi đều là lỗi của các bạn. Nhiều người tính khí không tốt thật sự có “linh khí xấu” tác động, cũng có khi trong nhà có thứ gì đó ảnh hưởng. Nhiều người đàn ông về nhà, bực bội vô cớ, nói chưa được mấy câu đã không vui, ném đồ đạc; họ cũng không hiểu tại sao. Chỉ vì một lời nói mà nổi giận, hiện nay con người nổi giận nhanh còn hơn cả trời thay đổi. Nguyên nhân là vì có ảnh hưởng của trường khí. Hơn nữa, nhiều người còn có một hiện tượng nữa: nơi này tức giận nhưng lại xả ra nơi khác. Hiện tượng này gọi là dịch chuyển trường khí. Ví dụ, ở Trung Quốc có nhiều người làm cảnh sát. Họ bị mắng ở ngoài hoặc bị khiển trách, về nhà lại chỉ trích, la mắng vợ. Vì vậy, nhiều người không muốn lấy chồng là cảnh sát, nói rằng đó là “bệnh nghề nghiệp.” Thực ra, họ thường xuyên hấp thụ khí tiêu cực, trường khí rất xấu, nên trong lòng thường cảm thấy buồn bực, không có chỗ xả, một lỗi nhỏ cũng khiến họ bùng nổ. 

Là con người, cần phải kiểm soát cảm xúc của mình. Nếu một người không biết kiềm chế tính khí, không quản lý được tính cách, thì người đó đã cách xa người khác rất nhiều, có thể nói là gần giống động vật. Sự khác biệt giữa động vật và con người chính là con người có thể kiểm soát tư duy và hành vi của mình, trong khi động vật không thể kiểm soát tư duy; chúng muốn làm gì thì làm. Chó đã rất thông minh, biết quý vị không vui thì im lặng, biết quý vị vui thì nhảy múa, nhưng nếu trên đường chó đi vệ sinh thì có quan tâm xung quanh không? Chắc chắn không. Còn con người thì sẽ kiểm soát suy nghĩ và hành vi, không tùy tiện như vậy, đó chính là khả năng kiểm soát tư duy.

Tiếp theo, Sư phụ muốn nói với quý vị rằng: cây có cội, nước có nguồn. Người đến với nhau là do nhân duyên. Duyên sâu thì sẽ thành gia đình; ví dụ, nếu kiếp trước quý vị có duyên sâu, thì kiếp này sẽ là cha mẹ, anh chị em, hoặc các mối quan hệ ruột thịt khác. Nếu duyên nông, kiếp này chỉ có thể là bạn bè hoặc họ hàng xa. Về chuyện vợ chồng, nói nhẹ nhàng thì là duyên vợ chồng, nói thẳng ra thì cũng có thể là oán duyên. Ngày xưa gọi là “oán duyên”. Oán duyên này cũng có thể là duyên lành hoặc duyên dữ. Người không có duyên thì không đến với nhau. Ngày hôm nay quý vị kết hôn, quý vị chính là oán duyên của người ấy. 

Tại sao có những cặp vợ chồng cãi nhau cả đời mà không ly hôn? Bị chồng mắng cả đời, nhưng vẫn không ly hôn, tại sao? Tại sao có những người khi ở bên nhau, trước khi kết hôn cảm thấy rất hợp, nhưng sau khi cưới, chỉ nói một câu thôi cũng thấy khó chịu; làm một việc cũng thấy phiền, hai người cứ cãi nhau liên miên? Câu trả lời chính là duyên nợ giữa họ quyết định tất cả. Đây là một vấn đề khá lớn. Khi duyên đến, đến thời điểm đó thì vợ chồng sẽ cãi nhau. Vì vậy, thời gian cãi vã cũng có một quy luật nhất định: thường là ba năm, năm năm; trong ba năm đầu, vợ chồng có thể gặp xui xẻo liên tiếp, tình cảm không tốt; sau ba năm thì sẽ khá hơn một thời gian, khoảng cũng ba đến năm năm. Sau giai đoạn đó, lại tiếp tục cãi vã lần nữa.

Nhưng đừng bỏ qua một vấn đề khác: vào những dịp trước Thanh Minh, nhiều người dễ bị bệnh, cảm thấy khó chịu, đau đầu; vào dịp tháng Bảy âm lịch – lễ hội ma quỷ, hoặc trước Đông Chí, theo quan niệm của người Trung Quốc, các vong hồn của tổ tiên đã khuất thường “quang lâm”. Quý vị không nhìn thấy được, nhưng những người có tu luyện một chút đôi khi có thể mơ thấy trong giấc mơ. Ví dụ, quý vị mơ thấy: “Hôm nay con mơ thấy bà ngoại của con, bà ấy có nhắn nhủ trong mơ.” Vậy khi đó, quý vị hỏi Lư Đài Trưởng nên làm gì? Rất đơn giản: nếu người đã khuất truyền tin trong mơ cho quý vị, và quý vị có thể niệm kinh để siêu độ cho họ, họ sẽ rất vui mừng; nhưng nếu quý vị không biết niệm kinh, không biết siêu độ, thì tiếp theo quý vị sẽ đau đầu, khó chịu, và sau đó dễ sinh cãi vã. 

Nói thêm một chút về việc vợ chồng cãi nhau: đôi khi quý vị không nhìn thấy, nhưng khi hai người đang cãi nhau, trên người một trong hai người – dù là nam hay nữ – có thể có một thứ gì đó tồn tại. Thứ đó là gì? Ai cũng hiểu, đó chính là hồn ma trên thân – có thể là oan gia trái chủ, hoặc là cha mẹ, ông bà đã khuất của người ấy. Khi một cặp vợ chồng cãi nhau, Sư phụ rất rõ ràng nhìn thấy một người cao tuổi, gương mặt khó coi, giống như lúc lâm chung, lúc qua đời, đang chống lên người người vợ. Người vợ này bình thường rất hiền hòa, dễ chịu, chưa bao giờ cãi nhau với chồng. Vậy tại sao hôm nay lại như phát điên, chỉ tay vào chồng mà mắng, nói ra những lời mà ngay cả bản thân cô ấy cũng không chấp nhận, những lời mà trước đây chưa từng nói? Tại sao hôm nay cô ấy lại đối xử với chồng như vậy, nói ra những lời khó nghe nhất, trong khi mắng thì tay chỉ thẳng vào chồng, dáng vẻ hoàn toàn khác với bình thường? Ngược lại, Sư phụ cũng thấy nhiều người chồng cũng có hành vi tương tự. Đây chính là do trên thân họ có “thứ gì đó” tồn tại. Đó cũng là lý do tại sao nhiều cặp vợ chồng cãi nhau cả đời mà vẫn không ly hôn; mỗi lần cãi nhau, trong miệng họ luôn buột ra những câu như: “Chúng ta ly hôn đi, tôi không cần anh nữa, đồ…”. 

Sư phụ thường nói rằng khi cãi nhau, con người không còn bình thường nữa. Quý vị hãy nhìn khuôn mặt này: bình thường rất đàng hoàng, điềm tĩnh, nhưng khi cãi nhau, khuôn mặt biến dạng, người ta nói là trông như ma, dữ tợn đến mức như muốn “nuốt chửng” vợ mình. Tất nhiên, có những người vợ cũng rất dữ, lúc dữ thì như muốn “nuốt chửng” chồng, những lời mắng ra không thể chấp nhận được, rất nghiêm trọng, như muốn “mắng chết” đối phương. Thực ra, lúc này trên thân đã có ma quỷ nhập. Có một cặp vợ chồng đến gặp Sư phụ, ngay trong văn phòng họ cãi nhau dữ dội vì bất đồng ý kiến. Khi đang cãi nhau, người chồng mắng chửi liên tục, Sư phụ nhìn thấy trên vai cậu ấy có một con ma nhỏ, con ma này đang dùng tay kéo tóc cậu ấy, kéo một cái thì cậu ấy lại mắng dữ dội. Sư phụ dùng ý niệm nói với con ma: “Con có thể đi được rồi, đừng ở đây, lát nữa ta sẽ nhờ cặp vợ chồng này niệm kinh trả lại và siêu độ cho con.” Nói xong, con ma nhảy lên không trung rồi biến mất. Ngay sau khi con ma vừa đi, người chồng quay sang Sư phụ với thái độ rất lễ phép nói: “Xin lỗi, thật bất lịch sự, đến chỗ Sư phụ mà gây cãi nhau.” Ngay sau đó, cậu ấy quay sang vợ nói: “Xin lỗi, xin lỗi.” Quý vị nhìn xem sự khác biệt rõ ràng đến mức nào. 

Loại cãi nhau này có cách để giải quyết. Lưỡi và răng hợp tác với nhau bao nhiêu năm cũng đôi khi có mâu thuẫn, vậy khi vợ chồng cãi nhau, phải dùng cách gì để giải quyết? Khi quý vị cãi nhau với vợ, bạn gái, hay chồng, bạn trai, cách tốt nhất là: trước hết, hãy nghĩ đến những điểm đáng thương của đối phương. Ví dụ, có khi cậu ấy về nhà, quý vị đã đi ngủ, nhưng cậu ấy vẫn chưa ăn gì, phải tự lo lấy bữa trong bếp. Khi cậu ấy về nhà, tâm trạng thường rất buồn bã, có thể vì bị sếp mắng ở cơ quan, hoặc bị người khác bắt nạt, lúc đó trong lòng rất khó chịu… Nếu quý vị biết nghĩ đến những nỗi khổ đáng thương ấy của cậu ấy, quý vị sẽ không còn muốn cãi nhau nữa. Với vai trò là vợ, quý vị cần tha thứ và bao dung với người chồng bên cạnh mình. 

Tại sao đàn ông thường chết sớm hơn? Sư phụ nói sơ lược ở đây, dựa trên thống kê của UNESCO. Phụ nữ có một số ưu thế tự nhiên, nên tuổi thọ thường dài hơn. Trước hết, phụ nữ biết bộc lộ cảm xúc, nói ra những điều trong lòng, tâm sẽ bớt khó chịu. Ví dụ, khi bị người khác bắt nạt, họ sẽ về nhà nói chuyện liên tục, thậm chí nói với con cái: “Mẹ bị người ta bắt nạt…” Phụ nữ khi bị người khác làm hại hoặc gặp chuyện không vừa ý, thường sẽ trút ra hết nỗi niềm, họ có thể kể với chồng: “Người này thế này, người kia thế kia…” Sau khi nói xong, tâm trạng sẽ nhẹ nhõm, thoải mái hơn. Còn đàn ông thì áp lực thường lớn hơn. Vì họ sống lâu trong trạng thái kìm nén, người Trung Quốc ta thường nói: “Nam nhi hữu lệ bất khinh đạn” – nghĩa là đàn ông khi có áp lực, họ không dễ dàng bộc lộ cảm xúc như phụ nữ, thường giữ trong lòng, tâm trạng khó chịu và nặng nề. Nếu quý vị nghĩ theo cách này, thì sẽ hiểu: đàn ông cả đời chịu áp lực, đến 50–60 tuổi, có thể vì stress quá lớn mà dẫn đến tử vong sớm, tuổi thọ thực sự có thể ngắn hơn phụ nữ.

 Tuy nhiên, đối với đàn ông mà nói, quý vị hãy nghĩ xem một người phụ nữ đáng thương thế nào: cô ấy kết hôn với quý vị, sinh con cho quý vị, ở nhà chăm sóc cha mẹ, nấu ăn, chăm lo con cái, thậm chí có người còn phải đi làm thêm bên ngoài. Cô ấy thật sự rất vất vả. Vì vậy, là đàn ông, quý vị hãy thương cảm cho cô ấy – cô ấy đã dâng cả đời mình cho quý vị, mà quý vị còn tranh cãi với cô ấy, từ trong lòng, quý vị có thấy hổ thẹn không? Chỉ cần cả hai biết đặt mình vào vị trí của đối phương, phụ nữ sẽ thấu hiểu và tha thứ cho đàn ông, đàn ông cũng sẽ thấu hiểu và tha thứ cho phụ nữ. Như vậy, nếu quý vị thường nghĩ đến những điểm đáng thương của đối phương, cũng sẽ ít xảy ra tranh cãi hơn.

Tiếp theo, chúng ta nói về vấn đề trẻ em. Quan hệ giữa trẻ và cha mẹ từ xưa đã có câu gọi là “trả nợ”. Vậy thế nào là “trả nợ” hay “đòi nợ”? Một đứa trẻ ra đời, không phải để trả nợ thì là để đòi nợ. Làm sao nhận biết được? Nếu đứa trẻ đòi nợ, ngay từ khi sinh ra, sức khỏe không tốt. Hôm nay mắc bệnh này, dùng tiền của cha mẹ; ngày mai mắc bệnh khác, lại dùng tiền của cha mẹ. Trẻ thường xuyên không khỏe, khiến cha mẹ lo lắng, vợ chồng dễ cãi vã. Khi lớn hơn, trẻ hay đòi hỏi này nọ, lại khó nghe lời. Những đứa trẻ như vậy, khoảng 70–80% là đến để đòi nợ. Còn những đứa trẻ đến để trả nợ, sinh ra rất đáng thương, ngoan ngoãn, khóc cũng lén lút, ăn uống im lặng như một chú mèo nhỏ. Vì vậy, mỗi người phải hiểu rõ con mình là đến để trả nợ hay để đòi nợ. 

Nếu hiểu được điều này, quý vị sẽ thấy: “À, con tôi đến để đòi nợ,” thì lúc đó không nên đánh hay mắng nhiều, mà nên đối xử với con tốt hơn một chút. Ít nhất, theo cách dân gian nói, quý vị cũng tạm chấp nhận và nhẫn nhịn. Như vậy, tâm sẽ cân bằng và bình an hơn. Nhiều thính giả nghe chương trình lâu năm đều biết tại sao mẹ lại gắn bó với con đến vậy, thậm chí thân thiết hơn cả với chồng. Ban đầu, trong gia đình, vợ với chồng rất tốt, nhưng khi con ra đời, người vợ dành trọn tình yêu cho con. Sư phụ nghe nhiều thính giả kể: “Đài Trưởng, Thầy có biết không, lúc đó ở nhà, nói gì cũng được, vợ con với con vẫn rất tốt. Nhưng khi vợ sinh con, cô ấy nói một câu: ‘Tôi sẽ dành tất cả tình yêu của mình cho con.’ Con rất buồn, vì tình yêu dành cho con chẳng còn bao nhiêu.” Điều này có nghĩa là cô ấy đã dành trọn tình yêu cho con, theo quan niệm mệnh tướng học, đây là vì cô ấy còn nợ con. Nhiều người không hiểu điều này. 

Thông thường, các bé gái sinh ra là để trả nợ, còn các bé trai sinh ra thường để đòi nợ. Khi bé trai hư, cha mẹ hay trêu: “Mày đúng là đứa đòi nợ mà!”. ai cũng hiểu điều này. Vì vậy, cần nắm được quy luật này: các bé trai nghịch ngợm, không nghe lời, gây rắc rối cho gia đình khiến cha mẹ buồn, còn người mẹ ngày ngày ôm ẵm, cho con bú, cho uống nước, chăm sóc tỉ mỉ, đó chính là đang trả nợ. Nhìn từ một khía cạnh khác của cuộc sống, làm người không thể không hiếu thuận với cha mẹ, vì nếu không hiếu thuận, ngay lập tức sẽ nhận hậu quả trong đời hiện tại. Hậu quả trong đời hiện tại sẽ ra sao? Nghĩa là trong giai đoạn tuổi già của quý vị, con cái sẽ không hiếu thuận. Nếu mọi người hiểu được điều này là đủ. 

Về mối quan hệ giữa con cái và mẹ, Sư phụ đã thấy nhiều trường hợp tiền kiếp họ từng là vợ chồng. Sư phụ thường lấy ví dụ: Có một người mẹ bị con trai bắt nạt cả đời, đến gặp Sư phụ khóc lóc, con trai còn nhiều lần đuổi mẹ ra ngoài. Người mẹ đó chạy đến Sư phụ nói: “Lư Đài Trưởng, xin giúp con, xem con đã làm nghiệp gì mà con trai đối xử với con như vậy, cả đời bị nó bắt nạt.” Sư phụ xem cho bà, và nhìn thấy trước một ngôi nhà cổ kính, có một cặp vợ chồng. Người đàn ông chính là người mẹ hiện tại khi xưa, còn người phụ nữ là chồng cũ của bà (tức là con trai bây giờ). Mọi người hiểu nguyên lý rồi chứ? Nghĩa là kiếp trước người chồng đã bắt nạt vợ cả đời, kiếp này thì người vợ trở thành con trai của chính ông ấy để “đòi nợ” và bắt nạt lại bà. Thú vị nhất là, cuối cùng bà mẹ già đó còn khóc nói: “Lư Đài Trưởng ơi, giúp con xem con trai con còn tương lai không.”Quý vị thấy đấy, đây đúng là nợ nần cực lớn, không phải nợ chút xíu đâu, mà rất, rất lớn. Còn mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu tại sao luôn căng thẳng? Vì mối quan hệ này cũng là nợ từ kiếp trước. 

Có một cặp vợ chồng đến hỏi Sư phụ: “Chúng con tình cảm khá tốt, nhưng cả hai đều kỳ quặc, không thích thực hiện chuyện vợ chồng. Đài Trưởng ơi, giúp chúng tôi xem kiếp trước chúng con là gì?” Sư phụ xem thì thấy kiếp trước họ là anh em. Ban đầu Sư phụ không muốn nói, nhưng sau đó ông ấy nhìn Sư phụ chăm chú hỏi, Sư phụ đành nói “Hai người các bạn là anh em kiếp trước.” Ông ấy đáp: “À, chẳng trách… Thỉnh thoảng chúng con cãi nhau, thỉnh thoảng lại hòa, tính cách đều rất bướng, tình cảm cũng tốt, nhưng chẳng thể chia tay được.” Điều khó tin nhất là sau khi Sư phụ nói xong, họ còn gọi điện cho Sư phụ: Đài Trưởng ơi, sau khi Thầy nói, hai người chúng con tối đến trên giường nhìn nhau, ai cũng thấy kỳ quặc.” Vì vậy, sau bài học này, Sư phụ quyết định không tiết lộ nữa. 

Những chuyện thuộc về quá khứ, ví dụ như người đã khuất – cha mẹ, ông bà của quý vị ở trên trời tầng nào – Sư phụ có thể kể để mọi người niệm kinh, tu tâm. Nhưng người sống hiện tại, tốt nhất không nên biết. Nếu biết, đôi khi lại không tốt. Vì Sư phụ từng thấy một chuyện rất bi thương: có người nuôi một con chó, yêu thương nó vô cùng, ôm ấp và chiều chuộng…Hôm đó Sư phụ vừa đến nhà ông ấy giải quyết một việc, ông ấy nhân dịp Sư phụ đến hỏi thêm: “Đài Trưởng ơi, Ngài xem giúp con, con chó này và con có duyên nợ gì không?” Sư phụ nhìn thì thấy: “Con chó này chính là ngoại của cậu.” Nói ra, ông ấy ngộ ra ngay, nói: “Đài Trưởng, Ngài biết không, con nhìn nó bao nhiêu cũng thấy như người thân trong gia đình.” Tối hôm đó, ông ấy ôm nó ngủ, cho ăn những thứ tốt nhất. quý vị biết không, thức ăn cho chó rất đắt, trong khi điều kiện kinh tế của ông ấy không tốt, bản thân ăn rẻ, nhưng lại đi mua thịt tươi, xương tươi cho chó. Hãy thử nghĩ xem, đây là mối quan hệ như thế nào. Vì vậy, khi không biết, thì có lẽ không sao; nhưng nếu biết, thật sự cần cẩn trọng. 

Trẻ con đều có duyên nợ với quý vị, và vợ chồng cũng là nhờ duyên mới đến. Với mối duyên nợ này, mọi người nhất định phải trân trọng. Khi mối duyên này kết thúc, nó sẽ không còn nữa. Nhiều người chia tay là mất luôn, giống như những chuyện trong quá khứ cần quên đi. Nếu quý vị đi qua mối duyên này một cách tốt, niệm kinh còn có thể kéo dài duyên; nhưng nếu không cẩn thận, không trân quý, mối duyên đó sẽ biến mất, và khi muốn tìm chồng hay vợ mới, chưa chắc đã tìm được người tốt hơn người đầu tiên. Vì vậy, mọi người hãy nói rõ với con cái. Chúng ta là những người đã trải qua, không sao cả, trả hết nợ là được, nhưng đừng để con cái phải gặp lại chuyện tương tự. Hy vọng mọi người hiểu được những đạo lý này.

