Bạch Thoại Phật Pháp – Quyển 2

(白话佛法)

I. Giảng Giải Bạch Thoại Phật Pháp
一、白话讲解佛法

1. Nói về Phật đức và “tri hành hợp nhất”

QUYỂN 2 – TẬP 1
NÓI VỀ PHẬT ĐỨC VÀ TRI HÀNH HỢP NHẤT
(谈佛德与知行合一)

Phật đức là phẩm hạnh của một vị Phật. Là con người, chúng ta cần có phẩm đức của Phật, tức phải hội đủ đạo đức của Phật và tính đức của Phật. Phật Quả là quả báo và vị quả của Phật. Quả vô ngã là khi người tu thật sự thành tựu, ngay cả quả báo này cũng là không; quả vô ngã là không có quả, không có quả thì mới thật sự có quả, còn có quả thì lại là không có quả. 

Phẩm đức, đạo đức và tính đức của Phật đều là cảnh giới cao nhất, là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Khi tu thành, gọi là Đại giác viên mãn, tức hoàn toàn giác ngộ, trí huệ viên thông. Cần dùng “nhục thân chi quang” (ánh sáng của thân xác) kết hợp với “trí huệ chi quang” (ánh sáng của trí huệ); hai thứ ánh sáng hợp nhất chính là ánh sáng của Phật. Nhục thân chi quang là ăn chay, giữ tâm trí trong sáng, không làm điều xấu, thân thể sạch sẽ… tức là thân thể được thanh tịnh.

Để tu thành nhục thân chi quang, trước hết phải tu cho thân xác toát sáng, sau đó mới mở ra trí huệ chi quang. Khi trí huệ chi quang kết hợp với nhục thân chi quang, đó chính là Phật quang. Nếu thân xác bẩn thỉu, tâm trí bẩn thỉu, hành vi bẩn thỉu, linh hồn bẩn thỉu, thì Phật quang sẽ không thể chiếu rọi. Giống như một vật được bọc kín, ánh sáng mặt trời có chiếu vào được không? Nếu là thủy tinh trong suốt, ánh sáng mặt trời tự nhiên sẽ chiếu vào.

“Tri hành hợp nhất” là biết lý mà phải đi vào hành động. Học Phật pháp, nếu biết nhiều lý nhưng không hành trì, không thực hành, thì chưa thật sự là tri hành hợp nhất. Hành vi và kiến thức phải hợp nhất; những gì bạn tu tập và những kiến thức về Phật – Bồ Tát phải kết hợp làm một. Nghĩa là dùng kiến thức để phục vụ hành vi. Trong quá trình tu hành, khi tìm cầu kiến thức, đồng thời làm các việc lành, khuyên dạy người khác học Phật pháp, quý vị sẽ tăng trưởng trí tuệ (Phật trí). Khi làm việc thiện, quý vị cũng đồng thời ngộ lý, tăng trưởng trí tuệ và kiến thức Phật pháp. Mỗi người trong quý vị, khi khuyên dạy người khác học Phật pháp, đều có thể tăng trưởng Phật trí, dùng hành vi, hành động để thu nhận kiến thức. Kiến thức nhiều đến đâu mà không đi vào hành động, cho dù biết nhiều về Phật pháp, giảng ra đủ các lý, nhưng không thực hành, không ứng dụng, cũng coi như vô minh, được xem là vô tri. Hãy nhớ rằng, sau khi học, quý vị phải dùng kiến thức đó để cứu độ chúng sinh.

Đức Phật dạy rằng: “Phàm kẻ nào chấp trước vào một quan điểm nào, mà khinh thường các quan điểm khác, thì được xem là hèn kém.” Nghĩa là, khi chấp vào quan điểm của bản thân, tin rằng điều mình nghĩ là đúng, nhưng lại cho rằng quan điểm của người khác đều sai và khinh thường họ, thì được xem là hèn kém. Trên đời có quá nhiều người chấp vào lý thuyết riêng của mình, chấp vào quan điểm bản thân, chấp vào những gì mình đã học, mà khinh thường những điều khác. Người trí gọi đó là “trói buộc”. Người thông minh nói rằng, những ai chấp vào quan điểm của bản thân mà không tiếp thu quan điểm của người khác, chính là tự trói buộc, tự bọc mình lại, trói chặt bản thân. Phật pháp không phải là lý thuyết suông, mà là điều phải thực hành. Nếu học Phật pháp mà không hành trì, không ứng dụng, thì sẽ không tương ứng với Phật – Bồ Tát.

Cần hiểu rằng, không phải ai cũng là nhàn nhân, và cũng không thể nhàn tức. Nếu một người không phải là nhàn nhân, thì không được nhàn; nếu là nhàn nhân, cũng không phải là thường nhân. Từ những câu này, ta có thể ngộ ra một đạo lý: làm việc phải làm trên công và đức. Nếu làm bất cứ việc gì chỉ dựa trên thiện, chỉ thực hiện một việc lành, thì chưa được gọi là công đức. Phải làm việc trên công và đức, như vậy mới thật sự có lợi cho thân – tâm. Công là xuất phát từ tâm, vượt ra ngoài phạm vi việc thiện thông thường mới được gọi là công. Dùng Phật tâm để làm việc thiện, kết hợp với Phật đức – tức đạo đức, phẩm hạnh của Phật, cùng với đức của bản thân, thì việc làm đó được gọi là công đức.

Con người nên tự quy y, quy y Tam Bảo tự tính; tự quy y Phật, Pháp, Tăng của chính mình. Phật ở trong tâm, Pháp ở trong hành, Tăng ở trong giới. Còn ai có thể làm quy y cho bạn? Bản thân quý vị vốn đã là Phật – Bồ Tát, thì quy y ai? Học Phật không được tham ái; tham ái khiến con người làm điều ác vô cùng, vì tham và ái khiến người ta không sợ ác, làm vô số điều bất thiện. Vì vậy, thánh nhân, hiền minh là những người biết khắc chế vọng niệm; người có tu tập gọi là thánh nhân, chỉ khi khống chế được vọng niệm của mình mới thật sự trở thành thánh nhân. Phàm phu dùng vọng niệm tác phàm, vì vọng niệm quá nhiều nên thành phàm. Cuối cùng, Sư phụ dạy đệ tử: kẻ ngu dốt cầu lỗi nơi thầy, người trí học điều hay nơi thầy. Trong xã hội, đừng nhìn vào khuyết điểm của người khác, mà hãy nhìn vào điểm tốt. Trong ba người, nhất định có một người là thầy của mình; trong mười bước, nhất định có cỏ thơm. 

QUYỂN 2 – TẬP 2
LƯ ĐÀI TRƯỞNG NÓI VỀ PHẬT PHÁP VÀ NHÂN QUẢ
(卢台长谈佛法与因果)

Hôm nay, Sư phụ sẽ giảng với quý vị về Phật pháp và pháp lực. Nhiều người biết rằng Phật pháp có pháp lực vô biên, nhưng cũng có người thắc mắc: tại sao có nhiều thiên tai, nhân họa, mà Phật – Bồ Tát không phát lòng từ bi cứu độ, tại sao không ngăn chặn những tai họa xảy ra? Bởi vì Phật – Bồ Tát không can thiệp vào nhân quả; những nghiệp cộng nghiệp và biệt nghiệp do chính mình gieo, mình nhất định phải nhận quả báo. Dù pháp lực của Phật – Bồ Tát vô biên, nhưng đối với những người không có duyên với Phật – Bồ Tát, Ngài cũng không thể cứu độ họ. Có ba trường hợp mà Phật – Bồ Tát không thể cứu độ.

Thứ nhất, người vô duyên: nếu có duyên với Phật – Bồ Tát, Ngài mới có thể giúp đỡ, cứu độ. Nếu vô duyên, Phật – Bồ Tát cũng không thể cứu. Khi quý vị cầu Phật, tức là quý vị tạo ra duyên với Phật, Phật – Bồ Tát mới trợ giúp. Nếu không cầu, nghĩa là quý vị không có duyên với Phật, Phật – Bồ Tát không thể cứu, dù Ngài có hiển linh đi nữa.

Thứ hai, Phật – Bồ Tát không thể tiêu trừ định nghiệp. Định nghiệp là mệnh, là nghiệp đã được định sẵn, tức tất cả những việc quý vị đã làm trong kiếp trước; nhân mà chính mình gieo, quả chính mình nhận gọi là định nghiệp. Những nhân mà chính mình đã gieo, Phật – Bồ Tát không thể tiêu trừ, nghĩa là Phật – Bồ Tát không can thiệp vào nhân quả.

Thứ ba, Phật – Bồ Tát ở nhân gian không thể độ tận chúng sinh, vì nếu không có duyên với Bồ Tát, Ngài sẽ không thể cứu độ quý vị. Ví dụ, hôm nay Sư phụ cho quý vị đến nghe Pháp, nhưng quý vị nói “không có thời gian”, thì Ngài làm sao cứu độ quý vị? Sư phụ có thể giúp quý vị thế nào? Nguyên nhân chính là vấn đề duyên.

Trong thế gian, những người vô duyên với Phật pháp được gọi là đại địa thổ. Nghĩa là những người không có duyên với Phật pháp và Phật – Bồ Tát, giống như bụi đất trên đại địa. Ngược lại, những người hữu duyên, ở cùng Bồ Tát, có thể cùng Bồ Tát cứu độ chúng sinh, được gọi là trưởng trung thổ (đất trong lòng bàn tay). Trưởng trung thổ nghĩa là Bồ Tát đã đặt quý vị trong lòng bàn tay, chỉ khi có duyên với Bồ Tát, Ngài mới có thể cứu độ quý vị. Trong thế gian, định nghiệp của con người là không thể chuyển đổi. Định nghiệp là tất cả những việc quý vị đã làm trong kiếp trước, tạo nên định số của vận mệnh, gọi là định nghiệp. Định nghiệp đã được định, không thể chuyển đổi; vận mệnh con người có thể thay đổi, nhưng chỉ thay đổi từng năm một. Dù Phật pháp vô biên, cũng phải tuân theo định luật nhân quả. Nếu quý vị làm những việc rất xấu, Bồ Tát không thể giúp quý vị tiêu trừ tội nghiệp.

Đừng nghĩ rằng hôm nay làm một việc thiện có thể bù đắp cho những việc ác đã làm trước kia, điều đó là không thể. Nhân quả là nhân quý vị tự gieo, quả quý vị tự nhận, người khác không thể thay thế. Phủ nhận định luật nhân quả chính là phủ nhận chân lý của con người và vũ trụ. Nhân quả trong chân lý vũ trụ của đời người là đã định, là thiên luật, không thể lay chuyển, là chân lý mà vũ trụ không thể thay đổi, là chân lý vĩnh hằng; thế giới chúng sinh cũng như vậy. Ví dụ, khi quý vị làm việc ác, nhất định sẽ nhận quả báo xấu, chịu khổ trong địa ngục. Địa ngục chỉ là nơi thực thi thiên luật. Bồ Tát từ bi như vậy, tại sao thấy có nhiều chúng sinh chịu khổ trong địa ngục mà không cứu hết được? Bởi vì đó là nhân quả, không ai có thể thay đổi được.Cần nhớ rằng không được động đến nhân quả, không làm việc ác, không gieo nhân dữ; làm gì sẽ nhận quả đó, nhân nào sẽ gặt quả đó. Phật pháp nói rằng Phật pháp vô biên, nhưng đó là trong một nghĩa đặc thù. Nghĩa đặc thù là: Phật pháp vô biên khi cứu độ những chúng sinh hữu duyên; pháp lực mới thể hiện là vô biên. Đối với người có thiện nghiệp, Phật pháp là pháp lực vô biên. Đối với người có trọng tội nghiệp, Phật pháp cũng là pháp lực vô biên, nhưng như có câu “Thiên mạng hồi hồi, thưa nhi bất lậu”, chỉ cần làm việc xấu, không thể thoát khỏi sự trừng phạt của luật trời.

Con người có thành tâm, Phật sẽ cảm ứng. Chỉ cần một người thành tâm sám hối, Phật – Bồ Tát chắc chắn sẽ cảm ứng. Tất cả tai họa trên thế gian đều là do cộng nghiệp gây ra. Bồ Tát cứu độ những chúng sinh hữu duyên, đang chịu tổn thương bởi cộng nghiệp, và đó đều là người tốt; chỉ những người tốt Bồ Tát mới cứu. Ví dụ, cùng mắc một loại bệnh, tại sao có người sống sót, còn có người lại mất sớm? Những người trẻ mất sớm là vì không có duyên với Phật – Bồ Tát. Phật pháp phải vận hành theo thiên luật, theo nhân quả và nghiệp báo. Nhân quả không thể thay đổi, nghiệp báo cũng không thể thay đổi.

Nhân quả đều có trong mệnh. Người tu tâm mà không tu mệnh thì không được; nếu không thay đổi mệnh của mình, sẽ sinh ra tà kiến, tham ái, vô minh. Tà kiến là cho rằng bản thân luôn đúng. Vô minh là không hiểu chân lý, không biết gì cả. Tham ái là gì cũng muốn, ham muốn vô biên. Con người phải học cách buông bỏ, mới có thể kiềm chế tham ái. Nếu tu tâm mà tà kiến, tham ái, vô minh chưa được tiêu trừ, thì sự tu tâm đó chắc chắn còn sai sót, có lỗ hổng.

Sư phụ dạy quý vị, tâm thái quyết định tương lai của quý vị. Nếu có tâm thái tốt, tương lai sẽ tốt; nếu tâm thái xấu, tương lai sẽ không tốt, hãy cùng nhau cố gắng tu học.

QUYỂN 2 – TẬP 3
TÍNH MỆNH SONG TU, TRÍ GIẢ NGỘ DUYÊN
(性命双修,智者遇缘)

Tính mệnh song tu, nhiều người đều biết rằng về già hoặc khi gặp tai họa, tính mệnh khó bảo. Vậy tính mệnh khó bảo là gì?

Mệnh là thân xác của quý vị. Tính là linh hồn của quý vị. Tính mệnh khó bảo có nghĩa là linh hồn và thân xác đều không bảo toàn được. Vì vậy, cần phải tu tính và tu mệnh, cả hai đều quan trọng như nhau.Tu tính là tu bản tính, tu lương tâm. Tu mệnh là tu thân xác và hành vi. Do đó cần song tu tính mệnh. Nếu quý vị không có mệnh, sẽ không tu được tính; nếu mệnh của quý vị rất kém, khổ cực vô cùng, và không có duyên tiếp cận pháp môn của Đài Trưởng, thì đó là người không có phúc báo.

Mệnh là nền tảng của sự tu hành. Tu hành nhất định phải nội tu và ngoại tu. Nội tu là tu cho tâm được an định, bình lặng. Ngoại tu là đối với chúng sinh không gây chướng ngại. Sư phụ thường dạy quý vị về “ngoại quan vô ngại”, tức là nói đến ngoại tu: phải tu cả tâm lẫn hành vi của mình. Ngoại tu cần có tâm từ bi, phải tu từ dung mạo, không để lộ tướng gian xảo; khiến người khác vừa nhìn đã cảm nhận được tướng Bồ Tát. Người tu tâm, diện mạo cũng sẽ thay đổi. Nếu hôm nay gương mặt quý vị vẫn còn hung dữ, điều đó cho thấy tâm của quý vị căn bản chưa được tu tốt. Một người học điều gì thì phải giống điều đó; học Bồ Tát thì phải giống Bồ Tát. Ngoại tu giống Bồ Tát, nội tâm cũng giống Bồ Tát, như vậy mới thật sự là Bồ Tát chân chính. Người nội tu thì ít bệnh, ít phiền não, bởi vì tâm thái đã hòa hoãn, tâm đã an định. Khi tâm bình ổn, con người tự nhiên sẽ giảm bệnh tật, giảm khổ não. Người ngoại tu thì diện mạo phải hồng hào, trắng mà ửng hồng; đôi mắt có thần, toát ra ánh sáng; tính tình nhu hòa, lời nói lễ độ, có trí tuệ. Bình thường không nói thì thôi, nhưng hễ mở lời là sáng tỏ, rõ ràng, khiến người nghe liền hiểu.

Dù ngoại cảnh phát ra bất cứ âm thanh gì, cũng phải lắng nghe tiếng Phật trong nội tâm, lắng nghe tiếng nói của Phật và Bồ Tát trong chính lòng mình.

Bất luận gặp chuyện gì, Sư phụ dạy quý vị một then chốt: chỉ cần khởi lên một niệm, lập tức phải học cách hóa giải. Hãy xem đó là sự khảo nghiệm của Phật – Bồ Tát dành cho mình. Khi cảm nhận có điều không tốt xảy ra, phải nghĩ rằng đó là Phật – Bồ Tát đang thử thách mình, rồi tự hỏi bản thân: làm thế nào để vượt qua cửa ải này, phải chịu đựng được sự khảo nghiệm ấy. Chỉ cần trong mọi việc đều nghĩ đến Bồ Tát, thì trên đời này còn có khó khăn nào không thể vượt qua, còn có thử thách nào không thể chiến thắng?

Người học Phật nhất định phải ghi nhớ chuyện đã qua thì không cần nghĩ lại; hiện tại không cần căng thẳng; chỉ cần niệm Phật thì tự nhiên được cát tường. Những việc đã xảy ra rồi, nghĩ nhiều cũng vô ích; những việc chưa đến, hà tất phải hoảng sợ. Thực sự nắm vững một ngày hôm nay còn hơn mơ tưởng hai ngày mai. Ngày ngày niệm Phật, tự nhiên sẽ được bình an và may mắn.

Trí giả gặp duyên thì tự được lực. Người có trí tuệ khi đối diện với mọi nhân duyên, dù là thiện duyên hay ác duyên, đều có thể rút ra sức mạnh từ đó. Nhiều người khi gặp khó khăn lại càng thêm kiên định niềm tin, nhờ vậy mà nhận được lực nâng đỡ từ nghịch cảnh. Người có trí tuệ, dù gặp thuận duyên hay nghịch duyên, đều có thể thu nhận lợi ích. Thất bại của hôm nay chính là nền tảng cho thành công của ngày mai; còn thành công của hôm nay cũng có thể là dấu hiệu cho những thử thách của ngày mai. Thực chất, tất cả đều chỉ là một chữ “duyên”.

Nói cho mọi người biết, theo khoa học đã chứng minh, cảm xúc chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến chức năng miễn dịch của con người. Cảm xúc tốt hay xấu đều tác động trực tiếp đến hệ miễn dịch của thân thể. Khi một người nổi giận, buồn bã, thì sức đề kháng sẽ suy giảm. Tương tự như vậy, sân giận sẽ sinh ra những chất độc giống như nọc rắn. Khi một người nổi giận, chẳng khác nào con rắn đang phun độc. Vì thế, giận dữ có thể làm hại đến tính mạng, cũng có thể nói là tự mình đầu độc chính mình, bởi vì hệ miễn dịch bị tổn hại, từ đó làm thân thể sinh bệnh. Người hay nổi giận là người trí tuệ không khai mở, bệnh tật sinh ra từ cơn giận thì không ai có thể gánh thay.

Thật ra tiềm năng của con người là vô hạn. Vậy dùng phương pháp nào để khai mở tiềm năng của con người? Chính là dùng tâm biết ơn để khai mở tiềm năng ấy. Bạn càng biết ơn, tiềm năng của bạn càng lớn, phương pháp giải quyết vấn đề cũng càng nhiều. Lòng biết ơn có thể khai mở tiềm năng, giúp bạn hóa giải tai nạn, vượt qua khó khăn, tiêu trừ tâm sân hận và sinh khởi tâm yêu thương. Con người sống trên đời cần phải biết trân quý phúc báo, đừng đợi đến khi không bệnh mà lại phung phí, tàn hại thân thể của mình, rồi đến khi có bệnh mới oán trách, than phiền. Điều này, nói theo cách thường thấy, chính là lãng phí sinh mệnh. Bình thường hãy tu tâm, tu hành nhiều hơn, tích lũy công đức nhiều hơn. Như vậy, khi bệnh đến sẽ không còn oán trách nữa, bởi vì bệnh sẽ nhanh chóng thuyên giảm và hồi phục.

Sau đây là một điều cần đặc biệt lưu ý khi giảng cho đệ tử: Khi dâng nước cúng Phật, Bồ Tát, tuyệt đối không được dâng cốc trống (tức là không được đặt cốc rỗng lên trước rồi mới rót nước vào). Trong cốc nhất định phải có sẵn một ít nước rồi mới đem cúng. Nước có tác dụng tiêu trừ tâm tham của con người. Vì vậy, những vật phẩm dâng cúng lên Phật, Bồ Tát nhất định phải xuất phát từ sự chí thành chí kính, dốc trọn tâm ý, không được xen lẫn bất kỳ tâm lý tiếc nuối hay không nỡ nào trong đó.

Cúng nước là để nhắc nhở bản thân không khởi tham – sân – si, không sinh tâm keo kiệt, bủn xỉn. Nước có bốn công năng:

1. Tính thanh tịnh: Khi dâng nước cúng, thân và tâm của bạn sẽ trở nên an hòa, khỏe mạnh; sáu căn tạm thời được thanh tịnh.
2. Tính mềm mại:  Nước giúp ý niệm trở nên nhu hòa, mềm dịu. Người thường xuyên uống nước thì tâm ý tương đối bình tĩnh; người ít uống nước dễ nóng nảy. Ví dụ, khi miệng khô, toàn thân bốc hỏa thì rất dễ phát sinh sân giận.
3. Nhuận hầu: Uống nhiều nước giúp lời nói trôi chảy, dễ nghe, diễn đạt lưu loát. Nước giúp tâm an định, làm cho đầu óc tỉnh táo, minh mẫn.
4. Trong sạch: Giúp ý niệm sáng suốt, thanh khiết, không vẩn đục.

Sư phụ khuyên răn các đệ tử, người học Phật nên lấy người khác làm thầy của mình, lấy đức hạnh của người khác làm đức hạnh của mình, lấy hành vi và biểu hiện tốt của người khác làm tấm gương cho bản thân noi theo.

QUYỂN 2 – TẬP 4
TRONG QUÁ TRÌNH TU HỌC PHẬT PHÁP CẦN KIÊN TRÌ “TỨ BẤT” (TỨ KHÔNG)
(修佛中要坚持“四不”)

Hôm nay Sư phụ giảng với mọi người về bốn chữ “Bất” (Không).

1. Bất hỷ (Không kiêu mạn)
Tức là không được sinh tâm cống cao ngã mạn, không tự cho mình là giỏi giang, hơn người. “Cống cao” là cho rằng mình đã làm rất nhiều việc tốt, có công đức lớn, rồi tự thấy mình ghê gớm, từ đó xem nhẹ người khác, coi thường người khác.

2. Bất cụ (Không sợ hãi)
Tức là không nuôi tâm sợ hãi, không để tâm trí suy nghĩ miên man, rối loạn. Chỉ cần giữ được tâm bình đẳng thì tự nhiên sẽ không còn sợ hãi. Ví dụ, người khác có tiền, có danh, có lợi, đó là do công đức của họ tạo thành. Khi bản thân giữ được tâm “người người đều bình đẳng”, thì sẽ không còn sợ bất cứ điều gì. Vì sao nhiều người hay sợ hãi? Là vì lòng tự tôn đang bị lay động. Cần hiểu rằng con người sống ở thế gian, có lòng tự tôn là điều Bồ Tát cho phép. Nhưng sự tự tôn ấy phải xuất phát từ nội tâm, nhằm nhắc nhở bản thân trước hết phải biết tôn trọng chính mình. Lòng tự tôn chân chính phải được xây dựng trên nền tảng bình đẳng. Nếu đã sinh tâm so sánh, phân biệt, thì đó không còn là tự tôn đúng nghĩa nữa. Ví dụ, khi quý vị thấy mình nghèo, thấy người khác giàu hơn, tâm tự tôn liền bị kích động. Một cách để hóa giải là quán chiếu rằng người kia cũng như mình, đều bình đẳng, không vì tiền tài mà hơn kém. Nếu tự hạ thấp bản thân thì sẽ đánh mất tự tôn, mà như vậy cũng không đúng.

3. Bất chấp (Không chấp)
Tức là không chấp trước, không cho rằng điều mình nghĩ chính là chân lý rốt ráo. “Rốt ráo” nghĩa là cho rằng việc này của tôi là đúng, nhất định là đúng. Khi chấp chặt vào điều mình cho là đúng, thì trong đời sống thực tế, dù biết không thể giải quyết được vẫn cứ cố làm – đó chính là chấp trước. Ví dụ như đi sòng bạc, bản thân chấp chặt rằng mình nhất định sẽ thắng. Vì sao lại chấp trước như vậy? Là vì tự cho rằng mình đã nắm được chân lý, cho rằng điều đó chắc chắn đúng, nên mới lao đầu vào. Đây chính là biểu hiện của người không biết suy xét, người thiếu trí tuệ.

4. Bất không (Không rơi vào “không, trống rỗng”)
“Bất không” nghĩa là trong đầu không rơi vào trạng thái trống rỗng hoàn toàn. Nếu rơi vào cái “không” đó thì sẽ sa vào cảnh giới “ngoan không”, nơi mà mọi thứ đều như huyễn ảnh. Nếu trong tâm thật sự đạt đến trạng thái hoàn toàn rỗng không, thì sẽ không còn rơi vào thế giới hư giả này nữa. Nhưng chỉ những người tu hành đạt đến một tầng thứ nhất định mới có thể bước vào cảnh giới ấy.
Sư phụ từng giảng rằng thần thông có sáu loại, gồm: Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông, Túc mệnh thông, Thần túc thông và Lậu tận thông. Phải hiểu rằng, thần thông là do chứng ngộ mà có. Chứng ngộ tức là tự mình chứng thực sự tồn tại của chân lý, ngộ ra Phật lý, hiển lộ Phật tánh, cũng gọi là khai ngộ. Khi một người thật sự khai ngộ, tự nhiên sẽ có thần thông. Còn khi chưa khai ngộ mà đã khởi tâm truy cầu thần thông thì đều là sai lệch. Ngoài ra, có những loại thần thông đạt được do pháp thuật, nghiệp báo hoặc trì chú cũng có thể xuất hiện. Tuy nhiên, pháp thuật phần nhiều có nguồn từ cảnh giới thấp (âm giới), thường liên quan đến quỷ linh dựa nhập nên mới sinh ra năng lực. Vì vậy, pháp thuật có thể giúp người, nhưng cũng có thể hại người, hoàn toàn tùy theo người tu hành sử dụng theo hướng thiện hay ác. Trì chú là một phương pháp tương đối chánh đáng. Còn một loại khác là do nghiệp báo mà có. Nghiệp báo ở đây là sự chiêu cảm từ nghiệp lực, nhưng không phải là ác nghiệp, mà là thiện nghiệp trổ quả. Việc trong đời này có thể đạt được thần thông là do thiện nghiệp và công phu tu hành từ đời trước tạo thành. Vì vậy, do nghiệp báo hoặc do trì chú mà có được thần thông đều là những trường hợp có thể xảy ra. Tuy nhiên, trong các loại thần thông, tầng thứ rất phức tạp, chủng loại cũng không giống nhau.