Ngoài ra, Sư phụ xin nói thêm một điều nữa: trong số các thính giả của chúng ta, vài tháng trước Sư phụ đã nhìn ra rất nhiều người có vấn đề ở đường ruột, có “vật” bám ở đó. Ngay trên sóng phát thanh, Sư phụ đã nói với họ: “Đường ruột của cậu có khí đen, có thể sẽ gặp rắc rối lớn.” 

Người ấy đáp: “Ồ, con không cảm thấy gì cả.” 

Sư phụ nói: “Anh nên đi kiểm tra, đi xét nghiệm thử xem.”

Kết quả là, ba tháng sau, người đàn ông ấy xếp hàng vào bệnh viện để kiểm tra. Khi có kết quả, ông đến Đài tìm Sư phụ, trên tay cầm tờ giấy bác sĩ đưa cho, trông giống như một sơ đồ các bộ phận cơ thể, có đánh dấu vị trí bệnh. Bác sĩ chẩn đoán ông mắc ung thư đại tràng.

Ông nói với Sư phụ: “Lư Đài Trưởng, mạng sống của con chắc không còn bao lâu nữa, cả con người con hoàn toàn suy sụp rồi.”

Sư phụ nói với ông ấy một chút: “Cậu không cần phải buồn bã đến vậy, Sư phụ sẽ dạy cậu vài cách để nhanh chóng giải quyết vấn đề.”

Sư phụ hướng dẫn ông đi phóng sinh, niệm kinh… Hôm nay ông ấy cũng có mặt trực tiếp tại buổi gặp mặt của chúng ta.

Còn có một thính giả khác, cách đây ba năm gọi đến đài, Sư phụ nhìn ra ruột của họ cũng có vấn đề, có khí đen, nên khuyên họ đi kiểm tra ngay. Kết quả là, cả hai người đều bị ung thư ruột già, ở Mỹ là người thân và bạn bè của họ. Kết quả là, người thân đã qua đời… người thính giả này hôm nay cũng có mặt ở đây.

Vẫn còn nhiều trường hợp khác. Một thính giả nữa, hôm nay cũng có mặt (Sư phụ không tiện nêu tên), gan của cậu ấy bị tổn thương, sau đó cả gan phải cắt bỏ. Ban đầu cắt xong chỉ còn lại một phần, nhưng gan sau đó trở nên rất yếu, tế bào ung thư lại lan ra. Sư phụ hướng dẫn cậu ấy niệm kinh, rồi dạy thêm các phương pháp khác, cuối cùng cậu ấy thật sự khỏe lại. Một tháng sau, cậu nói với Sư phụ: “Lư Đài Trưởng, không ổn rồi, ung thư lại lan ra.” Cậu rất chán nản, còn trẻ tuổi, Sư phụ lại hướng dẫn cậu tiếp tục niệm kinh. Hai tháng sau, khi kiểm tra CT, siêu âm, kết quả hoàn toàn bình thường, không còn dấu hiệu gì.

Sư phụ không phải bảo mọi người đừng đi khám bệnh, đừng tiêm chích hay uống thuốc, mà là nói rằng: trong khi khám bệnh, điều trị bằng y học, thì nhất định cũng phải nhận thức rằng còn có một phương pháp chữa lành về phương diện tâm linh và linh hồn.

Bởi vì có rất nhiều căn bệnh của con người trên thế gian có thể chia làm hai loại: Một loại là bệnh thật sự về thân thể, ví dụ như cảm mạo, thương phong. Còn một loại, khi đã kiểm tra rất nhiều lần mà vẫn không tìm ra nguyên nhân, thì về cơ bản có thể nói khoảng 90% là bệnh do nghiệp chướng, tức là trên thân có vấn đề về tâm linh.
Một người thân quen của Trương Quốc Vinh từng kể với Sư phụ rằng: trước khi qua đời, cậu ấy đã nhiều lần đang ngồi cùng bạn bè thì đột nhiên đứng dậy, tâm trạng rất vui, trên mặt còn nở nụ cười, rồi đi về phía ban công. Mỗi lần như vậy, bạn bè phát hiện kịp thời liền ngăn lại, hỏi cậu đang làm gì. Cậu ấy nói:

“Ồ, không sao, tôi thấy bên ngoài thật tuyệt, vừa có một người bạn mời tôi ra ngoài xem một chút.” Theo lời kể, tình trạng này xảy ra khoảng hai đến ba lần. Một hôm, khi ở nhà không có ai, cậu ấy đã thực hiện một hành động nguy hiểm. Đây là một ví dụ điển hình về việc thân thể bị ảnh hưởng bởi những năng lượng tiêu cực hoặc nghiệp chướng. Đi khám bệnh thì y học thường không phát hiện ra, nhưng cơ thể cảm thấy không thoải mái ở đây hay đó; trong trường hợp này, quý vị cần cân nhắc đây là bệnh liên quan đến nghiệp chướng.

Cuối cùng, Sư phụ muốn mọi người thấy được sự linh ứng của Quán Thế Âm Bồ Tát, và liệu Bồ Tát có thể ban một pháp bảo để mọi người cảm nhận. Nghĩa là, dù quý vị tin hay không, Sư phụ xin Bồ Tát chỉ dạy một động tác để mọi người học, có thể hữu ích cho cơ thể. Sư phụ vốn không biết về khí công, cũng không biết đánh Thái Cực Quyền hay các loại quyền thuật nào khác.

Sau khi Sư phụ đặt câu hỏi, Quán Thế Âm Bồ Tát hiện ra. Khi đó là một buổi sáng khoảng 8 giờ. Sau khi linh ứng, Sư phụ đã cầu Bồ Tát, và Ngài chỉ dạy Sư phụ một động tác rất đơn giản: giơ tay lên, năm ngón tay thả lỏng tự nhiên, giống như hai bông sen.

Sau khi giơ tay như vậy, chỉ cần đầu óc quý vị hơi thư giãn, năm ngón tay sẽ lập tức có cảm giác tê nhẹ. Thực hiện khoảng ba phút là được. Khi hạ tay về, đừng để năng lượng vừa thu bị lãng phí, hãy gom bốn ngón tay vào ngón cái và hạ tay, như vậy là hoàn tất. Động tác này có thể làm bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu, và thực chất cũng giống như một bài tập rèn luyện cơ thể.

Nếu thực hiện một lần, hầu như 90% khán giả sẽ thấy các ngón tay tê nhẹ, lòng bàn tay ấm lên. Các quý vị đều có thể thử. Sư phụ biết mọi người sau khi thực hiện sẽ thấy vui, nhưng Sư phụ không rõ về giải thích y học. Một hôm, bác sĩ Trần Thế Mẫn đến đài của Sư phụ làm chương trình. Sư phụ kể với bác sĩ rằng Quán Thế Âm Bồ Tát đã chỉ cho Sư phụ một động tác, và hỏi liệu y học hoặc các môn võ thuật có thể giải thích không. Kết quả, bác sĩ thử làm và nói: 

“Wow, đây chắc chắn là quý vị đang thu năng lượng từ trên trời.”

Hôm nay, Sư phụ giới thiệu động tác này đến mọi người. Mong các quý vị tiếp tục rèn luyện tâm và giữ gìn sức khỏe.

Cuối cùng, chúc mọi người mọi sự thuận lợi và thân thể khỏe mạnh!

II. Những cảm ứng và phản hồi chân thật, nhiệm màu sau khi thành tâm theo Sư Phụ Lư Đài Trưởng học Phật, niệm kinh (跟随台长真心学佛念经之后,真实神奇的).

Do giới hạn dung lượng, tại đây chỉ liệt kê một phần nhỏ những chia sẻ cảm nhận và phản hồi chân thật của thính chúng và cư dân mạng sau khi theo Sư Phụ Lư Đài Trưởng học Phật, niệm kinh.

Nếu muốn tìm hiểu thêm nội dung chi tiết, xin vui lòng truy cập blog của Sư Phụ Lư Đài Trưởng.

Địa chỉ blog của Sư Phụ Lư Đài Trưởng: http://lujunhong2or.com/

Kính bạch Lư Đài Trưởng cát tường!
Kính chúc Ban Thư ký cần mẫn cát tường!

Theo pháp môn của Sư phụ tu học đã lâu, trong lòng đệ tử luôn chất chứa niềm tri ân và cảm động khó có thể diễn tả thành lời. Nhân một niệm khởi lên, đệ tử mạo muội phỏng theo thể thơ, kính dâng lên Sư phụ. Xin dùng bài thơ này để bày tỏ tấm lòng cảm ân đối với Sư phụ.

Ngày ấy – đêm ấy – khoảnh khắc ấy – phút giây ấy

Ngày ấy
Con lạc lối giữa màn sương mù vô tận
Bỗng chợt nhận ra
Đôi tay chắp của Ngài
Chống đỡ, nâng lên bờ giác của sinh mệnh
Đêm ấy
Con dừng bước, ngoảnh đầu bên biển khổ
Không cầu giác ngộ
Chỉ mong tìm lại
Ánh quang minh phản chiếu nơi ấn đường của Ngài
Khoảnh khắc ấy
Con nhắm mắt, mở hai bàn tay
Không vì nhập định
Chỉ để cảm nhận
Lòng từ bi chấn động cả trời đất của Ngài
Khoảnh khắc ấy
Con lệ tuôn đầy mặt
Không phải vì bi thương
Mà chỉ vì được nhìn thấy
Nụ cười của Ngài
Nở ra thanh khiết
Như đóa sen trắng
Suốt một đời này
Con đốt hương, trì chú, tụng kinh
Không vì tu cầu đời sau
Chỉ nguyện được theo dấu chân
Con thuyền từ bi của Ngài
Đang phổ độ chúng sinh
Dù chỉ có thể,
Trong giấc mộng,
Được theo Ngài mà thôi…

Diệu Thông, ngày 19-07-2010

Con đường tu hành thì dài xa, đời người lại ngắn ngủi, thời gian vô tình trôi qua, minh sư lại khó gặp biết bao nhiêu. Chính nhờ lòng từ bi của Bồ Tát Quán Thế Âm, mà đệ tử – kẻ như con chiên lạc lối – cuối cùng cũng bước ra khỏi mê cung.

Kính bạch Sư phụ Lư, đệ tử đã mò mẫm trong mê cung ấy suốt hơn ba mươi năm. Cuối cùng, đệ tử hữu duyên được nghe Sư phụ truyền bá pháp âm, tâm con xúc động sâu sắc. Đó là lần đầu tiên  được gặp Sư phụ. Khi ấy còn chưa hẹn trước, vừa gặp nhau chưa kịp nói đến ba câu, Sư phụ đã một lời vạch thẳng lối mê, chỉ đúng vào then chốt sinh mệnh của , khiến con bừng tỉnh đại ngộ. Đây tuyệt đối không phải là năng lực mà người phàm bình thường có thể đạt được. Chỉ trong vài giây ngắn ngủi, đối với một người trung niên hoàn toàn xa lạ, Sư phụ có thể tổng hợp, khái quát và một lời nói trúng căn cơ, năng lực ấy chỉ có bậc giác ngộ mới có thể làm được. Bởi vì trên đầu ba thước có thần linh, mọi hành vi của chúng ta đều được thần linh ghi chép từng thời từng khắc. Chỉ những ghi chép đến từ thần linh mới là đầy đủ và chính xác tuyệt đối. Chính Bồ Tát Quán Thế Âm đã gia trì cho Sư phụ năng lực siêu việt, để có thể cứu độ được nhiều chúng sinh hơn nữa. Sư phụ chính là sứ giả của Bồ Tát Quán Thế Âm.

Kể từ khi quen biết Sư phụ hơn một năm nay, con chứng kiến ngày càng có nhiều người xung quanh theo Sư phụ niệm kinh tu hành, ai nấy đều dần dần chuyển biến tốt đẹp hơn. Sư phụ dẫn dắt một cộng đồng đông đảo, từng bước đi vào “cõi tịnh độ giữa nhân gian”. Con vô cùng trân quý nhân duyên được lắng nghe những lời giáo huấn của Sư phụ. Chỉ những ai từng trải qua khổ nạn mới hiểu thế nào là biết trân trọng. Minh sư khó gặp, chỉ người có trí tuệ mới có thể nhận ra bậc đại trí tuệ chân chính.

Cha con từng nhắc nhở con rằng: người biết trân quý phúc thì mới được hưởng phúc. Khi ấy con còn quá trẻ, không để tâm đến lời dạy đó. Chỉ vài năm sau, phúc báo nhanh chóng tiêu hết, tâm hồn con gần như sụp đổ. Con thường xuyên hối hận vì đã không coi trọng lời nhắc nhở ấy. Hai mươi năm đã trôi qua, dù con có tự trách mình thế nào, sự thật cũng không thể vãn hồi. Đến hôm nay con mới hiểu rõ: mọi quả báo đều do nhân tạo thành. Chính từ trải nghiệm này, con bắt đầu thấu hiểu ý nghĩa chân thật của việc trân quý nhân duyên và trân quý phúc báo.

Thưa Lư Đài Trưởng, hai mươi năm đã qua, con sống trong sự tự trách chính mình. Hai mươi năm sắp tới, nhờ có sự chỉ dẫn của Ngài, con sẽ mỗi ngày niệm kinh, từng lúc tu tâm, từng niệm đều hoan hỷ trong thiền duyệt, thường xuyên khởi tâm phát nguyện. Trước đây con luôn cảm thấy con đường tu hành xa vời vợi, không biết nên đi về đâu, đi rồi lại quay về, hoa nở rồi hoa lại tàn. Từ khi được quen biết Ngài, con thấy Ngài là một người như thế, xuất thân từ một gia đình ba người có vợ, có con, một cấu trúc gia đình rất đỗi bình thường, khiến chúng con cảm nhận được sự gần gũi, thân thiết.

Phật pháp nhân gian do Ngài kiến lập đã giúp con người nhận ra rằng: con đường tu hành ngay dưới chân mình, mỗi ngày chỉ cần tiến bộ một chút. Trong dòng sông dài của sinh mệnh, đời người chỉ là một trạm dừng chân. Nhân sinh vô thường, đừng đảo lộn thật – giả. Cuộc đời giống như học sinh làm bài tập trên lớp, bản thân nó không có giá trị tuyệt đối, chỉ là phương tiện giúp ta học được một phương pháp ngay lúc đó. Nhân sinh vốn là giả, nhưng trong vở kịch giả ấy, chúng ta vẫn phải nghiêm túc đối diện, để từ đó thăng hoa chân ngã đích thực, chính là linh hồn của chúng ta.

Tuy con đường tu hành không dễ, tựa như đi trên băng mỏng, nhưng không phải là điều xa vời không thể đạt tới. Chỉ cần chúng ta tinh tấn, nỗ lực thực hành từ bi – hỷ – xả, dưới sự chỉ dẫn của Lư Đài Trưởng, chúng ta nhất định sẽ được thăng hoa. Lư Đài Trưởng, Ngài mang đại nguyện phi thường cứu độ chúng sinh. Mười năm hoằng pháp qua làn sóng phát thanh của Ngài, đối với những âm thanh xa xôi của những con người xa lạ, Ngài vẫn dùng tấm lòng đầy nhiệt thành để đối đãi. Điều này chẳng phải là tương ứng một cách kỳ diệu với hạnh nguyện “nghe tiếng cứu khổ cứu nạn” của Quán Thế Âm Bồ Tát nơi nhân gian hay sao? Chính vì vậy, rất nhiều người chỉ cần vừa nghĩ đến Ngài, liền lập tức có cảm ứng, cảm nhận được rằng Quán Thế Âm Bồ Tát đang hiện diện nơi nhân gian.

Con xin đại diện cho gia đình con, thành kính tri ân Quán Thế Âm Bồ Tát, đảnh lễ, cúi đầu đảnh lễ Quán Thế Âm Bồ Tát. 

Con xin tri ân vị sứ giả của Quán Thế Âm Bồ Tát – Lư Đài Trưởng, thành kính đảnh lễ sứ giả của Quán Thế Âm Bồ Tát – Lư Đài Trưởng.

 Kính chúc Lư Đài Trưởng năm mới vạn sự đổi mới, cát tường, tốt đẹp muôn phần. 

Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát.!

Kính bạch Lư Đài Trưởng, kính thưa quý vị đồng tu, xin kính chào mọi người buổi chiều tốt lành!

Thời gian đệ tử học Phật và niệm kinh còn rất ngắn, nên cũng chưa có nhiều thể nghiệm sâu sắc. Hôm nay, đệ tử xin báo cáo và chia sẻ sơ lược cùng quý vị một vài hiệu quả và cảm nhận chân thật mà bản thân đệ tử và gia đình đệ tử đã nhận được sau khi bắt đầu niệm kinh tu học.

Đệ tử đến từ Thẩm Dương, Trung Quốc, lần này sang Úc thăm người thân. Người xưa có câu: “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ” – hữu duyên thì dù ngàn dặm cũng gặp được nhau. Đệ tử đã vượt qua hơn mười nghìn cây số đến Sydney để được gặp Lư Đài Trưởng, thật sự là vô cùng hy hữu và đáng quý.

Vào tháng 11 năm ngoái, một người bạn của con trai đệ tử, biết vợ chồng đệ niệm kinh học Phật, đã tặng cho chúng đệ một chiếc radio của Đài Đông Phương, cùng các quyển sách 《Nhất mệnh, nhị vận, tam phong thủy》 và 《Thiên–Địa–Nhân》. Chúng đệ trân quý vô cùng, đọc đi đọc lại hết lần này đến lần khác, thậm chí còn tranh nhau để đọc, yêu thích không rời tay.

Đối với các chương trình của Đài Đông Phương, đặc biệt là chương trình 《Huyền Nghệ Tổng Thuật》, chúng đệ nghe cả phát sóng trực tiếp lẫn nghe lại. Vì vậy, chúng đệ vô cùng mong mỏi có cơ hội được gặp Lư Đài Trưởng một lần. Thật trùng hợp thay, ngày 19 tháng 12, Đài Đông Phương tổ chức phóng sinh, cả gia đình chúng đệ đều tham dự. Vì sao nói chúng đệ may mắn? Vừa mới ngồi xuống chưa lâu, đã có một người bạn mang đến tặng đệ một máy niệm kinh. Người ấy biết đệ tử muốn niệm kinh học Phật, có lẽ cũng là được Bồ Tát Quán Thế Âm an bài, nên mới đến trao cho đệ tử món quà này. Điều may mắn hơn nữa là trong buổi giải đáp hôm đó, đệ tử còn được cho cơ hội phát biểu. Thật sự là vui mừng không sao tả xiết, bởi đây là lần đầu tiên trong đời đệ tử có được cơ hội như vậy. Kết quả là vừa mới nêu câu hỏi, cả hội trường đều bật cười, ngay cả Đài Trưởng cũng cười. Vì sao vậy? Câu hỏi của đệ tử là nhờ Đài Trưởng xem đồ đằng, trong khi buổi giải đáp vốn không xem đồ đằng. Vậy mà khi đệ tử vừa nói xong, Đài Trưởng lại thật sự xem cho đệ tử. Đệ tử hỏi là xem cho con gái, nhưng cuối cùng ngay cả đệ tử cũng được xem luôn.

Nói chuẩn đến không thể tin được, quá đúng, quá linh nghiệm!

Từ đó trở đi, đệ tử tin Phật, đệ tử bắt đầu niệm kinh. Vì vậy, cuộc điện thoại đầu tiên đệ tử gọi cho Đài Trưởng, đệ tử đã nói:

“Đài Trưởng ơi, con tin Phật rồi, con niệm kinh rồi.”

Đài Trưởng vui mừng vô cùng.

Thật ra là đệ tử đã khai ngộ, đầu óc thông ra rồi.

Đệ tử xuất thân là người lính, vợ đệ tử còn nói rằng:

“Một người như ông mà có thể học Phật, niệm kinh, thì chẳng khác nào một tảng băng lớn trong nhà cuối cùng cũng tan chảy.”

Sau đây đệ tử xin nói về việc kết duyên với Đài Trưởng, bắt đầu từ ngày 19 tháng 12 – ngày phóng sinh hôm đó. Từ đó đệ tử bắt đầu học Phật, niệm kinh. Khi niệm kinh thì có một số phản ứng khác với người khác. Giai đoạn thứ nhất là ngáp liên tục, chảy nước mắt và hắt hơi. Giai đoạn thứ hai là đầu nổi cục, nổi u, mắt đỏ lên, chớp liên tục, vô cùng khó chịu.