Thần thông tự thân chỉ là một loại năng lực trung tính. Vì sao gọi là trung tính? Bởi vì thần thông không thể giải quyết vấn đề một cách rốt ráo, nên không thể hoàn toàn nương tựa vào nó. Do đó, Bồ Tát dạy chúng ta không nên ỷ lại hay truy cầu thần thông, mà phải tu những điều chân thật, tu để khai mở ngộ tính. Nếu chỉ một mực chạy theo thần thông thì không có lợi ích chân thật, cũng không có tác dụng rốt ráo. Sư phụ có thần thông là để giúp người khác sinh lòng tin, từ đó thông qua việc niệm kinh, tu hành và tu tâm mà tự thay đổi vận mệnh của chính mình. Sư phụ đang cứu độ những chúng sinh hữu duyên. Nếu tất cả mọi người đều thật sự giác ngộ rồi, thì đối với Sư phụ mà nói, thần thông còn có tác dụng gì nữa? Nếu mỗi người đều có thể khai ngộ như Sư phụ, biết niệm kinh và tu tâm, thì quý vị nói xem, còn cần thần thông để làm gì nữa? Mục đích của thần thông là để cứu người, nhưng bản thân nó cũng không thể cứu người một cách rốt ráo, vì thế mới gọi thần thông là một loại lực trung tính.

Trên thế gian, bất kỳ sự vật nào cũng đều mang tính trung tính. Ví dụ như tiền bạc: nó có thể mang lại hạnh phúc cho quý vị, nhưng cũng có thể khiến quý vị đau khổ, thậm chí mang đến tai họa. Con dao cũng vậy, có thể làm người ta đau khổ, nhưng cũng có thể đem lại lợi ích. Con dao dùng để giết người là công cụ gây đau khổ, còn dao phẫu thuật lại giúp cứu người, chữa bệnh, mang lại sự an lành. Bất kỳ sự việc nào khi xảy ra cũng đều có mặt tốt và mặt xấu. Ví dụ, khi một người bị ngất xỉu, điều đó báo hiệu cơ thể đã có vấn đề, và từ đó người ấy sẽ bắt đầu chú ý hơn đến sức khỏe của mình. Nếu không có lần ngất đó, làm sao họ chịu quan tâm đến cơ thể? Đây chính là tính trung tính của sự việc. Nói theo cách hiện đại thì gọi là phép biện chứng duy vật. “Duy vật” là nói đến những gì có thể nhìn thấy, sờ chạm được – tức là phương diện vật chất. Còn những gì không nhìn thấy mà do tâm tưởng tạo ra thì gọi là “duy tâm”.

Phép biện chứng duy vật chính là nhìn nhận sự vật từ cả hai mặt đối lập của nó, tức là xem mọi việc đều có hai mặt. Vì vậy, khi nhìn nhận một vấn đề, nhất định phải thấy được cả hai phương diện của nó. Diệu dụng của Phật pháp chính là giúp con người ngộ ra đạo lý ngay trong cuộc đời, từ nơi cuộc đời mà tỉnh ngộ, cuối cùng đạt đến khai ngộ. Vì vậy, Phật pháp là linh hồn của muôn sự muôn vật, cũng là căn nguyên chân thật của con người Thần thông được sử dụng với tâm thái như thế nào? Sư phụ có thần thông thì dùng với tâm thái ra sao? Điều này vô cùng quan trọng. Khi một người dùng thần thông với tâm niệm chân chánh, thiện lành, thì đó là hành vi của Bồ Tát. Nếu dùng thần thông với tâm niệm bất chánh, lệch lạc, thì liền trở thành ma đạo. Ví dụ, trên đời có người biết thôi miên. Nếu là một nhà thôi miên có tâm tốt, họ có thể giúp người khác thư giãn, buông bớt quá khứ, làm thân tâm được thả lỏng. Nhưng nếu năng lực ấy rơi vào tay kẻ xấu, họ có thể lợi dụng thuật thôi miên để làm những việc trái pháp luật, tạo ác nghiệp. Thần thông rơi vào tay ai thì sẽ phát huy tác dụng theo người đó, phục vụ cho mục đích của người đó. Cũng giống như tiền bạc vậy, khi ở trong tay người thiện, tiền có thể dùng để bố thí, giúp người làm việc lành; còn khi ở trong tay kẻ ác, tiền có thể bị dùng để thuê người làm điều xấu, cờ bạc, tạo tội. Nhưng bản thân đồng tiền vốn không có phân biệt thiện hay ác.

QUYỂN 2 – TẬP 5
HỌC PHẬT CHÍNH LÀ HỌC LÀM NGƯỜI, ĐÈN QUANG MINH PHẢI THẮP TRONG TÂM
(学佛就是在学做人, 光明灯要点在心中)

Sau đây Sư phụ nói với các đệ tử về “cứu cánh lậu tận thông” trong sáu loại thần thông. Đây là cảnh giới đã không còn bị trói buộc bởi phiền não sinh tử. “Lậu tận thông” nghĩa là đã thấu suốt sinh tử, có thể thấy được tương lai, nhìn ra điểm cuối của đời người. Đó là cảnh giới của sự khai ngộ, mọi việc đều nhìn rõ ràng minh bạch. Lậu tận thông là một loại trí tuệ phát sinh từ khai ngộ. Nếu tu đến mức cứu cánh lậu tận thông thì sẽ không còn bị phiền não sinh tử ràng buộc nữa, mà an trụ trong sự tịch tĩnh của Niết-bàn.

Niết-bàn, xét theo cách giảng ở đây, là khi một người “ra đi”; tuy thân xác vẫn còn, nhưng thần thức đã rời khỏi thân, điều này được gọi là Niết-bàn. Khi một người ngồi thiền, thần thức có thể xuất ra ngoài thân, cũng có thể gọi là “giả Niết-bàn”. Sau khi vào trạng thái này, con người trở nên tịch tĩnh, nhưng không được chấp trước vào niềm vui của Niết-bàn. Có nhiều người cảm thấy mình có thể nhập Niết-bàn nên vui mừng khôn xiết, vì họ cảm nhận được thần thức mình có thể xuất ra rồi lại thu về. Thực ra, chỉ cần rơi vào trạng thái “giả Niết-bàn” ở nhân gian thì đôi khi thần thức có thể không quay trở lại thân được, vì vậy phải hết sức cẩn thận. Ngồi thiền vốn là một việc rất an lạc; khi một người nhập định, tâm rất yên tĩnh, thần thức cảm thấy nhẹ nhàng, thư thái. Nhưng việc ngồi thiền đòi hỏi người có công phu tu hành nhất định mới phù hợp. Nếu người không có đạo hạnh mà tùy tiện ngồi thiền, sau khi thần thức xuất ra ngoài có thể không trở về được, thậm chí dẫn đến rối loạn tinh thần.

Chúng ta nhất định không được chấp trước vào niềm vui của Niết-bàn, tức là không nên cho rằng Niết-bàn là một trạng thái để hưởng thụ an vui. Phải lìa cả hai bên (ly nhị biên): một bên là Niết-bàn, một bên là nhân sinh. Ở giữa Niết-bàn và nhân sinh, con người không hoàn toàn an trụ trong Niết-bàn, mà cũng không hoàn toàn chìm đắm trong đời sống thế tục. Chọn con đường ở giữa Niết-bàn và nhân sinh – đó chính là ngộ. Niết-bàn là cảnh giới giải thoát rốt ráo. Nhưng ở nhân gian, làm sao có thể đạt đến sự giải thoát tuyệt đối? Xét theo ý nghĩa của cõi người trong sáu nẻo luân hồi, con người vẫn chưa thể rời khỏi nhân quả thế gian. Sau khi tu tâm, quý vị còn phải cứu giúp người khác, học Phật pháp Đại thừa, cũng học Phật pháp Tiểu thừa, học thêm nhiều đạo lý để cứu độ chúng sinh; còn phải tụng kinh, còn phải trợ giúp những người thân trong gia tộc của mình. Vì vậy, chúng ta chỉ có thể ở giữa Niết-bàn và nhân sinh mà không ngừng tu hành tiến bộ. Sư phụ gọi đó là “thường hành trung đạo” – thường xuyên bước đi trên con đường trung đạo, không rơi về một bên, cũng không thiên lệch về phía nào.

Nếu có được một chút năng lực thần thông thì nên làm thế nào? Tâm thái cần giữ là: Không quá vui mừng (bất hỷ) – tức là không nên hớn hở, đắc ý; Không sợ hãi (bất cụ) – vì có người sau khi xuất hiện thần thông lại sinh tâm lo sợ, sợ nhìn thấy những cảnh giới thuộc linh giới; Không chấp trước (bất chấp) – bởi một khi chấp vào đó thì rất dễ rơi vào trạng thái rối loạn tinh thần, ngày ngày chỉ nghĩ đến việc thấy các cảnh giới khác; Không rơi vào “không” trống rỗng (bất không) – nghĩa là đầu óc không được rỗng không hoàn toàn. Nếu rơi vào trạng thái trống rỗng tuyệt đối thì cũng trở thành trạng thái tinh thần bất thường. Chừng mực này rất khó nắm bắt: vừa dạy mọi người tu đến “không”, lại vừa không được rơi vào “không” cực đoan. “Không rơi vào không” nghĩa là khi ý thức của quý vị vẫn còn tỉnh táo, hãy quán chiếu rằng mọi ý niệm đều là “không”. Sự “không” chân chính trong tu hành vẫn có sự tỉnh biết. Ví dụ, quý vị biết có việc đó, nhưng không khởi tâm suy nghĩ hay dính mắc vào nó, đó gọi là “không mà vẫn có ý thức”, là trạng thái “không” do tự mình làm chủ và điều phục. Còn sự “không” do giác ngộ mà đạt được mới gọi là chân không. Sư phụ từng giảng rằng, sự giác ngộ chân thật chính là thật sự hiểu rõ chân lý của cuộc đời.

Nếu thật sự có được chút thần thông thì không được tham cầu danh lợi, mà phải có tấm lòng rộng mở. Khi năng lực của một người càng lớn thì tâm lượng cũng phải càng rộng, hai điều này luôn tỷ lệ thuận với nhau. Nếu có năng lực mà trong làm người, trong tu hành lại không có tâm lượng rộng lớn, thì cũng xem như không có năng lực chân thật. Tâm lượng ấy được xây dựng trên nền tảng nào? Chính là dựa trên khả năng nhìn rõ thiện và ác, phân biệt đúng sai, hiểu thấu oan gia và nghiệp nợ. Khi thấy rõ được chân tướng sự việc như vậy, tâm lượng tự nhiên sẽ trở nên rộng mở.

Nếu có một chút thần thông mà lại đi vào tà đạo thì sẽ rơi vào cảnh giới vạn kiếp bất phục (muôn kiếp không thể phục hồi). Dùng chút năng lực do chư Phật, chư Bồ Tát gia hộ mà bước vào con đường tà đạo, lệch lạc, thì dù trải qua muôn đại kiếp cũng khó còn cơ hội được trở lại thân người. Nếu lợi dụng chút hiểu biết của bản thân, một chút khả năng, một chút thần thông, một chút linh cảm để lừa gạt tiền tài của người khác, làm điều xấu ác, thì người đó về sau sẽ rơi vào cảnh giới vạn kiếp bất phục (muôn kiếp không thể quay lại).

Ở nhân gian, có rất nhiều người bẩm sinh tính cách cứng cỏi, mạnh mẽ. Nếu gặp người quá cứng rắn như vậy thì nên dùng cách nào để ứng xử? Ai cũng biết đạo lý “lấy nhu thắng cương”, dùng sự nhu hòa để cảm hóa. Nghĩa là khi đối phương quá cứng rắn, ta nên dùng lời nói ôn hòa, mềm mỏng để hóa giải, vừa giúp họ chuyển hóa, vừa giữ được hòa khí.

Con người vốn “hiếu thuật”, nghĩa là tâm rất dễ thay đổi. Chỉ cần nghe người khác nói ra nói vào, bàn tán thị phi, trong lòng liền sinh nghi hoặc. Vì vậy phải giữ vững phương hướng tư duy của mình, đi con đường mà bản thân đã nhận rõ. Có những lúc cảm thấy mê mờ, phân vân, thậm chí không rõ đúng sai, cũng vẫn phải giữ tâm kiên định. Khi ấy cần lấy tâm chân thành để cảm động người khác. Dùng sự chân thành để tu sửa nội tâm mình, rồi cũng dùng chính sự chân thành ấy mà cảm hóa người, giúp họ cùng mình bước đi trên con đường đúng đắn.

Học Phật chính là học làm người. Đèn quang minh phải được thắp trong tâm, chứ không phải treo lơ lửng bên ngoài. Nhiều người thắp đèn quang minh rồi ghi tên mình, treo ở trên cao. Đèn quang minh cần đặt trong tâm thì mới có thể chiếu khắp mười phương. Khi năng lượng của một người rộng lớn vô biên mới có thể soi sáng khắp nơi; còn một ngọn đèn treo bên ngoài chỉ chiếu được một khoảng rất nhỏ, chỉ sáng được một tấc đất mà thôi. Đừng thắp đèn ở bên ngoài. Ngọn đèn thắp bên ngoài là để cho người khác nhìn thấy; còn ngọn đèn thắp trong tâm mới có thể soi sáng cả thế giới. Bởi vì trong tâm mỗi người đều có một ngọn tâm đăng. Ngọn đèn ấy giống như một mạng lưới, kết nối với trái tim của tất cả mọi người trên thế giới – đó chính là Phật tâm. Ngược lại, có những người ngọn đèn trong tâm đã tắt, chưa được thắp sáng – nghĩa là chưa được nghe Phật pháp. Nhất định phải dùng sự tu hành của chính mình để thắp sáng ngọn đèn ấy. Phải thành tựu “đại ngã”, buông bỏ “tiểu ngã”. Nếu việc gì cũng nghĩ cho cái tôi nhỏ bé trước tiên, thì làm sao có được “đại ngã”? Người tu hành phải quán tiền tài là không, thấy danh lợi là không thật. Người tu tâm cần xem tiền bạc là trống không, xem danh và lợi như không có.

Hôm nay do thời gian có hạn, Sư phụ giảng đến đây. Quý vị phải ghi nhớ: tu hành chân chính là buông xả hết thảy, ngay nơi hiện tại được tự tại, quét sạch phiền não, buông xuống muôn duyên. Quý vị phải buông muôn duyên, chăm chỉ học Phật tu tâm. Thế giới này không có gì để tranh luận đúng sai theo lý lẽ thế gian, chỉ có duyên, vì mọi việc đều do nhân duyên tạo thành (nhân quả).

QUYỂN 2 – TẬP 6
MƯỢN GIẢ TU CHÂN, CHỨNG KIẾN PHẬT TÁNH
(借假修真,见证佛性)

Chứng kiến Phật tánh nghĩa là khi quý vị thấy một người đang làm việc thiện bằng tâm của Phật, dùng Phật tâm để hành thiện, thì người ấy chính là Phật, là Bồ Tát. Sư phụ thấy được điều đó, Sư phụ xác minh điều đó – quý vị là Bồ Tát. Chứng minh Phật tánh, thấy được gọi là chứng kiến; sau khi thấy, quý vị phải xác nhận đó là chân thật, thì mới gọi là chứng. Cảm ngộ Phật tánh là dùng chân tâm của chính mình để ngộ ra Phật tánh. Ba điều này cộng lại mới gọi là công đức. Công đức chính là dùng tâm để làm việc thiện, hành thiện, nói lời thiện, tất cả đều phát xuất từ nội tâm chân thành, thì mới gọi là công đức. Còn chỉ làm việc thiện bên ngoài, thì có được phúc báo nhân thiên, nhưng chưa phải là công đức chân thật.

Cầu phúc thì không thấy được công đức, bởi vì khi một người cầu phúc, thứ họ nhận được chỉ là phúc báo nhân thiên, chứ không phải công đức. Công đức mới có thể tiêu trừ tội nghiệp, hóa giải nghiệp chướng của bạn. Công đức chân thật không chỉ dừng ở việc thấy được Phật tánh, mà còn phải vận dụng Phật tánh, lại còn phải cảm ngộ Phật tánh. Chỉ khi hội đủ những điều ấy, mới gọi là công dụng chân thật và vi diệu. Ví dụ, hôm nay làm công đức là làm trong tâm vô cầu, đi giúp đỡ người khác một cách chân thật, thật sự là vì họ mà giúp. Như vậy là đã chứng kiến Phật tánh của chính mình.

Không có mục đích khi giúp người, việc làm ấy tự thân chính là Phật tánh. Những gì quý vị làm có thể thấy được Phật tánh, thì đó mới gọi là công đức. Nếu giúp người với mục đích, thì không phải là hành vi của Bồ Tát, không phải là việc Bồ Tát làm, không phải là lời Bồ Tát nói, vì thế không có công đức. Diệu dụng chân thật chính là thật sự đem Phật pháp ra vận dụng một cách vi diệu trong đời sống.

Vì sao không vận dụng Phật tánh thì đồng nghĩa với không bình đẳng? Bởi vì làm bất kỳ việc gì mà không lấy Phật tánh làm nền tảng, thì đều là không bình đẳng. Nếu không dùng Phật tánh để hành sự, thì tất nhiên sẽ sinh ra sự phân biệt, thiên lệch. Thử hỏi nếu không phải vì cứu độ chúng sinh, mà là vì một nguyên nhân hay mục đích riêng nào đó mà đi làm việc ấy, thì các quý vị thử nói xem, đó có còn là bình đẳng hay không? Ví dụ vì muốn sau này quý vị có thể làm cho Sư phụ nhiều việc hơn, nên bây giờ Sư phụ mới làm rất nhiều việc cho quý vị, vậy điều này có phải là bình đẳng không? Xét về lý, thì đây là không bình đẳng. Nhưng nếu đứng trên góc độ thế gian, thì nghe có vẻ như là bình đẳng, một báo đổi một báo, có qua có lại. Trên thực tế, điều đó đã lệch khỏi nguyên tắc căn bản của Phật pháp là rộng độ hữu duyên chúng sinh. Chỉ khi không có mục đích, toàn tâm toàn ý đi giúp người, thì đó mới là bình đẳng chân chính. Bất bình đẳng chính là vì không ứng dụng Phật tánh. Tuy nhiên, mọi sự bất bình đẳng đều có tính thời hiệu. Khi thời hiệu của sự bất bình đẳng đó qua đi, thì nó sẽ trở về bình đẳng.

Ví dụ: Bởi vì việc thiện mà quý vị đã làm đã hết, nên quan hệ đó trở về bình đẳng. Đừng nghĩ rằng: “Tôi đã từng cứu bạn một lần, thì bạn phải mãi mãi mang ơn tôi, phải chịu đựng tôi.” Đó chính là đạo lý của sự bất bình đẳng. Đến khi người kia không thể chịu đựng được nữa và rời đi, thì bình đẳng liền xuất hiện. đó chính là thời hiệu đã hết.

Vì vậy, chúng ta nên dùng tâm bình đẳng để đối đãi với tất cả chúng sinh. Nghĩa là, khi nhìn người, cần dùng tâm bình đẳng để nhìn hết thảy chúng sinh, không phân biệt, không thiên vị. 

Trong pháp tu tâm nhanh của thân – khẩu – ý, trước hết phải hiểu rõ thân, khẩu, ý là gì:

Thân nghiệp: sát sinh, trộm cắp, tà dâm.

Khẩu nghiệp: nói dối (vọng ngữ), lời hoa mỹ vô ích (ỷ ngữ), ác khẩu, nói hai lời.

Ý nghiệp: tham dục, sân hận, ngu si.

Pháp tu tâm nhanh của thân – khẩu – ý, trong tâm quý vị vốn đã có một tâm pháp, một pháp môn lấy bản tính duy tâm của chính mình làm gốc, gọi là Tâm Trung Tâm Pháp. Bởi vì Phật tánh nơi tự thân chính là pháp môn tốt nhất của quý vị. Trong tâm quý vị đã sẵn có pháp môn này rồi. Chỉ cần đào sâu và khai mở Phật tâm thiện lành nhất trong chính mình, thì đó chính là Tâm Trung Tâm Pháp.

Lại giảng cho quý vị về “lấy Phật tánh ấn chứng phàm tâm”. Phải tiếp nhận tâm của chư Phật, chư Bồ Tát, đem tâm Phật, tâm Bồ Tát ấn vào trong phàm tâm của chính mình. Phải thường xuyên dùng Phật tánh để soi chiếu, ấn chứng phàm tâm của mình; ngược lại, cũng dùng phàm tâm của mình để đối chiếu với Phật tâm. Ví dụ như hôm nay, khi nghĩ đến một người nào đó từng làm tổn thương mình, trong lòng liền sinh tức giận, vậy phải làm sao? Có nên trút sự bức xúc ấy lên người khác không? Nếu là Bồ Tát, Ngài có làm như vậy không? Cho nên phải thường dùng phàm tâm của mình để đối chiếu với tâm của chư Phật, chư Bồ Tát.

“Phật ấn tâm” chính là đặt tâm của người phàm và tâm của Phật, Bồ Tát cạnh nhau; tức là bất cứ việc gì quý vị làm, đều phải tự hỏi: “Nếu là Phật, Bồ Tát, các Ngài có cho rằng việc này là đúng hay không?” Phật, Bồ Tát ở đâu? Phật, Bồ Tát ở ngay trong tâm của quý vị. Vì vậy phải mượn cái giả để tu thành cái thật, dùng thân thể giả hợp này để thành tựu Phật tánh chân thật của chính mình. Khi đã có chân Phật tâm, thì thân thể giả ấy cũng liền thành Phật, bởi vì những việc mà thân thể giả của quý vị làm ra, đều là việc do Phật, Bồ Tát làm.

Ví dụ: quý vị chắp tay niệm A Di Đà Phật, nếu trong đầu không còn vọng niệm, thì thân giả của quý vị đang lễ bái Phật thật, tâm quý vị cũng là tâm Phật thật. Lúc ấy, quý vị đang dùng chính Phật tâm của mình để chiếu soi những gì mình thấy, dùng Phật tâm để hành xử, để sống, để đối diện với thế gian. Những gì quý vị cảm nhận được về Phật, vị Phật mà quý vị đang lễ bái, chẳng phải chính là mượn giả tu thật đó sao? Hiện tại, quý vị mượn cái miệng này để tụng kinh, nhưng nhiều năm sau, khi thân này không còn, miệng này cũng biến mất, thì chẳng phải chính là mượn cái giả để thành tựu cái chân thật hay sao?

Để lấy Phật ấn tâm, nhất định phải hội đủ một số điều kiện:

Thứ nhất: tâm lượng rộng lớn thì phúc báo dồi dào. Nếu tâm quý vị tương ưng với tâm của Bồ Tát, tức là khí lượng của quý vị càng rộng, thì phúc báo cũng sẽ càng lớn, ngày càng dồi dào.

Thứ hai, khi tụng kinh, phải giữ “Bồ Tát trụ đỉnh”. Tức là khi quý vị tụng kinh, phải quán tưởng Bồ Tát Quán Thế Âm ngồi trên đỉnh đầu quý vị, gia trì, quán đảnh cho quý vị.

Thứ ba, tâm Bồ Tát là rộng kết thiện duyên. Bồ Tát kết duyên với chúng sinh đều là thiện duyên. Nếu quý vị là Bồ Tát, quý vị đem lòng từ bi của chư Phật, chư Bồ Tát đến với người khác, thì kết ra chính là thiện duyên, tâm thiện đó kết ra ngoài liền sinh công đức. Ngược lại, nếu là người xấu, đem đến cho người khác toàn là duyên xấu, duyên ác, thì kết ra chính là ác duyên.

Thứ tư, lấy thân mình làm gương, bố thí pháp. Tức là yêu cầu quý vị phải lấy bản thân làm chuẩn mực, làm người thì phải sống giống như một vị Bồ Tát. Bố thí pháp có thể khai mở trí tuệ, có trí tuệ rồi thì mới có thể khai ngộ. Bố thí pháp là bố thí vô lượng, là lợi ích chúng sinh, đây chính là tinh hoa cốt lõi của Phật giáo Đại thừa. Phật giáo Đại thừa giảng là lợi ích chúng sinh, tuyệt đối không phải là lợi ích cho bản thân mình. Đại thừa Phật pháp là lợi tha, lợi sinh. Khi quý vị cứu giúp người khác, nhất định quý vị sẽ phải hy sinh; nhưng khi người ta đã vượt qua khó khăn, thì công đức quý vị nhận được là vô lượng.

Ví dụ: Khi quý vị mang tiền của mình đi giúp người khác, thực ra bản thân quý vị cũng không có dư dả bao nhiêu, nhưng sau khi người ta ổn định, vượt qua khổ nạn, họ sẽ vô cùng cảm kích quý vị, có thể bù đắp gấp nhiều lần, hoặc mang ân tình ghi nhớ quý vị  suốt cả đời. Muốn khai ngộ, phải hiểu rõ tâm chân thật của chính mình, kiên trì tu tập thì mới thấy được bản tính của mình. Khi một người kiên trì tu sửa chính mình, thì bản tính chân thật ấy mới dần dần hiển lộ ra. Tu hành cho đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tức cảnh giới cao nhất, chính là có được trí tuệ viên dung tối thượng. Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chính là Phật. 

Hôm nay, Sư phụ giảng đến đây thôi. Tất cả những ai theo Sư phụ tu tập, đều phải có một tâm cảnh giác, phải luôn luôn giữ sự tỉnh thức cho chính mình, không được tạo nghiệp nơi thân – khẩu – ý. Nghiệp chướng càng nhiều, thì công đức tổn hao càng lớn. Nếu hành vi của một người đã giống như Bồ Tát, thì căn bản người ấy đã là Bồ Tát rồi. Đây chính là nền tảng của việc “mượn giả tu chân”. 

QUYỂN 2 – TẬP 7
CHÍNH KIẾN VỀ “TÁNH KHÔNG”
(正见的性空)

Hôm nay, Sư phụ nói với quý vị về tánh không. Tánh là bản tánh, không là rỗng không. Khi một người đạt đến tánh không, chính là lúc có thể tiếp nhận chân lý, và khi đã tiếp nhận được chân lý thì sẽ đạt được chân lý. Nếu bản tánh không rỗng, bị nhiễm đầy bụi trần thế tục, quý vị thử nghĩ xem, trong cái tâm ấy còn có thể chứa được thứ gì? Dù có nhét thêm những điều mới vào, thì những thứ ấy cũng sẽ bị ô nhiễm và phân rã. Chỉ khi làm rỗng hoàn toàn, quý vị mới có thể bước sang một cảnh giới khác.

Ví dụ: Giống như nước trong bể cá, nếu con rút ra hai phần ba lượng nước, chỉ chừa lại một phần ba là nước bẩn, sau đó đổ thêm hai phần ba nước sạch vào, thì cũng chỉ làm loãng nồng độ của nước bẩn ban đầu, chứ không thể loại bỏ hoàn toàn các chất ô nhiễm có sẵn trong nước. Ngược lại, hai phần ba nước sạch mới thêm vào cũng sẽ bị làm bẩn theo.

Cũng giống như trong tâm quý vị đang chứa rất nhiều điều không tốt, những thứ ấy không phải chỉ dựa vào bản thân mà có thể loại bỏ hoàn toàn ngay được. Hơn nữa, trong quá trình loại bỏ, quý vị lại trộn lẫn những điều tốt vừa học được với những điều xấu còn sót lại, kết quả là trong tâm đồng thời hình thành hai cảnh giới, hai lối tư duy khác nhau: có lúc thì chìm theo dòng ô nhiễm, có lúc thì hai tư tưởng đối nghịch đấu tranh với nhau ngay trong tâm thức.

Ví dụ như trong tâm quý vị đầy rẫy những điều ô uế, không tốt, khi những tư tưởng tốt đẹp, thiện lành vừa xuất hiện, quý vị liền khởi lên tâm nghi ngờ, khiến cho những ý niệm thiện lành ấy không thể lưu giữ trong tâm. Vì vậy, mong mọi người phải đặc biệt coi trọng vấn đề “tánh không”. Bởi vì sau khi đạt đến tánh không, bản tánh vốn là thiện lương sẽ hiển lộ. Khi bản tánh của quý vị là rỗng không, thì những thứ ô uế, xấu ác sẽ không còn chỗ tồn tại, không còn điều xấu hiện hữu, đó chính là quý vị đã phục hồi lại chân lý, trở về với bản tánh nguyên sơ ban đầu nhất.

Trong tánh không bao hàm mười hai nhân duyên. Mười hai nhân duyên trong tánh không của quý vị bắt buộc phải được đoạn trừ, bắt buộc phải được vượt qua, thì quý vị mới có thể đạt đến tánh không – điều này vô cùng không dễ dàng. Sau khi một người đã khai ngộ, cần phải hiểu rõ chính kiến chân thật của mười hai nhân duyên, mà chính là quy về tánh không. Khi thấu hiểu một cách triệt để, thì tự nhiên đạt đến tánh không.

Ví dụ: những điều tốt đẹp mà quý vị nhìn thấy, chỉ một lúc rồi cũng qua đi; những việc khiến quý vị vui mừng, cũng chỉ tồn tại trong chốc lát rồi tan biến… Tất cả những điều ấy đều mang tính tạm thời, đều là những chướng ngại cản trở việc tu hành của quý vị. Quý vị phải loại bỏ toàn bộ những chướng ngại này, đồng thời nhận thức rõ rằng chúng chỉ là nhất thời, từ đó tỉnh ngộ ra đạo lý chân thật của cuộc đời.

Tánh không chính là chính kiến, tức là cái nhìn đúng đắn, chuẩn xác. Từ mọi sự vật hiện tượng, lĩnh hội ra bản chất chân thật nhất, đó chính là tánh không. Ví dụ: Có người nói với con rằng món hải sản này ngon đến mức nào, nhưng quý vị lại không cảm thấy hứng thú, bởi vì quý vị đã ngộ ra bản chất của nó: dù có ngon đến đâu, ăn vào rồi một lúc sau cũng sẽ hết, rồi biến thành một dạng vật chất khác. Khi quý vị đã nhận ra bản chất của sự vật, quý vị sẽ không còn ham thích, không còn chấp trước để theo đuổi nữa. Vấn đề của con người là chỉ nhìn thấy bề ngoài, mà không nhìn thấy bản chất bên trong. Sư phụ dạy quý vị: khi nhìn sự việc, nhìn vấn đề, phải học cách nhìn vào bản chất, phải thấy được cái chân thật nhất, từ đó sinh khởi ra chính kiến đúng đắn.

Ví dụ: Có người đưa quý vị ăn tôm hùm, nhưng quý vị biết rằng mình không thể ăn, Vì thứ nhất: con tôm hùm đó sẽ phải chết vì quý vị; Thứ hai: ăn nó vào là quý vị đang tạo nghiệp; v.v… Khi những suy nghĩ đúng đắn này khởi lên, quý vị sẽ không còn muốn ăn nữa. Cho nên, đối với bất kỳ sự việc nào trong thế gian, nếu quý vị có thể tìm ra những lý do đúng đắn, để ngăn chặn tâm mình khởi lên sự chấp trước, ham muốn theo đuổi, thì quý vị đang sống bằng Phật tánh. Mười hai nhân duyên trong nhân gian gồm có: 1. Vô minh 2. Hành 3. Thức 4. Danh sắc 5. Lục nhập 6. Xúc 7. Thọ 8. Ái 9. Thủ 10. Hữu 11. Sinh 12. Lão tử (Ý nghĩa sâu xa trong đó, Sư phụ sẽ giảng giải kỹ lưỡng cho quý vị trong những bài sau.)

Nhân sinh các dị (đời người muôn vẻ), tức là mỗi người có một cuộc đời khác nhau. Môi trường sống của mỗi người khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, những điều đã trải qua cũng khác nhau, vì vậy mới gọi là nhân sinh sai biệt. Nhưng xoay qua xoay lại, con người vẫn luôn ở trong vòng mười hai nhân duyên. Mà mười hai nhân duyên thì đều không thuộc về chính kiến. Ví dụ như khi ngửi thấy mùi hương, liền sinh ra một cảm giác dễ chịu, nhưng chỉ một lúc sau là mất đi, vậy thì đó không phải là “chính”. Bởi vì cái gì là chính, thì phải tồn tại lâu dài, không sinh không diệt trong chốc lát. Duy chỉ có tánh không mới là chính kiến. Khi tánh đã không, bản tánh hoàn toàn rỗng lặng, ấy mới gọi là chính kiến. Cũng chính là “Thời Chính Không” (Cái không vượt ngoài khái niệm thời gian mới thật là chân không). Khi mọi sự vật trên thế gian vượt ngoài thời gian và không gian, quý vị mới không còn mang theo thiên kiến. Chỉ khi có chính kiến, quý vị mới nhìn thấu và buông xả được tất cả mọi sự trên thế gian, mới có thể hình thành quan điểm đúng đắn đối với mọi hiện tượng trong cuộc đời. Có chính kiến, nhìn thấu mọi việc trên đời, từ đó đạt đến tánh không, và lại vận dụng được tánh không ấy trong đời sống nhân gian để tương ưng với chân lý, thì mới gọi là “ngộ chính kiến” ngay trong cõi người. Bởi vì bản tánh của con người vốn là không, nên mới có thể tương ưng, khế hợp với chân lý.

Vậy thế nào gọi là “khế hợp với chân lý”? Ví dụ: Loài người cùng chung một khát vọng yêu chuộng hòa bình, bởi vì bản tánh của con người vốn tương ưng với chân lý của thế giới này. Nói cách khác, ai cũng có một tấm lòng chân thành, không thích làm điều xấu, làm bất cứ việc gì cũng phải phù hợp với chân lý – đó chính là chính kiến. Nếu bản thân mình không phân biệt được đâu là việc tốt, đâu là việc xấu, rõ ràng đã làm điều xấu, mà còn tìm lý do để biện minh rằng: “hôm nay tôi không còn cách nào khác, tôi làm việc xấu này là để trừng phạt người kia”, thì đó không phải là chính kiến. Chính kiến chính là tánh không; tánh không chính là chính kiến; tánh không chính là chân lý. Chỉ khi có chân lý, con người mới có thể sống giữa muôn loài chúng sinh mà không bị ô nhiễm. 

Khi một người không còn bị ô nhiễm, thì “bất tăng bất giảm, bất cấu bất tịnh” – tức là không còn khái niệm sạch hay không sạch, không chấp vào sạch hay bẩn. Bởi vì “sạch” nghĩa là không còn cấu uế, không còn bất cứ điều gì có thể làm nhiễm ô thân tâm. Cũng không có sinh, bởi vì sinh mệnh của người ấy đã chứng nhập vào bản tánh, thì không còn sinh nữa. Đó là “vô sinh diệc vô tử, diệc vô lão tử cố” – cũng không có già và chết, bởi vì khi đã tánh Không thì không còn lão–tử. Lại nữa, cũng “vô lão tử tận”, bởi vì đã không sinh thì cũng không có tử; đã không sinh–không tử, thì không tồn tại sinh–lão–bệnh–tử, cho nên cũng không có diệt. 

“Vô khổ tập diệt đạo” nghĩa là bản thân người ấy không còn cảnh giới “diệt độ” để đạt tới. Bởi vì đã không còn khổ, thì ngay cả cái gọi là chết cũng không còn, vậy thì còn nói đến nhân duyên gì nữa? Khi đó, mười hai nhân duyên tự nhiên được phá trừ, phiền não cũng không còn. Sau khi mười hai nhân duyên được phá, thì bất sinh bất diệt, bất tăng bất giảm, bất cấu bất tịnh. Những điều được giảng trong Tâm Kinh chính là nói về tánh Không. Nếu có thể tu chứng đến tánh Không, thì sức mạnh phát sinh ra sẽ vô cùng vô tận. Nếu các đệ tử hoan hỷ lắng nghe, Sư phụ có thể thường xuyên dùng lời giản dị để giảng giải kinh văn cho mọi người, nhằm khai mở trí tuệ cho đại chúng.

Quý vị cần ghi nhớ: phải nhìn thấu tất cả phiền não trên thế gian, và tất cả những biểu hiện của đời sống và sinh mệnh. Những thứ đó chỉ là hiện tượng bề mặt của cuộc sống, chỉ là hình tướng bên ngoài, không có thực chất chân thật.

QUYỂN 2 – TẬP 8
TÌM VỀ TÁNH KHÔNG – VƯỢT QUA MƯỜI HAI NHÂN DUYÊN
(寻找性空——越过十二因缘)

Bất kỳ sự theo đuổi và cách nhìn nhận của con người đối với sự vật đều có hai mặt. Đối với cùng một sự việc, quý vị có thể nói nó rất tốt, cũng có thể nói ra rất nhiều điều không tốt; chủ yếu là do tâm của quý vị đang nghiêng về phía nào. Ví dụ: Người lớn tuổi có tốt không? – Tốt chứ! Người lớn tuổi có nhiều kinh nghiệm, hiểu đời, biết quan tâm, chăm sóc người trẻ,… Nhưng nếu nói ngược lại, thì người lớn tuổi có điểm gì không tốt? Ví dụ như đi lại khó khăn, toàn thân xương cốt đau nhức, đầu óc dần trở nên cứng nhắc, việc gì cũng không còn minh mẫn, rõ ràng,… Cũng cùng một sự việc, quý vị có thể nghĩ đến mặt tốt của nó, cũng có thể nghĩ đến mặt xấu, mặt tiêu cực. Phật pháp chính là dạy chúng ta chuyển hóa toàn bộ những tư tưởng xấu thành tư tưởng tốt. Học Phật là chuyển đổi cách suy nghĩ để khuyên nhủ người khác, an ủi người khác, giúp đỡ người khác, giải quyết khó khăn cho người khác, đó gọi là chánh tư duy. Khi quý vị có thể nhìn tất cả mọi người đều là người tốt, bởi vì tư duy của quý vị là chánh, khi quý vị nhìn người khác cũng đều trở nên chánh, thì quý vị đã khai ngộ rồi.

Khi quý vị nhìn người khác là xấu, thì chứng tỏ quý vị chưa khai ngộ. Người đã khai ngộ thì nhìn ai cũng đều là người tốt, không còn khái niệm tốt – xấu. Thực ra, đó chính là sự giác ngộ. Khi sự giác ngộ ấy sinh khởi trong tư duy của quý vị, và tạo ra chánh tư duy, thì đó chính là lúc quý vị đã khai ngộ. Sau khi khai ngộ, sẽ sinh ra một thứ gọi là chứng lượng. Nghĩa là: khi một người khai ngộ, hiểu được đạo lý, chứng thực nhiều điều, thì năng lượng của người đó sẽ phát ra. Khi hiểu đạo lý, không còn gì phải sợ hãi. Ngược lại, nếu không hiểu đạo lý, cái gì cũng khiến quý vị sợ. Ví dụ, nhiều người trước khi học Phật, khi được nhắc rằng cuộc sống ngắn ngủi, ai rồi cũng chết, họ sẽ rất sợ chết. Nhưng khi tin tưởng vào Quan Thế Âm Bồ Tát, họ sẽ không còn sợ gì nữa, thậm chí không còn sợ chết, bởi vì họ biết rằng con người thực sự không chết, và sinh ra niềm tin rằng: “Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ không để con chết, chắc chắn Ngài sẽ cứu độ chúng con”. Khi đó, tư duy sẽ sinh ra một dạng năng lượng rất mạnh, đó chính là chứng lượng.

Người có chứng lượng là người đã giác ngộ, người giác ngộ còn được gọi là “giác giả”. Giác giả là người mà trong ý thức và tư duy thường nhật của họ đã sinh ra một luồng ánh sáng, chỉ có sau khi khai ngộ mới có luồng ánh sáng này. Sau khi khai ngộ là thành giác giả, giác giả là người đã giác ngộ, người thông minh và có trí tuệ. Biết rằng khi sống, nên nghĩ đến lợi ích của người khác, vấn đề của bản thân sẽ dễ được giải quyết hơn. Ngược lại, người ngu si, chỉ biết nghĩ đến lợi ích của riêng mình, kết quả là làm hại người khác, cũng chính là hại bản thân. Như câu nói: “Hại người tức là hại mình”. Người tâm trí ít nhiễm tạp niệm, thân sẽ càng thanh tịnh, nhìn sự việc càng sáng suốt và minh bạch. Ngược lại, người tâm trí đầy rối loạn và tạp niệm, không thể nhìn thấu sự việc, không hiểu rõ mọi thứ, và sẽ mất đi ánh sáng trí tuệ nơi bản thân. Chỉ khi tạp niệm hoàn toàn biến mất, và sinh ra luồng ánh sáng ấy, quý vị mới có thể dùng luồng ánh sáng này để hoá giải và soi sáng con đường đi, khiến hướng đi của quý vị ngày càng rõ ràng. Luồng ánh sáng này gọi là “thần quang”, cũng gọi là ánh sáng trí tuệ, ánh sáng trí tuệ chính là ánh sáng giác ngộ. Một người từ khi sinh ra vốn là vô minh, vô minh là gì? Là không biết gì, không hiểu gì. Từ lúc sinh ra đến lúc già yếu và qua đời, cuối cùng cũng không biết gì và chẳng mang gì theo, cuộc đời trôi qua thật vội vã, đến đi chóng vánh.

Trong kiếp sống này, con người trải qua 12 vòng luân hồi, tức là 12 cửa ải, 12 cửa ải này liên tục lặp lại trong đời bạn. 12 vòng luân hồi này được hiểu cả về mặt tâm lý lẫn sinh lý.

1. Vô minh. Con người cần khắc phục vô minh. Vô minh là không hiểu biết, không rõ ràng, không hiểu gì cả. Người hiểu biết sẽ không làm điều sai trái. Người vô minh sẽ dễ làm sai trái. Vô minh còn dẫn đến một vấn đề khác: dù người ấy vô minh, họ vẫn nghĩ mình sáng suốt, tức là tự cho rằng mình hiểu biết hết thảy.

2. Sắc. Sắc là những vật thể hữu hình mà chúng ta thấy trong đời người, là những hình thể có sắc, không hoàn toàn chỉ nói đến sắc dục nam nữ.

3. Thanh. Thanh là âm thanh. Âm thanh hay thì nên nghe, âm thanh không hay thì không nên nghe. Người thích nghe lời hay, giọng nói dịu dàng… Tất cả những điều này đều liên quan đến việc lắng nghe âm thanh. Những lời nói hay, âm thanh dễ nghe đi vào tai bạn sẽ khiến tâm động, đây gọi là tinh thần chuyển hóa thành vật chất. Bởi vì lời nói khi phát ra gọi là tinh thần, vật chất là thứ đã chuyển hóa thành hành vi, những thứ trở thành hành vi rồi mới gọi là vật chất. Ví dụ: khi nghe lời hay, lúc đầu không nhìn thấy, không sờ được, nhưng khi nghe vào tâm, sẽ khơi lên một sự đồng cảm, quý vị cảm thấy vui hay buồn, rồi biểu hiện ra trên khuôn mặt, lúc đó nó đã biến thành vật chất.

4. Hương. Trong đời người có rất nhiều loại hương, có bao nhiêu mùi hương trong thế gian trôi nổi? Để thoát ra 12 vòng luân hồi, quý vị phải kiềm chế bản thân, không bị cám dỗ bởi các mùi hương. Ví dụ: Khi ngửi thấy mùi hương, không được sinh cảm giác thích thú hay ghét bỏ. Khi nhìn thấy sắc màu, không được dính mắc vào thị giác. Sự kiềm chế này chính là nền tảng để tìm ra sự “tánh không” thực sự của quý vị. 

5. Vị. Vị  là mùi vị, từ ý thức của quý vị, quý vị có thể dùng tinh thần để nếm trải hương vị. Người xưa thường nói: “Đời người vị đắng, đời người vị đắng thật.” Điều này dùng ý thức và tâm để trải nghiệm, nhận biết hương vị cuộc đời.

6. Xúc pháp. Là khả năng chạm vào, cảm nhận được. Cần biết rằng tất cả vật chất trong đời người chỉ mang lại cảm giác, cảm nhận, suy nghĩ thoáng chốc, không bền lâu, tất cả những thứ này đều thuộc vòng luân hồi của 12 nhân duyên.

7. Thọ. Là cảm nhận, cảm thọ. Khổ chính là trải nghiệm cảm thọ của con người.

8. Tưởng. Là nhận thức và phân biệt, là tất cả ý niệm tốt xấu nảy sinh trong tâm quý vị.

9. Hành. Là tâm hóa thành hành động qua thân thể.

10. Thức. Là ý thức phân biệt các cảnh giới, ý thức này gieo nhân quả trong bát thức điền của quý vị.

11. Ái. Chữ “Ái” này không chỉ riêng tình yêu nam nữ, mà còn bao gồm tình thân, tình bạn, tình thầy trò… đủ mọi dạng của tình thương rộng lớn. Con người cả đời không rời khỏi chữ Ái, đến cuối cùng khi nhắm mắt xuôi tay vẫn là chữ Ái này. Đời người bắt đầu từ Ái, rồi cũng đi đến chỗ Ái diệt. Sinh mệnh vốn ngắn ngủi, đến sau cùng ngay cả chữ Ái cũng trở thành Không, trở thành Giả.

12. Biệt ly. Người mình yêu thương rời xa, thích tiền bạc lại dùng hết, công việc tốt mất đi…Tất cả đều là sự biệt ly, mỗi lần biệt ly đều mang nỗi đau, cảm giác rất buồn.

Trong 12 vòng luân hồi này, bao gồm Lục căn (sáu căn) và lục xúc (sáu trần). Lục căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Lục xúc: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Con người liên tục chịu khổ, chịu khó trong 12 vòng luân hồi này, từ lúc sinh cho đến lúc lão tử.

Sư phụ giảng cho các đệ tử 12 tầng luân hồi này sẽ tạo ra gánh nặng tâm lý, nên việc đạt được tánh không rất khó. Chỉ khi loại bỏ hết tất cả những nhân duyên này, bản tánh của quý vị mới thật sự trống rỗng, thanh tịnh. Lần sau Sư phụ sẽ giảng tiếp lục căn và lục xúc.

Hợp thập (Chắp tay).

QUYỂN 2 – TẬP 9
TRÌNH TỰ TU HÀNH DIỆU PHÁP
(妙法修行的程序)

Đại chúng cần ghi nhớ: khi hoằng dương Phật pháp, trước hết phải tự xem mình là đệ tử chân chính của Đức Phật. Đây chính là niềm tin đối với Phật pháp. Nếu trong lúc hoằng pháp mà không xem mình là Phật tử, thì quý vị sẽ không thể hoằng pháp đúng chánh pháp và cũng khó làm tốt được. Khi trong tâm quý vị đã thực sự trở thành đệ tử của Phật, thì còn cần phải tự mình chứng minh (ấn chứng) Phật pháp. Vậy ‘ấn chứng’ là gì?

Ấn chứng có nghĩa là tự mình đến để tin, tự mình đến để cảm nhận, tự mình đến để thực hành. Đó chính là ấn chứng Phật pháp. Ấn chứng Phật pháp vô cùng quan trọng. Khi quý vị ấn chứng Phật pháp, sẽ sinh khởi trí tuệ về tánh Không và dẫn đến khai ngộ. Khai ngộ chính là thấy được bản tánh, nhìn thấu chân tánh của chính mình. Khai ngộ chân thật chính là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, tức là chân lý rốt ráo tối thượng. Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là trạng thái không còn bất kỳ lý do nào để nghi ngờ, không thể bị phê phán, cũng không thể nghĩ ra bất cứ lý do nào để cho rằng điều đó là sai. Trong cõi người không có gì có thể so sánh, nên gọi là ‘Vô Thượng’.

Ý nghĩa của ‘Vô Thượng’ là không còn gì cao hơn nữa, đã đạt đến đỉnh cao, tức là cảnh giới thù thắng tột bậc. ‘Tuyệt diệu’ có thể hiểu là một cảnh giới tối cao tuyệt đối. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dưới cội Bồ Đề đã ấn chứng diệu pháp, giác ngộ chân lý – đó chính là cảnh giới tối cao tuyệt đối. Chánh Đẳng Chánh Giác là khi con người tu hành đạt đến một cảnh giới nhất định thì phát sinh sự giác ngộ chân chánh. Điều này cũng giống như trong đời sống thực tế, có lúc quý vị bỗng nhiên hiểu ra một đạo lý sâu sắc. Chánh Đẳng Chánh Giác là cảnh giới của Bồ Tát, còn Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chính là cảnh giới của Phật.

Hôm nay, Sư phụ xin giảng một cách giản lược về các bước căn bản trong tiến trình tu học Phật pháp.

Bước thứ nhất: Khai ngộ. Trước hết phải hiểu đạo lý, ngộ ra đạo lý, sau đó mới bắt đầu tu hành. Khi tu đến mức minh tâm thì gọi là khởi tu.

Bước thứ hai: Minh tâm kiến tánh. Tu hành đến mức thấy được Phật tánh nơi chính mình thì gọi là minh tâm kiến tánh. Đây chính là những bước căn bản trong tiến trình tu học Phật pháp.

Sư phụ hiện đang truyền dạy cho quý vị những bước căn bản này – đó chính là lộ trình giúp quý vị đi đúng con đường học Phật và đạt được thành tựu.

Thứ nhất là Tư lương đạo. Nghĩa là quý vị phải có đầy đủ tư lương. “Tư” là vốn liếng, tư cách. “Tư lương” chính là những hành vi tu tập và công đức mà quý vị đã tích lũy từ đời trước. Quý vị nhất định phải có sự tích lũy, tích chứa này thì mới có thể làm được nhiều việc. Sự tích lũy và tích chứa đó cũng chính là bản tánh và lương tâm của quý vị. Nếu trong tiền kiếp không siêng năng tu hành, thì đời này có thể tái sinh làm người chăn bò trên núi. Người đó trong đời này sẽ mất đi cơ hội tu hành, rất khó gặp được Pháp Môn Tâm Linh, rất khó gặp được chư Phật Bồ Tát, cũng sẽ không hiểu được làm thế nào để tu tâm, tu hành cho tốt. Điều này gọi là Tư lương đạo. “Đạo” tức là con đường tu tâm và tu hành.

Thứ hai là Gia Hành Đạo. Thế nào gọi là “gia hành”? “Gia hành” này không phải là được thêm vào từ bên ngoài, mà chính là tất cả những hành vi do tự thân quý vị thực hành. Trên nền tảng đã có tư lương, quý vị bắt đầu tu hành; lại thêm vào tất cả những thiện hạnh và sự tu sửa hiện tại của mình, quý vị bắt đầu tiến bộ, bắt đầu bước về phía trước. Cũng chính vì đã có một phần tư lương làm nền tảng, nên mới có thể khởi động sự vận hành của quá trình tu hành.

Thứ ba: Kiến Đạo. Trong quá trình dần dần học Phật, quý vị bắt đầu nhìn thấy những điều chân thật. Ví dụ như: nhìn thấy Quán Thế Âm Bồ Tát, nhìn thấy những thành quả đạt được sau khi tu tập, nhận ra tất cả những cảm nhận và sự chuyển hóa trong nội tâm của chính mình. Khi trong tâm quý vị đã hiểu rõ đạo lý, đồng thời cảm nhận được lòng từ bi của Quán Thế Âm Bồ Tát đối với bản thân, thì đó gọi là “Kiến Đạo.”

Thứ tư: Khai Ngộ Đạo. Khai Ngộ Đạo là khi đã thấy rồi thì mới hiểu được. Ngộ tính phải được xây dựng trên nền tảng của sự thấy và sự nghe; nếu mắt chưa thấy, tai chưa nghe thì sẽ không thể hiểu thấu. Khai ngộ là sau khi đã kiến Đạo, quý vị thấu hiểu lý đạo, biết rõ đây là chân lý, là con đường chân thật. Từ đó, dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, quý vị cũng vẫn kiên trì tu hành. Người có thể kiên trì tu hành chính là người đã thật sự khai ngộ.