Trong tình trạng chưa hề có hẹn trước, vào ngày 16 tháng 2, đệ tử đã đến thẳng Đài Đông Phương để tìm Đài Trưởng, và cầu xin Đài Trưởng cứu giúp. Vừa bước vào cửa, Đài Trưởng đã từ trong văn phòng đi ra, dường như đã biết đệ tử sẽ đến. Ngài hỏi:

“Ông đến rồi à, có việc gì không?”

Khi thấy đầu đệ tử nổi đầy u cục, Đài Trưởng liền hỏi:

“Có phải ông đang niệm Lễ Phật Đại Sám Hối Văn không?”

Đệ tử trả lời: “Dạ phải, mỗi ngày 7 biến.”

Đài Trưởng nói: “Không sao đâu. Sau khi về nhà, cứ liên tục niệm Ngôi nhà nhỏ, rồi sẽ ổn thôi.”

Đệ tử làm đúng theo lời dạy của Đài Trưởng. Sau khi về, mỗi ngày đệ tử niệm một Ngôi nhà nhỏ, có lúc hai ngày mới niệm được một tấm, vì gặp những hôm trời âm u mưa gió không thể niệm. Cứ như vậy một thời gian, tất cả đều khỏi hẳn.

Trước đây, ban ngày mắt đệ tử có rất nhiều chất tiết, tình trạng rất nặng, nay đã hoàn toàn khỏi.

Chưa hết, đầu gối hai chân đệ tử bị gai xương, phải chống gậy mới đi lại được, đau đớn vô cùng. Năm nào cũng đi khám bác sĩ, chụp phim, uống rất nhiều loại thuốc, mọi phương pháp đều đã thử qua, kể cả thuốc nhập khẩu từ Mỹ, nhưng không hề có tác dụng.

Bác sĩ còn đề nghị đệ tử thay khớp nhân tạo, chi phí 80.000 tệ. Đệ tử đã tìm hiểu và tham khảo hơn 199 trường hợp những bệnh nhân đã từng thay khớp, nhưng đa số đều cho biết hiệu quả không mấy lý tưởng, vì vậy đệ tử vẫn luôn chần chừ chưa quyết định thay.

Sau khi kết duyên với Đài Trưởng, đệ tử luôn làm đúng theo các tổ hợp kinh văn mà Ngài đã chỉ dạy để trì tụng. Cứ niệm dần, niệm dần, hiện nay cảm giác đau đã giảm đi rất nhiều, việc đi lại cũng nhẹ nhàng và linh hoạt hơn trước rất nhiều.Tiếp theo, đệ tử xin nói về người bạn đời của mình. Bà ấy sức khỏe không tốt, thường xuyên phải nằm viện, mắc cao huyết áp và bệnh tim. Ngày 25 tháng 2, bà ấy đột nhiên bị đau dữ dội ở đùi, nằm trên giường không thể cử động, cũng không rõ nguyên nhân là gì.

Kết quả là trưa hôm đó, con gái đệ tử nằm mơ, mơ thấy Đài Trưởng Lư cùng các đệ tử của Ngài đang chữa bệnh cho mẹ. Con gái đệ tử liền kể lại giấc mơ đó cho mẹ nghe và bảo mẹ yên tâm, nhất định sẽ khỏi.

Thật kỳ diệu, ngay trong buổi chiều hôm đó, cơn đau ở chân của vợ đệ tử giảm đi rõ rệt, và đến ngày hôm sau thì hoàn toàn bình phục. Vợ đệ tử bắt đầu tin Phật và niệm kinh từ năm 1995. Sau khi kết duyên với Đài Trưởng, bà ấy làm đúng theo các tổ hợp kinh văn mà Ngài chỉ dạy để trì tụng, thì sức khỏe ngày càng tốt hơn: Huyết áp cơ bản đã trở lại bình thường; Đầu óc minh mẫn; Thị lực sáng rõ; Tinh thần cũng phấn chấn hơn rất nhiều. Trước đây, ở nhà bà ấy hầu như không thể làm bất kỳ việc nhà nào, mọi việc đều do đệ tử làm. Còn bây giờ, vợ đệ tử thường xuyên tranh làm việc nhà với đệ tử.

Vì vậy, các tổ hợp kinh văn của Đài Trưởng chính là linh đan diệu dược mà Bồ Tát Quán Thế Âm từ bi ban xuống nhân gian. Mẹ vợ đệ tử qua đời vào năm 1996. Trước đây, chúng đệ cũng đốt không ít tiền giấy và thỏi vàng, đôi khi còn đến chùa thỉnh các vị hòa thượng làm lễ siêu độ. Chúng đệ luôn cho rằng bà đã được lên cõi trời. Thế nhưng, sau khi gọi điện cho Đài Trưởng, Ngài nói rằng bà vẫn đang ở cõi ngạ quỷ, sắp sửa đầu thai làm người, và dặn chúng đệ phải gấp rút niệm 21 tờ Ngôi nhà nhỏ cho bà. Vì vậy, chúng đệ làm đúng theo sự chỉ dạy của Đài Trưởng, bắt đầu niệm Ngôi nhà nhỏ cho bà. Khi niệm đến tờ thứ 19, chúng đệ gọi điện báo lại cho Đài Trưởng, thì được biết bà đã chuyển sang cõi A-tu-la.

Một việc hơn mười năm chưa thể giải quyết được, vậy mà chỉ trong hơn mười ngày đã hoàn thành. Ngôi nhà nhỏ quả thật là linh đan diệu dược bậc nhất trong các loại linh đan diệu dược. Lần này đệ tử đến Úc, có thể được kết duyên với Đài Trưởng, đó là phúc phần lớn nhất trong đời đệ tử, là phúc phần hiếm có nhất. Đệ tử nhất định phải trân quý phúc phần này. Đệ tử biết rằng, đối với một người như đệ tử, muốn lập tức học Phật, niệm kinh thì con đường phía trước còn rất dài.

Trước đây có người từng nói: kẻ thù lớn nhất của việc học chính là bản thân mình. Cũng vậy, trên con đường học Phật, nếu không có quyết tâm, không có niềm tin, không có lòng thành, không có sự kiên trì, không chuyên tâm, không tu tâm sửa mình, thì việc tu hành nhất định sẽ không thành.

Đài Trưởng dạy chúng đệ phải tu theo Chánh Pháp, đi con đường chính đạo. Con đường này là đại lộ thênh thang, là con đường tràn đầy ánh sáng; bằng không thì chỉ là con đường cụt.

Các chương trình 《Huyền Nghệ Tổng Thuật》 và 《Huyền Nghệ Vấn Đáp》 đã giúp chúng đệ mở mang tri kiến, hiểu rõ đạo lý.Sức khỏe là gì? Sức khỏe chính là hạnh phúc, sức khỏe chính là tài sản, sức khỏe chính là phúc báo.

Đệ tử thống kê một cách sơ bộ thì trong số những người gọi điện đến xin tư vấn, khoảng 80% đều gặp vấn đề về sức khỏe thân thể. Muốn có một thân thể khỏe mạnh, ai có thể mang lại cho chúng ta?

Đài Trưởng Lư có thể mang lại cho chúng ta.

Đài Trưởng Lư là đặc phái viên do Quán Thế Âm Bồ Tát phái xuống nhân gian, là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát, đang gánh vác một sự nghiệp vĩ đại và thiêng liêng.

Sự nghiệp ấy chính là khiến cho chúng ta, từ đời này sang đời khác, đều tu Phật, niệm kinh, làm việc tốt, làm việc thiện, tích lũy công đức, không làm điều xấu.

Có thể tưởng tượng được rằng, nếu mọi người đều làm như vậy, thì thế giới này sẽ tốt đẹp biết bao!

Xã hội sao có thể không hài hòa được chứ?

Đệ tử từng nói rằng: Đài Trưởng Lư là vĩ nhân của thế kỷ, là vĩ nhân của thế giới – điều này không hề quá lời.

Xin cảm ơn Đài Trưởng Lư, xin cảm ơn tất cả mọi người!

Ông Vương, 14/03/2010

Kính thưa Đài Trưởng Lư, xin chào Ngài.

Trước tiên, tại đây đệ tử xin cúi đầu đảnh lễ Ngài và toàn thể các sư huynh tình nguyện viên Văn phòng Thư ký Đài Đông Phương. Sự chỉ dẫn và trợ giúp vô tư của quý vị đã giúp cho chúng đệ, những người con đang sinh sống nơi hải ngoại, dù không thể trực tiếp gặp mặt Đài Trưởng, nhưng vẫn có thể kịp thời học tập và tu tâm thông qua BLOG và các bản ghi âm. Mọi người đã vất vả rồi!

Từ khi theo nghe các bản ghi âm của Đài Trưởng Lư, đệ tử đã hiểu rõ nhân quả và biết đến việc niệm kinh. Trước đây, mỗi khi gặp chuyện không như ý, đệ tử luôn oán trời trách người; nay đã hiểu được nguyên nhân, không còn tự ti buông xuôi, mà cố gắng sửa đổi bản thân.

Trước kia khi tiếp xúc với bạn bè, đệ tử thường cảm thấy mình cao hơn người khác, không muốn kết giao, nên rất ít bạn. Bây giờ, bạn bè đều nói rằng đệ tử đã thay đổi rất nhiều, họ cũng sẵn sàng giới thiệu thêm bạn bè cho đệ tử.

Điều khiến đệ tử vui nhất là nhờ niệm kinh, đệ tử đã tìm được một công việc full time tại Canada. Tuy công việc này trong mắt một số bạn bè là không có gì nổi bật, nhưng đối với đệ tử, đệ tử vô cùng trân trọng.

Bởi vì từ nhỏ đệ tử đã rất tự ti, do nhiều âm tiết đệ tử phát âm không chuẩn, thậm chí không phát ra được; khi trò chuyện với người khác, nếu gặp người không thiện ý, nói chuyện một lúc là họ chế giễu đệ tử, khiến đệ tử ngày càng không dám giao tiếp.

Đệ tử du học tại Canada 4 năm, sau khi tốt nghiệp muốn tìm công việc đúng chuyên ngành, nhưng cuối cùng đều thất bại vì vấn đề giao tiếp ngôn ngữ. Có một thời gian đệ tử thậm chí đã nghĩ đến việc gặp bác sĩ tâm lý, muốn trở về Trung Quốc, không muốn tiếp tục ở lại đây nữa. Nhưng nghĩ đến sự mong mỏi của gia đình trong nước, đệ tử rơi vào tình cảnh tiến thoái lưỡng nan.

Sau này, khi nghe các bản ghi âm của Đài Trưởng Lư, đệ tử hiểu rằng chỉ cần bản thân chuyên tâm niệm kinh, Bồ Tát nhất định sẽ gia hộ. Mỗi ngày, ngoài thời gian học tập cần thiết, đệ tử đều bắt đầu chí tâm niệm kinh.

Được khoảng một tháng rưỡi, bạn bè nói với đệ tử rằng công ty của họ đang tuyển dụng, bảo đệ tử thử nộp hồ sơ xem sao. Kết quả là đệ tử đã được tuyển dụng một cách thuận lợi.

Niềm vui trong lòng không thể diễn tả thành lời. Đệ tử chợt nghĩ đến việc viết bài chia sẻ này, để bày tỏ lòng cảm ân sâu sắc đối với Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, tri ân Đài Trưởng Lư và toàn thể các nhân viên Ban Thư ký Đài Đông Phương.

Đệ tử nhất định sẽ tiếp tục tu tâm, niệm Phật cho thật tốt, và trong khả năng của mình, giúp đỡ những người xung quanh, để báo đáp ân tình của quý Ngài.

Một lần nữa xin thành tâm cảm ân!

Cô Hoàng

Kính chào các đồng tu Đài Đông Phương!

Bản thân đệ tử hiện là nghiên cứu sinh tiến sĩ kinh tế học hệ toàn thời gian. Đệ tử kết duyên với Đài Trưởng Lư vào tháng 9 năm 2009, tính đến nay đã được 7 tháng.

Trong 7 tháng tu tâm, tu hành và học Phật niệm kinh này, nội tâm đệ tử vô cùng phấn khởi, nhiệt huyết học tập tăng cao chưa từng có. Trong suốt bảy tháng qua, đệ tử đã niệm hơn 350 tấm Ngôi nhà nhỏ, nghe hơn 400 giờ ghi âm chương trình của Đài Trưởng, và ghi chép 7 cuốn sổ học tập, tổng cộng hơn 100.000 chữ, từ các chương trình của Đài Trưởng.

Bài khai thị của Đài Trưởng tại buổi Giải Đáp “Huyền Nghệ Tổng Thuật” ở Bắc Sydney ngày 14/3 năm nay, đệ tử đã nghe hơn 10 lần, đồng thời chỉnh lý lại thành văn bản.

Trong suốt 7 tháng tu tâm tu hành này, tâm linh của đệ tử chịu sự chấn động sâu sắc chưa từng có trong cả cuộc đời. Đệ tử vô cùng may mắn vì trong vòng luân hồi nhân gian này, đã có thể gặp được Đài Trưởng Lư, dù là hơi muộn. Nhưng đệ tử tin rằng, sự tinh tấn tu học không ngừng của mình sẽ bù đắp được sự tiếc nuối ấy.

Tối thứ Hai (ngày 19/4), đệ tử đã theo dõi và lắng nghe bài khai thị của Đài Trưởng dành cho các bạn trong Đoàn Thanh niên Đài Đông Phương trên DIMDIM.

Khi nghe đến đoạn đầu tiên trong lời giảng của Đài Trưởng, đệ tử không kìm được nước mắt. Đài Trưởng nói rằng, bất kể hôm nay số người đến là nhiều hay ít, Ngài vẫn giảng như nhau; Ngài sẽ nói cho đến khi không còn nói nổi nữa, và xem đồ đằng cho đến khi không còn xem nổi nữa.

Đài Trưởng còn nói rằng, những người có khả năng thông linh thì thọ mệnh thường không dài, khi nhiệm vụ nơi nhân gian hoàn thành thì sẽ rời đi. Khi nghe những lời ấy, trong lòng đệ tử thật sự rất đau xót.

Đài Trưởng quả thật là khổ tâm khổ khẩu, tận tâm tận lực vì chúng sinh! Ngài thực sự quá vất vả. Sự vất vả ấy không vì danh, không vì lợi. Tâm nguyện duy nhất của Đài Trưởng chính là mong mọi người chân thành tin tưởng Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, thành tâm cầu xin sự gia hộ của Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, tin sâu nhân quả báo ứng, siêng năng làm người tốt, làm việc thiện.

Hiện tại, tâm trạng của đệ tử đã hoàn toàn xua tan u ám của bảy tháng trước, trở nên sáng sủa và nhẹ nhàng hơn rất nhiều. Cùng với việc tu tâm tu hành ngày càng đi sâu, nụ cười trên gương mặt đệ tử nhiều hơn, thái độ đối với gia đình cũng trở nên ôn hòa, và đệ tử kiên quyết không còn nói lời thô tục nữa.

Đồng thời, nhận thức của đệ tử về cuộc đời cũng ngày càng rõ ràng: Muôn thứ đều không mang theo được, chỉ có nghiệp là theo mình. Đệ tử vô cùng tin tưởng rằng: chỉ cần Đài Trưởng còn ở nơi nhân thế này, chỉ cần đệ tử còn có thể gặp được Đài Trưởng, thì dù có khó khăn lớn đến đâu, đệ tử cũng không sợ.

Nhân đây, đệ tử từ tận đáy lòng cảm tạ Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, đã gia hộ cho đệ tử trong đời này có cơ hội được kết duyên với Đài Trưởng.

Ngoài ra, đệ tử rất ngưỡng mộ các đồng tu đang sinh sống tại Sydney. Các sư huynh có nhiều cơ hội được gặp Đài Trưởng, được nhiều lần lắng nghe lời khai thị của Đài Trưởng, và được thường xuyên đến Quán Âm Đường của Đài Đông Phương để lễ bái Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.

Tuy nhiên, các đồng tu không ở Sydney cũng cần tràn đầy niềm tin: chỉ cần chúng ta dùng một tấm lòng chân thành để cầu nguyện Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, thì nhất định sẽ nhận được sự từ bi che chở và quan tâm của Ngài.

Mọi người hãy kiên định tin tưởng rằng:

Tâm thành thì cảm ứng linh nghiệm!

— Isabel, 28/04/2010

Kính bạch Lư Đài Trưởng kính yêu!

Khi con đọc được bài chia sẻ của vị đồng tu kia viết về lời khai thị của Ngài dành cho các bạn trẻ trong Đoàn Thanh niên Đài Đông Phương rằng: “Bất kể hôm nay người đến nhiều hay ít, Sư phụ vẫn sẽ giảng như nhau; Sư phụ sẽ nói cho đến khi không nói nổi nữa, xem đồ đằng cho đến khi không còn xem nổi nữa.” Ngài còn nói rằng: “Người có khả năng thông linh thì thọ mạng sẽ không dài, khi nhiệm vụ nơi nhân gian hoàn thành thì sẽ rời đi…”

Con đã bật khóc nức nở!!!

Thật sự đau lòng vô cùng!!

Con không thể tiếp tục im lặng được nữa, không thể nhẫn nhịn thêm nữa, con buộc phải thốt lên đôi lời từ đáy lòng gửi đến bậc Đại Đức Lư Đài Trưởng:

Chúng con tôn kính và yêu mến Ngài như kính trọng cha mẹ của mình; chúng con đều là những đứa con của Ngài.

Xin Ngài nhất định phải gìn giữ sức khỏe!

Xin Ngài đừng dồn quá nhiều tinh lực và tâm huyết vào việc xem đồ đằng cho đại chúng, bởi vì chúng sinh thì vô lượng, nhưng Lư Quân Hoằng Đài Trưởng – đối với chúng con – chỉ có duy nhất một mà thôi!

Chúng sinh hữu duyên thì tự nhiên sẽ đến kết duyên, không cần phải miễn cưỡng hay ép buộc bản thân phải thế này thế nọ.

Chỉ khi Lư Đài Trưởng được thân thể khỏe mạnh, thọ mạng lâu dài, thì mới có thể dẫn dắt đại chúng tinh tấn tu hành hơn, mới có đủ tinh lực để cứu độ thêm nhiều chúng sinh hữu duyên.

Kính mong Lư Đài Trưởng nhất định, nhất định phải đặt nền tảng tự lợi rồi mới lợi tha. Bằng không, tuy có chữ “xả”, nhưng nếu được không bù mất, thì đối với chúng con, những người dân bình thường, đó sẽ là niềm tiếc nuối lớn nhất.

Đồng thời, cũng chân thành khuyên nhủ thính giả và các vị đang tu hành: Khi quý vị nghe được lời giảng trực tiếp của Đài Trưởng, nghe được những phần giải đáp của Ngài, thì cho dù đó không phải là câu hỏi của chính mình, không phải là đồ đằng của chính mình, cũng nên biết đủ và sinh tâm cảm ân! Đài Trưởng đã dạy cho chúng ta một pháp môn tu hành vô cùng tốt đẹp, vô cùng hiệu quả, có thể tự cứu mình và cứu người. Chúng ta trước hết hãy nỗ lực tự cứu chính mình.

Mọi thuận cảnh hay nghịch cảnh trong đời này đều là quả báo do nhân nhiều đời tạo nên, chỉ khác nhau ở mức độ nặng – nhẹ, nhanh – chậm mà thôi. Chúng ta hãy trước tiên buông xuống tâm ích kỷ trong thân báo đời này, nghĩ nhiều hơn đến nỗi khổ của người khác. Quý vị chính là đệ, đệ chính là quý vị; Quý vị tốt thì đệ tốt, quý vị tốt thì đệ cũng tốt. 

Cuối cùng, nếu không phải là việc sinh tử khẩn cấp, xin mọi người trước hết đừng tìm Lư Đài Trưởng để xem đồ đằng, đừng khởi tâm cầu cạnh. Nếu chỉ là những vấn đề tu hành đơn giản, xin mọi người nói gọn gàng, súc tích, giảm bớt tâm vị kỷ. Thứ nhất, để bảo hộ tinh lực của Đài Trưởng. Thứ hai, để dành thời gian cho những người đang cần được giúp đỡ hơn.

Chân thành cầu nguyện Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát từ bi gia hộ cho Lư Quân Hoằng Đài Trưởng thân thể khỏe mạnh, trụ thế lâu dài, lợi lạc chúng sinh!

Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát!

 — Cư dân mạng

Đọc bài “Cảm ngộ khi theo Lư Đài Trưởng học Phật niệm kinh” của vị đồng tu này, đệ không kìm được nước mắt.

Cảm ân Đại Từ Đại Bi Lư Đài Trưởng, người thật sự đã quá vất vả, quá hy sinh.

Đồng thời, chân thành cầu nguyện Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát gia hộ cho Lư Đài Trưởng luôn được mạnh khỏe, trường thọ.

Xin hãy để chúng ta mỗi ngày kiên trì vì Lư Đài Trưởng mà tận lực niệm tụng Chú Đại Bi, bởi chính Ngài là người chỉ dẫn chúng sinh chúng ta bước lên con đường học Phật, niệm kinh, giúp chúng ta buông bỏ phiền não cá nhân, không còn chạy theo tham – sân – si. Lư Đài Trưởng chính là ân nhân cứu độ của chúng ta, là ngọn đèn soi đường cho chúng ta. Chúng ta không thể thiếu Ngài – Lư Đài Trưởng! Nguyện cho chúng sinh đang chịu khổ trong thiên hạ có thể được kết duyên với Phật pháp của Lư Đài Trưởng nhiều nhất có thể, để lìa khổ được vui. Nguyện Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát từ bi gia hộ cho Lư Đài Trưởng mãi mãi khỏe mạnh, trường thọ. So với sinh mệnh, mọi phiền não cá nhân đều không đáng kể. Phật pháp thường trụ trong tâm, người có duyên ắt sẽ mãi mãi hạnh phúc.

— huayi0181_f835

Xin tự giới thiệu, đệ tử tên là mẹ họ Thẩm, là một cư sĩ ở Thượng Hải.

Hôm nay đệ tử xin chia sẻ về nhân duyên tiếp xúc với sách của Lư Đài Trưởng và những cảm nhận của bản thân.

Vào khoảng tháng 7–8 năm ngoái, một người hàng xóm nói muốn tặng đệ tử một quyển kinh sách, kết quả lại tặng đệ tử quyển “Nhất mệnh nhị vận tam phong thủy”. Vừa nhìn thấy tên sách, đệ tử liền kết luận ngay: “Đây không phải là kinh sách, mà là sách xem số mệnh.”

Nhưng vì tò mò, đệ tử lật xem vài trang thì cảm thấy rất đặc biệt. Lần đầu tiên đệ tử biết đến “Huyền Nghệ Vấn Đáp” của Lư Đài Trưởng, lần đầu tiên biết đến việc Đài Trưởng xem đồ đằng từ xa để giúp người chữa bệnh, lần đầu tiên biết đến khái niệm “linh tính”. Lúc đó đệ tử rất muốn tiếp tục đọc quyển sách này, nhưng vì vừa mới phẫu thuật đục thủy tinh thể, không thể đeo kính để đọc sách, nên để một quyển sách hay như vậy nằm không thì thấy thật đáng tiếc. Vì thế, đệ tử đã cho người bạn thân là dì Mã mượn đọc. Ban ngày dì ấy trông cháu, ban đêm đợi khi cháu ngủ rồi mới đọc, liên tục đọc suốt mấy đêm liền. Hàng ngày bà ấy đều gọi điện cho đệ tử, kể cho đệ tử nghe nội dung trong sách.

Bà ấy nói: “Quyển sách hay như thế này, bà lấy ở đâu ra vậy? Tôi thật sự không nỡ trả lại cho bà.” Thấy bà ấy thích như vậy, đệ tử lại đi hỏi người hàng xóm xem còn quyển nào nữa không để xin thêm một quyển. Người hàng xóm đó không tin Phật, nên đã đưa cho đệ tử quyển duy nhất mà bà ấy có. Thế là đệ tử và dì Mã, mỗi người một quyển. Hai chúng đệ ngày nào cũng đọc, ngày nào cũng trao đổi, không biết đã đọc đi đọc lại bao nhiêu lần, không biết đã gọi điện cho nhau bao nhiêu cuộc.

Càng đọc càng thấy sách hay, càng đọc càng cảm thấy kiến thức tăng lên rất nhiều. Quyển sách này giống như một “tụ bảo bồn”, bên trong có kho báu đào mãi không hết. Sau đó, chúng đệ còn học cách lên blog của Lư Đài Trưởng, học niệm Ngôi nhà nhỏ, học cách thắp hương vào mùng một, ngày rằm, v.v.

Từ khi đệ tử hữu duyên được đọc sách của Lư Đài Trưởng, cộng thêm sự giao lưu, trao đổi với bạn bè và tự mình thực hành, đệ tử đã hoàn toàn tin sâu không nghi vào pháp môn của Lư Đài Trưởng. Các bộ kinh văn kết hợp do Đài Trưởng hướng dẫn đều có ghi rõ trong sách công khóa buổi sáng, có căn cứ rõ ràng để tra cứu, không phải tà môn ngoại đạo. Trong thời kỳ mạt pháp, xã hội quá hỗn loạn, cám dỗ quá nhiều, việc tu hành Phật pháp lại càng trở nên khó khăn hơn. Vì lòng từ bi, Quán Thế Âm Bồ Tát đã hóa thân thành Lư Đài Trưởng để cứu độ những chúng sinh hữu duyên. Các bộ kinh văn kết hợp của Lư Đài Trưởng đã giúp những người hữu duyên tu học Phật pháp đi con đường tắt, khiến trời – đất – người đều được lợi ích.

Đệ tử chính là một trong những người được lợi ích đó, sau đây đệ tử xin chia sẻ vài sự việc đã thực sự xảy ra nơi bản thân mình.

Việc thứ nhất: Phát nguyện. Trong sách, Lư Đài Trưởng có giảng rằng loài kiến cũng có linh tính, không được cố ý làm tổn hại. Năm 1997, trong tấm vách ngăn thoát nước của nhà bếp gia đình đệ tử xuất hiện rất nhiều kiến, chúng bò vào tủ chén, hũ đường. Cuối cùng vì không còn cách nào khác, đệ tử đã dùng bình xịt tiêu diệt rất nhiều kiến. Đệ tử là nội trợ, trong sinh hoạt hằng ngày cũng tạo không ít nghiệp sát sinh. Đến năm 2003, khớp ngón chân cái bên trái và khớp gối bên phải của đệ tử bắt đầu đau, ban đêm đau đến mức không ngủ được. Điều trị rất lâu có thuyên giảm, nhưng không thể dứt hẳn, thường xuyên tái phát. Sau khi đọc phần giảng của Lư Đài Trưởng về loài kiến, đệ tử mới hiểu rằng đối với những loài động vật đã từng bị mình làm tổn hại, cần phải niệm “Chú Vãng Sinh” để siêu độ. Vào những ngày trời nắng, đệ tử mỗi ngày niệm 108 biến Chú Vãng Sinh, và phát nguyện niệm đủ 365 ngày để hồi hướng cho những sinh linh nhỏ bé mà trước đây đệ tử từng làm tổn hại. Tính từ lúc phát nguyện đến nay đã năm tháng, cơn đau không còn tái phát. Hiện tại, đệ tử đã niệm Vãng Sinh Chú được hơn một tháng.

Việc thứ hai: Cuối năm ngoái, sau khi mẫu Ngôi nhà nhỏ được ban hành, đệ tử trước tiên niệm 8 tờ Ngôi nhà nhỏ cho bản thân, sau đó niệm thêm 12 tờ cho con trai lớn đang ở Mỹ.

Bởi vì trong năm 2009, con trai lớn của đệ tử đã chặt ba cây đại thụ có tuổi đời hàng chục năm. Sau khi đọc sách của Lư Đài Trưởng, đệ tử mới nhận ra tính chất nghiêm trọng của vấn đề này.

Vào sáng mùng Một Tết năm nay, khoảng 7 giờ 30, đệ tử mơ thấy cha chồng đã qua đời. Ông nói với đệ tử:

“Ta đã đá nó một cái.”

Sau đó ông khóc lớn và nói:

“A! Đồ đạc của ta đều bị họ chia hết rồi.”

Nói xong, ông ngã thẳng xuống, đệ tử vội vàng đỡ lấy ông, rồi liền tỉnh giấc. Giấc mơ rất rõ ràng, sau khi cẩn thận hồi tưởng lại cảnh trong mơ, đối chiếu với sách của Lư Đài Trưởng, đệ tử hiểu rằng ông đến để xin kinh văn.

Từ mùng Một Tết, trong những ngày đầu năm mới, đệ tử đã niệm 4 tờ Ngôi nhà nhỏ cho ông. Mỗi lần niệm xong, vùng cột sống phía sau lưng đệ tử lạnh buốt, lỗ chân lông như mở ra, cảm giác lạnh từng đợt như trước khi phát sốt, nhưng không tìm ra nguyên nhân, nên lúc đầu đệ tử không để ý. Sau này đệ tử mới biết, đó là hiện tượng vong linh nhập thân, cần phải nhanh chóng niệm Ngôi nhà nhỏ.

Việc thứ ba: Từ ngày 3 tháng 3, tức ngày 18 tháng Giêng âm lịch, đệ tử bắt đầu chính thức mỗi ngày niệm: Chú Đại Bi, Tâm Kinh và Lễ Phật Đại Sám Hối Văn, mỗi bài 7 biến. Tu tập được khoảng nửa tháng, thì bệnh đau lưng của đệ tử tái phát, không cử động được, toàn thân không có sức, tinh thần rất mệt mỏi, sắc mặt vàng vọt như giấy.

Sau đó đệ tử mới biết là linh tính bị kích hoạt, cần phải nhanh chóng niệm Ngôi nhà nhỏ cho bản thân, nên đệ tử đã niệm 16 tờ Ngôi nhà nhỏ cho mình.

Do trước tiết Thanh Minh, đệ tử lại niệm thêm 10 tờ Ngôi nhà nhỏ cho bốn vị cha mẹ đã qua đời, nên hiện nay khi niệm Ngôi nhà nhỏ không còn cảm giác lạnh nữa, lưng đã khá hơn hơn một nửa, sắc mặt cũng cải thiện rõ rệt so với trước.

Việc thứ tư càng mang tính tiêu biểu hơn, càng cho thấy pháp môn của Lư Đài Trưởng linh nghiệm đến tột cùng.

Con dâu út của đệ tử là người Đài Loan, ngày 6 tháng 3 sang Thượng Hải. Mọi người đều biết, hiện nay việc tìm việc làm ở Thượng Hải rất khó, tìm được một công việc vừa nhanh vừa như ý lại càng khó hơn. Nhưng đệ tử rất tự tin, bởi vì đệ tử tin sâu sắc rằng tổ hợp kinh văn của Lư Đài Trưởng nhất định có hiệu quả.

Vào ngày 8 và 9 tháng 3, đệ tử hỏi con dâu:

“Con có muốn tìm một công việc vừa nhanh vừa tốt không?”

Nó trả lời: “Có ạ!”

Đệ tử nói: “Vậy con cứ nghe lời mẹ, niệm kinh đi.”

Người Đài Loan vốn tương đối có niềm tin, nên đệ tử giới thiệu cho con dâu tổ hợp kinh văn cầu công việc của Lư Đài Trưởng: Chú Đại Bi, Tâm Kinh, Lễ Phật Đại Sám Hối Văn mỗi bài 7 biến, Chuẩn Đề Thần Chú 49 biến hoặc 108 biến; con dâu chọn niệm 108 biến. Trước tiên đệ tử cho con dâu đọc sách của Lư Đài Trưởng, nó cũng đọc rất nghiêm túc.

Từ ngày 15, con dâu bắt đầu chính thức niệm kinh, và quỳ trước Bàn thờ Phật đài để niệm. Trong thời gian con dâu niệm kinh, đệ tử cũng niệm giúp cho nó 8 tờ Ngôi nhà nhỏ. Điều kỳ diệu xuất hiện ngay vào ngày thứ hai sau khi niệm kinh: đã có cuộc gọi phỏng vấn; ngày thứ tư lại có thêm một cuộc gọi phỏng vấn nữa, đến ngày thứ mười, tức ngày 24 tháng 3…

Hiện nay con dâu đệ tử đã đi làm, với mức lương 6.000 nhân dân tệ. Đơn vị này trước đây con dâu đệ tử từng nộp hồ sơ nhưng không hề được gọi phỏng vấn. Sau khi niệm tổ hợp kinh văn của Lư Đài Trưởng, chỉ trong vòng mười ngày đã tìm được một công việc vừa ý như mong muốn. Thật sự không thể nghĩ bàn. Hiện tại con dâu đệ tử cũng ngày ngày niệm kinh. Đệ cảm kích Lư Đài Trưởng đến mức ngũ thể đầu địa, và càng vui mừng hơn khi theo Lư Đài Trưởng học Phật lại có thêm một vị đồng tu trẻ tuổi.

Thứ nhất, đệ tử xin cảm ơn Lư Đài Trưởng đại từ, đại bi, cứu khổ cứu nạn, đã truyền cho chúng đệ một pháp môn tốt đẹp như vậy, giúp chúng đệ đi con đường tắt trên hành trình học Phật, khiến trời – đất – người đều được lợi ích.

Thứ hai, đệ tử xin cảm ơn tiên sinh Lương Tiêu với ngòi bút tài hoa, đã triển hiện pháp môn của Lư Đài Trưởng một cách sâu sắc, sinh động, từ cạn đến sâu, khiến chúng con yêu thích không rời tay và được lợi ích rất nhiều.

Thứ ba, đệ tử cũng xin cảm ơn các đồng tu cùng học Phật. Nhờ sự nỗ lực và giúp đỡ chung của mọi người, đệ tử mới có cơ hội hôm nay chia sẻ tình hình với đại chúng. Xin cảm ơn tất cả!

 — Cư sĩ Thượng Hải, Thẩm Mụ Mụ. Ngày 09-05-2010

Kính bạch Lư Đài Trưởng, Ban Thư Ký và chư vị đồng tu!

Trước tiên, đệ tử xin chân thành cảm ơn Lư Đài Trưởng và Ban Thư Ký, mọi người đã vất vả rất nhiều! Đồng thời, đệ tử vô cùng cảm ân Đức Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn và Lư Đài Trưởng đã mang một pháp môn tốt đẹp như vậy đến với đại chúng, giúp chúng đệ thu được vô vàn lợi ích.

Bình thường khi đọc blog của Đài Trưởng, đệ tử vẫn thuộc dạng âm thầm theo dõi, rất ít khi chia sẻ. Nhưng hôm nay, sau khi đệ tử niệm bảy biến Đại Bi Chú hồi hướng cho Đài Trưởng, trong lòng bỗng dâng lên một nguyện vọng vô cùng mãnh liệt: con muốn mượn nền tảng này để chia sẻ cùng mọi người những cảm ngộ sau khi theo Lư Đài Trưởng học Phật và niệm kinh, mong rằng có thể giúp thêm nhiều người được lợi ích.

Nếu có điều gì chưa thỏa đáng, kính mong Lư Đài Trưởng, Ban Thư Ký và chư vị đồng tu từ bi chỉ dạy và chỉnh sửa.Có một lần, khi đệ tử đang rơi vào trạng thái tuyệt vọng cùng cực và gần như đã đưa ra quyết định dại dột, thì trong đầu bỗng vang lên một giọng nói nói với đệ tử rằng: “Con không thể ra đi như vậy được. Nếu con ra đi như thế, con làm sao xứng đáng với công lao nuôi dưỡng vất vả của cha mẹ? Hơn nữa, nếu chuyện đó xảy ra ngay trong nhà cha mẹ, người khác sẽ hiểu lầm rằng con đã làm điều gì sai trái không thể nói ra. Con tuyệt đối không được làm như vậy!”

Nghe những lời ấy, đệ tử lập tức tỉnh táo trở lại. Sau này nghĩ lại vẫn còn cảm thấy sợ hãi. Sự việc này ảnh hưởng rất lớn đến đệ tử, để lại bóng đen tâm lý suốt hơn mười năm, khiến đệ tử thường sinh tâm sợ hãi vào ban đêm, trở nên vô cùng nhút nhát.

Từ đó, đệ tử tin rằng thế giới này thực sự tồn tại những không gian khác và linh hồn, rằng Bồ Tát, quỷ thần… không chỉ là những hình tượng trong phim ảnh hay tiểu thuyết, mà thực sự ở rất gần chúng ta. Có lẽ cũng vì đệ tử có duyên với Phật, nên dù khi ấy chưa tiếp xúc với Phật pháp, trong tiềm thức đệ tử vẫn tin rằng kiếp trước mình từng tin Phật, và trong lúc nguy nan của đời này, Bồ Tát đã từ bi ra tay cứu giúp.

Đệ tử vô cùng tin tưởng rằng chính Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát đã cứu đệ tử. Vì vậy, đệ tử luôn ôm giữ một tấm lòng cảm ân, và nghiêm túc, trân trọng sống tốt từng ngày.

Cho đến tháng Chín năm ngoái, đệ tử lại tình cờ nhìn thấy blog của Lư Đài Trưởng trên mạng, trong lòng vô cùng vui mừng và xúc động. Khi nhìn thấy hình ảnh của Đài Trưởng và nghe được giọng nói của Ngài, đệ tử cảm thấy vô cùng thân quen, giống như một bậc trưởng bối trong gia đình mình vậy, đồng thời cũng có cảm giác như đã tìm được con đường trở về nhà.

Trước đây tuy đệ tử có tín ngưỡng, nhưng chưa từng gặp được một vị minh sư chỉ dẫn, còn bây giờ đệ tử đã nhìn thấy ánh sáng. Kể từ khi tiếp xúc với blog của Đài Trưởng, đệ tử liền phát tâm ăn chay trường, tích cực phóng sinh, làm nhiều việc thiện, tích lũy công đức.

Đệ học tập từng bước theo đúng nội dung mà mục hướng dẫn tài nguyên trên blog của Đài Trưởng giới thiệu. Trước tiên, đệ tử đọc các sách “Một Mệnh, Hai Vận, Ba Phong Thủy” và “Thiên – Địa – Nhân”, từ đó dần dần hiểu được những điều mà trước đây thế gian không dễ nhận biết.

Phải nói rằng hai cuốn sách này thật sự rất hay. Đây là những ghi chép lại các trường hợp điển hình trong chương trình của Đài Trưởng, thuộc về kiến thức nền tảng. Những người mới học Phật nhất định nên đọc. Qua đó, đệ tử hiểu được vấn đề nào thuộc phạm trù nào, cũng như sau này nếu gọi điện hỏi Đài Trưởng thì nên đặt câu hỏi ra sao.

(Mặc dù cho đến nay đệ tử vẫn chưa từng gọi vào đường dây nóng của Đài Trưởng, bởi đệ tử cho rằng chỉ cần y theo pháp môn mà Đài Trưởng chỉ dạy để tu hành nghiêm túc, thì rất nhiều việc có thể tự mình hóa giải. Đồng thời cũng phải biết nghĩ cho Đài Trưởng, tiết kiệm tinh lực cho Ngài, vì Đài Trưởng vô cùng vất vả; đường dây nóng nên dành cho những người đang gặp bệnh nặng hoặc tình huống cấp bách, khó khăn nhất.)

Sau khi đọc sách nhiều lần, đệ tử bắt đầu tham chiếu các “đơn kinh văn” mà Đài Trưởng đã khai thị cho người khác, rồi kết hợp với tình trạng thực tế của bản thân để sắp xếp thời khóa tu hằng ngày.

Việc chăm chú lắng nghe các chương trình ghi âm của Đài Trưởng cũng vô cùng quan trọng. Gần như tập nào đệ tử cũng không bỏ sót, những đoạn quan trọng đệ tử còn kiên trì ghi chép lại.

Sau một thời gian làm công khóa, vì mang tâm lý may mắn và do dự, đệ tử chưa bắt đầu niệm Ngôi nhà nhỏ cho người cần kinh của chính mình, chủ yếu là vì lo sợ công phu tu tập của bản thân chưa đủ.

Nhưng trong một lần niệm bản tự tu của Lễ Phật Đại Sám Hối Văn”, đệ tử đột nhiên bật khóc lớn, trong tâm chợt nhớ đến đứa con đã từng bị lưu mất trước đây. Kết hợp với một giấc mơ tối hôm trước, đệ tử mơ thấy một người bạn dẫn theo con của cô ấy đến thăm đệ tử. Trong mơ, ánh mắt của đứa trẻ vô cùng bất lực, cứ nhìn đệ tử không rời; ấn tượng sâu sắc nhất là đứa trẻ ấy lại không mang giày, trong mơ đệ tử cảm nhận được sự đáng thương vô cùng.