Thứ năm: Chứng Đạo. Chứng Đạo vô cùng quan trọng. Chứng Đạo chính là sự khẳng định và tự mình kiểm chứng Đạo. Nói cách khác, khi quý vị đã khai ngộ và bắt đầu tu Đạo, quý vị đích thân trải nghiệm, thấu hiểu và xác chứng rằng con đường này hoàn toàn đúng đắn, là con đường chân thật mà bản thân nên bước đi. Chỉ cần kiên trì tiến bước trên con đường ấy, nhất định sẽ đạt được thành tựu. Cũng giống như hiện nay, quý vị đã tự chứng nghiệm rằng đây chính là con đường mình nên học, là Đạo của Bồ Tát, là con đường phù hợp nhất với bản thân, nên quý vị mới có thể tận tâm tinh tấn tu hành. Đây chính là một lộ trình tu hành hoàn chỉnh.

Khai ngộ chính là quá trình chuyển hóa lục căn của quý vị – mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý – trở về với Phật tánh. Nói cách khác, là đưa tất cả trở về Phật tánh vốn sẵn nơi tự thân. Trong Phật pháp, điều này gọi là “độ nhiếp lục căn”. Ví dụ: Khi mũi ngửi phải mùi không thanh tịnh, hãy dùng Phật tánh để chuyển hóa, quán tưởng hương thơm thanh khiết. Khi mắt thấy những cảnh không thiện, hãy dùng Phật tánh để nhìn – nhìn bằng chánh niệm, hướng về Pháp, hướng về hình tượng Quán Thế Âm Bồ Tát. Khi tai nghe những âm thanh không hay, hãy tự nhắc mình không tiếp nhận, mà chuyển sang lắng nghe âm thanh của Phật pháp. Tóm lại, chính là nhanh chóng nhiếp lục căn trở về bản tánh, tức là quay về chân tánh thanh tịnh sẵn có của chính mình.

Sau khi khai ngộ rồi có còn luân hồi không? Vẫn còn luân hồi. Vì sao? Bởi vì khi quý vị khai ngộ, cũng chỉ là hiểu được những đạo lý ấy, nhưng vẫn chưa thực hành, thì đương nhiên vẫn còn luân hồi. Lục căn của quý vị – mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý – những nghiệp đã tạo trong quá khứ, lẽ nào lại không khiến quý vị tiếp tục đi vào luân hồi? Tuy quý vị đã hiểu đạo lý, nhưng quý vị chưa sửa lỗi, chưa chỉnh đốn hành vi của mình; chỉ cần còn tạo ác nghiệp, thì nhất định vẫn phải luân hồi. Đừng cho rằng mình đã hiểu, đã khai ngộ là đủ; quý vị vẫn còn phải vào trong sáu nẻo luân hồi, bởi vì quý vị chỉ mới khai ngộ, chứ chưa phải là sự chứng ngộ chân thật. Những nghiệp chướng do mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của quý vị tạo ra – tồn tại trong tâm và trên thân quý vị – chính là một “cái tôi sống động” của quý vị. Và quý vị vẫn còn hiện hữu trong không gian vũ trụ này. Tuy quý vị đã khai ngộ, đã hiểu được rất nhiều đạo lý, biết rằng không nên tạo mười ác nghiệp, nhưng vì quý vị đã từng tạo nghiệp, nên những nghiệp chướng ấy vẫn sẽ vây quanh quý vị, nhân quả vẫn đi theo quý vị. Chỉ cần quý vị còn hiện hữu với thân người này, thì quý vị vẫn phải tiếp tục luân hồi trong lục đạo.

Nếu không muốn đọa vào lục đạo luân hồi thì hãy siêng năng tụng kinh, làm nhiều công đức, tiêu trừ hết thảy nghiệp chướng trên thân, gột sạch tham – sân – si của chính mình, và học cách thuận theo nhân duyên trong mọi việc.

QUYỂN 2 – TẬP 10
TIÊU TRỪ NGHIỆP CHƯỚNG, TRỞ VỀ BẢN NGUYÊN, THOÁT LY LUÂN HỒI
(消除业障,返本归元,脱离轮回)

Tiếp theo, Sư phụ giảng cho quý vị nghe làm thế nào để hóa giải nghiệp chướng. Con người vì trong quá khứ, lục căn đã tạo nghiệp, khiến các cơ quan thân thể bị mê lầm chi phối, nên nhất định phải luân hồi. Điều Sư phụ nói đến là những nghiệp chướng đã ăn sâu vào trong ý thức của quý vị. Ví dụ, chỉ cần quý vị từng làm việc xấu, thông thường đều sẽ nhớ, không dễ quên. Người khác hại quý vị, quý vị không quên; vậy khi quý vị hại người khác, quý vị cũng sẽ không quên. Tất cả những điều đó đều đã đi vào trong ý thức của quý vị. Bởi vì trong tiềm thức, những nghiệp đã tạo trong quá khứ khiến quý vị buộc phải luân hồi. Chỉ có một loại căn tánh không chịu sự chi phối của luân hồi, đó chính là Phật tánh của quý vị. Phật tánh của quý vị không nằm trong vòng luân hồi. Nếu quý vị không muốn tiếp tục luân hồi, thì cần khiến cho mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý – những thứ nơi tự thân rất khó buông bỏ – dần dần tách rời khỏi sự chấp trước của ý thức, từng bước buông xả chúng. Bất kể chuyện gì xảy ra trong nhân gian, hãy xem như không thấy, không nghe; miệng không nói, thân không làm; trong ý thức cũng không khởi lên sự việc ấy. Đó chính là đang dần dần thoát khỏi đau khổ.

Nói thì dễ, nhưng làm sao để thoát ra? Trước hết, Sư phụ nêu cho quý vị một ví dụ. Phật tánh của quý vị giống như vàng – là vàng được khai quật từ lòng đất. Khi vàng vừa được đào lên, xung quanh còn dính đầy đất đá, cát sỏi và đủ loại tạp chất. Nếu muốn cho vàng phát sáng, nhất định phải dùng nước rửa sạch những tạp chất bám bên ngoài, xử lý cho thật tinh sạch. Cũng vậy, những việc không tốt mà quý vị đã làm trong quá khứ cần được gột rửa giống như đãi vàng, từng chút một rửa cho sạch. Khi đã làm cho sạch sẽ rồi, bản tánh và Phật tánh của quý vị sẽ tự nhiên hiển lộ.

Sư phụ dạy quý vị trong đời sống hằng ngày phải biết vận dụng Phật tánh vốn có của mình để chuyển hóa. Ví dụ như tụng kinh, niệm Ngôi Nhà Nhỏ. Khi niệm kinh, có phải quý vị đang dùng tâm Phật để niệm không? Năng lượng thanh tịnh phát ra từ việc niệm kinh chẳng phải giống như vàng ròng sao? Sau khi đốt Ngôi Nhà Nhỏ, có phải nghiệp chướng của quý vị được tiêu trừ không? Bản tánh của quý vị có phải ngày càng thanh tịnh hơn không? Nhất định phải gột rửa cho sạch bụi trần trong tâm, loại bỏ những cấu nhiễm bên trong, thì mới có thể thoát khỏi lục đạo luân hồi. Vậy thoát bằng cách nào? Chính là từ nay về sau không tạo thêm nghiệp mới; còn những nghiệp đã tạo trong quá khứ thì dùng phương pháp Sư phụ dạy để tu sửa tâm mình – đó là niệm kinh và sám hối. Nếu tâm linh của quý vị được tu sửa tốt, tâm sẽ trở nên thanh tịnh, trong sạch – đó chính là dần đạt đến tánh Không. Khi đã thể nhập tánh Không, đi đến đâu cũng là Không. Nghĩ thử xem, khi ấy các cảnh giới như Sắc giới thiên hay Vô sắc giới thiên chẳng phải đều có thể đến được sao? Hiện nay nơi thân tâm quý vị vẫn còn nhiều bụi trần và cấu uế, giống như vàng còn lẫn tạp chất, chưa phải vàng ròng thuần khiết. Vì vậy, nhất định phải gột rửa tâm linh của chính mình cho thật sạch sẽ.

Thế nào gọi là buông xuống? Thế nào gọi là không buông xuống? Buông xuống có nhiều phương diện: một là buông trong tâm, hai là buông trong hành vi. Tâm có buông được hay không còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố, thì quý vị mới thật sự buông được. Còn thế nào là không buông xuống? Ví dụ, khi quý vị lo lắng cho con cái, tâm sẽ không thể buông. Trong lòng luôn nghĩ: “Hôm nay con đi học có ổn không? Có xảy ra chuyện gì không?”… Quý vị thử nghĩ xem, có bao nhiêu nguyên nhân khiến mình không buông xuống? Không phải chỉ nói một câu “buông xuống” là có thể thật sự buông được. Có buông xuống được hay không là do chính quý vị tự mình giác ngộ. Nếu quý vị không học, không hiểu đạo lý, thì làm sao có thể ngộ ra? Chỉ khi hiểu rõ đạo lý, con người mới có thể khai ngộ. Nếu ngay cả việc niệm kinh, học Phật căn bản còn không biết, thì nói gì đến chuyện giác ngộ? Quý vị cần hiểu rõ: kinh nào dùng để tu sửa ngay trong đời này, kinh nào giúp khai mở trí huệ, dẫn đến khai ngộ. Điều này vô cùng quan trọng – nhất định không được mơ hồ, cũng không nên niệm kinh một cách lẫn lộn, sai lệch.

Ấn chứng Phật tánh thực chất là thoát khỏi những kiếp nạn vẫn còn tồn tại ngay trong trạng thái tánh Không. Hãy ghi nhớ: tánh Không nghĩa là trong tinh thần quý vị đã đạt đến sự rỗng lặng. Cái “Không” này là sự siêu thoát, vượt khỏi cái “Không” của người phàm, tức là trong tâm không còn nghĩ ngợi tạp loạn, không còn vướng mắc điều gì. Nhưng vì sao trong tánh Không vẫn còn có kiếp nạn? Bởi vì khi tâm trí chưa hoàn toàn rỗng lặng, thì những ý niệm vi tế vẫn còn sinh khởi, từng chút suy nghĩ, từng niệm khởi lên, những lo lắng, sợ hãi… Tất cả đều là do quý vị tự tạo ra những kiếp nạn ngay trong trạng thái tánh Không của mình. Những điều đó cũng chính là những vết chấm xuất hiện trong quá trình tu hành học Phật của quý vị. Ví dụ, tâm của quý vị giống như một tấm kính trong suốt. Sự trong suốt ấy chính là trạng thái tánh Không, sạch sẽ, không nhiễm bụi trần. Nhưng nếu nhỏ lên đó một giọt mực thì sao? Chấm một điểm là một niệm loạn tưởng. Chấm thêm một điểm là một khẩu nghiệp. Thêm một điểm nữa là một sự vướng mắc, chấp trước. Lại thêm một điểm nữa là nỗi khổ cầu không được… Quý vị thử nói xem, lúc này tấm kính ấy còn trong sạch nữa không? Mỗi một điểm ấy chính là một kiếp nạn của tấm kính. Nói cách khác, mỗi một niệm bất tịnh phát sinh chính là một kiếp nạn xuất hiện ngay trong trạng thái tánh Không. Quý vị có thể hiểu được điều này không?

Khi đã khai ngộ và chứng Đạo, thì sẽ không còn chịu sự chi phối của luân hồi nữa. Nếu quý vị có thể lau sạch tấm kính ấy, thì sẽ không còn luân hồi. Lau sạch bằng cách nào? Hiện nay, Sư phụ đã truyền dạy cho quý vị một pháp môn thù thắng như vậy, giúp quý vị hiểu được cách lau sạch, cách tiêu trừ nghiệp chướng của con người. Ngay cả những chúng sinh hữu duyên trên mạng cũng đều biết nên thực hành như thế nào. Điều đó cho thấy Phật pháp chân chính hiện nay đã bắt đầu giáng lâm xuống nhân gian của chúng ta. Thật ra, trong quá khứ cũng đã có rất nhiều pháp môn từng truyền xuống thế gian, nhưng những pháp môn trước đây đều là phương thức tu hành phù hợp với hoàn cảnh thiên thời, địa lợi, nhân hòa của thời đại đó. Còn hiện nay, thiên – địa – nhân đều đang thay đổi. Tốc độ cứu độ chúng sinh e rằng không thể quá chậm, cũng không thể hoàn toàn áp dụng những phương pháp tu hành của trước kia. Giống như người mắc bệnh nặng: trước đây thường dùng Đông y để từ từ điều dưỡng chữa trị, còn ngày nay thì phải trực tiếp tiến hành phẫu thuật. Sư phụ nói cho quý vị biết, những điều chân thật và tốt đẹp nhất thường chỉ xuất hiện vào thời khắc then chốt. Ví dụ, máy vi tính là một thứ tốt như vậy, vì sao không được phát minh từ thời cổ đại? Nếu thời xưa đã có máy tính, điện thoại, điện thoại di động… thì đã tiết kiệm biết bao nhiêu công sức. Các bậc Thánh nhân của Ngũ giáo cũng không cần phải vâng mệnh Trời giáng thế, chịu muôn vàn gian khổ, tùy người, tùy nơi mà lập ra giáo pháp để giáo hóa một phương chúng sinh. Nhìn từ một góc độ khác, tuy các tông phái có tên gọi khác nhau, nhưng đạo lý căn bản thì đều tương đồng.

Phải ghi nhớ rằng, ngộ đạo chính là thay đổi quá khứ của chính mình. Nếu không đem sự giác ngộ ấy áp dụng vào hành động thực tế, con người sẽ tạo nghiệp trong mê mờ, nói sai trong vô thức, làm sai việc trong hồ đồ, thậm chí do tâm bất bình đẳng mà tạo thành tội lỗi trong hành vi… Như vậy nhất định vẫn còn luân hồi trong lục đạo, không thể thoát khỏi biển khổ.

Vì thế cần phải ghi nhớ: “Nhân Giới thủ bổn, Nhân Nhân thi pháp, Nhân Tâm quy tĩnh, Nhân Không nhi hành, Nhân Duyên nhi sinh, Nhân Chính xả thiên, Nhân Ngộ đắc trí, Nhân Quả đắc ngộ, Nhân Ý thu niệm, Nhân Tịnh đắc Không.” (Nương giới giữ gốc, tùy người mà ứng dụng pháp, nương tâm trở về tĩnh lặng, nương tánh Không mà hành trì, tùy nhân duyên mà khởi dụng, giữ chánh bỏ lệch, do ngộ mà sinh trí tuệ, thấu rõ nhân quả mà đạt giác ngộ, nương chánh niệm thu nhiếp vọng tâm, do thanh tịnh mà thể nhập tánh Không.)

Đây là điều Sư phụ tổng kết gọi là “Thập Nhân Pháp”, mong các đệ tử nhờ đó mà khai ngộ. 

QUYỂN 2 – TẬP 11
BÀN VỀ NIỀM VUI SIÊU NHIÊN – PHÁP HỶ
(谈谈超自然的喜悦——法喜)

Hôm nay, Sư phụ giảng về câu: “Phú nhuận ốc, Đức nhuận thân.”. “Phú nhuận ốc” nghĩa là sự giàu có chỉ làm cho ngôi nhà của quý vị trở nên tráng lệ bên ngoài, nhưng không thể mang lại sức khỏe hay hạnh phúc chân thật cho thân tâm. Chỉ khi con người có đức hạnh, mới có thể đạt được sự khỏe mạnh và an lạc trọn vẹn nơi thân tâm – đó gọi là “Đức nhuận thân.” Vì vậy, điều chúng ta nên tìm cầu là đức, chứ không phải phú.

Con người chúng ta trên thế gian giống như có hai chiếc thuyền giữa biển. Hai chiếc thuyền ấy chạy loạn xạ như những con ruồi mất đầu. Một chiếc thuyền gọi là Danh, chiếc kia gọi là Lợi. Con người cũng giống như hai chiếc thuyền ấy, va đập giữa biển đời mà không có mục tiêu, mê mờ trôi ngang qua biển khổ của nhân sinh – tất cả chỉ vì hai chữ danh và lợi. Chim vì mồi mà mất mạng, người vì tiền tài mà mất thân. Con người cứ tưởng như vậy là đúng, là hợp lý, nhưng thực ra đó hoàn toàn là một quan niệm sai lầm. Sư phụ nói với quý vị: trên thế gian có hai loại “tình”: một là tình vì danh, hai là tình vì lợi. Danh và lợi nằm trong tình lý, nhưng cũng nằm ngoài tình lý. Quý vị có thể vì danh, có thể vì lợi, đó là điều còn nằm trong tình lý. Còn vượt ra ngoài tình lý là khi cảnh giới của quý vị được nâng cao, quý vị sẽ xem danh lợi như phân thổ. Khi cảnh giới càng nâng cao, danh cũng không còn tác dụng, lợi cũng không còn ý nghĩa; lúc ấy, tâm linh của quý vị mới là giàu có nhất.

Sư phụ hôm nay giảng cho đại chúng nghe: thế nào gọi là pháp hỷ?

Pháp hỷ có liên hệ đến cả thân và tâm. Trước hết, xét về phương diện tinh thần, đó là tâm phải bước vào một cảnh giới nhất định, chứ không phải chỉ là niềm vui thông thường. Niềm vui bình thường giống như khi nghe một câu chuyện cười, mọi người cười xong rồi thôi – đó chỉ là niềm vui tạm thời, không phải phát xuất từ nội tâm sâu xa. Pháp hỷ chân thật cần phải khai thông khí mạch. Khi một người nói ra những lời cao thượng, mang năng lượng tích cực, thì khí trường sẽ hướng lên trên. Sự khai thông khí mạch chân chính là khai thông khí mạch trong não bộ. Phần từ ngực trở lên gọi là thượng mạch, từ ngực trở xuống gọi là hạ mạch. Sư phụ từng giảng cho quý vị rằng, khi một người qua đời, nếu phần đầu là nơi lạnh sau cùng thì người ấy sẽ lên trời; nếu phần ngực lạnh sau cùng thì sẽ tái sinh làm người; nếu phần thân dưới lạnh sau cùng thì sẽ đọa làm súc sinh; còn nếu bàn chân lạnh sau cùng thì sẽ xuống địa ngục. Chỉ dựa vào thân thể con người cũng có thể phân biệt rất rõ ràng. Sư phụ dạy quý vị phải khai thông thượng mạch. Pháp hỷ đến từ thượng mạch, đến từ cảnh giới tu hành. Khi một người có cảnh giới, những lời người ấy nói ra mới thật sự gọi là pháp hỷ. Ví dụ, có người bỗng chạy đến nói với quý vị: “Bệnh của con tôi đã khỏi rồi, cảm ơn Quán Thế Âm Bồ Tát.” Niềm vui ấy phát xuất từ tận đáy lòng – đó gọi là pháp hỷ. Chỉ người học Phật mới có pháp hỷ; người không học Phật thì không có pháp hỷ. Không có pháp hỷ thì nội tâm không thể tràn đầy, viên mãn. Nếu không có một cảnh giới đúng đắn, không thể khai thông thượng mạch, thì cũng không thể gọi là pháp hỷ.

Pháp hỷ có khí tức, có hơi thở; hơi thở của pháp hỷ rất chậm. Khi một người tràn đầy pháp hỷ nói chuyện, lời nói sẽ giàu tính triết lý, hơi thở điều hòa, khí tức vô cùng thông suốt. Khi quý vị đã khai thông khí mạch, tiếp theo sẽ xuất hiện trạng thái gọi là pháp lạc và pháp vị. Pháp hỷ cũng chính là pháp lạc, cũng chính là pháp vị. “Vị” nghĩa là dư vị – vừa khởi nghĩ lại liền cảm thấy vui. Niềm vui ấy lan tỏa, nhẹ nhàng dào dạt trong tâm. Khi một người tràn đầy pháp hỷ, cách tốt nhất là để nó tự nhiên vận hành. Chỉ khi vận hành, pháp hỷ mới có thể thật sự tràn đầy.

Sư phụ triển khai giảng giải cho quý vị về pháp hỷ. Khi luồng hỷ khí này lưu thông khắp toàn thân qua các kinh mạch, nó sẽ sinh ra một cảm giác. Cảm giác ấy khiến quý vị thấy vui, và sự cảm nhận đó chính là một dạng hạnh phúc. Loại hạnh phúc này được gọi là pháp lạc. Pháp lạc chính là pháp hỷ – có một phần hoan hỷ, lại có một phần vui sướng; niềm vui ấy gọi là pháp lạc. Pháp lạc là một dạng vui sướng vô hình; “vô hình” nghĩa là không nhìn thấy, không sờ chạm được. Ví dụ như ngày mai là ngày nghỉ, quý vị sẽ có một niềm vui vô hình, trong lòng cảm thấy vui vì được nghỉ ngơi. Quý vị sẽ không phải lúc nào cũng nghĩ mãi về kỳ nghỉ đó, nhưng chính niềm vui vô hình ấy khiến khi quý vị nói chuyện với người khác, trong tâm vẫn luôn có một cảm giác vui vẻ. Niềm vui vô hình này tồn tại một cách âm thầm trong tâm quý vị. Đó là niềm vui mang tính nội hàm, nội tại và vô hình. Loại niềm vui này tràn đầy khắp toàn thân, khai mở các kinh mạch, khiến quý vị cảm nhận được một sự hoan hỷ tột bậc chưa từng có. Đây là một niềm vui không cách nào diễn tả hay so sánh được, bởi đó là sự hỷ lạc tràn đầy trí huệ.

Cảm giác sau khi thức ăn vào miệng gọi là vị cảm, tức là cảm nhận về mùi vị; mắt nhìn thấy gọi là quan cảm. Những cảm nhận này đều thuộc về một dạng pháp lạc. Ăn chay sẽ ăn trong sự vui vẻ, vì mình không sát sinh, ăn những thực phẩm tự nhiên, nên trong tâm sinh khởi một niềm pháp lạc. Khi mắt nhìn ra bên ngoài mà thấy ai cũng là người tốt, không nhìn những điều xấu xa, ô nhiễm, thì đôi mắt ấy là đôi mắt chánh. Đó cũng gọi là quan cảm, cũng là một dạng pháp lạc. Mắt thường nhìn điều chánh thì trong đầu sẽ chứa điều chánh; nếu thường nhìn điều không tốt thì trong đầu sẽ chứa những điều không tốt (tà niệm). Sư phụ dùng lời lẽ đời thường để giảng Phật pháp cho quý vị, giảng thẳng vào tâm, rồi phân tích cặn kẽ để quý vị hiểu thế nào là pháp hỷ. Khi đã thật sự hiểu rồi, quý vị sẽ lập tức pháp hỷ tràn đầy.

Khi khí mạch được khai thông, sẽ sinh ra một trạng thái vui vẻ nhẹ nhàng, kéo dài và lan tỏa. Tuy nhiên, không được chấp trước vào niềm vui đó. Một người dù có vui, thậm chí là pháp hỷ, cũng không được chấp trước; hễ chấp trước thì sẽ mê vào đó và dễ đi lệch hướng. Ví dụ, có người nói: “Tôi đã học Phật rồi, trước đây tôi đã thế này thế kia…” – người đó chính là đang chấp trước, chấp vào một chút hiểu biết mình đã học được, rồi lấy nó lấp đầy cả tâm hồn và thân xác. Như vậy thì làm sao còn có thể tiếp nhận những điều mới nữa? Khi một người đã chấp trước, phương hướng sẽ lệch lạc. Bởi vì niềm vui mà họ bám chặt vào thực ra chỉ là một loại cảm giác hư ảo sinh ra sau khi đạt được một trạng thái tĩnh nhẹ (tiểu định). Khi rơi vào tiểu định, người ta có thể đột nhiên cảm thấy như mình đã giác ngộ, như vừa bừng tỉnh. Ví dụ, trước đây một người tụng kinh rồi tìm được việc làm tốt, liền nghĩ rằng tụng Chú Chuẩn Đề để mua vé số cũng sẽ trúng. Đây chính là sau khi có một chút định lực nhỏ thì phương hướng bắt đầu lệch đi, tâm chấp trước xuất hiện, mục tiêu và động cơ đều không còn chánh nữa. Quý vị nói xem, như vậy có thể trúng số thật không? Loại cảm giác như vậy chỉ là ảo giác, không chân thật, thoáng qua rồi sẽ hết, không thể lâu dài, cũng không thể bền vững. Trạng thái không bền này, trong Thiền tông gọi là sơ thiền. Sơ thiền là khi ngồi thiền xong vừa mới xuất hiện một chút cảnh giới hư ảo, ví dụ như thấy được Bồ Tát, hoặc nhìn thấy một số cảnh giới của linh giới.

Niệm Phật có bốn phương pháp:

1. Trì danh: Khi niệm Phật, trước hết phải xưng niệm danh hiệu. Trước khi bắt đầu tụng kinh, nhất định phải khấn cầu: “Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, xin gia hộ cho con…” (việc gì đó).

2. Quán tượng: Khi nhìn tôn tượng Quán Thế Âm Bồ Tát và trì tụng kinh văn, tâm sẽ trở nên thanh tịnh, thuần khiết.

3. Quán tưởng: Quán tưởng là dùng tâm để tưởng niệm hình ảnh Quán Thế Âm Bồ Tát. Tuy nhiên, pháp quán tưởng không dễ thực hành. Người mới học Phật tụng kinh, nếu sơ ý, rất dễ rơi vào trạng thái tẩu hỏa nhập ma (tâm thức lệch lạc, sinh ảo giác hoặc chấp trước sai lầm trong quá trình tu tập).

4. Thực tướng: “Thực tướng” là những gì được thấy một cách chân thật, đúng như nó là. Tức là trong tâm không khởi nghĩ về bất cứ điều gì; thấy gì biết nấy, không thêm vào bất kỳ ý niệm suy diễn nào. Ý nghĩa của “thực tướng” là trạng thái rất tự nhiên – mọi cảnh đến mà không giữ lại trong tâm. Không dùng tâm chấp trước để nghĩ rằng: “Tôi nhất định phải thấy Quán Thế Âm Bồ Tát.” Tu tâm theo “thực tướng”, khi niệm kinh đến một mức độ nhất định, cũng có thể thấy được Bồ Tát. Khi đó, Bồ Tát sẽ hiện ra trước mắt quý vị. Không phải do quý vị muốn thấy hay không muốn thấy, mà là dù không khởi tâm mong cầu, vẫn có thể tự nhiên thấy được.

“Thực tướng diệu lý” – trong thực tướng có một đạo lý vô cùng huyền diệu. Nghĩa là khi quý vị nhìn thấy bất cứ điều gì, chỉ cần trong tâm vừa khởi niệm nghĩ nó giống điều gì, thì nó liền biến hiện thành điều đó, tùy theo tâm của quý vị mà hiện ra. Điều này gọi là diệu tướng; từ diệu tướng mà thể hội ra đạo lý, thì gọi là thực tướng diệu lý. Sư phụ thường nhắc đến việc dâng tâm hương; dâng tâm hương chính là biểu hiện của thực tướng diệu lý. Khi hướng lên bầu trời, trong tâm tưởng nhớ đến vị Phật hoặc Bồ Tát mà quý vị đang thờ phụng tại nhà rồi chí tâm lễ bái, thì trên không trung sẽ hiện ra hình tướng của vị Phật hoặc Bồ Tát ấy. Hình tướng do tâm tưởng hiện ra đó gọi là diệu tướng. “Tự thân chứng thực tướng” nghĩa là chính mắt quý vị tự mình chứng nghiệm được cảnh tướng chân thật ấy – điều đó gọi là thân chứng thực tướng.

Cuối cùng, Sư phụ nhắc nhở mọi người rằng vọng ngữ là căn bản của mọi ác nghiệp. Khi một người bắt đầu làm điều xấu, họ cũng bắt đầu nói dối. Vọng ngữ chính là gốc rễ của việc phạm tội và tạo nghiệp. Mỗi khi con người tạo nghiệp, làm việc sai trái, thì điều đầu tiên thường phát sinh chính là vọng ngữ.

Vậy làm thế nào để trừ bỏ tạp niệm? Một trong những phương pháp giúp loại bỏ tạp niệm là khẽ nhắm mắt lại để hóa giải. Giống như lúc sắp chìm vào giấc ngủ, khi đó quý vị không còn nhớ nghĩ gì nữa, đầu óc dần trở nên trống lặng, thì tạp niệm mới có thể được tiêu trừ. Tuy nhiên, thời gian không nên kéo dài quá lâu. Vì vậy, có thể dùng phương pháp khẽ nhắm mắt, vừa niệm kinh vừa hóa giải tạp niệm.

QUYỂN 2 – TẬP 12
TỪ LỤC CĂN, LỤC TRẦN BÀN VỀ SỰ NÂNG CAO CẢNH GIỚI
(从六根、六尘谈境界的提升)

Hôm nay giảng cho mọi người về “mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý” và “sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp”, tức là trong Phật pháp gọi là Lục Căn và Lục Trần. Những điều này mọi người đều đã từng nghe trong Kinh Tâm Kinh. Chúng ta mỗi ngày đều tụng kinh, nhưng chỉ cần còn sống trong cõi người thì miệng của chúng ta rất dễ bị ô nhiễm, ví dụ như nói hai lưỡi, lời hoa mỹ giả dối, lời ly gián, nói xấu người khác… Tai của quý vị nghe những lời thị phi, nghe những điều không tốt, thử hỏi có bị ô nhiễm không? Mắt nhìn những thứ không nên nhìn, chẳng phải cũng là bị ô nhiễm sao? Ý niệm nghĩ đến những điều không nên nghĩ, chẳng phải cũng là bị ô nhiễm sao? Mũi ngửi những thứ không nên ngửi cũng là bị ô nhiễm, đến mức dần dần không còn phân biệt được hương và mùi hôi. Có người ăn tỏi lại cho là rất thơm, ngửi mùi đó còn cảm thấy vui vẻ – những người như vậy chính là đang sống trong cõi người mà không phân biệt được thơm hay hôi. Quý vị thử nghĩ xem, người ăn tỏi, hành xong, khi mở miệng nói chuyện thì mùi phát ra có khó ngửi không? Mà chúng ta lại dùng chính cái miệng đó để niệm kinh – chẳng phải cũng tạo thành một trường khí hay sao?

Ở thế gian, tâm trí con người nghĩ điều gì cũng có thể bị ô nhiễm; mắt cũng bị ô nhiễm, tai cũng bị ô nhiễm, miệng cũng bị ô nhiễm, ý niệm cũng bị ô nhiễm – mọi thứ đều có thể bị ô nhiễm. Quý vị có thể trốn tránh được sao? Nếu Sư phụ muốn cứu độ chúng sinh mà lại sợ bị ô nhiễm, lẽ nào chỉ có thể một mình ẩn tu trên núi sao? Sư phụ có phải nhất định phải bước vào cõi hồng trần, đi vào thế giới được gọi là mộng ảo, phồn hoa này để cứu độ chúng sinh không? Trong khi cứu người, cần giúp mọi người sửa đổi và chuyển hóa tất cả những ý niệm xấu ác. Nếu không giúp được mọi người tẩy trừ sự ô nhiễm trong thân tâm, thì Đài trưởng cũng khó nói là đã làm tròn trách nhiệm của một người tu hành.

Phật tính vốn sẵn nơi tự thân, cần phải khơi dậy nó. Khi Phật tính được hiển lộ, lục căn của quý vị mới không còn dễ bị ô nhiễm. Bởi vì khi Phật tính được tu dưỡng và hiển lộ, quý vị sẽ tự biết rõ: mắt điều không nên nhìn thì không nhìn, tai điều không nên nghe thì không nghe, miệng điều không nên nói thì không nói, ý điều không nên nghĩ thì không nghĩ. Tức là quý vị đã hiểu được điều gì là tốt, điều gì là xấu; việc gì nên làm, việc gì không nên làm; điều gì nên tiếp xúc, điều gì cần tránh xa. Nếu ngay cả những điều căn bản ấy còn không phân biệt rõ ràng, thì đừng nói đến chuyện cứu độ người khác – ngay cả tự độ cho chính mình còn chưa làm được, thì làm sao có thể độ người đây?

Nếu trốn vào núi sâu chỉ lo tự tu, quý vị biết đó gọi là gì không? Sư phụ gọi đó là pháp môn tự ngã giải thoát. Thế nào là tự ngã giải thoát? Chính là chỉ chú trọng việc bản thân mình được giải thoát mà chưa quan tâm đến người khác; lên núi ẩn tu, cho rằng chỉ cần mình tốt là đủ, chuyện của người khác không liên quan đến mình. Làm như vậy có trọn vẹn không? Người học Phật chân chánh cần bước vào cuộc đời thực tại này để cứu độ chúng sinh. Ở trong chùa sâu hay trên núi vắng, thì có bao nhiêu chúng sinh hữu duyên để quý vị độ đây? Chỉ lo tu cho riêng mình là con đường thiên về tự độ, thuộc về khuynh hướng của Phật giáo Tiểu thừa.

Nếu quý vị có thể bước vào cõi đời đầy cám dỗ này để chấp nhận sự khảo nghiệm, đó là vì cảnh giới của quý vị đã được nâng cao. Nếu cảnh giới chưa đủ cao, chỉ mới chú trọng tu cho bản thân mà chưa biết giúp đỡ người khác, thì người đó đã thật sự bước vào hạnh Bồ Tát đạo chưa? Phải ghi nhớ rằng học Phật tu tâm chính là quá trình không ngừng nâng cao cảnh giới. Khi cảnh giới của một người chưa đạt đến một mức độ nhất định, thì việc tu hành cũng khó có sự thành tựu viên mãn. Đừng nói đến tu tâm, ngay cả làm người cho thật tốt đôi khi cũng còn nhiều thiếu sót. Nếu chưa có cảnh giới tương xứng, thì những chúng sinh mà quý vị có thể cứu độ phần nhiều vẫn là chính mình. Quý vị có thể tự cứu mình, nhưng khi đạt đến một mức độ nhất định rồi, nếu không phát tâm rộng lớn hơn, cũng sẽ khó tiến cao hơn nữa. Mọi người có hiểu ý này không?

Vì vậy, nếu tu hành nơi núi sâu, bề ngoài nhìn có vẻ tâm không bị ô nhiễm, lục căn nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý cũng ít bị ngoại cảnh quấy nhiễu. Nhưng nếu cảnh giới chưa đạt đến một tầng mức nhất định, thì những gì quý vị thấy vẫn chỉ là phạm vi nông và hẹp. Ví dụ, có một người đứng trên mái nhà để tu hành. Tầm mắt người ấy có thể nhìn thấy cánh đồng phía xa. Nhưng nếu phía trước có núi cao hoặc cao ốc che khuất, thì ánh mắt làm sao có thể vượt qua được? Trong cảnh giới đó, dù quý vị tu tốt đến đâu, điều nhìn thấy vẫn là hữu hạn. Đến khi xả báo thân này, cảnh giới sinh về cũng chỉ tương ứng với tầng mức tu chứng ấy – có thể thuộc Dục giới thiên, chứ chưa thể đạt đến những tầng trời cao hơn. Chỉ khi cảnh giới vượt khỏi “mái nhà”, giống như đứng trên đỉnh núi cao để tu hành, lúc ấy tầm nhìn không còn bị che ngại. Quý vị không chỉ thấy một mái nhà hay một ngọn núi, mà có thể thấy trùng điệp núi non ở khắp nơi. Hãy thử nghĩ xem, khi đó cảnh giới của quý vị đã là cảnh giới gì?

Sư phụ đưa ra ví dụ này để giúp quý vị hiểu rõ đạo lý bên trong. Khi nội tâm không bị ô nhiễm, con người tự nhiên cảm nhận được mình có một nền tảng vững vàng để tu hành. Mỗi người tu tâm đều có một “căn cơ” khác nhau. Hôm nay quý vị học Phật, ngày mai người khác học Phật – tất cả đều nương vào căn cơ của chính mình. Ví dụ, căn cơ ấy cũng giống như thân thể của quý vị. Nếu thân thể không đủ khỏe mạnh (tức là căn cơ còn nông cạn), quý vị có thể leo lên đỉnh núi cao được không? Chỉ những người có thân thể cường tráng – cũng chính là người có căn cơ tốt – mới có thể từng bước leo lên cao, và càng tu càng tiến xa hơn.

Sư phụ dạy quý vị rằng, tu hành nơi nhân gian chính là tu theo pháp môn Bồ Tát. Còn tu hành ẩn trên núi thì gọi là pháp môn cầu tự giải thoát. Bởi vì ở trên núi là chỉ mong bản thân được thanh tịnh, không muốn phiền não, không muốn vướng bận điều gì. Nhưng tu giữa nhân gian thì khác. Ở nhân gian tu hành, trước hết phải tự sửa mình, tu cho bản thân ngày càng tốt hơn, rồi sau đó mới có thể đi cứu độ người khác. Người tu trong đời không chỉ lo cho chính mình, mà còn gánh vác trách nhiệm cứu độ chúng sinh. Đó chính là hạnh nguyện của Bồ Tát. Và pháp môn của Bồ Tát, cốt lõi chính là cứu độ chúng sinh.

Nếu tu hành giữa nhân gian, quý vị nhất định phải ghi nhớ rằng sẽ có khảo nghiệm. Bồ Tát sẽ dành cho quý vị những thử thách. Những khảo nghiệm ấy chính là xem quý vị có thể giữ cho lục căn không bị lục trần làm ô nhiễm hay không. Một khi đã bị ô nhiễm, thì không thể đạt đến cảnh giới của Bồ Tát. Một người phải vượt qua khảo nghiệm mới có thể cứu độ chúng sinh. Nếu ngay cả những khổ nạn và thử thách trong cuộc sống mà còn không vượt qua nổi, thì làm sao có thể cứu độ người khác được? Ví dụ, có người đi khuyên người khác ăn chay, mà chính mình vẫn ăn thịt cá, thì làm sao khuyên người ta ăn chay đây? Đó chính là cảnh giới, đó cũng chính là khảo nghiệm. Nếu quý vị khuyên người khác tu tâm, thì trước hết bản thân không được nói năng bừa bãi. Có như vậy quý vị mới có tư cách khuyên người khác. Người xưa nói: “Sức mạnh của tấm gương là vô cùng.” Khi tự thân làm được rồi, quý vị mới thật sự có tư cách cứu độ chúng sinh. Nếu ngay cả tư cách cứu độ chúng sinh còn chưa có, thì làm sao có thể dùng thân Bồ Tát để cứu người được?

Quý vị có biết không, rất nhiều vị lão hòa thượng thật sự có công lực thâm hậu. Các ngài có thể đến những nơi phồn hoa náo nhiệt để tu tâm. Dù ở chỗ ồn ào đến đâu, các ngài vẫn có thể ngồi thiền, tu tâm như thường, hoàn toàn không bị ngoại cảnh làm lay động. Đó mới gọi là cao tăng – cảnh giới cao, tu vi cao, công lực cao. Công lực nương vào công đức mà sinh ra. Người có công đức càng lớn thì công lực càng mạnh; người không có công đức thì cũng không thể có công lực. Sư phụ từng giảng rồi: công đức từ đâu mà có? Chính là từ nội tâm, từ tâm linh mà ra. Khi tâm của quý vị đã được điều chỉnh, đã được gột rửa, quý vị mới có được sức nhẫn nại ấy, mới có thể kiên trì trên con đường tu tâm học Phật, mới không sống trong trạng thái mê mờ, vô minh như trước nữa. Khi một người có sự tu dưỡng và công đức đạt đến một mức độ nhất định, thì việc gì cũng có thể nhẫn chịu, việc gì cũng có thể tự kiềm chế, việc gì cũng có thể nghĩ thông suốt. Đó chính là sự thăng hoa của cảnh giới.

Khổng Tử từng nói: “Khắc kỷ phục lễ.” Rất nhiều người cho rằng câu này có nghĩa là khôi phục lễ nghi thời Chu Công – cách hiểu ấy thật ra chưa đúng. Xưa kia, có người phê phán lời dạy này theo lối cắt nghĩa rời rạc, cho rằng chữ “lễ” chỉ việc phục hồi lễ chế cổ xưa. Thực ra, điều Khổng Tử muốn nói không nằm ở hình thức bên ngoài, mà là ở sự trở về với bản tính chân thật của con người. Chữ “lễ” ở đây chính là đạo lý phát xuất từ nội tâm, là sự điều hòa giữa tâm và hành vi, chứ không đơn thuần là những nghi thức bề ngoài. Vì vậy, “khắc kỷ phục lễ” chính là yêu cầu mỗi người phải biết khắc chế những tập khí và thói hư tật xấu của bản thân, sửa mình từ trong tâm, để dần dần quay về với bản tính thiện lương vốn sẵn có. Đó không phải là sự phục cổ về lễ nghi, mà là sự phục hồi bản tâm.

Sư phụ nói với quý vị rằng, những bậc Thánh nhân ấy thực ra đều là Bồ Tát ứng thế, chỉ khác nhau ở danh xưng mà thôi. Năm xưa, các bậc Thánh nhân giáng thế nơi nhân gian để cứu độ chúng sinh vô cùng gian lao, chu du khắp các nước, đến từng nơi để khuyên dạy và giáo hóa. Điều đó chẳng phải cũng giống như Bồ Tát đi khắp nơi cứu độ chúng sinh đó sao? Ngày nay, những vị đại pháp sư cũng không ngại đường xa, đi khắp thế giới để hoằng dương Phật pháp. Sư phụ hiện tại chẳng phải cũng đang “đi khắp thế giới” đó sao? Chỉ là Sư phụ không cần dùng đôi chân để đi nên không thấy mệt, mà nương nhờ vào những phương tiện hiện đại như phát thanh và mạng internet để “đi” khắp toàn cầu. Quý vị thử nghĩ xem, xét về bản chất thì có gì khác nhau đâu?

Phải ghi nhớ rằng các bậc Thánh hiền thuở xưa đều là Bồ Tát ứng thế, giáng trần để cứu độ chúng sinh. Vì vậy, chúng ta cần noi theo tinh thần và hạnh nguyện của các Ngài. Con người phải biết tự chế ngự bản thân; nếu không biết khắc chế chính mình thì làm sao có thể khôi phục lại bản tánh chân thật vốn có? Nhìn từ góc độ Phật pháp, chữ “khắc” ở đây chính là “giới” – chỉ có giữ giới mới có thể thật sự bước vào con đường học Phật. Nếu mọi người trong thế gian đều không hành xử theo luân lý và đạo đức, quý vị thử nghĩ xem thế giới này sẽ trở thành một nơi như thế nào? Ngày nay, nói đến việc khôi phục lễ nghi, khôi phục đạo lý của Khổng – Mạnh, thực chất cũng là đang hướng con người quay về với bản tánh thiện lành ban đầu. Tuy nhiên, điều đó so với Phật pháp chân chính vẫn còn một khoảng cách không nhỏ.

QUYỂN 2 – TẬP 13
NGHIỆP CHƯỚNG QUẤN THÂN, BUÔNG XUỐNG ĐỂ ĐƯỢC GIẢI THOÁT
(业障缠身,解脱放下)

Người Trung Hoa giảng về chữ hiếu, giảng về lễ nghĩa; chư Bồ Tát cũng giảng về lễ nghi. Bồ Tát dạy chúng ta phải biết tôn kính bậc trưởng bối, khi gặp người lớn tuổi hơn mình thì nên đối đãi như đối với cha mẹ của mình vậy. Nho gia cũng đề cao hiếu kính – thử hỏi có điểm nào lại không tương thông với Phật giáo chứ? Chính vì thế, khi Phật giáo truyền vào Trung Hoa đã nhanh chóng được tiếp nhận, lưu truyền và dần dần trở thành một trong những tôn giáo quan trọng của đất nước này.

Tu tâm, tu hành cũng chính là thực hành hiếu kính. Vì vậy, mọi người nhất định phải nghiêm túc tu tâm sửa mình, thường xuyên tự kiểm điểm xem bản thân có đang tạo nghiệp hay không. Hiện nay có những người ngoài miệng nói là tu, nhưng trên thực tế lại không thật sự chịu tu sửa, mỗi ngày vẫn vô tình tạo nghiệp mà không hay biết. Nếu không tinh tấn tu hành, lại còn đầy dẫy tham, sân, si, thì nhất định sẽ phải luân hồi trong lục đạo. Một người tham danh, tham tài, tham sắc, chắc chắn khó thoát khỏi vòng xoay luân hồi ấy. Sư phụ nói cho quý vị biết, trong thế giới hiện nay, những người vì tham, sân, si mà phải trôi lăn trong lục đạo chiếm gần đến 80%. Đó cũng là một nguyên nhân khiến có những người thường xuyên mơ thấy ác mộng. Tuy trong đời sống hiện thực, mọi việc chưa hẳn đáng sợ đến như vậy, nhưng họ lại liên tục gặp những giấc mộng dữ. Bởi vì thần thức của họ ở cõi âm trong thời gian khá dài, từng chịu hoặc đang chịu những quả báo thuộc về “âm nghiệp”, nên khi trở lại nhân gian, trong lúc cảm nhận khổ đau nơi cả hai cảnh giới âm – dương, họ thường có cảm giác thời gian trôi qua vô cùng dài đằng đẵng. Ngược lại, khi được hưởng phúc báo hoặc gặp chuyện vui vẻ, hạnh phúc, thì lại cảm thấy thời gian trôi qua rất nhanh và ngắn ngủi.

Chúng ta đang ở trong một thế giới mênh mông vô tận, như biển khổ huyễn mộng không bờ bến. Nghiệp chướng của mỗi người giống như những con cá mập cũng đang bơi trong biển khổ ấy. Những “con cá mập” này luôn bám sát phía sau, rình rập rồi cắn xé chúng ta. Đó chính là nghiệp lực từ quá khứ đang truy đuổi không buông, bám chặt lấy ta.Dù quý vị có cố gắng vùng vẫy bơi đi thật nhanh, cuối cùng vẫn có lúc bị chúng đuổi kịp. Ngay giữa lúc nguy nan ấy, may mắn thay xuất hiện một con thuyền cứu độ – Bồ Tát đến cứu quý vị. Nhưng ngay khi quý vị vừa bắt đầu leo lên thuyền, cũng chính là lúc vừa bước vào con đường học Phật, quý vị có biết vì sao thân thể lại thường cảm thấy đau nhức không? Vì sao lại có những điều đến quấy nhiễu quý vị?

Bởi vì khi quý vị vừa mới leo lên thuyền, “con cá mập” ấy vẫn còn cắn chặt lấy chân không buông, cố sức kéo quý vị trở lại xuống nước. Nghiệp chướng của con người cũng chính là như vậy – không dễ dàng để quý vị thoát ra, mà luôn bám theo truy đuổi không rời. Có rất nhiều người khi đang leo lên được nửa chừng thì bị “cá mập” kéo mạnh một cái, lại rơi trở xuống biển khổ. Vì thế, quý vị thử nghĩ xem, nghiệp chướng của một người có thể nặng nề đến mức nào. Bản thân mình vốn đã khó tự làm chủ, cho dù đã leo được lên thuyền rồi, vẫn có thể bị chính nghiệp lực của mình kéo tụt xuống. Mọi người có hiểu đạo lý này không?

Người tu hành không nên nuôi dưỡng tâm tham, tâm sân và các loại dục vọng. Người tu hành chính là người học Phật; mà người học Phật là người tôn kính Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, là đệ tử của Phật, và đang từng bước thực hành theo hạnh Bồ Tát. Nếu quý vị vẫn còn si mê, còn tâm tham, còn tâm sân, thì điều đó cho thấy mình vẫn đang trên đường tu sửa, chưa thật sự chuyển hóa được nội tâm. Sư phụ nói ngược lại để quý vị dễ hiểu: “Thế nào là người chưa tu tâm đúng nghĩa?” Chính là người chưa sửa đổi được tham, sân, si nơi bản thân mình. Thế nào gọi là ngu si? Người không tin nhân quả, không hiểu Phật pháp, đó gọi là còn ở trong trạng thái ngu si. Người như vậy thì rất khó tiếp nhận giáo pháp, nên thường được nói là “thiếu duyên với Phật pháp”. Nếu một người không chịu tu tâm, tức là chưa khai mở trí tuệ. Mà khi trí tuệ chưa mở, con người rất dễ sống theo tập khí và bản năng, khó làm chủ được hành vi và tâm niệm của chính mình.

Nếu một người không biết xem nhẹ danh lợi của bản thân, không biết làm cho dục vọng của mình dần dần lắng xuống, thì tâm sẽ rất khó tu cho tốt. Đừng cho rằng dục vọng chỉ giới hạn trong chuyện nam nữ. Dục vọng có rất nhiều phương diện: ham ăn, ham hưởng thụ, ham tiền tài… tất cả đều thuộc về dục vọng. Có người thậm chí xem tiền bạc còn quan trọng hơn cả sinh mạng của mình. Ở đây, Sư phụ giảng về việc xem nhẹ danh lợi. Vậy “xem nhẹ” nghĩa là gì? Nghĩa là đối với mọi danh và lợi trong thế gian, hãy học cách nhìn chúng nhạt đi một chút, nhẹ đi một chút, đừng để tâm mình chấp nặng vào đó. Ngoài ra, còn phải tu tâm để cầu giải thoát. Giải thoát chính là buông xuống. Buông xuống những ý niệm chấp trước vào danh và lợi, thì con người mới thật sự có thể được tự tại. Người không thể tự giải thoát cho chính mình là vì trong tâm vẫn còn điều chưa buông được, vẫn còn vướng mắc, vẫn còn luyến tiếc không rời.

Giải thoát nói thì có vẻ dễ, nhưng thực ra cũng giống như có một sợi xích đang trói chặt lấy quý vị – muốn thoát ra vẫn phải nương vào chính sức mình. Ví dụ như trong Tây Du Ký, khi Tôn Ngộ Không bị yêu ma trói lại. Lúc muốn thoát thân, ông liền biến thân mình nhỏ lại; thân vừa thu nhỏ thì những sợi dây xích kia cũng tự nhiên lỏng ra hết. Dùng đạo lý này để nói với mọi người: sợi xích trói buộc một người luôn có phạm vi và giới hạn của nó. Ví dụ hôm nay có người muốn làm quý vị nổi giận, họ biết rõ chuyện gì có thể chọc giận quý vị – chính điều đó là “sợi xích” đang trói tâm quý vị. Nếu quý vị biết thu nhỏ cái tôi của mình lại, xem nhẹ bản thân một chút, không quá chấp trước vào chuyện ấy, thì sợi xích kia sẽ tự nhiên lỏng ra. Quý vị liền được giải thoát khỏi sự trói buộc đó. Đó chính là trí tuệ của người tu hành: không phải dùng sức mạnh để phá sợi xích, mà là khiến cho nó không còn trói buộc được mình nữa.

Ví dụ, có người nói với quý vị: “Bạn biết không? Người bạn đời của bạn ở bên ngoài làm chuyện sai trái.” Khi nghe những lời như vậy, tâm mình nên làm sao để được giải thoát? Trước hết, hãy thu nhỏ cái tôi của mình lại và tự nhủ: “Bản thân mình cũng chỉ là một người bình thường, cũng còn nhiều thiếu sót. Có lẽ trong nhân duyên nào đó, mình cũng có phần chưa tròn.” Nếu đối phương thật sự làm điều sai, ta có thể dùng tâm bình tĩnh để khuyên nhủ, giảng giải đạo lý, giúp họ hiểu nhân quả đúng sai. Đồng thời, cũng nên quán chiếu lại chính mình, vì trong quá khứ ta cũng từng có lúc sai lầm, từ đó nuôi dưỡng tâm bao dung và học cách tha thứ. Khi quý vị càng buông bớt cái tôi, càng không chấp chặt vào sự tổn thương của bản thân, thì “sợi xích” trói buộc trong tâm sẽ dần lỏng ra, và quý vị sẽ cảm thấy nhẹ lòng hơn. Ngược lại, nếu để cơn sân hận dấy lên, cảm thấy không thể chịu đựng, nuôi lớn oán trách và giận dữ, thì sợi xích ấy sẽ siết ngày càng chặt, khiến bản thân chìm sâu hơn trong khổ đau.