Sau khi tỉnh dậy suy nghĩ lại, đệ tử hiểu rằng có lẽ đứa trẻ đã bị lưu mất sợ đệ tử không nhận ra, nên mượn hình dáng con của người bạn để hiện ra cho đệ tử thấy, đó chính là đang đến xin kinh.

Từ đó, đệ tử bắt đầu nghiêm túc và chân thành niệm Ngôi nhà nhỏ cho đứa trẻ đã lưu thai và mất. Nhưng vì giữa chừng phải đi công tác, việc niệm kinh bị gián đoạn vài ngày, rồi đệ tử lại tiếp tục nằm mơ.

Trong mơ, có một giọng nói nói với đệ tử:”Hãy trả dứt điểm khoản tiền mua nhà còn thiếu cho tôi đi.” Trong mơ, đệ tử còn nghĩ chất lượng ngôi nhà nhỏ không tốt, nên không mấy cam tâm trả hết. Nhưng sau khi về nhà suy nghĩ lại, đệ tử nhận ra điều đó là không đúng:

Nợ thì phải trả, đó là đạo lý hiển nhiên, huống chi nghiệp mà bản thân đã tạo lại là nghiệp sát sinh, vô cùng nặng nề.

Giấc mơ này nhắc nhở đệ tử không được chậm trễ, đồng thời khi niệm kinh còn phải đặc biệt chú trọng đến chất lượng, vì thế đệ tử tiếp tục tinh tấn hành trì. Khi niệm gần được hơn ba mươi tờ Ngôi nhà nhỏ, đệ tử lại làm thêm một giấc mơ nữa. Trong mơ, vẫn là đứa trẻ con của người bạn ấy, nhưng lần này ăn mặc rất đẹp, tóc tai được chải chuốt gọn gàng, mỉm cười với đệ tử, còn làm những cử chỉ khuôn mặt rất vui vẻ.

Lúc đó đệ tử nghĩ rằng: lần này cuối cùng mình đã siêu độ ổn thỏa cho đứa con bị lưu mất của mình rồi. Trong lòng vừa vui mừng, đồng thời cảm thấy bình an, nhẹ nhõm hơn rất nhiều.

Pháp môn của Đài Trưởng quả thật kỳ diệu như vậy!

Ngoài ra, còn một điều đệ tử muốn chia sẻ thêm với các đồng tu: Trước đây, chân trái của đệ tử từng bị tai nạn xe, mỗi khi trời mưa là lại đau nhức, nhưng từ khi theo Đài Trưởng niệm kinh, tình trạng này cũng đã khỏi hẳn.

Sau khi niệm “Giải Kết Chú”, mối quan hệ giữa đệ tử và chồng được cải thiện rõ rệt. Điều khiến đệ tử an ủi và vui mừng nhất là con gái tám tuổi của đệ tử cũng có thể tiếp nhận Phật pháp và niệm kinh. Đệ tử thật sự vô cùng hoan hỷ!

Đồng thời, đệ tử cũng giới thiệu pháp môn của Đài Trưởng cho một người bạn rất thân. Chúng đệ gần như bắt đầu niệm kinh cùng lúc. Hiện nay, bạn đệ tử cũng thu được rất nhiều lợi ích: gia đình hòa thuận hơn, sự nghiệp tiến triển tốt, đứa con nhỏ mấy tuổi cũng chủ động niệm kinh. Mỗi ngày, hai chúng đệ đều chia sẻ và trao đổi với nhau về thể nghiệm khi niệm kinh, từ đó cùng nhau học hỏi, giao lưu và không ngừng tiến bộ.

Kính thưa các vị đồng tu,

Sở dĩ đệ tử có thể viết ra đoạn trải nghiệm đặc biệt của bản thân, chủ yếu là vì sau khi tiếp xúc với pháp môn của Đài Trưởng, đệ tử đã hoàn toàn bước ra khỏi bóng tối tâm lý kéo dài hơn mười năm trước, và cuộc sống đã có những thay đổi rất lớn. Đệ tử mong muốn khuyên nhủ thêm nhiều người hữu duyên hãy học tập pháp môn của Đài Trưởng, chân thành tu tâm và tinh tấn niệm kinh.

Tất nhiên, so với các đồng tu khác, đệ tử tự nhận thấy bản thân vẫn học chưa đủ, nghiệp chướng trên thân mình còn rất nặng, vì vậy trong tương lai càng phải tiếp tục tinh tấn tu hành, để không phụ ân cứu mạng to lớn của Đức Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát.

Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn Đài Trưởng, Ban Thư ký và toàn thể các vị đồng tu!

Kính chúc Đài Trưởng thân thể khỏe mạnh!

— Phật hữu mmcyly

26/06/2010

Khi mới bắt đầu niệm Ngôi nhà nhỏ, đệ tử cũng từng cảm thấy rất sợ, thậm chí có lúc lo lắng quá mức. Ban đêm không dám ngủ, có khi cả người run rẩy vì bất an. Đêm ngủ thường không yên, tinh thần bị áp lực nặng nề, cảm giác rất khó chịu.

May mắn là đệ tử kiên trì vượt qua, sau khi đã niệm được 18 tờ Ngôi nhà nhỏ, thì trạng thái tinh thần thay đổi rõ rệt, giống như trở thành một con người khác. Hiện tại, đi đêm cũng không còn sợ nữa, kể cả trên những con đường quê vắng ở quê nhà. Tất nhiên khi đi vẫn niệm Chú Đại Bi để giữ tâm an định. Ngoài ra, cảnh mộng cũng rất đặc biệt: trong mơ có thể trò chuyện với người khác, họ nói cho đệ tử biết những điều mình đang băn khoăn. Mong rằng những đồng tu còn cảm thấy sợ hãi hãy tăng trưởng niềm tin, cùng nhau tinh tấn và tiến bộ.

— Cư sĩ trên mạng

Nếu ai lần đầu đọc bài chia sẻ của ông Phan thì xin đừng nghi ngờ. Đệ tử mới tiếp cận blog của Đài Trưởng vào ngày 5 tháng này, ngay trong ngày đó đệ tử đã bắt đầu niệm kinh. Bởi vì trong nhà đệ tử vốn đã có kinh sách, nhưng đệ tử chưa từng đọc, không phải vì đệ tử không tin Phật, mà là vì chưa ai chỉ dẫn cho đệ tử cách đọc và nên đọc những gì.

Đệ tử tin tưởng Phật pháp, nhưng bao năm qua là theo mù quáng, không có phương pháp cụ thể. Giống như đệ tử, muốn thi một chuyên ngành máy tính, mỗi ngày đi học, thấy sách ở đâu là đọc ở đó, nhưng không biết phải học như thế nào, nên đọc những cuốn sách nào mới có thể đậu vào chuyên ngành mình mong muốn.

Đệ tử giống như ông Phan, bị đau lưng, đã kéo dài hơn một năm, và có hai lần đau đến mức không thể cử động, phải vào cấp cứu tiêm thuốc giảm đau. Đệ tử đã đi khám cả y học phương Tây và phương Đông, chụp nhiều thiết bị hiện đại, bác sĩ kết luận rằng đệ tử bị thoát vị đĩa đệm 3 đốt sống, và nói một câu khiến đệ tử rùng mình: “Sau này ông không cần đến khám chỗ tôi nữa, nếu đau thì uống thuốc giảm đau, nếu nặng tôi sẽ phẫu thuật cho ông.”

Từ ngày 5 đến nay, đệ tử theo phương pháp Đài Trưởng hướng dẫn, bắt đầu niệm kinh một tháng, mới niệm 3 tờ Ngôi nhà nhỏ, chưa đến một tháng, nhưng lưng đệ tử đã khỏi đến 90%, chỉ còn không thể đứng thẳng cúi người, nhưng cảm giác đau hầu như biến mất.

Trước đây đệ tử chưa bao giờ kiêng ăn thịt, kể cả thịt bò. Hôm kia, khi đi chơi với bạn, đệ tử gọi món bò viên mà trước đây rất thích, bỗng nhiên thấy rất khó chịu, không muốn ăn nữa, và ngày mai đệ tử sẽ đến chùa thề từ nay sẽ không ăn thịt bò.

Thật kỳ diệu! Đệ tử cũng cố gắng giới thiệu pháp môn này cho bạn bè. Cảm ơn Đài Trưởng đã truyền pháp môn này cứu giúp đệ tử. Không ngờ rằng, mất nhiều tiền vẫn không khỏi bệnh, mà chỉ 20 ngày ở nhà niệm kinh cũng chữa lành được. Những ai chưa bắt đầu, các bạn còn chờ gì nữa? Mong Đài Trưởng giữ gìn sức khỏe!

—Trần Hy

Kính bạch Lư Đài Trưởng Bồ Tát từ bi, Đệ tử viết bức thư này với tâm vô cùng biết ơn và vô cùng cung kính. Nếu trong những lời con viết dưới đây có dù chỉ một câu không đúng sự thật, con xin tự nguyện gánh chịu quả báo đọa địa ngục.

Do nghiệp chướng sâu nặng, sáu năm trước con mắc bệnh phổi, bệnh tình dây dưa mãi không khỏi, thường xuyên ho khạc đờm, thậm chí ho ra máu. Thuốc Tây, thuốc Đông con đã uống vô số, nhưng hiệu quả không đáng kể.

Ngày thứ Tư 21 tháng 4 năm nay, con có cúng dường một vị Thượng sư Tây Tạng, đồng thời tùy hỷ một ít tiền phóng sinh. Có lẽ nhờ chút công đức này, tối hôm đó con đã nhìn thấy blog của Lư Đài Trưởng trên mạng.

Ngay từ ánh nhìn đầu tiên khi thấy hình của Lư Đài Trưởng, con đã cảm thấy vô cùng, vô cùng quen thuộc, không hiểu vì sao lại như vậy. Có lẽ trong quá khứ con đã từng theo Lư Đài Trưởng học Phật chăng – con tự nghĩ như vậy (cười).

Sau đó, khi đọc những bài viết trên blog, con bị thu hút sâu sắc, và có cảm giác rằng mình đã tìm được vị cứu tinh của đời mình.

Ngày thứ Năm, con lại đọc kỹ một lần nữa các bài viết trên blog của Lư Đài Trưởng, và đã có hiểu biết sơ bộ về Ngôi nhà nhỏ cũng như các kiến thức liên quan.

Vì vậy, ngày thứ Sáu, trong thời gian chương trình “Huyền Nghệ Tổng Thuật”, con đã gọi vào đường dây nóng. Nhưng hôm đó chương trình không xem đồ đằng. Lư Đài Trưởng từ bi, khi biết con bị ho ra máu, đã chỉ dẫn con ngày hôm đó niệm 49 biến Chú Đại Bi, bảo rằng niệm xong sẽ không còn ra máu nữa; sau đó niệm 37 tờ Ngôi nhà nhỏ cho những người cần kinh, rồi 28 tờ Ngôi nhà nhỏ cho thai nhi đã bị bỏ.

Con cúp máy và bắt đầu niệm Chú Đại Bi. Sau khi niệm xong 49 biến, bất ngờ con đi đại tiện một lần, nghĩ rằng chắc là tiêu trừ nghiệp chướng. Quả nhiên, từ hôm đó đến nay con không còn ho ra máu nữa.

Hiện tại con kiên trì mỗi ngày niệm 1 tờ Ngôi nhà nhỏ, đến nay đã đốt được 5 tờ. Ngay từ ngày đầu tiên, khi niệm Ngôi nhà nhỏ, bốn loại kinh trong đó con đã thuộc lòng, nên tốc độ niệm rất nhanh, nhưng tâm tưởng nhiều phiền nhiễu, niệm hay lạc tâm, con phải cố gắng vượt qua, tiếp tục nỗ lực!

Đây là trải nghiệm một tuần theo Lư Đài Trưởng niệm kinh của con, tuy thời gian ngắn và chưa chia sẻ nhiều, nhưng con tin chắc rằng chỉ cần học theo pháp môn Lư Đài Trưởng truyền dạy, đời con nhất định sẽ có chuyển biến lớn.

Những ai có duyên lành được đọc blog của Lư Đài Trưởng, đều là người có phúc, hãy biết trân trọng.

Con biết ơn Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát! 

Con biết ơn Lư Đài Trưởng vô cùng kính trọng!  Xin Ngài bảo trọng sức khỏe!

— Một Phật tử biết ơn 03/07/2010

Trước tiên, đệ tử muốn tự kiểm điểm mình. Đệ tử luôn muốn viết ra toàn bộ quá trình đệ tử theo Lư Đài Trưởng tu tâm niệm kinh, để nhiều người có thể tin tưởng và từ đó được lợi ích, nhưng mãi chưa đủ can đảm để kể những việc xảy ra trong gia đình mình cho mọi người biết.
Khi Lư Đài Trưởng đến Mỹ, đệ tử đã đi gặp. Mọi người đều nói rằng Lư Đài Trưởng trông trẻ hơn so với giọng nói. Nói thật, đệ tử thấy Lư Đài Trưởng còn mệt mỏi nhiều hơn so với hình ảnh trên ảnh. Hôm nay, đệ tử lấy hết can đảm và nước mắt để ghi lại những việc đã xảy ra với bản thân mình, chỉ hy vọng nhiều người đáng thương khác có thể thoát khỏi khổ đau. Đầu năm 2009 là quãng thời gian khốn đốn, sa sút, lạc lối nhất trong cuộc đời đệ tử cho đến nay, là lúc đệ tử cảm thấy mình gần với cái chết nhất.
Đệ tử nói “gần với cái chết”, có lẽ quý vị sẽ cho là nói quá, nhưng đối với đệ tử thì hoàn toàn không hề phóng đại. Không chỉ một lần đệ tử đã hỏi chồng mình: “Sống như thế này còn khổ hơn chết, nhưng nếu chết rồi thì cha mẹ phải làm sao?”
Anh ấy tưởng đệ tử bị bệnh. Vì muốn đưa đệ tử về nước chữa trị, anh nói: “Em có chết thì anh cũng chết cùng em, nhưng chết cũng phải về nước mà chết.” Chính vào thời điểm đó, đệ tử đọc được trên trang Học Thành một bài viết giới thiệu về Lư Đài Trưởng. Đệ tử đã mất hai đến ba buổi tối để tìm kiếm và đọc tất cả những tài liệu liên quan đến Lư Đài Trưởng, rồi đọc hai lần cuốn “Nhất mệnh – Nhị vận – Tam phong thủy” và “Thiên – Địa – Nhân”. Đọc xong, đệ tử bắt đầu tự niệm Ngôi nhà nhỏ cho chính mình. Không ít người thân và bạn bè của đệ tử cũng đã đọc hai cuốn sách này, nhưng vẫn chưa có ý định niệm kinh. Lúc đầu đệ tử cảm thấy khó chấp nhận, nhưng sau đó nghĩ lại thì thấy điều này ngược lại cho thấy hiện tại có lẽ họ đang sống thuận lợi, gia đình hạnh phúc, và đối với họ, điều đó không phải là chuyện xấu.
Nhiệm vụ của đệ tử là giới thiệu pháp môn của Lư Đài Trưởng cho họ, để đến một ngày nào đó, nếu họ thực sự rơi vào thời khắc đau khổ và bất thuận nhất của cuộc đời, họ còn nhớ đến pháp môn này, để không đến mức hoàn toàn bó tay trước mọi việc.
Dưới đây xin đính kèm lá thư đệ tử đã viết cho Đài Đông Phương vào năm 2009:
Cầu xin Lư Đài Trưởng cứu mạng, cứu cuộc hôn nhân này!

Kính chào Lư Đài Trưởng,
Con luôn không thể gọi được vào chương trình của Ngài, nên chỉ còn cách viết thư tại đây để cầu xin sự giúp đỡ. Con sinh năm XX, tuổi X, chung sống với chồng đã nhiều năm. Bình thường tính con có lúc khá nóng nảy, nhưng hai vợ chồng trước nay chưa từng cãi nhau.
Khoảng nửa năm trở lại đây, do phát hiện chồng con đã ngoại tình từ năm ngoái, con đã mắng chửi, đánh đập anh ấy, những lời khó nghe đến mức nào con cũng nói ra được. Con đánh anh ấy đến mức đầu bê bết máu, phải đưa vào phòng cấp cứu mà vẫn cảm thấy chưa hả giận. Chúng con thậm chí còn đặc biệt từ Mỹ quay về Trung Quốc, đi khám bác sĩ tâm thần, uống rất nhiều thuốc Đông y, nhưng tình trạng vẫn không hề cải thiện. Cho đến tháng Ba, sau khi đọc sách của thầy Lương Tiêu, biết được sự hoằng pháp của Ngài, con bắt đầu niệm gần hai mươi tờ Ngôi nhà nhỏ cho chính mình, thì tình trạng cải thiện rõ rệt rất nhiều. Hiện tại, toàn bộ kinh văn trong Ngôi nhà nhỏ con đều có thể thuộc lòng, mỗi ngày kiên trì ít nhất một biến Lễ Phật Đại Sám Hối Văn. Trước kia, mỗi ngày con phát bệnh rất nhiều lần, nay thì một hai ngày mới phát một lần.
Vấn đề nằm ở chỗ, mỗi lần phát bệnh, con lại đánh chồng rất nặng, và anh ấy cũng đánh trả dữ dội. Hai người thường xuyên liều mạng đánh nhau đến sống chết, dù ngủ chung một giường cũng không yên, luôn sợ đối phương thừa lúc mình ngủ mà phát bệnh. Thật sự cảm thấy sống như vậy còn khổ hơn cả chết.
Ngoài ra, gần đây con nhiều lần nằm mơ thấy có người chết, không phải một hai người, mà từng mảng từng mảng người chết. Mỗi lần tỉnh dậy đều vô cùng sợ hãi, thật sự không biết kiếp trước mình đã tạo nghiệp gì. Con không biết trên thân mình còn bao nhiêu nghiệp chướng, bao nhiêu vong linh trên thân. Nếu chỉ cần niệm Ngôi nhà nhỏ mà có thể chữa được bệnh của con, để con cảm thấy sống còn có ý nghĩa, thì dù phải niệm bao nhiêu con cũng sẵn lòng, chỉ cầu xin Ngài chỉ cho con một con đường sáng!