Hãy ghi nhớ: khi nhìn thấy điểm chưa tốt nơi người khác, hãy cố gắng quay lại quán chiếu chính mình nhiều hơn. Chỉ có như vậy mới có thể tiến bước trên con đường tu tập đúng chánh pháp, dần dần đạt đến chánh quả và thấy được bản tánh của mình. Khi trong tâm quý vị thật sự nghĩ thông, buông được và hiểu thấu đạo lý, thì đó chính là một phần của giải thoát, là bước đầu thể nghiệm Phật tánh nơi tự thân. Lúc ấy, quý vị mới thật sự tiến gần hơn đến việc thấy được bản tánh chân thật và lương tâm sáng suốt vốn sẵn có của chính mình.

Tiếp theo, xin nói với mọi người về việc cúng đèn dầu. Cúng đèn dầu là một việc hết sức quan trọng trong sự tu học và hành trì. Mọi người đều biết, trên trời có núi Tu Di. Khi thắp sáng một ngọn đèn dầu với tâm thành kính, công đức phát sinh được ví như núi Tu Di cao lớn vậy. Đó cũng là lý do vì sao khi thắp hương, hiện tượng tro hương cuộn thành vòng là điều hiếm thấy, còn đèn dầu thì mỗi ngày đều có thể kết duyên với hoa sen, biểu trưng cho ánh sáng trí tuệ và sự thanh tịnh. Trong gia đình thờ phụng Bồ Tát, nếu không cúng đèn dầu thì vẫn chưa được xem là trọn vẹn, bởi ánh đèn tượng trưng cho quang minh và trí tuệ. Dầu trong đèn được ví như nước trong đại dương, rộng lớn và không ngừng bổ sung. Vì vậy, việc thêm dầu thắp đèn là điều rất quan trọng. Tuy nhiên, nhiều người vẫn chưa hiểu rõ cách thêm dầu đèn cho đúng như pháp. Nhân đây, Sư phụ giảng cho mọi người một đạo lý làm người. Ví như có hai người cùng ngồi uống trà, quý vị thỉnh thoảng lại rót thêm cho người kia một chút nước, thêm một chút trà. Quý vị nghĩ xem, người ấy có vui không? Có cảm thấy được quan tâm và sinh lòng biết ơn không? Việc thêm dầu đèn cũng giống như vậy. Thường xuyên thêm dầu cho đèn cúng Phật, cúng Bồ Tát, tâm lượng của quý vị cũng sẽ dần dần rộng lớn như biển cả. Nếu trong tâm còn nhiều tạp niệm, thì càng nên siêng năng cúng đèn dầu, thường xuyên thêm dầu.

Sư phụ lần sau sẽ tiếp tục giảng thêm cho mọi người.

QUYỂN 2 – TẬP 14
SINH MỆNH LÀ SẢN PHẨM CỦA VỌNG TƯỞNG, HÃY BIẾT QUẢN LÝ TÍN CĂN VÀ NIỆM CĂN ĐỂ CHUYỂN HÓA NÓ
(生命是妄想的产物,管住信根、念根来改变它)

Hôm nay giảng cho mọi người nghe về “lý niệm”. Lý niệm là một ý nghĩ được hình thành trên nền tảng của lý luận. Nếu chỉ đơn thuần là một ý nghĩ, ví dụ như: “Tôi muốn làm việc gì đó”, thì đó chỉ là ý niệm, chứ chưa phải lý niệm, vì không có cơ sở lý luận phía sau. Ví dụ, khi bụng đói, bạn nghĩ ngay: “Tôi đi ăn đây”, đó chỉ là một ý nghĩ tự phát, chưa thể gọi là lý niệm. Vậy lý niệm là gì? Cũng là bụng đói, nhưng người có lý niệm sẽ nghĩ: “Hôm nay mình ăn lúc mấy giờ? Bây giờ đã đến giờ ăn chưa?” Một ý nghĩ được hình thành sau khi đã trải qua suy nghĩ, cân nhắc và xử lý bằng tư duy, thì mới gọi là lý niệm.

Học Phật nhất định phải kiên định lý niệm và tín niệm của việc học Phật. Bởi vì khi con thật sự tin vào pháp môn mà Sư phụ truyền dạy, con mới có thể dần dần thoát khỏi những tạp niệm không tốt của chính mình. Chỉ khi có niềm tin vững chắc vào con đường học Phật, con mới có thể đạt được giải thoát, mới có thể từng bước tiến về con đường thành Phật. Nếu một người không thể buông xuống những ràng buộc của thế tục, thì người đó không thể thành Phật được. Người học Phật cần phải giữ vững lý niệm của mình: hôm nay đã phát tâm học Phật thì phải học cho đàng hoàng, bất kể hoàn cảnh thế nào cũng phải kiên trì tiếp tục. Dù người khác nói gì, mình cũng không để tâm dao động, chỉ một lòng chuyên chú tu hành cho tốt. Chỉ khi có được lý niệm kiên định như vậy, việc tu học mới có thể đi đến thành tựu.

Khi nghiệp lực kéo đến, phải luôn ghi nhớ mục đích tu tâm của mình là gì. Tu tâm là để làm gì? Là để khai ngộ, để nhận ra bản tánh lương thiện chân thật của chính mình. Nếu quên mất mục đích tu tâm, thì cũng giống như bị kéo ngược trở lại con đường cũ. Đã từng tu rồi mà sau đó lại không tu nữa, đó là biểu hiện điển hình của sự ngu si. Vì vậy phải giữ vững niệm lực của mình. Niệm lực chính là sức mạnh của tín niệm; chỉ cần có niềm tin, tự nhiên sẽ có sức mạnh nâng đỡ quý vị tiến bước.

Phải biết giữ vững tín căn và niệm căn của chính mình. Tín căn là gốc rễ của niềm tin; còn niệm căn là gốc rễ của ý niệm trong tâm. Nếu không giữ được niềm tin và ý niệm của bản thân, con người rất dễ đánh mất phương hướng. Khi đó, mọi suy nghĩ và hành động đều bị người khác dẫn dắt, không còn xuất phát từ tự tâm của mình nữa. Vì sao có người tình cảm lại bị người khác khống chế? Chính là vì quá si mê, thiếu trí tuệ. Phải luôn ghi nhớ giữ vững tín căn và niệm căn của mình, đặc biệt là gốc rễ của ý niệm càng phải quản thúc cho tốt. Gốc của ý niệm ấy thể hiện ngay trong đời sống hằng ngày – ví dụ khi nghĩ không thông, sinh buồn khổ, đó chính là chỗ phát khởi của ý niệm. Phần gốc này nhất định phải biết giữ gìn, và cần vận dụng tinh tấn lực để tu sửa, chuyển hóa nó. Tinh tấn lực chính là dốc hết sức mình để làm một việc, không để bất kỳ sự cản trở nào làm lay chuyển. Làm được như vậy sẽ sinh ra một nguồn sức mạnh. Nguồn sức mạnh ấy vốn đã tiềm tàng sẵn trong tâm, là một dạng năng lực siêu việt. Khi quản được ý niệm, tức là đã giữ được niệm căn của con người. Niệm căn đã chánh, lại thêm việc trì niệm kinh chú, thì một cảnh giới vượt lên trên thực tại thông thường sẽ sinh khởi trong ý niệm. Ý niệm ấy chính là Phật niệm.

Nhân nhỏ quả lớn, đừng vì việc ác nhỏ mà làm, đừng vì việc thiện nhỏ mà không làm” Nghĩa là, đừng nghĩ rằng làm một việc xấu nhỏ, tạo ra một nhân nhỏ, thì không quan trọng. Quý vị cần hiểu rằng quả báo rất lớn; theo thời gian, nhân ác nhỏ có thể phát triển thành nghiệp chướng nghiêm trọng. Giống như trong đời sống, khi cãi nhau mà đôi bên không hiểu nhau, hận thù sẽ càng ngày càng sâu. Đây chính là minh chứng: chỉ cần có ác, thì sẽ gieo nhân ác; chỉ cần có thiện, thì nhất định sẽ có quả thiện. Đừng nghĩ rằng làm việc tốt đơn giản, nhỏ bé là vô nghĩa. Chỉ cần quý vị làm, quý vị đã gieo một nhân thiện, và trong tàng thức bát thức của quý vị, một quả thiện đang hình thành.

Bố thí thật sự chính là buông bỏ hết phiền não, lo lắng, tâm phân biệt và chấp trước. Vậy khi nào mới gọi là bố thí? Bởi vì khi quý vị buông bỏ phiền não, vừa lợi mình, vừa lợi người. Ví dụ, hôm nay quý vị không vui, khuôn mặt u sầu, tâm phiền muộn; khi người khác nhìn thấy, chẳng phải họ cũng buồn theo sao? Như vậy, quý vị đã vô tình thêm phiền não cho người khác. Ngược lại, nếu quý vị vui vẻ, không lo âu, nở nụ cười chào đón mọi người, làm cho họ cũng vui theo, đó chính là một cách bố thí.

Nếu quý vị không giữ chuyện đúng sai trong lòng, bất cứ lúc nào cũng là thời gian quý giá của mình. Nếu trong cuộc sống không phân biệt phải trái, bất cứ lúc nào cũng sống vui vẻ. Ví dụ, khi người khác rõ ràng làm sai, nhưng quý vị biết tha thứ, quý vị sẽ thấy nhẹ nhàng, hạnh phúc. Con người sống trên đời không nên cố ý tạo ra đúng sai, cũng không nên quá chấp vào chuyện phải trái. Mọi sai lầm đều là kết quả của những biến hóa trong đời, cần nhìn thấu mọi biến hóa, nhận ra kết quả của chúng. Ví dụ, nếu biết ăn món này sẽ đem lại kết quả xấu, quý vị sẽ không ăn, và từ đó sẽ không còn bận tâm. Phiền não sinh ra là vì quý vị chưa nhìn thấu bản chất sự vật, nên mới vướng mắc.

Ngay bây giờ buông được thì hãy buông cho triệt để; đã buông là buông cho trọn vẹn. Nếu cứ suốt ngày nghĩ đến việc ‘bao giờ mới xong? khi nào mới giải quyết được?’, thì việc đó sẽ không bao giờ kết thúc. Ý nghĩa ở đây chính là khi hôm nay quý vị đã quyết định buông bỏ, hãy thực sự buông hết trong lòng, đừng để chấp trước níu kéo. Chính tâm chấp trước của quý vị là thứ khiến mọi việc không bao giờ kết thúc.

Người quân tử là người trách mình trước rồi mới trách người. Nếu quý vị là quân tử, khi muốn nói lỗi của người khác, trước hết hãy tự hỏi: “Bản thân mình đã làm đúng chưa?” Vì thế, người biết cúi đầu sẽ không bao giờ va vào khung cửa, và cũng không có con đường nào là không thể đi qua. Nói cách khác, làm người phải học cách buông xuống và hạ mình, thường biết nói: “Xin lỗi, tôi sai rồi.” Phải hiểu cách buông bỏ bản thân, đừng xem mình quá cao; học được cách quên mình, thì mới có thể đạt đến giải thoát.

QUYỂN 2 – TẬP 15
ĐOẠN TRỪ PHIỀN NÃO, HÓA GIẢI NGHIỆP LỰC, TÌM LẠI PHẬT TÍNH
(断除烦恼、化解业力、找回佛性)

Một người phải có định lực, vì định lực có thể sinh ra huệ lực. Sư phụ từng giảng cho quý vị về “Giới – Định – Huệ”: Có giữ giới luật thì mới có định lực; có định lực rồi thì mới tăng trưởng trí huệ. Người có thể định được, người bình tĩnh, là người có trí huệ. Định lực và huệ lực là đồng thời tăng trưởng. Dùng định lực và huệ lực có thể đoạn trừ phiền não, tức là dùng định lực của mình để sinh ra trí huệ; có trí huệ rồi thì có thể cắt đứt và rời xa phiền não. Muốn đoạn trừ phiền não thì nhất định phải lìa xa tham niệm, sân niệm và si mê. Mà tất cả những điều ấy đều dựa vào định lực và huệ lực. Nếu có đủ hai lực Định và Huệ thì quý vị mới có thể được giải thoát, nhưng đó cũng chỉ mới là bước đầu của giải thoát mà thôi, quý vị có hiểu không?

Sư phụ thường nói rằng nghiệp chướng của mỗi người lớn như biển, nặng như núi. Núi thì rất nặng, biển thì rất rộng, ý nói rằng một người đầy dẫy lỗi lầm, giống như núi cao chất chồng, như biển rộng mênh mông. Nghiệp chướng mang trên thân, hầu như không có chỗ nào thật sự tốt đẹp. Hãy nghĩ xem, từ nhỏ đến nay, mỗi người có bao nhiêu khuyết điểm? Không nghe lời khuyên của người khác, không chịu tiếp thu góp ý; ham ăn lười làm; chỉ biết mình mà không biết đến người; không hiểu cảm thọ của người khác, chỉ biết cảm thọ của bản thân; làm tổn thương người khác; phỉ báng người khác… Những tội nghiệp ấy nặng như núi, ác nghiệp lớn như biển.

Phải dùng kính lúp để soi khuyết điểm của chính mình; phải dùng kính hiển vi để nhìn ưu điểm của mình. Nghĩa là phải xem ưu điểm của mình thật nhỏ, còn khuyết điểm của mình thì phải nhìn thật lớn. Chỉ như vậy mới biết bản thân đáng sợ đến mức nào, mới tỉnh ngộ mà nhanh chóng sửa đổi những lỗi lầm nơi mình. Nhiều người lại làm ngược lại: Lấy kính lúp phóng đại ưu điểm của mình, rõ ràng chỉ làm được một chút việc thiện, lại xem như to lớn vô cùng; còn những khuyết điểm rất lớn của bản thân thì lại nhìn rất nhỏ, cho rằng: “Chẳng phải chỉ là một chuyện nhỏ thôi sao? Có gì nghiêm trọng đâu?” Xin tuyệt đối đừng quên: nhân tuy nhỏ mà quả lại rất lớn.

Chúng ta phải làm người quân tử, chứ đừng làm kẻ tiểu nhân. Cùng là con người, nhưng có người sống như ở địa ngục; lại có người sống như ở trên trời. Người sống trên trời là vì tâm họ rộng mở như bầu trời, không có tạp niệm. Còn người sống trong địa ngục là vì tâm lượng quá nhỏ, nhỏ đến mức như lỗ kim; luôn lo lắng, ưu sầu, ganh ghét, ngày ngày sống trong đau khổ. Sư phụ bảo quý vị tu tâm là để quý vị sửa đổi những lỗi lầm nơi chính mình, phải tu cho tâm lượng rộng lớn như biển cả.

Tiếp theo, giảng cho quý vị về sự ràng buộc của nghiệp lực. Quý vị muốn làm người tốt, nhưng lại không làm được người tốt, vì nghiệp lực đang quấn chặt lấy quý vị. Quý vị muốn buông bỏ phiền não, nhưng lại buông không được, hơn nữa, phiền não cứ mãi đeo bám không rời. Ví dụ, muốn làm một người tốt, nhưng trong đầu tạp niệm nổi lên không ngừng; vừa lắng xuống một chút thì ý niệm xấu lại khởi lên. Những ý niệm xấu và phiền não ấy đều là do chính mình chiêu cảm đến; muốn đẩy đi cũng không đẩy được. Trong tình trạng như vậy, người tốt phải làm sao đây? 

Sư phụ sẽ nói với quý vị về nghiệp lực:

Thứ nhất, nghiệp lực dẫn đến luân hồi là rất nặng và rất trược. Vì nghiệp chướng trên thân quý vị đủ để khiến quý vị phải luân hồi, không thể lên cõi trời; cho nên những nghiệp chướng dẫn đến luân hồi ấy vốn rất trược, rất nặng. “Đới nghiệp vãng sinh” là gì? Nghĩa là quý vị có thể mang nghiệp mà vãng sinh, nhưng đó là nghiệp rất nhẹ. Ví dụ, lúc trẻ từng mắng người, nói lời không hay, làm một vài việc xấu… nhưng đến lúc tuổi già nhất định phải tu tâm, thì mới có thể tiêu trừ những điều xấu đã làm trước đây, và mang theo thiện nghiệp mà ra đi. Không phải nói rằng đến cuối đời vẫn tiếp tục tạo ác, rồi mang theo những ác nghiệp, nghiệt chướng ấy mà có thể vãng sinh về Tây Phương Cực Lạc – điều đó là không thể. “Đới nghiệp vãng sinh” nghĩa là sau khi tu hành chuyển hóa, tuy vẫn còn dấu vết nghiệp cũ, nhưng đó chỉ là nghiệp rất nhẹ; chứ không phải mang theo trọng nghiệp mà vãng sinh. Mọi người nhất định phải hiểu rõ điểm này.

Vãng sinh dựa vào sức tu hành của chính mình. Tuy nói là dựa vào sức tu của bản thân, nhưng quý vị căn bản không thể hoàn toàn tiêu trừ hết nghiệp chướng của mình. Sư phụ thường giảng cho quý vị nghe: Một tờ giấy trắng, nếu đã từng viết chữ lên đó, quý vị muốn lau cho thật sạch, có lau sạch hoàn toàn được không? Dấu vết căn bản của chữ vẫn còn ở trên đó, không thể xóa hết được. Lau đi chỉ là lớp bề mặt mà thôi. Nhưng Bồ Tát rất từ bi với chúng ta. Khi chúng ta sắp rời đi, tuy vẫn còn dấu vết nghiệp cũ, Bồ Tát vì lòng từ bi cũng sẽ tiếp dẫn cho chúng ta được lên. Nghiệp chướng rất khó thanh tịnh đến tận gốc. Muốn thật sự loại bỏ toàn bộ nghiệp chướng, phải có nghị lực và quyết tâm. Một người nếu không có nghị lực và quyết tâm, thì những lỗi lầm (nghiệp chướng) nơi thân mình không thể nào tiêu trừ được. Nhất định phải đau lòng sửa đổi lỗi trước kia, phải triệt để chuyển hóa những tật xấu nơi bản thân.

Thứ hai, khi nghiệp lực đến lúc thọ báo, thì giống như núi lửa phun trào. Ví dụ, một người ban đầu đang rất bình thường, nhưng khi nghiệp lực thọ báo, đột nhiên bị đột quỵ, hoặc trong gia đình xảy ra đại sự… Nghiệp chướng khi đến thường là bất ngờ, muốn tránh cũng tránh không kịp, giống như núi lửa bùng nổ. Khi nghiệp lực đến, quý vị phải vừa “trốn”, vừa “nhìn”. Ví dụ, trong nhà sắp có chuyện, phải mau “trốn”. Nhưng Sư phụ nói chữ “trốn” này không phải là bảo quý vị trốn tránh. Khi nghiệp lực đã đến, quý vị nói xem có trốn được không? Chữ “trốn” mà tôi dạy ở đây là hóa giải dấu hiệu ấy, tiêu trừ nó. Đồng thời còn phải “nhìn”. “Nhìn” nghĩa là để quý vị suy nghĩ và hóa giải. Ví dụ: Vì sao mình lại khởi lên ý niệm không tốt này? Tai họa vì sao lại tìm đến mình? Đó là loại nghiệp chướng nào đang tìm đến? Là nghiệp của đời này, hay là từ đời trước? Là do thân nhân đã quá vãng trong gia đình, hay là do mình hiện tại chiêu cảm mà đến?

Khi nghiệp lực đến, giống như núi lửa phun trào. Quý vị vừa “trốn”, vừa “nhìn”, nhưng sức mạnh đáng sợ ấy căn bản không thể hoàn toàn thoát khỏi. Chỉ cần hơi sơ suất một chút là sẽ bị nó cuốn vào, bị “nung chảy” trong nghiệp lực ấy. Vì vậy, nghiệp lực là thứ vô cùng đáng sợ. Hiện nay Sư phụ dạy quý vị pháp môn này chính là để quý vị làm nhiều công đức mà tiêu trừ nghiệp lực. Bởi vì chỉ có công đức mới có thể tiêu trừ nghiệp chướng; còn làm việc thiện chỉ có thể được thiện báo.

Thứ ba, Nghiệp lực như cá mập trong biển khổ. Khi quý vị đang ở trong biển khổ, nghiệp lực giống như cá mập chăm chăm nhìn chằm chằm vào quý vị. Khi quý vị muốn thoát khỏi nó, nó sẽ không buông tha. Quý vị bơi đến đâu, nó theo đến đó. Đến khi thật vất vả mới nhìn thấy bờ, cố hết sức bơi lên bờ, muốn thoát khỏi nghiệp lực – thì cuối cùng nghiệp lực lại như cá mập, kéo một chân quý vị xuống, lôi trở lại biển sâu. Hãy nghĩ xem con người đáng thương đến mức nào, liều mạng muốn thoát khỏi nghiệp lực, cố gắng bơi, gần đến bờ rồi lại bị kéo xuống. Nghiệp lực là thứ luôn luôn bám theo quý vị.

Nghiệp lực ở ngay trong tâm quý vị, ở ngay trên linh hồn quý vị. Nghiệp lực cũng là một loại ma lực. Đấu tranh với nghiệp lực rất mệt mỏi, rất gian nan. Vì vậy tốt nhất là đừng tạo nghiệp lực, đừng phạm nghiệp. Một khi đã tạo nghiệp, tiếp theo sẽ là đau khổ khó chịu đựng. Hiểu không? Hơn nữa, bất cứ lúc nào cũng có thể bị “cá mập” nuốt chửng, nghĩa là bị nghiệp lực làm tổn hại, thậm chí hủy hoại chính mình. Nghiệp lực là thứ khó thoát ly. Nó chính là nghiệp chướng, như hình với bóng, luôn theo sát bên thân; bất cứ lúc nào cũng có thể bị kích hoạt. Khi bị kích hoạt, nó sẽ sinh ra vong linh, trước tiên sẽ “ăn” hết công đức của quý vị. Vì công đức có thể giúp quý vị chắn tai họa. Giống như một người rất béo, khi nghiệp lực đến cắn, nó sẽ cắn vào “thịt” trước, chưa tổn hại đến “xương”. Đạo lý cũng vậy. Nếu người quá gầy, chỉ cắn một cái là đã chạm đến “xương”.

Khi quý vị muốn rời khỏi biển khổ, “cá mập” sẽ cắn và kéo quý vị trở lại, không cho quý vị rời đi. Quý vị phải dùng căn lực của mình, cắm sâu vào Phật tánh nguyên sơ của mình. Nghĩa là, nếu muốn rời khỏi nghiệp chướng, quý vị nhất định phải có căn lực, tức là sức mạnh từ Phật tánh vốn có ban đầu của mình, cũng chính là bản tánh chân thật của mình. Phải nương vào Phật lực và từ bi lực của chư Phật, chư Bồ Tát để tiêu trừ nó, để được giải thoát. Nếu không, tất cả oan gia trái chủ đều sẽ tìm đến quý vị. (Chú thích của Ban Thư ký: Phần này là lời giảng của Sư phụ ở hai dịp khác nhau về vấn đề nghiệp lực, có ý tương đồng với ví dụ trước đó ví nghiệp chướng như cá mập.)

QUYỂN 2 – TẬP 16
NHƯ THẬT TU TÂM, CHÂN TÂM CÚNG DƯỜNG
(如实修心,真心供养)

Nói với mọi người rằng, con người không thể chịu quá nhiều kích thích. Mỗi lần chịu kích thích mạnh, hồn phách sẽ rời khỏi thân thể một chút; có khi kích thích quá nặng, hồn phách còn có thể lìa thân. Tuy hồn phách có thể trở về, nhưng tốc độ trở về rất chậm. Ví dụ như bị gây mê một lần, toàn thân tê dại, người bất tỉnh. Sau khi tỉnh lại, tư duy bị cản trở, đầu óc quay chậm, phản ứng không còn nhanh nhạy. Đó đều là do bị kích thích bởi thuốc mê. Vì vậy, con người không nên thường xuyên chịu kích thích. Nhiều người vốn rất thông minh, nhưng nếu thường xuyên bị kích thích mạnh, phản ứng sẽ trở nên chậm chạp. Trong cuộc sống phải tránh để bản thân bị kích thích. Làm sao để tránh? Rất đơn giản: Đừng tham, đừng sân, đừng si. Quanh đi quẩn lại cũng chỉ là ba chữ này, nhưng con người lại không giải quyết được, không tiêu trừ được tham – sân – si. Phải học được rằng: người khác tốt hơn mình, mình không tham; người khác đối xử không tốt với mình, mình không hận. Trong đầu phải thường nghĩ đến người khác, vì người khác mà nghĩ điều tốt; phải biết bố thí, phải học cách buông xả. Buông xả hết rồi, khi ra đi sẽ nhẹ nhàng, thanh thản.

Bởi vì khi con người chịu kích thích, nó sẽ chuyển thành ý niệm; mà ý niệm ấy lại chuyển thành nghiệp lực. Ví dụ, có người thường nghĩ trong đầu: “Vì sao người đó đối xử với mình như vậy? Vì sao họ không tốt với mình?” Tiếp theo sẽ là oán hận: “Tôi hận người đó.” Khi ý niệm hận thù khởi lên, nghiệp lực cũng theo đó mà sinh ra. Hiểu không? Lúc này nghiệp chướng sẽ như thủy triều dâng đến. Ví dụ, khi trong tâm tràn đầy oán hận, tự trách bản thân, chìm trong tuyệt vọng… thì rất dễ bị “làn sóng” của nghiệp chướng cuốn đi. Vì vậy, con người nhất định phải học cách khống chế chính mình, học Phật để hóa giải bản thân, để loại trừ tham – sân – si.

Con người nếu không phát nguyện thì không sao; nhưng một khi đã phát nguyện, âm dương hai cõi đều sẽ tìm đến họ. Khi chưa phát nguyện thì không có vấn đề gì. Nhưng nếu trước chư Phật, chư Bồ Tát mà phát nguyện rằng: “Bồ Tát Quán Thế Âm, con nguyện sẽ…” thì âm phủ, nhân gian – tất cả đều sẽ tìm đến. Vì vậy, miệng không thể nói bừa, không thể phát nguyện tùy tiện. Rất nhiều người, nam hay nữ, khi làm sai việc gì đó, lại buông lời phát nguyện bừa bãi; như vậy đều sẽ có quả báo. Bất luận là ở cõi âm hay cõi dương cũng đều như nhau.

Tiếp theo, giảng cho mọi người về tu tâm cúng dường. Chư Phật, chư Bồ Tát dạy rằng phải hiểu rõ việc cúng dường, vì cúng dường là điều rất quan trọng. Cúng dường Phật, Bồ Tát như lễ lạy, dâng nước, dâng trái cây lên Bồ Tát… tất cả đều gọi là cúng dường. Cúng dường cha mẹ của mình cũng gọi là cúng dường, bởi vì họ là những vị Phật, Bồ Tát trong tương lai.

Tu tâm cúng dường phải hiểu quy tắc, tức là phải hiểu được ý niệm chân chính của Phật.

Thứ nhất, tu hành cúng dường: Dùng chính lời nói và hành vi của mình để cúng dường chư Phật, chư Bồ Tát. Khi quý vị tu hành tốt, sống giống như Bồ Tát, thì chính là đang cúng dường Bồ Tát. Người khác nhìn thấy quý vị tốt như vậy, giống Bồ Tát như vậy, đó chính là dùng hành động để cúng dường.

Thứ hai, lợi ích chúng sinh cúng dường: Là giúp đỡ người khác. Vì ai ai cũng có Phật tánh, nên khi quý vị đối xử tốt với mọi người, chẳng phải là đang lợi ích chúng sinh và cúng dường hay sao?

Thứ ba, nhiếp thọ chúng sinh cúng dường: Nhiếp thọ chúng sinh cúng dường nghĩa là thay chúng sinh gánh chịu khổ đau để làm sự cúng dường, tức là những điều không tốt, mình nguyện nhận lấy, mình nguyện thay chúng sinh chịu khổ. Muốn cứu độ chúng sinh, nhất định phải dùng phương tiện thiện xảo, tùy thuận căn cơ của họ mà độ hóa. Phải dùng nhẫn nhục để nhiếp phục sự xúc phạm; dùng đại tinh tấn để nhiếp phục sự giải đãi, khắc chế sự lười biếng của bản thân; dùng trí huệ để đối trị ngu si.

Thứ tư, thay chúng sinh chịu khổ cúng dường: Là thay chúng sinh gánh chịu khổ nạn. Ví dụ khi gặp thiên tai, mình đi cứu trợ cứu nạn, nhất định sẽ chịu rất nhiều gian khổ, mà những khổ ấy là thay chúng sinh mà chịu. Chư Phật, chư Bồ Tát vì cứu độ chúng sinh, không tiếc trải qua nhiều kiếp khổ đau, thay chúng sinh thọ khổ. Hiện nay chúng ta tu hành, có phải cũng là đang thay chúng sinh chịu khổ để cúng dường hay không?

Thứ năm, siêng tu thiện căn cúng dường: Thiện căn chính là bản tánh. Mỗi ngày hãy đem bản tánh và lương tâm của mình ra mà soi xét: “Tôi là người lương thiện. Tôi sẵn lòng giúp đỡ người khác. Tôi là người tốt.” Tức là thường xuyên làm người tốt, làm việc tốt, đó gọi là siêng tu thiện căn để cúng dường.

Thứ sáu, cúng dường bằng việc không lìa bỏ sự nghiệp của Bồ Tát: Nghĩa là không bao giờ rời bỏ con đường, nghiệp quả và pháp hành của Bồ Tát. Quý vị theo Bồ Tát mà tu tâm, tu hành cho tốt, đó cũng là một cách cúng dường.

Thứ bảy, không rời Bồ-đề tâm cúng dường: Tức là vĩnh viễn không rời Bồ-đề tâm, cũng chính là tâm từ bi, để làm sự cúng dường. Khi thưa chuyện với Bồ Tát, khi dâng nước, dâng trái cây… tâm của quý vị tuyệt đối không được rời Bồ-đề tâm. Đã là người học theo hạnh Bồ Tát, thì không được rời Bồ-đề tâm; đó cũng là cúng dường. Đó là sự cúng dường công đức vô lượng.

Thứ tám, hành Bồ Tát hạnh – pháp cúng dường: Bồ Tát ở nhân gian dùng “pháp” để cúng dường, tức là ban pháp cho chúng ta, che chở chúng ta. Hôm nay Bồ Tát Quán Thế Âm dùng những pháp môn tốt đẹp này, nương nơi Sư phụ để giáo hóa quý vị, giúp đỡ quý vị. Sư phụ như vậy gọi là pháp bố thí, làm cho quý vị hiểu đạo lý, biết tụng kinh, gia đình được tốt đẹp hơn, đó có phải là pháp bố thí không? Nếu quý vị học theo Bồ Tát mà thực hành pháp bố thí để cúng dường, thì quý vị đạt được chính là cúng dường Như Lai. “Như Lai” nghĩa là: nếu không đến thì vốn đã ở đó; vốn sẵn có trong tâm quý vị, giống như đã đến, đó chính là bản tánh của quý vị. Hãy nhớ rằng, cúng dường Như Lai chính là thực hành pháp bố thí. 

Cuối cùng, Sư phụ dặn mọi người phải nuôi dưỡng tâm từ bi, nghiêm túc y theo Phật pháp mà tu tâm, để tu hiển lộ chân như bản tánh của mình.

QUYỂN 2 – TẬP 17
MƯỜI ĐẠI NGUYỆN TRONG HỌC PHẬT
(学佛的十大行愿)

Phật dạy: “Như thật tu hành tức là chân cúng dường.” Nếu quý vị dùng tâm lấy chư Phật, chư Bồ Tát làm tấm gương mà tu hành, thì đó mới thật sự là tu Phật, tu tâm. “Như thật” nghĩa là chân thật, thực sự, không có nửa phần giả dối; dùng chân tâm mà tu, thì đó chính là đang cúng dường chư Phật, chư Bồ Tát. Quý vị nghĩ xem, học theo Quán Thế Âm Bồ Tát để cứu độ chúng sinh, chẳng phải là đang cúng dường Bồ Tát sao? Học theo Quán Thế Âm Bồ Tát giảng kinh thuyết pháp, làm cho mọi người được lợi ích, chuyển hóa tự thân, hoằng pháp lợi sinh – mỗi người đều đang cảm tạ Quán Thế Âm Bồ Tát, ai ai cũng cầu xin Ngài cứu giúp – đó chẳng phải là đang cúng dường chư Phật, chư Bồ Tát sao? Nguyện lớn của Quán Thế Âm Bồ Tát là “văn thanh cứu khổ”, cứu khổ cứu nạn, đại từ đại bi. Hành vi của quý vị như vậy chính là pháp bố thí, chính là đang cúng dường chư Phật, chư Bồ Tát.

Tiếp theo, xin giới thiệu mười đại nguyện cần có trong tu hành:

1. Lễ kính chư Phật: Lễ kính chư Phật nghĩa là đối với chư Phật, chư Bồ Tát phải vô cùng tôn kính, có lễ nghi, lễ tiết, dùng tâm chân thành mà cung kính Phật – đó là một hạnh nguyện.

2. Xưng tán Như Lai: Xưng tán Như Lai nghĩa là đối với Như Lai và chư Bồ Tát phải có tâm tán thán. Ví dụ khi lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát, trong tâm phải tán thán rằng: “Ngài thật vĩ đại, cứu khổ cứu nạn, độ chúng sinh chúng con; chúng con không thể dùng lời nói để bày tỏ lòng biết ơn; chúng con xin tán dương Ngài.”

Cũng như khi quý vị gặp Sư phụ, chào “Sư phụ ạ”, cảm thọ ấy không phải giả, không phải làm cho người khác xem; đó là một niềm pháp hỷ phát sinh từ sự kính trọng chân thành trong nội tâm.

3. Quảng tu cúng dường: Quảng tu cúng dường tức là điều đã giảng trước đó — tám loại cúng dường. Phải tu nhiều, cúng dường nhiều: cúng trái cây, cúng hoa tươi, bố thí tịnh tài làm công đức, cúng dầu đèn, đảnh lễ v.v… đều là cúng dường. Phải cúng dường Phật – Pháp – Tăng. Đó là đại hỷ xả. Công đức của hỷ xả rất lớn, có thể khai mở trí huệ, tiêu trừ phiền não, tích lũy công đức.

4. Sám hối nghiệp chướng: Phải thường xuyên sám hối các nghiệp chướng của bản thân để tiến bộ trên con đường tu học. Chỉ khi hiểu rõ lý đạo, quý vị mới tu hành tốt. Nếu cho rằng mình hoàn toàn không có khuyết điểm, quý vị làm sao tu được? Nghiệp chướng luôn theo sát như bóng, chỉ có sám hối mới có thể tiêu trừ.

5. Tùy hỷ công đức: Tùy hỷ công đức nghĩa là vui theo công đức của người khác. Không cưỡng cầu người khác làm việc gì; tất cả đều tùy hỷ. Nếu hôm nay kinh tế của quý vị không tốt, có thể làm nhiều pháp thí; trong ba loại bố thí thì pháp thí là cao nhất. Nếu có điều kiện tài chính, có thể phát tâm cúng dường một phần, tùy hỷ công đức, nhất định sẽ có công đức hồi báo. Nhưng cũng không nên nói rằng mình còn chưa có cơm ăn mà đem toàn bộ tiền ra cúng dường – như vậy cũng không đúng, đó là chấp trước.

6. Pháp vật thường chuyển: Pháp vật thường chuyển, ví dụ như chuỗi Phật, chuỗi niệm – có phải là pháp vật không? Có phải chuyển không? Khi quý vị niệm kinh, chuỗi hạt có theo tay mà chuyển động không? Pháp vật, như pháp khí, như kinh văn đang trì tụng, khi quý vị niệm từng câu, từng câu một, chẳng phải chúng cũng đang theo mắt và não mà “chuyển” đó sao? Một niệm thiện khởi lên thì tiêu tai, được cát tường.

7. Thỉnh Phật trụ thế: Thỉnh Phật trụ thế, cung kính Bồ Tát. Khi thấy các hình thức khác nhau của chư Bồ Tát thị hiện nơi thế gian để cứu người, phải biết cúng dường các Ngài, làm một vị hộ pháp tốt. Vì để cứu độ chúng sinh, thỉnh cầu chư Bồ Tát thường trụ nơi nhân gian, giúp con người tìm lại bản tánh.

8. Thường tuỳ Phật học: Thường tùy Phật học nghĩa là luôn theo sát chư Phật, chư Bồ Tát mà học tập. Học hành vi của Phật, học tư duy của Phật, học trí huệ của Phật, học sự giác ngộ của Phật. Quý vị phải tinh tấn tu Giới – Định – Huệ, dứt trừ tham – sân – si.

9. Hằng thuận chúng sinh: Hằng thuận chúng sinh là thuận theo căn cơ của chúng sinh mà tu học Phật pháp; nghĩa là không nề hà phiền toái để giáo hóa chúng sinh, dùng tâm từ – bi – hỷ – xả mà cứu độ họ.

Ví dụ, một người rất thích nói chuyện; khi độ người ấy, trước hết mình phải biết nói chuyện, phải thuận theo duyên của họ thì mới có thể độ họ lên được. Hiện nay Sư phụ chính là hằng thuận chúng sinh, thuận theo nhu cầu của họ mà cứu độ. Như người thời nay cần sức khỏe, bình an, học hành, làm ăn thuận lợi, Sư phụ thuận theo nhu cầu ấy mà độ hóa họ. Đợi khi mọi việc của họ thuận lợi, cảnh giới được nâng cao, trí huệ của Phật, Bồ Tát tăng trưởng, thì tự nhiên họ sẽ tu tâm, tu tánh, viên thành Phật đạo.

10. Phổ giai hồi hướng: Phổ giai hồi hướng nghĩa là: tôi tu tâm, tôi tu hành, tôi đem công đức và thiện nghiệp của mình hồi hướng một cách rộng khắp. Tôi yêu thương, bảo hộ tất cả mọi người; tôi đem đại ái hồi hướng cho nhân gian – đó gọi là phổ giai hồi hướng. Con người phải thường giữ chánh niệm, phải luôn có những ý niệm chân chánh, không nên khởi tà niệm.

Con người thật đáng thương; nếu không có chánh niệm, thì giống như lênh đênh giữa biển cả mênh mông, trôi nổi không định hướng, không tìm được chính mình – người ấy sẽ không có cách nào lễ Phật đúng nghĩa. Nếu trong tâm toàn nghĩ những điều lệch lạc, bất chánh, thì dù quỳ ở đây dập đầu lạy Phật cũng là giả; những điều cầu xin đều là hư vọng; làm công đức chỉ là để cho người khác nhìn thấy.

Đạo lý thường tình và luân lý đạo đức nơi nhân gian ví như mây khói giữa đời. Ví dụ, con trai đối xử với mình không tốt, xét theo lẽ thường ở nhân gian, điều đó cũng chỉ như mây khói, là giả tạm, chỉ làm mê hoặc nhất thời. Đừng cho rằng con trai thật sự đối xử tệ với mình. Thực ra tất cả đều có liên quan đến oan kết từ tiền kiếp giữa quý vị và con. Điều bạn nhìn thấy là đời này con đối xử không tốt với mình, nên dùng luân lý thông thường không thể giải thích được, và bạn cũng không thể giải thoát. 

Bởi vì tất cả đều là nhân quả từ tiền kiếp; đến khi thời gian chín muồi thì sẽ không còn nữa. Giống như mây khói, sẽ thay đổi, sẽ trôi qua. Phải thường nghĩ rằng đó đều là nhân duyên quả báo. Học Phật là để giúp quý vị nhìn thấu, buông xuống, tùy duyên. Những đạo lý Sư phụ giảng hôm nay chính là để quý vị biết nhìn thấu, buông xuống, tùy duyên. 

Bất kỳ duyên phận nào cũng đều là tăng thượng duyên thúc đẩy quý vị tu tốt hơn, là nguồn lực giúp quý vị tinh tấn tiến lên. Luôn luôn, từng giờ từng phút, phải sinh khởi tâm từ bi. Tùy duyên tu tâm, tùy duyên kết duyên, tùy duyên bố thí, tùy duyên thành duyên. Chữ “duyên” ấy chính là Phật duyên.

QUYỂN 2 – TẬP 18
TÌM LẠI BỒ ĐỀ TÂM CỦA CHÍNH MÌNH, KHÔNG ĐỂ ÁC DUYÊN KÉO VÀO LUÂN HÔI
(找到自身的菩提心,不让恶缘转轮回)

Hôm nay, Sư phụ sẽ giảng về tâm Bồ-đề trên trời. Vậy tâm Bồ-đề trên trời là gì? Trên trời có rất nhiều tầng cảnh giới khác nhau như: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Mỗi tầng trời đều có mức độ tu tập và giác ngộ riêng biệt. Sư phụ nhấn mạnh rằng, ở mỗi tầng trời đều tồn tại tâm Bồ-đề. Không chỉ riêng các cõi trời, mà ngay cả cõi người, cõi súc sinh cũng đều có tâm Bồ-đề. Tâm Bồ-đề tựa như ánh mặt trời chiếu soi vào bản tính thanh tịnh vốn sẵn có nơi mỗi chúng sinh. Mỗi người chúng ta đều mang sẵn hạt giống giác ngộ trong tự tánh. Tu hành chính là hành trình quay về với bản tâm chân thật, tìm lại tâm Bồ-đề nguyên sơ đã bị che lấp bởi vô minh. Khi sống được với tâm ấy, trí huệ và từ bi nơi bản thân tự nhiên hiển lộ.

Hôm nay, Sư phụ sẽ giảng về tâm Bồ-đề trên cõi trời. Tâm Bồ-đề nơi cõi trời vô cùng thanh tịnh, trong sáng và ít nhiễm ô. Hãy ghi nhớ rằng, khi chúng ta phát nguyện học Phật, mỗi ngày tinh tấn tu tập và quán chiếu chính là để làm hiển lộ tâm Bồ-đề cùng tâm từ bi vốn sẵn có trong mỗi người. Đó chính là tâm Bồ-đề từ cảnh giới cao thượng, thuần khiết và trong lành. Vậy người ở cõi nhân gian có thể thực hành được không? Hoàn toàn có thể. Chúng ta học cách chuyển hóa tâm Bồ-đề nơi cõi trời thành tâm tính của con người, để vận dụng trong đời sống hằng ngày. Thực ra, bản tâm vốn trong suốt và thanh tịnh, chỉ vì bị bụi trần che phủ nên chúng ta thường khó nhận ra. Ở cõi người, bụi trần dày đặc nên bản tâm thường khó hiển lộ rõ ràng. Khi lên các cõi trời, bụi trần dần vơi bớt, tâm trở nên trong sáng, lúc ấy mới có thể thấy rõ tâm Bồ-đề và tâm từ bi vốn sẵn nơi chính mình. Ngược lại, nơi cõi nhân gian, lương tâm dần bị che mờ, ánh sáng nội tâm ngày một suy giảm do nhiễm ô trần cảnh. Chính vì vậy, Sư phụ mong chúng ta hiểu rõ tâm Bồ-đề và tâm đại bi nơi cõi trời vận hành ra sao, để biết cách ứng dụng vào đời sống hiện tại. Đó là thường xuyên soi chiếu lại bản tính của mình, tự quán xét lương tâm, xem nó còn trong sạch hay không, còn giữ được lòng từ bi hay không.

Tâm Bồ-đề chính là tâm Bồ-tát, mà tâm Bồ-tát thì vốn tràn đầy từ bi. Khi học Phật, chúng ta cần học trí huệ của Phật, học tâm sáng suốt và lòng từ bi của chư Phật, chư Bồ-tát, để từng bước soi sáng và thanh lọc nội tâm của chính mình. Vậy vì sao ở cõi trời lại có thể thấy rõ bản tính và tâm Bồ-đề của mình? Bởi những người được sinh lên cõi trời đều có tâm lương thiện, trong sáng, nên dễ dàng nhận biết được tâm Bồ-tát vốn sẵn nơi tự thân. Thiên nhân có thể bất cứ lúc nào khởi hiện tâm Bồ-tát, trực tiếp nhìn thẳng vào bản tính chân thật và tâm Bồ-đề của chính mình. Ở cõi trời, thiên nhân sống trong môi trường thanh tịnh và tốt đẹp, tâm thiện đầy đủ, tự tại và an vui. Họ thường khởi tâm nghĩ đến việc giúp đỡ người khác, không bị vướng mắc bởi danh lợi hay ràng buộc thế gian. Thiên nhân có thể tự do qua lại khắp nơi, nhẹ nhàng như những tiên nữ trong tranh vẽ hay phim hoạt hình, bay từ chỗ này sang chỗ khác, không bị giới hạn bởi không gian hay hình tướng. Chính nhờ môi trường trong sạch, tự do và thiện lành ấy mà tâm Bồ-đề cùng tâm từ bi nơi họ càng dễ hiển lộ và tỏa sáng.

Ngược lại, ở cõi người, chúng ta phải đối diện với muôn vàn công việc, áp lực và thử thách trong một môi trường sống chưa hoàn hảo. Chính vì thế, chúng ta càng cần học cách lấy tâm Bồ-đề nơi cõi trời làm chuẩn mực, để nuôi dưỡng tâm thiện, lòng từ bi và trí huệ ngay trong đời sống hằng ngày. Ở cõi nhân gian, do khó nhìn rõ bản tính và lương tâm của chính mình, nên chúng ta dễ khởi lên những ý niệm bất thiện, dễ tạo ra những việc làm chưa đúng. Vì vậy, để nhận biết được bản tính chân thật của mình quả thật không dễ dàng. Chúng ta chỉ còn cách “chạm” vào lương tâm, giống như người mù phải dò dẫm bằng đôi tay để cảm nhận và nhận biết sự vật. Nếu có thể nhìn thấy rõ bản tâm, thì đâu cần phải lần mò như thế nữa.

Lý lẽ rất đơn giản: bản tính con người nơi cõi đời thường đã bị che phủ bởi vô minh và bụi trần, nên không còn hiển lộ rõ ràng. Chỉ khi sinh lên các cõi trời, tâm trở nên thanh tịnh, trong sáng, chúng ta mới có thể nhìn thấu bản tính và lương tâm chân thật của chính mình. Khi đã nhìn thấy được, chúng ta mới có thể đem đối chiếu, soi chiếu và phản tỉnh bản thân, từ đó biết chỗ nào cần tu sửa, chỗ nào cần hoàn thiện. Đó chính là quá trình quay về điều chỉnh nội tâm của mình. Ở cõi người, tuy bề ngoài chúng ta không thể thấy rõ tâm mình, nhưng trong lòng vẫn phải tập cảm nhận như thể đang nhìn thấy. Sư phụ từng ví dụ rất sinh động: khi một người diễn kịch, dù trước mặt không hề có cánh cửa, họ vẫn phải giả vờ mở cửa và nhìn vào bên trong, dù thực tế chẳng thấy gì cả. Hoặc khi diễn cảnh may vá, dù không có kim chỉ thật, họ vẫn phải giả vờ cầm kim, giả vờ khâu vá.

Ý nghĩa ở đây là chúng ta cần đem những điều thấy được nơi cõi trời — bản tính thanh tịnh và lương tâm trong sáng — ứng dụng vào cõi người, nơi mà bản tâm thường khó nhận ra và dễ bị che lấp. Chỉ những ai biết “quán chiếu” như vậy mới thật sự đang đi đúng con đường tu hành. Ví dụ như Quán Thế Âm Bồ Tát, chúng ta không thể trực tiếp nhìn thấy Ngài, nhưng vì sao vẫn biết Ngài cứu khổ cứu nạn? Đó là nhờ sự cảm nhận từ nội tâm — dùng trực giác và lòng từ bi nơi cõi người để cảm ứng với tâm đại bi và bản tính thanh tịnh nơi cõi trời. Mỗi ngày, chúng ta hãy quán tưởng và cảm nhận tâm thiện lương nơi chính mình: tôi thiện lương, tôi muốn cứu giúp người khác, tôi muốn sống từ bi, tôi muốn mang lại lợi ích cho mọi người. Rồi từ đó, không ngừng biểu hiện tâm thiện ấy ra bên ngoài qua lời nói, hành động và từng cử chỉ trong đời sống hằng ngày. Khi tâm thiện được nuôi dưỡng liên tục, tự nhiên cuộc sống sẽ dần chuyển hóa theo hướng tốt đẹp hơn. 

Mọi người đều biết về lục đạo luân hồi. Hôm nay, Sư phụ sẽ giảng về luân hồi của ác duyên. Vậy ác duyên luân hồi là gì? Đó là những mối duyên không lành từ kiếp trước, đến kiếp này lại gặp nhau, phát sinh mâu thuẫn, oán kết, rồi tiếp tục tạo ra những nghiệp duyên xấu mới. Cứ như vậy, oan oan tương báo, vòng luân hồi của ác duyên không ngừng tiếp diễn. Ví dụ, khi quý vị bị người khác mắng, tâm liền bắt đầu dao động, và vòng luân hồi của ác duyên cũng từ đó khởi động. Sau khi bị mắng, nhìn đâu cũng thấy không vừa ý, phiền não liền sinh khởi; phiền não sinh, oán hận theo đó dấy lên; oán hận dấy lên, ý niệm trả đũa, báo thù cũng bắt đầu xuất hiện. Cứ như vậy, ác duyên xoay vòng không ngừng trong luân hồi, kéo theo vô số phiền não và nghiệp lực chồng chất. Nói cách khác, khi một người nổi giận, chính là lúc ác duyên đang vận hành trong luân hồi. Nếu quý vị không khởi sân hận, thì vòng luân hồi của ác duyên sẽ không có cơ hội tiếp tục. Vậy làm thế nào để hóa giải và chấm dứt luân hồi của ác duyên? 

Cách để hóa giải chính là quán tưởng tính không. Trong lúc suy nghĩ thì quan sát, trong khi quan sát lại soi chiếu nội tâm mình – đó chính là quán tưởng. Ví dụ, khi quán tưởng Quán Thế Âm Bồ Tát, ta nhắm mắt lại và hình dung Ngài trong tâm. Không phải dùng mắt xác thân để nhìn, mà là “nhìn” bằng tâm thức của mình. Đây mới gọi là quán tưởng, hoàn toàn khác với việc chỉ nhìn bằng mắt thường. Khi quán tưởng, tâm dần trở nên tĩnh lặng, phiền não theo đó lắng xuống, từ đó có thể cắt đứt vòng luân hồi của ác duyên. Quán tưởng tính không còn là quán chiếu rằng thân thể này không phải là thật ngã, không phải một bản ngã vĩnh viễn. Ví dụ, khi có người mắng quý vị, hãy tập cảm nhận rằng bản thân mình không phải là thật ngã: “Tôi chẳng có gì cả, tôi không chấp trước, tất cả chỉ là giả tạm.” Khi bị mắng, hãy chuyển ý niệm: “Người ấy đang mắng nghiệp chướng của tôi, bởi trong thân tôi quả thật còn nhiều nghiệp chưa tốt.” Không chỉ để người khác nhắc nhở, mà bản thân cũng nên tự quán chiếu, tự trách mình một cách tỉnh thức, để nhận ra lỗi lầm và những phiền não còn tồn tại. Khi làm được như vậy, liệu còn sân hận nữa không? Nếu quý vị chấp rằng những nghiệp chướng ấy là “của tôi”, ôm chặt trong thân tâm mình, thì cơn giận đương nhiên sẽ khởi lên. Nhưng nếu quý vị biết tách những nghiệp chướng ấy ra khỏi bản thân, không xem đó là “của tôi”, mà nhìn nhận chúng như những yếu tố bất thiện của hoàn cảnh bên ngoài, hay là nghiệp lực từ kiếp trước mang sang kiếp này, thì quý vị sẽ hiểu: đây chính là món nợ mình cần hoàn trả, đồng thời cũng là duyên lành để bản thân trưởng thành và tiến tu. Khi nhìn được như vậy, cơn giận tự nhiên sẽ lắng xuống. Đó chính là tu tập chân thật.

Sau khi quán tưởng được tính không của bản thân, người tu hành dần dần sẽ nhập định. Nhập định là gì? Nói một cách đơn giản, đó là làm cho tâm an tĩnh, ổn định và không còn dao động theo cảnh bên ngoài. Chỉ khi tâm đã vững vàng, an trú trong chánh niệm, quý vị mới có thể chuyển hóa mọi hiện tượng thành “tính không”.

Khi tâm đã an định, ý niệm khởi lên mới đúng đắn. Còn nếu tâm không tĩnh, đầu óc suy nghĩ loạn xạ, trong lòng đầy những ý niệm hỗn độn, thì làm sao có thể gọi là định được? Nếu ngồi đây mà tâm quý vị chưa yên, thì thật ra chẳng học được điều gì cả. Nói nhẹ thì là tâm chưa định, nói thẳng ra chính là trong lòng đầy tạp niệm. Việc tu tâm vô cùng nghiêm ngặt, chỉ cần một chút tạp niệm xen vào cũng không được phép. Hễ còn tạp niệm, thì tu tâm chưa thành tựu. Khi tu tâm, phải buông bỏ hết mọi người, mọi việc.