Dưới đây là hồi đáp của Ban Thư ký:
“Lư Đài Trưởng sau khi xem xong đồ đằng của quý vị, phát hiện rằng áp lực của quý vị rất lớn, trên thân có vong linh. Phương pháp điều trị được chỉ định như sau: Ngôi nhà nhỏ: 19 tờ. Chú Đại Bi: mỗi ngày 7 biến. Tâm Kinh: mỗi ngày 7 biến. Giải Kết Chú: mỗi ngày 21 biến
Ngoài ra, tốt nhất nên đi phóng sinh và phát nguyện trước mặt Bồ Tát. Bởi vì phóng sinh – phát nguyện – niệm kinh chính là ba đại pháp bảo mà Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát truyền dạy cho Lư Đài Trưởng để cứu chữa các bệnh nặng, bệnh ác tính. Chỉ cần vận dụng đúng cách, thì có thể làm dịu bệnh tình, thuốc đến bệnh khỏi. Xin đừng nóng vội, hãy từ từ mà làm, mọi việc rồi sẽ dần tốt lên.”
Một năm rưỡi nay, đệ tử hằng ngày niệm kinh làm công phu, mỗi tháng phóng sinh một đến hai lần, trong nhà đã bố trí bàn Phật, trước Bồ Tát phát nguyện mỗi tháng ăn năm ngày chay (hiện nay đã hoàn toàn ăn chay), và tổng cộng niệm gần hai trăm tờ Ngôi nhà nhỏ cho bản thân.
Cuộc sống cải thiện rõ rệt, không chỉ một chút mà là có chuyển biến đáng kể. Sau mỗi ba tháng nhìn lại, đệ tử thấy cả công việc, cuộc sống, tình cảm đều có tiến bộ rõ ràng. Đệ tử và chồng bắt đầu lại việc hiểu và quan tâm lẫn nhau, tái nuôi dưỡng tình cảm, luôn đứng ở góc độ của đối phương mà suy nghĩ, tình cảm tốt hơn bất cứ lúc nào trước đây, cơ bản không còn cãi vã, thậm chí không còn nổi giận, bởi đệ tử sợ làm tổn phước đức.
Trong công việc, trước đây áp lực rất lớn, luôn tăng ca và chịu áp lực, nhưng bây giờ không cần tăng ca, áp lực cũng biến mất. Điều quan trọng nhất là cuộc đời có mục tiêu rõ ràng. Khi còn nhỏ, mục tiêu là học tốt; lớn lên là đi du học; rồi đi du học, làm việc, nhưng sau đó mất phương hướng, con người trở nên lười biếng, thiếu động lực. Sau khi niệm kinh, toàn bộ con người thay đổi: tính tình hòa nhã hơn, tinh thần tốt hơn, mục tiêu lâu dài rõ ràng. Không sợ bạn cười đệ tử quá tham vọng, mục tiêu của đệ tử không phải là lên thiên đàng mà là tu tốt để về Tịnh Độ.
Thứ hai, đệ tử hy vọng bằng sức mình có thể làm cho ngày càng nhiều người Trung Quốc nhận thức được tầm quan trọng của đạo đức truyền thống, không để một Trung Quốc rộng lớn trở thành xã hội tiền bạc và hời hợt, và để người dân tin Phật và niệm Phật nhiều hơn.
Phật pháp không phải khoa học, Phật pháp còn tiến bộ hơn khoa học nhiều, như cựu hiệu trưởng Đại học Khoa học và Công nghệ Trung Quốc, ông Chu Thanh Thời (Zhu Qingshi) đã nói: “Khi các nhà khoa học cực nhọc leo lên đỉnh núi, các bậc đại sư Phật học đã chờ sẵn ở đó từ lâu!”
Cuối cùng, tại đây đệ tử thật lòng chân thành cảm ơn các tình nguyện viên của Đài Phương Đông, cảm ơn các sư huynh đã giúp những người không ở Sydney như chúng đệ kịp thời và chính xác nhận được tin tức từ Lư Đài Trưởng, các bản ghi âm chương trình, cảm ơn các sư huynh đã kiên nhẫn, tỉ mỉ nghe điện thoại và trả lời thư từ.
Đối với Lư Đài Trưởng, dù đệ tử làm gì cũng không thể báo đáp ơn nghĩa của Ngài, chỉ còn cách từng bước từng bước hoàn thiện bản thân, giúp đỡ người khác, chỉ cầu không phụ công sức tận tụy của Ngài, không phụ đại từ đại bi của Bồ Tát.
— Chân nữ, 10/07/2010

Kính chào mọi người,

Trước tiên đệ tử xin cảm ơn Bồ Tát, cảm ơn Lư Đài Trưởng, cảm ơn tất cả các đồng tu của Đài Đông Phương. Chính nhờ Bồ Tát và Lư Đài Trưởng mà đệ tử có được cơ hội làm lại cuộc đời.

Đệ tử bắt đầu nghe chương trình của Lư Đài Trưởng từ tháng 8 năm ngoái. Trước khi niệm kinh và đốt Ngôi nhà nhỏ,  trạng thái tinh thần của đệ tử rất bất ổn: thường xuyên buồn bực, dễ nổi nóng, hay cãi lời cha mẹ, tâm trạng u ám, khó tập trung. Khi đó đệ tử còn mắc chứng trầm cảm, luôn cảm thấy bản thân thất bại, tuyệt vọng, sống rất khổ đau và từng xuất hiện những ý nghĩ tiêu cực nghiêm trọng.

(Đoạn mô tả hành vi nguy hiểm được lược bỏ vì lý do an toàn)

Khoảng thời gian ấy đệ tử sống trong đau khổ cùng cực. Có lẽ do nhân duyên và lòng từ bi của chư Phật, Bồ Tát, đệ tử đã có cơ duyên gặp được Lư Đài Trưởng. Lần đầu tiên nghe chương trình của thầy, đệ tử không kìm được nước mắt, cảm giác như một đứa trẻ lạc đường cuối cùng cũng tìm được lối về. Trong lòng vô cùng xúc động, đệ tử biết mình đã nhìn thấy hy vọng.

Qua việc nghe các khai thị của Lư Đài Trưởng, đệ tử hiểu rằng trạng thái trước kia của mình là không bình thường, có liên quan đến nghiệp lực và vong linh. Vì vậy đệ tử bắt đầu niệm kinh, niệm Ngôi nhà nhỏ cho bản thân, đồng thời viết thư thỉnh cầu Lư Đài Trưởng xem giúp. Không lâu sau, Đài Đông Phương đã hồi âm. Lư Đài Trưởng nhìn ra rằng đệ tử chưa kiên trì niệm kinh mỗi ngày, điều này hoàn toàn đúng với tình trạng của đệ tử lúc bấy giờ. Lư Đài Trưởng từ bi dặn con niệm 21 tờ Ngôi nhà nhỏ. Thật sự Ngôi nhà nhỏ vô cùng vi diệu.

Trong quá trình đệ tử niệm Ngôi nhà nhỏ, bản thân đã có những thay đổi rất lớn. Trước hết là tâm trạng ngày một tốt lên, làm việc có sức bền hơn, dần dần không còn dễ nổi nóng. Bất kể gặp chuyện gì cũng có thể bình tĩnh đối diện, cho dù nhất thời có phiền não thì sau một, hai ngày cũng có thể lắng lại.

Đệ tử bắt đầu có niềm tin vào cuộc sống, hiểu hơn thế nào là trân quý con người và sự việc xung quanh mình. Đồng thời, thông qua việc học Phật, con hiểu rằng không nên khởi những ý nghĩ tiêu cực làm tổn hại thân tâm, cũng không còn chống đối cha mẹ nữa, mà biết hiếu thuận và yêu thương cha mẹ cho thật tốt.

Vì vậy, trong đời này có thể gặp được Lư Đài Trưởng chính là phước báo lớn nhất của chúng đệ tử. Chính Sư phụ đã dẫn dắt các đệ tử tìm lại con đường trở về, và vì thế những đệ tử càng phải trân trọng nhân duyên này. Sau đó, đệ tử đã phát nguyện trước chư Phật, Bồ Tát: nguyện ăn chay trọn đời, siêng năng phóng sinh, làm nhiều việc thiện, về sau vừa độ người vừa tự độ mình. Chỉ có như vậy mới không phụ lòng từ bi của chư Phật, Bồ Tát, và cũng mới không phụ tấm lòng khổ tâm của Lư Đài Trưởng. Những điều trên đều là trải nghiệm chân thật của bản thân đệ tử, nguyện cho có thêm nhiều người hữu duyên được kết duyên với Lư Đài Trưởng.

Cuối cùng, kính chúc Lư Đài Trưởng thân thể khỏe mạnh. Xin cảm ân Bồ Tát, cảm ân Lư Đài Trưởng, cảm ân toàn thể các đồng tu của Đài Đông Phương.

Xin chân thành cảm ơn!

— Cư sĩ mạng Joy, ngày 30/7/2010

Theo Lư Đài Trưởng giữ giới, học Phật, tu tâm và niệm kinh gần một năm, bản thân đệ tử có quá nhiều cảm nhận! Pháp môn Tâm Linh mà Lư Đài Trưởng truyền dạy là mọi người tại gia đều có thể thực hành được, và hiệu quả thật sự đặc biệt. Đệ tử cảm nhận một năm rưỡi qua bản thân mình đã có thay đổi lớn, năng lượng cá nhân mạnh mẽ hơn, tinh thần và diện mạo cũng hoàn toàn đổi mới.

Trước đây đệ tử chưa bao giờ dám ngủ trong phòng tối vào ban đêm, giờ đây nếu bật đèn ngủ lại cảm thấy khó chịu, không an tâm.

Trước đây đệ tử rất sợ leo cao, đặc biệt là nhìn từ thang máy xuống dưới, giờ đây ngồi trong thang máy quan sát lên xuống, nhìn xa vẫn không sợ hãi nữa.Trước đây, hễ cứ ngủ là đệ tử lại mơ, mà toàn là những giấc mơ không tốt, ác mộng, giấc mơ rất tán loạn, không có chút ý nghĩa thực tế nào, cảm giác như hồn vía không tụ, lang thang trôi nổi khắp nơi.

Còn bây giờ tuy khi ngủ vẫn có mơ, nhưng trong mơ đệ tử cảm thấy mình rất có lực, hơn nữa thường mơ thấy những giấc mơ mang tính nhắc nhở (ví dụ như: một số việc liên quan đến bản thân, người thân hay bạn bè; trong nhà ai đó sắp gặp rắc rối; hiện tại cần niệm kinh gì; hoặc có người qua mộng nhờ đệ tử niệm bao nhiêu Ngôi nhà nhỏ để cầu siêu, v.v.).

Trước đây, ở trước mặt chồng đệ tử không dám nói lớn tiếng, anh ấy nói hướng Đông thì đệ tử tuyệt đối không dám đi hướng Tây. Khi trong nhà xảy ra mâu thuẫn, đệ tử chỉ biết một mình rơi nước mắt. Không biết bao nhiêu lần anh ấy làm nhục đệ tử trước mặt người thân, bạn bè và cả người ngoài, đệ tử đều không thể cũng không dám biện bạch hay phản bác. Vì không muốn cha mẹ và người thân bạn bè bị liên lụy, bị trách móc vô cớ, nên đệ tử không dám than thở với họ, chỉ có thể một mình chịu đựng. Đệ tử buộc phải làm theo mọi ý muốn của anh ấy, không được phép có suy nghĩ hay lập trường riêng.

Sau khi học Phật theo Lư Đài Trưởng, sự thay đổi rất rõ rệt: anh ấy không còn quát tháo đệ tử, không còn gây khó dễ, cũng không còn ép buộc đệ tử phải hoàn toàn nghe theo ý mình. Anh ấy chủ động kiềm chế tính nóng nảy và thói hay nghi ngờ, khi thấy đệ tử không vui thì chủ động đến làm hòa. Cuộc sống gia đình của đệ tử ngày càng hòa hợp và bình đẳng hơn.

Đệ tử xin cảm ân Đại Từ Đại Bi cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát gia hộ cho đệ tử được bình an, cát tường!

Đệ tử xin cảm ân Lư Quân Hoành Đài Trưởng với pháp môn từ bi cứu người, đã giúp đệ tử được tái sinh, có lại cuộc đời mới!

Tính đến nay, đệ tử đã niệm hơn một trăm tấm Ngôi nhà nhỏ cho bản thân và người nhà, đồng thời mỗi ngày đều kiên trì niệm các kinh văn bài tập hằng ngày. Qua quá trình thực hành, cá nhân đệ tử nhận thấy rằng: việc niệm kinh văn bài tập hằng ngày là vô cùng quan trọng! Nó quan trọng giống như việc một người mỗi ngày phải ăn ba bữa cơm vậy. Không ăn thì con người không có sức lực để làm việc và sinh hoạt; tương tự, nếu không niệm kinh bài tập, thì bản thân không có đủ, thậm chí không có năng lượng mạnh mẽ để niệm Ngôi nhà nhỏ nhằm siêu độ oan thân trái chủ.

Ăn cơm cũng cần ăn thức ăn có dinh dưỡng thì mới có đủ thể lực và tinh thần; tương tự, niệm những kinh văn bài tập hằng ngày nào, niệm bao nhiêu, cũng cần căn cứ theo tình trạng thực tế của mỗi người mà điều chỉnh cho phù hợp. Đây chính là điểm kỳ diệu trong pháp môn của Lư Đài Trưởng. Thông qua việc Lư Đài Trưởng xem đồ đằng, chúng ta có thể biết bản thân cần niệm những kinh văn gì, và cần bao nhiêu Ngôi nhà nhỏ để siêu độ.

Tuy nhiên, đường dây nóng của chương trình xem đồ đằng thật sự rất khó gọi vào. Hiện nay, người Hoa trên khắp thế giới đều gọi, có người vì chênh lệch múi giờ mà phải thức nửa đêm để gọi, có người vừa niệm kinh vừa gọi, thậm chí có người gọi suốt một năm vẫn chưa gọi được.

Thế nhưng, dù khó gọi đến như vậy, đường dây nóng vẫn luôn cực kỳ nóng, nhưng Lư Đài Trưởng vì đại bi cứu chúng sinh, suy nghĩ đến sự cấp thiết của mọi người, nên mỗi tuần lại tăng thêm một buổi xem đồ đằng. Điều này cho thấy sự chính xác và được yêu thích của việc Lư Đài Trưởng xem đồ đằng đến mức nào!

Vậy nên, đối với những chúng ta gọi điện không vào, có thể tự học pháp môn của Lư Đài Trưởng thông qua các bài viết và chương trình ghi âm trên blog của Ngài. Hãy trước tiên tự mình tu tập tốt, dần dần linh cảm của quý vị sẽ ngày càng mạnh mẽ hơn, sẽ đưa ra những chỉ dẫn cho quý vị cả trong đời thực lẫn trong mơ.

—— Người dùng mạng Duyên Lai, 2010-7-26

Dưới đây là nội dung trao đổi qua email giữa Mẹ Tằng và Bộ phận Thư ký Đài Đông Phương, kể lại câu chuyện thật sự cảm động khi Lư Đài Trưởng chữa bệnh trực tuyến:

Thư của Mẹ Tằng (1) – 8/11/2009

“Kính gửi Lư Đài Trưởng,

Con là một Phật tử ở Trường Xuân, Đông Bắc Trung Quốc. Mẹ con cũng là cư sĩ tại gia, hữu duyên được biết đến Lư Đài Trưởng thông qua Phật hữu, biết rằng Ngài có thể xem đồ đằng và hướng dẫn cách niệm Ngôi nhà nhỏ, con vô cùng cảm kích. Lư Đài Trưởng, hiện tín nữ có một việc mong Ngài giúp chỉ đường trong lúc bận rộn. Mẹ con sinh năm 1955, tuổi Mùi. Đầu năm nay bà bắt đầu bị nôn mửa, ban đầu được chẩn đoán và điều trị viêm dạ dày. Sau vài ngày, tình trạng có cải thiện, nhưng kể từ lần bệnh đó, cứ khoảng nửa tháng là tái phát, và mỗi lần nặng hơn lần trước. Qua nửa năm kiểm tra, không tìm ra nguyên nhân. Mãi đến tháng 8 năm nay, khi làm nội soi ruột non tại Bệnh viện Đại học Y Trường Xuân, mới phát hiện tắc ruột non, và ngày 28/8 bà được phẫu thuật. Kết quả giải phẫu bệnh xác định bà bị ung thư tuyến ruột hỗng tràng. Tuy nhiên, hai tháng sau phẫu thuật, khi đi kiểm tra lại, phát hiện tế bào ung thư đã di căn sang nhiều nơi. Theo lời bác sĩ, không còn cách phẫu thuật nào khác. Do bệnh tiến triển quá nhanh, gia đình định cho mẹ con hóa trị để ngăn bệnh nặng hơn. Tuy nhiên, từ ngày hôm nay (8/11), còn phải đợi 3–4 ngày nữa mới tiến hành hóa trị, nên tình hình rất cấp bách, không biết phải làm sao, mong Lư Đài Trưởng chỉ dẫn… (hiện mẹ con vẫn đang dùng thuốc Đông y).

Ngoài ra, mẹ con cũng là người tu Phật, từng niệm kinh Địa Tạng, Phổ Môn, A Di Đà, Vô Lượng Thọ, và cũng từng niệm Ngôi nhà nhỏ. Hôm qua (7/11), các Phật hữu cũng đến nhà cùng niệm Ngôi nhà nhỏ giúp mẹ con. Mẹ con cũng đã thành tâm sám hối và phát đại nguyện, nhưng vẫn còn nhiều bối rối, mong Lư Đài Trưởng chỉ dẫn, xem đồ đằng biết mẹ con nên làm gì bây giờ.

Con cũng muốn biết mình có thể làm gì để giúp mẹ. Vì bệnh tiến triển quá nhanh, xét theo phương diện thế gian không còn phương pháp chữa trị nào khác, nên mong Lư Đài Trưởng sớm xem xét tình hình của mẹ con và sắp xếp phương pháp cứu chữa. Kính xin Lư Đài Trưởng cứu mẹ con một mạng!!!!!

Phản hồi từ Bộ phận Thư ký Đài Đông Phương (1) – 8/11/2009

(nội dung ngắn: tạm hiểu là “theo mẫu, đã xếp hàng chờ xử lý”)

Thư tiếp theo của Mẹ Tằng (2) – 12/11/2009

Gia đình và những người tham gia niệm đã niệm tổng cộng 40 tờ Ngôi nhà nhỏ, nhưng vẫn chưa có hiệu quả.

Phản hồi từ Bộ phận Thư ký Đài Đông Phương (2) – 20/11/2009

Lần này Lư Đài Trưởng đã đặc biệt quan tâm đến mẹ của sư huynh và lập tức giúp bà xem xét.

Sau khi xem đồ đằng của mẹ sư huynh, Lư Đài Trưởng phát hiện rằng hiệu quả niệm kinh hiện tại không tốt, vì những vong linh hung dữ trên thân mẹ sư huynh vẫn chưa nhận được kinh, nên Lư Đài Trưởng nhờ hỏi lại: Tên của mẹ sư huynh khi viết trong Ngôi nhà nhỏ có viết đúng không? Ngoài ra, trợ niệm đôi khi hiệu quả không cao, bởi vì trợ niệm đòi hỏi công phu và tâm phát nguyện rất mạnh. Ngôi nhà nhỏ tốt nhất là tự mình niệm, như vậy hiệu quả sẽ tốt nhất.
Hiện tại, hãy để mẹ sư huynh lập tức niệm siêu độ 21 tờ Ngôi nhà nhỏ. Về cách siêu độ bằng Ngôi nhà nhỏ, có thể tham khảo mục “Kiến thức về Ngôi nhà nhỏ” ở bên phải trang chủ blog của Lư Đài Trưởng.

Thư của Mẹ Tằng (lần 3) – 02/12/2009

Xin cảm ơn Lư Đài Trưởng đã đặc biệt quan tâm và giúp đỡ mẹ con giữa lúc trăm công nghìn việc, cả gia đình chúng con vô cùng cảm kích ân tình này của Lư Đài Trưởng!!! Đồng thời xin xác nhận rằng sau năm 20 tuổi, mẹ con đã đổi tên.

Thư của Mẹ Tằng (lần 4) – 16/12/2009

Kính gửi Lư Đài Trưởng đáng kính, xin chào Ngài!

Trong lúc bận rộn lại một lần nữa làm phiền Lư Đài Trưởng và Ban Thư Ký Đông Phương, con xin gửi lời cảm ơn vô cùng sâu sắc đến Lư Đài Trưởng vì đã quan tâm chăm sóc mẹ con, ban cho mẹ con cơ hội được sống lần thứ hai, đồng thời cảm tạ Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát đã ban cho mẹ con cơ hội hồi sinh.

Kể từ khi Lư Đài Trưởng chỉ dẫn phương pháp, mẹ con đã xuất viện và ở nhà một tuần, tự mình niệm 10 tờ Ngôi nhà nhỏ, và các Phật tử đến nhà cũng giúp niệm thêm 2 tờ Ngôi nhà nhỏ. Lần trước Lư Đài Trưởng có nhắc rằng mẹ con nên nhanh chóng niệm đủ 21 tờ Ngôi nhà nhỏ, nhưng hiện tại mẹ con mới chỉ niệm khoảng 10 tờ.

Con cũng xin gửi lời tri ân sâu sắc đến từng nhân viên Ban Thư Ký Đài Đông Phương và Lư Đài Trưởng, bởi kể từ khi niệm Ngôi nhà nhỏ, tình trạng bệnh của mẹ con đã có tiến triển rõ rệt. Vài ngày trước khi đi kiểm tra ở bệnh viện, một trong những khối u ác tính nhiều nơi đã có dấu hiệu giảm kích thước rõ rệt. Phép màu thật sự đã xảy ra, điều này thật sự phải cảm tạ Lư Đài Trưởng.

— Mẹ Tằng, Ngày 16/05/2010

Đệ tử vô cùng cảm tạ Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, cảm tạ Lư Đài Trưởng đángkính!

Đệ tử là cô Sư, mới đến Úc. Nhờ Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát từ bi gia hộ, đệ tử hữu duyên biết được pháp lực và phương pháp niệm kinh của Đại Từ Đại Bi Lư Đài Trưởng. Vì vậy, đệ tử mang theo tâm xúc động bắt đầu niệm Ngôi nhà nhỏ.

Một ngày nọ, đệ tử niệm trong thời gian rất dài, đến tối thì cảm thấy hoa mắt chóng mặt, nên đệ tử đi ngủ sớm hơn.

Đêm hôm đó, đệ tử mơ một giấc mơ, có một cao nhân đến dạy đệ tử cách niệm 《Tâm Kinh》. Vị sư phụ này mặc một bộ áo màu vàng nhạt. Sáng hôm sau, đệ tử vừa thức dậy liền kể với em gái: “Đêm qua chị mơ thấy có một cao nhân dạy chị niệm 《 Tâm Kinh》, phía sau ông ấy là ánh sáng vàng rất mạnh.” Em gái nghe xong thì vô cùng kinh ngạc, liền nói: “Thật trùng hợp quá! Tối qua em cũng mơ thấy Lư Đài Trưởng đến nhà mình, ông ấy đến chữa bệnh cho chị. Chị có biết không, sáng nay chồng em cũng nói rằng tối qua anh ấy mơ thấy Lư Đài Trưởng đến nhà chúng ta.” Vừa nói xong, em gái liền lấy ra một tấm ảnh của Lư Đài Trưởng, hỏi đệ tử người xuất hiện trong giấc mơ tối qua có phải là người trong ảnh này không. Đệ tử nhìn bức ảnh và nói rằng: “Người trong ảnh này trông béo hơn một chút so với người chị mơ thấy.” Em gái lập tức nói: “Đúng rồi, bức ảnh này là lúc Lư Đài Trưởng còn béo hơn, còn bây giờ Thầy đã gầy hơn rồi.”

Một thời gian sau, đệ tử tìm cách đến thăm Lư Đài Trưởng, trước đó đệ tử chưa từng gặp Ngài. Khi vừa gặp Ngài, đệ tử vô cùng sửng sốt, bởi Ngài cũng mặc áo vàng, y hệt người xuất hiện trong giấc mơ dạy đệ tử niệm kinh hôm đó. Lư Đài Trưởng tận tình chỉ dạy đệ tử, lúc đó đệ tử ngay lập tức nhận ra rằng Đại từ Đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát thật sự pháp lực vô biên, lòng từ bi vô lượng!

Trước đây, đệ tử chưa từng trải qua những kỳ tích như thế này; đây là ảnh hưởng của Quán Thế Âm Bồ Tát, khiến đệ tử càng tỉnh giác, càng chăm chỉ tu luyện. Vì vậy, đệ tử thầm quyết tâm: phải nỗ lực hơn nữa, thành tâm tin theo giáo hóa của Quán Thế Âm Bồ Tát, tu hành tốt, làm nhiều việc thiện, giúp đỡ những người có nhu cầu!

— Su,07/08/ 2010

1. Niệm kinh bảy ngày chữa khỏi cơn ho kéo dài nhiều năm

Đệ tử là một bệnh nhân bạch cầu, đã mắc bệnh bảy năm. Trong bảy năm đó, đệ tử sống dựa vào thuốc, định kỳ đến bệnh viện xét nghiệm máu, bệnh lúc ổn lúc xấu. Vào ngày 3 tháng 5 năm nay, đệ tử bị cúm, sốt và ho. Sau hơn một tháng điều trị tại bệnh viện, cơn sốt đã hạ, nhưng cơn ho vẫn không ngừng. Một ngày nọ, đệ tử thấy trước ngực, bụng, bên trong hai đùi, lòng bàn tay và lòng bàn chân xuất hiện nhiều nốt sần nhỏ như hạt kê. Bác sĩ nói do dị ứng thuốc và yêu cầu đệ tử ngưng thuốc kháng viêm. Tuy nhiên, bệnh tình vẫn không cải thiện. Bất lực, vào ngày 18 tháng 6, đệ tử tìm đến y học Trung Quốc. Thầy thuốc nói nội hàn hỏa vượng, kê ba thang thuốc. Đệ tử uống xong mới quay lại khám. Cứ như vậy, đệ tử đến khám tổng cộng 6 lần, uống 20 thang thuốc. Những nốt sần trên cơ thể bắt đầu tróc da, miệng lở loét, không dám ăn thức ăn nóng; môi tái nhợt, kèm tróc da và loét mặt. Sắc mặt vàng xạm, cân nặng từ 160 cân giảm xuống 140 cân. Hàng ngày ho liên tục. Các thầy thuốc Trung Y cũng không khuyên đệ tử tiếp tục điều trị nữa. Một người hàng xóm tốt bụng nói với vợ đệ tử: “Bác ơi, sắc mặt của bác trai không tốt, bác nên bồi bổ thêm dinh dưỡng cho ông ấy.” Bản thân đệ tử cũng cảm thấy sắc mặt rất xấu, không dám soi gương. Mỗi ngày ho không ngừng khiến đệ tử đêm nào cũng không thể ngủ yên. Dù có mơ màng thiếp đi, đệ tử vẫn liên tục rên rỉ. Gương mặt xám vàng, đôi môi tái trắng bong tróc, cơ thể ngày càng gầy mòn – đây là lần đầu tiên trong 65 năm cuộc đời đệ tử mắc phải một căn bệnh khó chữa đến như vậy.

Ngày 4 tháng 7, vợ đệ tử đã gặp được quý nhân của đệ tử. Người ấy kể cho vợ đệ tử nghe rất nhiều câu chuyện về Đài trưởng của đài phát thanh, người có khả năng thần kỳ chữa bệnh. Đó cũng là lần đầu tiên đệ tử được nghe nói rằng tại Sydney có Đài Phát thanh Hoa ngữ Đông Phương Úc Châu, và vị Đài trưởng là một nhân vật vô cùng đặc biệt. Với tâm niệm thử xem sao, ngày 5 tháng 7, dưới sự dẫn dắt của quý nhân, đệ tử đã đến tham dự buổi giải đáp trực tiếp “Huyền Nghệ Tổng Thuật” do Lư Đài Trưởng tổ chức. Tại hội trường, Lư Đài Trưởng xem đồ đằng, có thể nói rõ quá khứ – hiện tại – tương lai của mỗi người. Ngài xem vong linh, thấy được các tầng giới khác nhau từ thiên giới đến địa phủ; xem sức khỏe, chỉ ra bệnh hiện tại và bệnh tương lai; xem phong thủy, hướng dẫn cách chuyển hóa môi trường sống thành cát tường. Đệ tử bị chấn động sâu sắc trước năng lực kỳ diệu của Lư Đài Trưởng, nhưng điều khiến đệ tử xúc động hơn cả chính là tấm lòng Bồ Tát từ bi, lương thiện, nhẫn nại cứu độ chúng sinh của Ngài.

Ngay khi hội nghị vừa kết thúc, đệ tử không kịp chờ đợi, vội vàng chạy lên sân khấu, báo năm sinh và con giáp của mình, khẩn cầu Lư Đài Trưởng giúp đệ tử xem thử, mong Ngài có thể cứu lấy đệ tử. Lư Đài Trưởng nói: “Năm sau ông sẽ chết.” Sau đó lại nói thêm một câu: “Tôi nói chết, thì nhất định sẽ chết.”

Lúc ấy, đầu óc đệ tử như nổ tung, choáng váng hoàn toàn. Đệ tử biết mình có bệnh, nhưng chưa từng nghĩ rằng mình sẽ chết nhanh đến như vậy. Sau đó đệ tử không còn nghe rõ Lư Đài Trưởng nói tiếp những gì nữa, chỉ lơ mơ bước xuống sân khấu, đầu óc trống rỗng hoàn toàn, cả con người đệ tử như đờ dại đi. Đệ tử không tin lời Lư Đài Trưởng là thật, nhưng lại chính mắt chứng kiến năng lực thần kỳ của Ngài, nên không thể không tin. Đệ tử lặng lẽ rời khỏi hội trường. Khi đứng ở bãi đỗ xe chờ xe, đột nhiên đệ tử muốn đi vệ sinh, liền quay trở lại hội trường. Khi đệ tử vừa đi đến cửa nhà vệ sinh thì đúng lúc Lư Đài Trưởng đẩy cửa bước ra. Ngài nhận ra đệ tử, liền nói với đệ tử:

“Không sao đâu, ông vẫn còn cứu được, về nhà niệm 49 tờ Ngôi nhà nhỏ.”

Nghe xong, tâm trạng đệ tử lập tức phấn chấn hẳn lên. Lư Đài Trưởng nói đệ tử vẫn còn cứu được. Chẳng phải đây chính là Bồ Tát Quán Thế Âm đang giúp đệ tử sao?Trở về nhà, đệ tử không còn đi lang thang bên ngoài nữa, mà từ sáng đến tối liều mạng niệm Ngôi nhà nhỏ. Ban đầu mỗi ngày chỉ niệm được một tờ, sau đó tăng lên hai tờ một ngày. Chỉ một tuần sau, điều kỳ diệu đã xảy ra: trong tình trạng không hề dùng bất kỳ loại thuốc nào, đệ tử không biết từ lúc nào đã ngừng ho hắng, mũi chảy mủ cũng không còn viêm nhiễm nữa. Hàng xóm ngạc nhiên nói: “Mấy ngày nay sắc mặt bác trông khá hơn nhiều so với trước.” Bản thân đệ tử cũng rõ ràng cảm nhận cơ thể không còn khó chịu như trước nữa.

Ngày 17 tháng 7, vị ân nhân suốt đời đệ tử không thể quên lại giúp đệ tử thỉnh cầu Lư Đài Trưởng, giữa trăm công nghìn việc vẫn dành thời gian xem bệnh cho đệ tử. Lư Đài Trưởng nói: “Nghiệp chướng trên người ông rất nhiều, đều là từ tiền kiếp. Khi ta xem đồ đằng của ông, hai cánh tay và sau lưng ta đều nổi lên luồng khí lạnh. Ông về nhà ngoài việc niệm Ngôi nhà nhỏ, mỗi ngày còn phải niệm Kinh bài tập: niệm Tâm Kinh 3 biến, Chú Đại Bi 21 biến, Lễ Phật Đại Sám Hối Văn 7 biến. Ta bảo đảm lần sau ông đi bệnh viện xét nghiệm, kết quả sẽ tốt hơn bất kỳ lần nào trước đây.” Lư Đài Trưởng còn nói thêm: “Lúc đầu ông vẫn chưa tin, đúng không?”

Một lần nữa, đệ tử hoàn toàn bị năng lực kỳ diệu của Lư Đài Trưởng chinh phục – Ngài thậm chí có thể nhìn ra trong lòng đệ tử là tin hay không tin. Trở về nhà, đệ tử càng nỗ lực hơn, niệm kinh với tâm chí thành gấp bội. Quả nhiên, ngày 27 tháng 7 khi đệ tử đến bệnh viện làm xét nghiệm, bác sĩ nói: “Kết quả xét nghiệm của ông đều nằm trong phạm vi bình thường. Sau này không cần mỗi tháng xét nghiệm một lần nữa, đổi sang ba tháng một lần.” Điều này một lần nữa chứng thực năng lực kỳ diệu của Lư Đài Trưởng.

Ngày 31 tháng 7, Quán Thế Âm Bồ Tát lại một lần nữa gia hộ cho đệ tử, giúp đệ tử toại nguyện gọi được vào đường dây nóng của chương trình Huyền Nghệ Tổng Thuật. Lư Đài Trưởng khen đệ tử tiến bộ rất nhanh, nói rằng lúc đầu đệ tử chưa tin, nhưng một khi đã tin thì không thể xem thường được, đồng thời dặn đệ tử phải chú ý hai bộ phận là cổ họng và phổi, nói rằng vốn dĩ hai chỗ này là sẽ “mọc thứ gì đó”. Lư Đài Trưởng sợ đệ tử chưa hiểu, liền nhấn mạnh thêm: “Ông có biết ‘mọc thứ gì đó’ là có ý nghĩa gì không?” Đệ tử đáp: “Con biết.”

Lư Đài Trưởng nói: “Bây giờ ổn rồi, đã giữ được rồi, sẽ không mọc nữa.” Ngài còn dạy đệ tử thường xuyên quán tưởng lá phổi của mình là màu trắng. Theo sự chuyển biến tốt của bệnh tình, tâm trạng đệ tử càng lúc càng nhẹ nhõm, niệm kinh càng tinh tấn, tốc độ niệm Ngôi nhà nhỏ cũng nhanh hơn.

Ngày 9 tháng 8, đệ tử tham gia hoạt động phóng sinh của đoàn thanh niên. Ở bờ biển, Lư Đài Trưởng từ xa đi về phía đệ tử và chủ động bắt tay đệ tử. Lúc đó đệ tử thật sự cảm thấy vô cùng hạnh phúc, bởi trong lòng đệ tử, Lư Đài Trưởng chính là Quán Thế Âm Bồ Tát; được bắt tay với Lư Đài Trưởng cũng chính là được Bồ Tát bắt tay. Lư Đài Trưởng nói với đệ tử:

“Thận của ông thiếu nước, phải uống nhiều nước.” Rồi lại nói:

“Ông đã được kéo dài thọ mạng rồi.” Sau đó Ngài nói với những người đang tụ lại xung quanh: “Người này vốn chỉ còn mấy tháng thọ mạng, bây giờ đã được kéo dài tuổi thọ rồi.” Những người có mặt đều vui mừng cho đệ tử và vỗ tay chúc mừng.

Đệ tử chân thành cảm tạ Quán Thế Âm Bồ Tát, cảm tạ Lư Đài Trưởng.

Chính là Bồ Tát đã thông qua Lư Đài Trưởng, hết lần này đến lần khác cứu mạng đệ tử.

Mỗi lần đệ tử được gặp Lư Đài Trưởng, đều nhận được những lời chỉ dạy và sự giúp đỡ khác nhau.

Lư Đài Trưởng là ân nhân cứu mạng của đệ tử.

2. Lư Đài Trưởng đã thay đổi cuộc đời đệ tử 

Lư Đài Trưởng nói đệ tử là người khá tốt, chỉ là tính cách hơi cứng đầu. Câu nói này đúng y như thật. Bởi vì đệ tử bướng bỉnh, hay rơi vào ngõ cụt, không thể nhìn vấn đề toàn diện, không dễ bao dung người khác, không vừa ý là cãi nhau với người khác, nên đã tạo ra rất nhiều khẩu nghiệp. Vì thế, đệ tử cũng từng phải trả giá bằng nhiều cách.

Nhiều lần cơ hội thăng chức gần như nắm chắc trong tay, cuối cùng vẫn bỏ lỡ. Khi nhận thầu công trình, mình đầu tư rất nhiều công sức, nhưng khi lấy tiền lại luôn gặp vấn đề, không lý do gì bị trừ mất một phần tiền. Những ví dụ như vậy quá nhiều để kể hết.

Bây giờ, thông qua niệm kinh, đệ tử đã khai ngộ. Đệ tử cảm thấy đầu óc minh mẫn hơn trước nhiều, gặp vấn đề có thể nhìn nhận khách quan, dùng kiến thức Phật pháp để giải quyết, mọi việc thuận theo duyên, gặp chuyện nhẫn nhịn và nhường nhịn.

Đệ tử thường nghe chương trình của Lư Đài Trưởng, mỗi thứ bảy đến Quán Âm đường để lễ bái Bồ Tát và lắng nghe Lư Đài Trưởng thuyết pháp. Mỗi lần đều thu được những lợi ích khác nhau.

Lư Đài Trưởng liên tục dạy chúng đệ niệm kinh phải dùng “tâm” để niệm, sống làm người phải làm người tốt, không làm việc xấu, phải làm nhiều việc thiện, nhiều phóng sinh. Theo sự chỉ dạy của Lư Đài Trưởng, đệ tử nỗ lực thay đổi bản thân, nhờ niệm kinh mà tâm tính đệ tử tốt lên, bớt phiền não, quan hệ với những người xung quanh cũng tốt hơn, và sức khỏe phục hồi.

Lư Đài Trưởng chính là Quan Thế Âm Bồ Tát. Ngài không chỉ chữa lành bệnh cho đệ tử, kéo dài tuổi thọ, mà còn dạy đệ tử làm người tốt, thực hiện việc Bồ Tát, tạo phúc cho người khác, lợi lạc cho xã hội. Chính Lư Đài Trưởng đã thay đổi cuộc đời đệ tử.

3. Lư Đài Trưởng nghiêm khắc đào tạo đệ tử, và mỗi đệ tử đều có một tấm lòng Bồ Tát.

Trong khi Lư Đài Trưởng dùng lòng từ bi rộng lớn để phổ độ chúng sinh hữu duyên, Ngài cũng đã đào tạo nên một nhóm đệ tử xuất sắc với tấm lòng từ bi như Bồ Tát, thực hành việc cứu khổ cứu nạn.

Họ đều đang giúp Lư Đài Trưởng truyền bá Phật pháp, phổ độ chúng sinh. Họ đã giới thiệu cho đệ tử pháp môn tu học và các sự tích cứu người của Lư Đài Trưởng. Họ dẫn đệ tử tham dự pháp hội ngày 5 tháng 7, kiên nhẫn hướng dẫn đệ tử cách niệm kinh, cách niệm Ngôi nhà nhỏ, giúp đệ tử thỉnh các Ngôi nhà nhỏ từ đài phát thanh, dẫn đệ tử đi phóng sinh, và nhờ Lư Đài Trưởng trực tiếp xem bệnh cho đệ tử.

Đệ tử tự hào vì mình sống gần bên Lư Đài Trưởng, có thể nhận sự giúp đỡ của Ngài bất cứ lúc nào. Đệ tử càng vui mừng vì học được cách niệm kinh và đang nỗ lực thay đổi bản thân, đồng thời giúp đỡ những người cần được giúp như các đệ tử của Lư Đài Trưởng. Mỗi ngày đệ tử đều niệm Chú Đại Bi cho Lư Đài Trưởng, chân thành cầu nguyện Ngài luôn khỏe mạnh.

Cảm ơn Lư Đài Trưởng! Cảm ơn Quán Thế Âm Bồ Tát!

— Vương Tiên, 4/9/2009

Từ nhỏ đệ tử đã theo mẹ thắp hương, lễ Phật, nhưng lại không biết niệm kinh, giống như Lư Đài Trưởng đã nói: chỉ nhìn thấy những trường đại học danh tiếng, nhưng không học vào bên trong, không có kiến thức thực sự, nên không đạt được kết quả tốt nhất.

Kể từ sau Tết 2008, khi đệ tử nghe chương trình “Huyền Nghệ Tổng Thuật” của Lư Đài Trưởng, đệ tử ngay lập tức hoàn toàn quy y pháp môn của Ngài! Đệ tử tự thán phục bản thân, tự hỏi tại sao không kết duyên với pháp môn của Lư Đài Trưởng ngay khi đến Úc, khiến đệ tử phải chịu nhiều khổ đau trong cuộc sống.

Ngàn lần cảm tạ, vạn lần cảm tạ! Cảm ân Đại Từ Đại Bi cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát đã cho đệ tử được hữu duyên theo Lư Đài Trưởng tu tâm niệm kinh, khiến thân thể đệ tử có những chuyển biến vô cùng tốt đẹp…

Đệ tử còn nhớ, ngày đầu tiên nhận được Ngôi nhà nhỏ do Đài Đông Phương gửi đến, vì ngày nào đệ tử cũng phải đi làm nên đệ tử nghĩ đợi đến lúc nghỉ phép rồi mới niệm cho mẹ (mẹ đệ tử đã qua đời).

Không ngờ đêm hôm đó vừa ngủ, thì sáng sớm hôm sau đệ tử nghe rõ tiếng mẹ gọi tên thân mật của đệ tử từ dưới lầu, giọng vô cùng gấp gáp. Đệ tử giật mình tỉnh dậy và lập tức hiểu được ý của mẹ, nên ngay trong ngày hôm đó đệ tử vội vàng niệm Ngôi nhà nhỏ cho mẹ… Những việc linh nghiệm thì rất nhiều, ở đây đệ tử chỉ xin kể một ví dụ.

Năm 2001, do một số chuyện khiến tâm trạng đệ tử vô cùng không tốt, sau đó thân thể bắt đầu xuất hiện vấn đề: mỗi khi bụng đói mà không kịp bổ sung thức ăn, thì đầu đệ tử sẽ choáng váng, không phải là choáng nhẹ mà rất nghiêm trọng. Có một buổi sáng, khoảng 6 giờ, đệ tử thức dậy, mặc quần áo, rửa mặt xong xuôi, thì không còn biết gì nữa. Điều kỳ lạ là đệ tử không bị ngã xuống, mà vẫn có thể đi tới đi lui, không biết đã trôi qua bao lâu, chỉ nghe con trai nói với đệ tử:  “Mẹ ăn kẹo đi”. Đệ tử liền ngoan ngoãn ăn một viên kẹo sô-cô-la, rồi lại nghe con trai nói tiếp: “Mẹ…” con trai lại nói: ‘Mẹ, ăn thêm một viên kẹo nữa đi’. Đệ tử lại ăn theo, và lần này mới tỉnh hẳn. Nhìn đồng hồ, đã là 9 giờ rồi, mấy tiếng đồng hồ qua đệ tử không còn biết mình đã trải qua thế nào, hoàn toàn không còn chút ký ức nào, chỉ thấy xung quanh tối đen như mực!

Lúc đó, con trai 16 tuổi, khi thấy mẹ đã tỉnh lại thì sốt sắng khóc lên. Sau này đi bệnh viện kiểm tra mới biết đó là hạ đường huyết nghiêm trọng. May mà trước đây đệ tử có dặn con trai: nếu thấy mẹ chóng mặt, phải cho mẹ ăn kẹo. Kể từ đó, chỉ cần con trai nhìn mẹ có gì đó bất thường, con trai luôn nói: “Mẹ nhanh đi ăn gì đi!”.

Sau này, vẫn có vài lần xảy ra tình trạng tương tự. Chỉ cần đệ tử ăn chậm một chút, cơ thể lại trở nên lúng túng như người mất trí, vốn ngày thường là một người bình thường, có thể nhớ rất dài lời bài hát, đồng nghiệp cùng làm việc cũng khen khả năng tính toán của đệ tử, nhưng chỉ cần đói là không được, không đếm được số, không biết tắt máy, phản ứng chậm chạp.

Có hai lần, sau khi tan sở lái xe về nhà, đệ tử chỉ thấy được khoảng 2 mét trước mặt, trong túi đầy kẹo và bánh, nhưng không biết ăn gì, cả quãng đường một giờ cũng không biết đã lái về nhà thế nào. Bây giờ nghĩ lại, vẫn thấy rùng mình và sợ hãi. “Kể từ khi đệ tử theo học với Lư Đài Trưởng tu tâm niệm kinh, căn bệnh này của đệ tử đã bắt đầu chuyển biến tốt hơn, những hiện tượng đó rất hiếm khi còn xảy ra. Tuy nhiên, năm ngoái khi đệ tử về nước, do mỗi ngày không nghiêm túc hoàn thành Kinh bài tập, nên đã tái phát một lần khá nặng, nhưng khi đó vẫn còn chút ý thức. Cho đến hai tháng trước, trong một lần đã hẹn đến văn phòng của Lư Đài Trưởng để xem đồ đằng, Ngài đã chỉ ra đúng căn nguyên vấn đề của đệ tử, khiến đệ tử bừng tỉnh, đại ngộ! 

Hôm đó, khi Lư Đài Trưởng xem đồ đằng cho đệ tử, Ngài nói: “Kỳ lạ thật, sao hồn phách của con lại chạy đi rồi lại chạy về như vậy?!””

“Về nhà, đệ tử nghiêm túc suy ngẫm từng lời Lư Đài Trưởng đã dạy, mới nhận ra hóa ra mình là hồn phách không đủ, không trọn vẹn! Sau đó, đệ tử gọi được tới chương trình ‘Huyền Nghệ Vấn Đáp’, hỏi Lư Đài Trưởng rằng liệu có thể tự gọi hồn cho bản thân không, Ngài nói: ‘Có thể’.

Ngài còn dặn thêm một câu: “Trí tuệ tràn đầy”, Lư Đài Trưởng bảo đây là thông tin mới nhất mà Quan Thế Âm Bồ Tát muốn truyền cho chúng ta. Từ đó, đệ tử mỗi ngày đều thực hành công phu, niệm kinh, và gọi hồn (tất cả vào lúc 8 giờ sáng; nếu đang đi làm, đệ tử ra ánh nắng mà gọi hồn cho bản thân 30 lần).

Bây giờ thì hoàn toàn bình phục: tối ăn sớm, ngủ muộn, ngày hôm sau không đi làm mà thức dậy muộn cũng vẫn tinh thần minh mẫn; trước đây điều này là không thể, lúc nào cũng phải ăn đường hay ăn bánh để tỉnh. Đã lâu rồi không còn nghe con trai đệ tử nói: ‘Mẹ ơi, mau ăn đi!’ nữa. Thật tuyệt vời! Sống ở thế gian này, có rất nhiều việc con người không thể tự giải quyết, chỉ có tu tâm, niệm kinh, Quán Thế Âm Bồ Tát mới giúp chúng ta hóa giải mọi khó khăn! Trong nhân gian, dù gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đôi lúc làm ta phiền lòng, nhưng Bồ Tát thì không bao giờ bỏ rơi chúng ta, không bao giờ chán ghét chúng ta! Miễn là chúng ta chân thành tu tâm niệm kinh.”

Trước khi sang Úc, từng có một người thông linh nói với đệ tử: ‘Bạn đi nước ngoài rất tốt.’ Sang đây đã hơn mười mấy năm, bây giờ đệ tử mới hiểu vì sao tốt, bởi vì đệ tử đã có duyên kết nối với Đại Từ Đại Bi cứu khổ cứu nạn Lư Đài Trưởng! Đây là niềm hạnh phúc lớn nhất trong đời đệ tử!

Đệ tử sẽ mãi theo Lư Đài Trưởng tu tâm! Mãi niệm kinh chăm chỉ! Nam Mô Đại Từ Đại Bi, cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát! Nam Mô Đại Từ Đại Bi, cứu khổ cứu nạn Lư Đài Trưởng!”

— Tống Thị 06/07/2010

Kính gửi Lư Đài Trưởng và các vị đại đức tại Ban Thư ký:

Đệ tử tình cờ nhìn thấy blog và từ đó ngọn lửa hy vọng trong lòng đệ tử được thắp lên. Hiện nay đệ tử đã bắt đầu niệm kinh cho cha đệ tử, và vẫn đang tiếp tục niệm. Đệ tử muốn phụng dưỡng thì cha đã không còn, đến khi mất đi rồi đệ tử mới hiểu người yêu thương đệ tử nhất chính là ba đệ tử. Không biết ba đệ tử bây giờ có ổn không?

Trong những đêm đầu khi ba rời xa, đệ tử chỉ biết lặng lẽ khóc, không biết phải làm gì. Giờ đây, nhờ Lư Đài Trưởng, đệ tử mới biết rằng niệm kinh có thể siêu độ cho cha được đến nơi tốt đẹp. Đệ tử nhất định sẽ làm theo. Khi ba còn sống đệ tử không biết trân quý, giờ ba không còn nữa, đệ tử chỉ có thể bù đắp bằng cách giúp ba được đến nơi tốt lành.

Lư Đài Trưởng thật sự có tâm Bồ Tát, cứu giúp chúng sinh – những người khổ đau. Đệ tử rất mong có thể siêu độ cho ba được lên cõi trời, giúp ba thoát khỏi biển khổ, lìa khổ được vui. Đệ tử xin báo cáo với Lư Đài Trưởng một vài việc:

Thứ nhất: Đệ tử đã niệm Ngôi nhà nhỏ được hơn ba tháng, chồng đệ tử và mẹ đệ tử cũng đang tu theo phương pháp của Lư Đài Trưởng. Cách đây không lâu, đệ tử có một giấc mơ. Trước khi ngủ, đệ tử đã cầu xin Bồ Tát chỉ cho đệ tử biết cần niệm bao nhiêu Ngôi nhà nhỏ cho cha. Trong mơ, đệ tử nghe thấy một giọng nam rất trang nghiêm, nói ngắn gọn một câu: “30 tấm.” Hiện nay, đệ tử đã niệm cho cha 35 tấm Ngôi nhà nhỏ, mẹ đệ tử niệm cho cha 10 tấm, tổng cộng là 45 tấm Ngôi nhà nhỏ.

Thứ hai: Cũng không lâu trước đây, khi đệ tử đang niệm Chú Đại Bi, đệ tử nghe thấy một giọng nói rất trang nghiêm (cảm giác rất giống giọng của Lư Đài Trưởng), rất rõ ràng nói với đệ tử: “Nhỏ thôi.” Vì lúc đó đệ tử niệm càng lúc càng to tiếng.

Thứ ba: Trong Tết Thanh Minh năm nay, đệ tử đi tảo mộ cho cha. Vì ngày trước Thanh Minh là sinh nhật của Quan Thế Âm Bồ Tát, đệ tử, chồng đệ tử và mẹ đệ tử cả ba người ở nhà suốt một ngày, niệm kinh cả ngày và ăn một ngày toàn chay. Sang ngày hôm sau đi tảo mộ, hôm đó gió rất to, nhưng tất cả tro hương không rơi, đều quay vòng tròn, dù nhiều lần nến bị gió thổi tắt. Tất cả những cây hương đều quay tròn cho tới khi cháy hết tới gốc. Mẹ đệ tử phải thốt lên rằng chưa bao giờ thấy hương cháy như thế này. Chúng con cảm ơn đại từ đại bi Quan Thế Âm Bồ Tát, cảm ơn Lư Đài Trưởng đã cho chúng con – những người bình thường – một lý tưởng để theo đuổi, để cảm nhận được ý nghĩa của sự sống. Đệ tử nhận ra rằng con người có thể sống ở những tầng cao hơn của đời sống, vượt khỏi những giới hạn trước đây.

Lư Đài Trưởng kính mến,

Đệ tử thật sự rất ngưỡng mộ những người được sống tại Úc. Thậm chí có lúc đệ tử còn nảy sinh ý định muốn di cư sang Úc. Đệ tử và chồng cũng đã tìm hiểu qua, nhưng diện đầu tư định cư yêu cầu điều kiện rất cao, nên chúng con vẫn đang cố gắng từng bước.

Chúng con thật sự rất mong được ở gần Sư phụ hơn, càng gần càng tốt. Có sư phụ dẫn dắt và không có sư phụ dẫn dắt quả thật là hai con đường hoàn toàn khác nhau. Đệ tử thật lòng ngưỡng mộ những Phật hữu đang ở Úc. Đệ tử mong có một ngày nào đó Lư Đài Trưởng trở về quê hương Thượng Hải, chỉ dẫn cho bà con quê nhà chúng con. Chúng con giống như những đứa trẻ bị lạc đường, đang đợi Sư phụ đến dẫn lối.

Lư Đài Trưởng, đệ tử xin nói một lời từ đáy lòng. Sư phụ  từng nói trong chương trình rằng hãy xem Bồ Tát như mẹ của mình, vì Quán Thế Âm Bồ Tát vô cùng từ bi. Đệ tử cảm nhận rằng trong lòng đệ tử, Sư phụ cũng là một người vô cùng gần gũi, giống như một người con đang làm nũng với cha mình vậy. Xin Sư phụ đừng trách, đệ tử nói thật lòng. Một đứa trẻ mất cha, đến bây giờ đệ tử mới thấm thía nỗi cô độc và đáng thương ấy.

Sư phụ quá bận rộn rồi, xin Sư phụ nhất định phải giữ gìn sức khỏe. Đệ tử không dám thường xuyên viết thư làm phiền Sư phụ, nhưng trong lòng đệ tử luôn có một cảm giác rằng Sư phụ giống như người thân ruột thịt của con.

— Cô Gong 10/06/2010

Lư Quân Hoành Đài Trưởng hiện là Chủ tịch Hiệp hội Phật giáo người Hoa tại Úc, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tổ chức Từ thiện và Truyền bá Phật pháp của Truyền thông Phương Đông Úc, Chủ tịch Tập đoàn Báo chí và Truyền hình Truyền thông Phương Đông Úc, đồng thời là Thẩm phán Danh dự Australia, Datuk tại Malaysia, Giáo sư Danh dự khách mời tại Đại học Siena, Ý, và sở hữu Bằng Cao cấp Tâm lý học tại Australia. Ông còn kiêm nhiệm nhiều vị trí Chủ tịch trong các hội đoàn người Hoa, là lãnh đạo kiều bào yêu nước tại Úc suốt hơn hai mươi năm.

Từ nhỏ, Lư Đài Trưởng đã miệt mài nghiên cứu Phật học và huyền học, từng được các cao tăng, đại đức, danh sư chỉ dạy. Ông dùng phương pháp nhiệm mầu với “Đại Thần Thông” của Bồ Tát để độ hóa những chúng sinh có duyên, giúp họ thức tỉnh, phá mê khai ngộ, thay đổi vận mệnh qua việc học Phật, niệm kinh, tu tâm.

Trong suốt hai mươi năm, Lư Đài Trưởng miệt mài không ngừng nghỉ, dốc lòng truyền bá tinh hoa Phật pháp tại Úc và toàn thế giới, thúc đẩy các hoạt động từ thiện và giao lưu văn hóa hòa bình, góp phần tăng cường hòa hợp tâm linh nhân loại. Đến nay, ông đã có gần 10 triệu tín đồ ở hơn 50 quốc gia và khu vực trên thế giới.

Hai mươi năm qua, Lư Đài Trưởng vô tư cứu độ chúng sinh, giảng dạy Bạch thoại Phật pháp cho Phật hữu toàn cầu, dùng chân lý Phật pháp hướng dẫn đời sống hiện đại, giúp vô số người giải thoát tâm linh. Chỉ trong vài năm ngắn ngủi, hành trình hoằng pháp của ông đã lan tỏa toàn thế giới. Từ năm 2010 đến nay, ông đã tổ chức hơn 200 buổi thuyết giảng vòng quanh thế giới. Tại các thành phố lớn ở Úc, New Zealand, Mỹ (New York, Los Angeles, Boston, San Francisco), Canada (Toronto, Vancouver), Singapore, Hồng Kông, Macao, Đài Loan, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, và các nước châu Âu như Anh, Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Bỉ… đều tạo được tiếng vang lớn, làm thay đổi vận mệnh, hòa thuận gia đình, hòa hợp xã hội và thúc đẩy hòa bình thế giới cho hàng triệu con người.

Vào tháng 2 năm 2017, Pháp hội với 80.000 người tham dự tại Singapore đã diễn ra với quy mô chưa từng có tiền lệ. Lư Đài Trưởng được tín đồ Phật giáo trên toàn thế giới nhiệt liệt chào đón và yêu mến, đồng thời thu hút sự quan tâm và đưa tin rộng rãi của truyền thông quốc tế. Hiện nay, Pháp môn Tâm linh đã tạo ra một làn sóng tu học Phật, niệm kinh và tu tâm trên toàn cầu.

Lư Đài Trưởng cùng Tổ chức Từ thiện và Truyền bá Phật pháp của Truyền thông Phương Đông Úc do ông lãnh đạo đã đóng góp trên 1 triệu đô la Úc cho các hoạt động cứu trợ thiên tai như lũ lụt, động đất, hỏa hoạn, cũng như hỗ trợ các trẻ em khuyết tật, người già cô đơn, người trầm cảm, và nhiều tổ chức từ thiện khác.

Vì những đóng góp nổi bật cho hòa bình văn hóa quốc tế và hoạt động từ thiện, Đài trưởng Lư Quân Hoành, Thẩm phán Danh dự, đã nhiều lần được vinh danh là Đại sứ Hòa bình Thế giới tại các diễn đàn như: Liên Hợp Quốc, Quốc hội Hoa Kỳ, Bảo tàng Khoan dung Hoa Kỳ, Hội nghị Hòa bình Quốc tế tại Berlin – Đức, cũng như Đại hội Liên tôn thế giới tại London – Anh.

Năm 2015, Lư Quân Hoành Đài trưởng được Hạ viện Hoa Kỳ trao bằng khen, ghi nhận những đóng góp thúc đẩy giao lưu văn hóa hòa bình trên phạm vi toàn cầu. Năm 2016, Quốc hội Hoa Kỳ trao giấy khen cho Lư Quân Hoành Đài trưởng, tôn vinh những đóng góp nổi bật của ông trong việc truyền bá lòng từ bi, hòa hợp và thúc đẩy hòa bình thế giới suốt nhiều năm.

Đài trưởng Lư Quân Hoành, Thẩm phán Danh dự, được Chính quyền thành phố West Orange, bang New Jersey, Hoa Kỳ trao tặng Giải thưởng Công dân Danh dự của thành phố West Orange. Tại Úc, nhờ những đóng góp nổi bật và uy tín của mình, ông được Chính phủ Úc phong tặng danh hiệu “Thẩm phán Danh dự”, đồng thời được Nghị viện Úc trao tặng bằng khen.

Ông còn nhận vinh dự trọn đời do Hoàng gia Malaysia ban tặng danh hiệu “Datuk”, đồng thời trở thành Giáo sư khách mời danh dự tại Đại học Siena, Ý. Là một lãnh đạo cộng đồng người Hoa và trí thức kiệt xuất thế giới, ông còn được Chính phủ Trung Quốc đặc biệt ghi nhận và tuyển chọn vào “Niên giám Nhân vật Trung Quốc 2014”.

Ông được mời tham dự Lễ hội Vesak Liên Hợp Quốc lần thứ 12 năm 2015 với tư cách khách mời đặc biệt. Tháng 9 năm 2015, theo lời mời của Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, ông tham dự Diễn đàn thượng đỉnh về Văn hóa Hòa bình Liên Hợp Quốc 2015 tại trụ sở Liên Hợp Quốc, cùng Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, Tổng Thư ký Ban Ki-moon và các nhà lãnh đạo thế giới bàn thảo về hòa bình thế giới. Năm 2017 và 2018, ông phát biểu với tư cách diễn giả chính tại Lễ hội Vesak của UNESCO.

Đài trưởng Lư Quân Hoành luôn yêu mến quê hương tổ tiên, nhiều thập kỷ qua đã đóng góp thúc đẩy giao lưu văn hóa Trung – Úc, đồng thời truyền bá văn hóa truyền thống Trung Hoa và tinh hoa Phật giáo ra thế giới, giúp mọi người thông qua việc niệm kinh, học Phật cải thiện số mệnh, nâng cao chất lượng học tập, công việc và cuộc sống, sống thiện với mọi người, đồng thời phục vụ tốt hơn cho sự phát triển của đất nước và xã hội.

Nếu quý vị có ý muốn hỗ trợ in ấn Kinh Phật và bộ sách “ Bạch thoại Phật pháp”, xin vui lòng chuyển toàn bộ vào tài khoản của tổ chức từ thiện hợp pháp đã đăng ký. Thông tin tài khoản như sau:

(1) Australia Oriental Media Buddhist Charity Association (Tổ chức Từ thiện Truyền bá Phật pháp, Úc – Ngân hàng St George)

  • Tên ngân hàng (Tiếng Trung / Chinese): 圣乔治银行
  • Tên ngân hàng (Tiếng Anh / English): ST GEORGE BANK
  • Tên tài khoản (Account Name): AUSTRALIA ORIENTAL MEDIA BUDDHIST CHARITY ASSOCIATION
  • Mã khu vực ngân hàng (BSB Number): 112 879
  • Số tài khoản (Account Number): 432 033 033
  • Mã SWIFT (SWIFT Code): SGBLAU2S
  • Địa chỉ ngân hàng (Address of Bank): 699 GEORGE ST, HAYMARKET NSW 2000, AUSTRALIA
  • Địa chỉ người thụ hưởng (Address of Recipient): 54 Meagher St, Chippendale, Sydney NSW 2008, Australia

(2) Australia Oriental Media Buddhist Charity Association

(Tài khoản chuyên dụng cho việc xây dựng Quán Âm Đường/Làng Quán Âm)

  • Tên ngân hàng (Tiếng Trung / Chinese): 圣乔治银行
  • Tên ngân hàng (Tiếng Anh / English): ST GEORGE BANK
  • Tên tài khoản (Account Name): AUSTRALIA ORIENTAL MEDIA BUDDHIST CHARITY ASSOCIATION
  • Mã khu vực ngân hàng (BSB Number): 112 879
  • Số tài khoản (Account Number): 432 919 934
  • Mã SWIFT (SWIFT Code): SGBLAU2S
  • Địa chỉ ngân hàng (Address of Bank): 699 GEORGE ST, HAYMARKET NSW 2000, AUSTRALIA
  • Địa chỉ người thụ hưởng (Address of Recipient): 54 Meagher St, Chippendale, Sydney NSW 2008, Australia

Lưu ý: Đây là tài khoản duy nhất được Đài Đông Phương công nhận để hỗ trợ in ấn sách.
Nhà xuất bản: Australia Chinese Buddhist Association Press

  • Phát hành miễn phí để kết duyên
  • Hỗ trợ lưu thông Phật pháp

Hoan nghênh sao in lại (reprint)

Lên đầu trang