Khi tụng kinh mà khởi lên tạp niệm, nguyên nhân chính là trong lòng còn chất chứa quá nhiều người và sự việc. Những vướng mắc ấy làm tâm không yên, như mặt nước bị khuấy động, khiến tạp niệm nổi lên không ngừng. Hãy luôn ghi nhớ: giữ thân và tâm trong sạch, tinh khiết chính là phải loại bỏ tất cả những điều bất thiện nơi thân và tâm, từ suy nghĩ xấu, hành vi xấu cho đến từng ý niệm xấu, đều cần được gạn lọc và buông bỏ triệt để. Bất cứ ai học Phật, điều đầu tiên cần làm chính là đoạn trừ tâm kiêu ngạo và tự cao. Dù quý vị có tài giỏi, giàu có hay đạt được bao nhiêu thành tựu, chỉ cần ngồi xuống lắng nghe Phật pháp, quý vị vẫn là một người đang học đạo.

Bồ Tát không có tâm phân biệt. Bất kể hôm nay quý vị là ai, thân phận thế nào, chỉ cần ngồi xuống lắng nghe Phật pháp, hãy thành tâm học hỏi, tuyệt đối không được khởi tâm kiêu căng tự đại. Một khi còn ngạo mạn, thì không thể thật sự học Phật. Hôm nay quý vị giàu có, nhưng tiền bạc có thể giúp quý vị tiêu trừ nghiệp chướng trên thân hay không? Không thể. Chỉ có công đức chân thật mới có thể chuyển hóa và tiêu trừ nghiệp chướng của chính mình. Nếu một người dùng tiền làm việc thiện, nhưng trong tâm luôn tính toán lợi ích cho bản thân, cầu danh, cầu lợi, thì dù bề ngoài là thiện sự, bên trong đã nhiễm ô. Khi tâm không thanh tịnh, thì tất cả công đức ấy cũng trở về con số không.

Thứ hai, bất kỳ người nào tu học Phật pháp cũng phải dứt khoát đoạn trừ tâm lười biếng, chểnh mảng. Người tu tâm tuyệt đối không được buông thả bản thân. Nếu sáng không chịu dậy, tối đã vội đi ngủ sớm, suốt ngày mơ màng, uể oải, thì càng ngủ càng sinh ngu si, trí huệ khó khai mở. Người đắm chìm trong giấc ngủ sẽ đánh mất rất nhiều cơ hội tinh tấn và công phu tu tập. Từ góc nhìn Phật pháp, người lười biếng sẽ thiếu hụt nhiều công hạnh trong lục độ Ba-la-mật, đặc biệt là tinh tấn và trí huệ. Vì vậy, khi học Phật, nhất định phải kiên quyết loại bỏ thói lười biếng, chểnh mảng.

QUYỂN 2 – TẬP 19
KIỂM SOÁT TÂM THÁI KHI NIỆM KINH, MƯỢN GIẢ TU CHÂN
(控制念经心态,借假修真)

Sư phụ dạy quý vị vài phương pháp nhỏ khi niệm kinh trong những trường hợp đặc biệt.

1. Khi quán tưởng tánh Không Khi quán tưởng tánh Không, đừng nghĩ đến bất kỳ một người hay sự việc nào. Nhất định phải làm cho tâm mình bình tĩnh; tâm thái nhất định phải bình hòa. Tâm trạng không tốt chỉ là tạm thời, nhưng tâm phải giữ được sự bình tĩnh. Ví dụ, lúc này quý vị rất hận một người, thì phải tự nói với mình: “Ta phải bình tĩnh.” Đừng nghĩ đến nữa, tập trung tinh thần niệm kinh, như vậy tâm sẽ dần dần lắng xuống.

2. Khi quý vị đang rất nóng giận, niệm kinh cũng có một “bí quyết”. Nếu thật sự cơn giận lớn đến mức khó đè nén, Sư phụ dạy một cách như sau: Lúc ấy có thể niệm kinh “cho Bồ Tát nghe”. Ví dụ như ở trường tiểu học, khi thầy cô yêu cầu học sinh đọc bài, thầy cô có nghe các em đọc không? Chư Phật, chư Bồ Tát dạy chúng ta những kinh văn này để tụng niệm, vậy các Ngài có muốn nghe chúng ta niệm không? Khi nghĩ rằng: “Bồ Tát đang nghe mình niệm kinh”, quý vị sẽ tự nhiên trở nên nghiêm túc, bớt nóng giận. Giống như khi chúng ta làm việc mà có người đang quan sát, ta sẽ làm tốt hơn. Sư phụ mỗi lần nghe người khác niệm kinh đều rất hoan hỷ. Niệm kinh có thể “tiếp khí” lẫn nhau, khi quý vị niệm, trường khí của quý vị có thể hòa nhập với khí trường của Quán Thế Âm Bồ Tát. Vì vậy, khi thật sự đang giận, có thể niệm cho Bồ Tát nghe. Nhưng khi niệm kinh tuyệt đối không được mang theo tâm oán hận. Nếu vừa niệm vừa hận, ý niệm không thanh tịnh, thì kinh sẽ không niệm tốt được. Cách duy nhất khi tâm còn nóng là niệm lớn tiếng hơn một chút, dùng âm thanh để tạm thời che lấp cơn giận mà thôi.

3. Khi tức giận mà niệm kinh không phát ra tiếng, sẽ dễ làm tổn hại khí huyết, vì lúc nóng giận thì khí huyết đã không thông thuận. Khi hỏa khí lớn tức là khí huyết đang rối loạn. Lúc này tốt nhất nên niệm ra tiếng, có thể niệm lớn hơn một chút. Giống như nhiều người khi buồn bực, nói chuyện sẽ lớn tiếng; nói xong rồi thì nhẹ lòng hơn — vì khí được phát ra ngoài. Vì sao bình thường Sư phụ không khuyến khích niệm quá lớn tiếng? Bởi vì khi niệm kinh, cần dùng cả khí và huyết cùng vận hành, chứ không chỉ dùng khí mà huyết không vận động. Nếu dồn nén bên trong, có thể thành “động huyết mà không động khí”. Cho nên khí và huyết đều phải điều hòa. Đông y nói “khí huyết lưỡng hư”, thực ra là thân tâm chưa được điều chỉnh hài hòa. Niệm kinh cũng phải hiểu nguyên lý điều hòa khí huyết.

4. Khi tức giận mà niệm kinh, một mặt phải sám hối, một mặt tuy không phát ra tiếng nhưng trong tâm phải thầm niệm: “Quán Thế Âm Bồ Tát gia trì cho con, gia trì cho con…” Điều này rất quan trọng.

Về pháp thân của chư Phật, chư Bồ Tát: Ví dụ, pháp thân của Quán Thế Âm Bồ Tát được gọi là “Thiên Thủ Thiên Nhãn”. Hình tượng quý vị đang thấy tuy không phải là pháp thân chân thật nơi Phật giới, nhưng pháp thân của Bồ Tát vẫn có thể gia trì và tác động đến linh hồn, tâm thức của quý vị. Từ một góc độ khác mà nói, pháp thân của Phật, của Bồ Tát, của Sư phụ, có thể xuất hiện trong giấc mộng của quý vị, ngày đêm đều có thể gia trì, chỉ dạy. Pháp thân là vô sắc, vô vị, là một loại năng lượng siêu vượt vật chất thông thường. Đó là một dạng năng lượng thanh tịnh, tinh khiết được phát ra. Ví dụ như khi luyện công, lúc phát công có thể thấy hiện tượng giống như làn khí mờ, đó được gọi là năng lượng. Khi trong pháp hội, có người thấy trên đầu Sư phụ phát ra ánh sáng vàng, đó cũng được gọi là một loại năng lượng, hay “Phật quang”.

Pháp thân của Phật là vô sở bất tại, vượt qua ngăn cách của thời gian và không gian, nghĩ đến đâu thì đến đó. Giống như nói rằng: khi tôi muốn đến nhà quý vị thì có thể đến; nhưng thật sự muốn “đến” cũng cần có nhân duyên hoặc nguyên nhân. Nguyên nhân ấy nằm ở chính quý vị, vì quý vị có cầu nơi Bồ Tát, mà Bồ Tát là “hữu cầu tất ứng”.

Nói về pháp âm của chư Phật, chư Bồ Tát. Pháp âm là gì? Là khi trong tâm quý vị thường nghe như có lời nhắc nhở thiện lành; như thường nghe lời dạy của Thầy, hay cảm nhận được sự chỉ dẫn từ Bồ Tát  đó gọi là pháp âm. Pháp âm không vì thời gian trôi qua mà mất đi; cũng không vì một khoảng thời gian không nghe thấy mà nói rằng không có Bồ Tát. Pháp thân không bị ngăn cách bởi thời gian và không gian; pháp thân có thể vượt qua giới hạn đó để “đến” một không gian khác.

Pháp thân, pháp âm đều thuộc về sự gia trì của Bồ Tát. Khi quý vị hoằng dương Phật pháp, khi quý vị giảng rất nhập tâm, rất chuyên chú, có lúc sẽ cảm thấy như không còn là chính mình nữa. Quý vị có thể tự hỏi: “Sao mình lại nói ra được nhiều đạo lý như vậy?” “Sao lời nói hôm nay lại lưu loát, phong phú đến thế?” Khi quý vị đi cứu độ người khác, nói mãi nói mãi, sau đó nghĩ lại sẽ thấy: “Những điều ấy là do mình nói sao? Vì sao hôm nay mình nói hay như vậy?” Thực ra, vào lúc đó là Bồ Tát đang gia trì cho quý vị.

Phải ghi nhớ: Cứu độ nhiều người thì pháp âm thường trụ; cứu độ ít người thì pháp âm không thường trụ. Người thường xuyên cứu độ chúng sinh thì như được Bồ Tát thường xuyên nhắc nhở bên tai; người không thường cứu độ thì sẽ không còn cảm nhận được sự nhắc nhở ấy. Người thường xuyên tu hành, tu tâm thì pháp tướng thường trụ, tức là hình ảnh, phẩm chất của Bồ Tát thường hiện hữu nơi họ. Người thường xuyên không niệm kinh, không lễ Phật, đến cuối cùng pháp tướng không còn trụ nữa, tức là ngay cả một chút khí chất, hình bóng của Bồ Tát cũng dần dần không còn. Nhất định phải ghi nhớ những đạo lý này.

Cùng với đạo âm, bất luận là pháp âm hay pháp thân, đều có thể từ đó hiển lộ ra chân như. Chân như là gì? Là sự chân thật tuyệt đối. Khi pháp âm và pháp thân nơi quý vị dung hợp mà hiển lộ thành một thể chân như, thì hình ảnh chân thật của Bồ Tát sẽ hiện ra. Con người phải có nguyện lực vô thượng, đem lòng từ bi mà đối với chúng sinh, đi cứu độ chúng sinh. Nguyện lực vô thượng là gì? Ví dụ phát nguyện rằng: “Quán Thế Âm Bồ Tát, con nguyện thành tựu cho chúng sinh, con nhất định phải cứu độ tất cả những người hữu duyên. Dù sau khi con qua đời, con cũng vẫn muốn cứu độ chúng sinh.” Đó gọi là nguyện lực vô thượng. Quý vị có năng lực ấy không? Chưa có, chúng ta chỉ có thể học theo tinh thần của chư Phật, chư Bồ Tát.

Chỉ cần đã có nguyện lực thì nhất định phải cố gắng thực hiện. Nguyện lực rất quan trọng. Nguyện lực có thể thúc đẩy quý vị, là nền tảng để thành tựu mọi nhân duyên nơi nhân gian, thực chất đó chính là năng lượng của quý vị. Nếu một người muốn làm điều gì mà không làm thành được, thì đó là vì căn cơ chưa đủ sâu. Ở nhân gian, “tâm tưởng sự thành”, vậy cái gốc rễ ấy từ đâu mà có? Rất đơn giản: do công đức bình thường tích lũy mà thành. Quý vị nỗ lực làm công đức, thì nền tảng ấy càng ngày càng vững chắc. Khi đó, cầu điều gì cũng dễ được cảm ứng. Hãy nhớ công đức càng nhiều, điều cầu xin càng linh nghiệm. Nếu gặp vấn đề mà không hóa giải được, thì chứng tỏ công lực chưa đủ, công đức chưa đủ.

Con người phải thay đổi theo sự biến chuyển của thời đại. Vì sao gọi là “Thiên – Địa – Nhân”? Vì con người sống giữa trời và đất, chịu ảnh hưởng của thiên thời, địa lợi và nhân duyên. Vì sao nói đổi tên phải “thăng văn” rồi mới có hiệu lực? Tên không nên đổi quá nhiều. Nếu đổi quá nhiều lần, đến tuổi già có thể không tốt, dễ khiến tinh thần bất ổn, tâm thần phân tán. Bởi vì trong quan niệm tâm linh, hồn phách dễ tán loạn khi danh tính thay đổi liên tục. Ở nhân gian, cái tên chỉ là tạm thời, giống như người ta thường nói: đời người như một chuyến du hành. Chỉ ở cảnh giới trời hoặc nơi âm phủ, cái tên mới được xem là “thật” theo nghĩa nghiệp thức. Con người phải biết tự trân trọng bản thân, dùng bản tánh mà suy nghĩ. Sự khác biệt giữa người và động vật là gì? Con người đầu đội trời, chân đạp đất; động vật lưng hướng lên trời. Chỉ con người là đầu hướng lên trời, vì vậy Phật pháp nói: “Thân người khó được.”

Tiếp theo, nói về pháp tương ưng. Trong học Phật có rất nhiều pháp, rất nhiều pháp môn. Pháp tương ưng tuy không phải là một pháp môn riêng biệt, nhưng là một phương pháp rất tốt để tu học. Thế nào gọi là pháp tương ưng? Pháp tương ưng nghĩa là: Khi gặp việc gì thì ứng theo việc đó mà xử lý; không gặp thì không cần xử lý. Tức là tùy cảnh mà ứng, không chấp trước. Ví dụ về giấc mộng: Phải đem cảnh trong mộng tương ưng mà chuyển hóa thành chân lý, tức là xem giấc mộng ấy như một điều có ý nghĩa thực hành. “Chuyển mộng thành chân” nghĩa là gì? Là khi quý vị mơ một giấc mộng, quý vị xem đó như một bài học thật để thực hành trong đời sống. Có nhiều người thích mơ, vì giấc mơ có thể giúp khai mở rất nhiều điều. Sư phụ từng nói: trên thế giới có không ít nhà khoa học, nhiều phát minh của họ được gợi mở từ giấc mộng, họ mơ thấy, rồi sau đó đem ra thực hành, cuối cùng thành công. “Biến mộng thành thật” chính là đạo lý này: Lấy điều trong mộng chuyển thành điều có thể ứng dụng. Pháp tương ưng chính là: Chuyển cảnh trong mộng thành chân lý để ứng dụng vào thực tế.

“Nhất thiết tướng bất khả đắc”, Phải ghi nhớ rằng: mọi hình tướng đều không thể thật sự đạt được. Dù là hình tướng trong mộng, hay hình tướng nơi nhân gian, đều không thể nắm giữ. Đừng chấp giữ chúng không buông. Chỉ có thể vận dụng, ứng dụng chúng, chứ không thể thật sự nắm bắt rồi giữ mãi bên mình. Ví dụ, nếu quý vị có một giấc mộng xấu, quý vị nên biết cách vận dụng nó. Có thể kể lại: “Thưa Sư phụ, con mơ một giấc mộng như thế này…” Rồi được chỉ dẫn nên làm thế nào. Nhưng nếu mơ gặp ác mộng mà cứ mãi nghĩ về cảnh trong mơ, bám chặt không buông, thì vài ngày sau tâm quý vị sẽ bị ảnh hưởng, như thể trở thành chính nhân vật trong giấc mộng ấy. Vì vậy, mộng là để ứng dụng, không phải để chấp giữ. Không phải để “được”, mà là để “dùng”.

Tất cả các tướng đều không thể nắm giữ, trong huyễn mà tu chân. Giấc mộng có phải là huyễn không? Khi mơ, mọi thứ có phải vừa giống như thật, lại vừa giống như giả? Nhưng khi tỉnh dậy, chẳng còn gì nữa, đó chẳng phải là huyễn sao? “Trong huyễn tu chân” nghĩa là gì? Ví dụ, trong mộng quý vị ăn thịt. Tỉnh dậy liền nghĩ: “Ôi, mình không thể ăn thịt, mình ăn chay mà.” Giấc mộng là huyễn, nhưng sau khi tỉnh quý vị ngộ ra một đạo lý – “mình đã không vượt qua khảo mộng” – đó chính là trong huyễn mà tu chân. Lại ví dụ, trong mộng có ma đuổi bắt, bỗng nhiên quý vị bắt đầu niệm kinh, cuối cùng vượt qua được nỗi sợ – lúc ấy chính là đang “mượn huyễn tu chân”. Nếu trong mộng quý vị còn nhớ đến Quán Thế Âm Bồ Tát, còn biết niệm kinh, thì thực chất đó đã là tu trong huyễn. Khi trong mộng quý vị còn nhớ đến Bồ Tát, thì đến lúc sinh tử quan trọng, tâm quý vị cũng dễ khởi lên chánh niệm như vậy. Có người khi gặp ác mộng, cảm thấy không tỉnh được, bỗng nhiên nhớ đến Quán Thế Âm Bồ Tát, vừa niệm danh hiệu liền tỉnh lại – đó chính là mượn huyễn để tu chân.

Nhân gian cũng giống như một giấc mộng huyễn ảo, mọi thứ đều không lâu dài. Vì vậy, chúng ta phải mượn cõi người này để tu sửa chân tánh của chính mình. Lần sau sẽ tiếp tục giảng về trợ lực của pháp tương ưng.

QUYỂN 2 – TẬP 20
DÙNG TRỢ LỰC ĐƯA PHẬT, BỒ TÁT VÀO TRONG TÂM
( 用助力把佛菩萨植入心中)

Lần trước đã giảng với quý vị về pháp tương ưng. Thực ra, pháp tương ưng cần phải nương vào trợ động lực. Thế nào gọi là trợ động lực? Chính là một loại sức mạnh nâng đỡ và thúc đẩy nội tâm. Ví dụ, khi quý vị đang tu tâm, có người đến nói: “Pháp môn khác tốt lắm, đừng tu pháp môn này nữa.” Nếu lúc ấy quý vị bắt đầu dao động, tâm trí không còn rõ ràng, thì cần phải có một loại trợ động lực để nâng đỡ mình. Trợ động lực này chính là sức mạnh của niềm tin kiên định. Nếu quý vị đem từng chút trải nghiệm tu học trong quá khứ mà gom lại, như sau khi niệm kinh vận trình chuyển biến tốt hơn, người khác niệm cũng có chuyển biến; những lần linh nghiệm từng chứng nghiệm; lòng từ bi của Bồ Tát đã từng cảm nhận, tất cả những điều ấy hợp lại sẽ hình thành một loại trợ động lực. Người khác nói pháp môn khác tốt, nhưng tôi kiên định tin tưởng pháp môn này, tôi chỉ tu theo pháp môn của Sư phụ mình, đó chính là trợ động lực. Ngoài ra còn có một loại nữa gọi là sức mạnh chân thực. Trợ động lực sẽ dẫn sinh ra sức mạnh chân thực. Sức mạnh chân thực là gì? Ví dụ như người này bệnh nặng được chuyển biến tốt, người kia được kéo dài tuổi thọ… những điều ấy đều là biểu hiện của sức mạnh chân thực. Chính những sức mạnh chân thực này sẽ thúc đẩy quý vị sinh khởi loại trợ động lực ấy, để tùy theo nhân duyên của mình mà tương ưng giải quyết vấn đề.

Các đệ tử phải ghi nhớ: bất kỳ sự cảm ứng nào cũng cần có năng lực phán đoán chân thực. Nếu trong lúc niệm kinh, trong quá trình học Phật, quý vị có cảm ứng, thì cần dùng sự phán đoán chân thực để nhận định. Thế nào gọi là cảm ứng chân thực? Là cảm ứng có tính chân thực, không phải hư huyễn. Ví dụ, khi niệm kinh, thật sự thấy được hình ảnh Quán Thế Âm Bồ Tát; cảm ứng ấy tương ưng rõ ràng, chân thật khởi lên – điều đó cho thấy việc niệm kinh có hiệu quả, công phu có tiến bộ. Nhưng có người khi niệm kinh, bên tai như có tiếng nói, dường như nghe được, lại dường như không nghe rõ. Vậy đó có phải là lời của Quán Thế Âm Bồ Tát không? Có thể là, cũng có thể không. Đó chính là cảm ứng không chân thật. 

Trong mộng, thế nào là chân thực? Thế nào là không chân thực? Trong mộng, dù nhìn thấy bất cứ tướng nào, cũng không nên chấp trước vào tướng ấy. Tuy nhiên nếu trong mộng thấy hình tướng Quán Thế Âm Bồ Tát có ánh kim quang rực rỡ, thì có khả năng đó là cảm ứng chân thực. Nếu trong mộng thấy hình tượng Phật hoặc Bồ Tát, biết rõ đó là hình tượng Bồ Tát, nhưng không có ánh sáng, thì cũng có khả năng không phải là Bồ Tát. Ví dụ như nơi nhân gian, có nhiều diễn viên đóng vai lãnh đạo, hình dáng gần như có thể lấy giả làm thật. Quý vị có thể hiểu được đạo lý này không? Con người thông qua hóa trang mà có thể thay đổi diện mạo; trong cảnh giới vô hình cũng có sự biến hóa. Vì vậy, đối với những cảnh tượng hư huyễn ấy, cần phải nhìn ra yếu tố chân thực trong đó, rồi đối chiếu, vận dụng trí tuệ của mình để phân biệt, nhận định, khi ấy mới có thể biết được đâu là thật, đâu là giả.

Dùng tâm bình thường mà nhìn thế gian. Phải lấy một tâm hết sức bình thường để nhìn thế giới này. Mọi sự, mọi vật trong đời đều vốn rất tự nhiên. Đối với bất cứ việc gì cũng không chấp trước. Hôm nay có cái ăn thì biết ơn; hôm nay không có cái ăn cũng biết ơn. Việc gì cũng biết ơn. Người thật sự có trí huệ, mở miệng ra là nói “cảm ơn”. Hai chữ “cảm ơn” trở thành một ngôn ngữ quen thuộc, có thể thốt ra bất cứ lúc nào, dần dần trở thành một bức tường phòng hộ trong ý thức. Đó chính là trí huệ. Đó gọi là dùng tâm bình thường mà nhìn thế gian, không có điều gì khiến mình phải lo lắng, không có điều gì khiến mình phải phiền não; mọi việc trên đời đều là điều tự nhiên. 

Nếu có thể xem tất cả những việc xảy ra nơi nhân gian đều là bình thường, thì quý vị sẽ không còn buồn khổ, không còn thương tâm, không còn bi ai. Chỉ khi giữ được tâm bình thường, nội tâm mới có thể an trụ; tâm an trụ rồi mới có thể an định, và dừng lại sự vận hành của phiền não. Khi nhìn mọi sự đều nhạt nhẹ, thuận theo tự nhiên, không cưỡng cầu, không phóng đại, thì tâm sẽ dần trở nên bình lặng. Tâm đã bình lặng thì tự nhiên được an ổn; an ổn rồi thì không còn dao động. Tâm không còn dao động – đó gọi là an chỉ. Con người trước khi hành động, trước hết là tâm động, rồi sau đó mới phát sinh hành vi. Khi một người nổi nóng hay bốc đồng, trước tiên là tâm đã dao động, rồi mới biểu hiện thành hành động bên ngoài.

Phải học cách nhận diện những điều không thiện, không để bị mê hoặc bởi các huyễn tướng, tức là không để những hiện tượng hư ảo làm cho mình mê lầm. Sư phụ nói với quý vị: bề ngoài của con người vốn đã là một loại huyễn tướng. Con người có hai mặt; sự vật cũng có hai mặt. Vì vậy, không nên bị những huyễn tướng nơi nhân gian làm mê hoặc. Điều quý vị nhìn thấy chưa chắc đã là chân thật; điều quý vị không nhìn thấy cũng chưa chắc là hư ảo. Mọi việc đều cần nương vào sự giác ngộ và trí huệ để phân biệt. 

Tu pháp chính là một quá trình thể ngộ. Tu pháp là tu sửa chính mình ngay trong đời sống nhân gian, là tu hành giữa các pháp môn của đời sống con người. Pháp nơi nhân gian là gì? Chính là làm việc thiện, tạo công đức, giúp đỡ người khác; thành tựu “đại ngã”, chế ngự “tiểu ngã”. Tất cả những điều ấy đều thuộc về sự tu hành giữa nhân gian. Ở đời phải lấy thiện đãi người, phải biết giúp đỡ, thực hành bố thí… Những điều này đều là đang tu pháp. Tu pháp cũng là quá trình thể nghiệm và giác ngộ từ chính cảm thọ của mình; từ đó ngộ ra đạo lý nhân gian, rồi đem đạo lý ấy giúp người khác. Khi quý vị giúp người, người cũng sẽ giúp lại quý vị. Sau khi khai ngộ, quý vị sẽ hiểu rằng: khi mình niệm kinh, Bồ Tát sẽ gia hộ, sẽ bảo hộ cho mình.

Người có tâm bị tướng chuyển, bị cảnh mê hoặc, thì sẽ đảo lộn gốc ngọn; nghĩa là rất nhiều người để cho tâm mình xoay chuyển theo cảnh giới. 

Ví dụ, mọi người đều đang làm một việc gì đó, mình cũng làm theo. Rõ ràng việc ấy không phải điều thiện, nhưng vì thấy người khác làm mà mình cũng làm, như vậy chẳng phải là đã đảo lộn gốc ngọn sao? Quý vị bị mê hoặc bởi cảnh tượng “ai cũng làm”, mà đánh mất lương tâm và bản tính tốt đẹp vốn có; chỉ nhìn thấy bề ngoài hư ảo mà quên mất nội tâm chân thật. Quý vị có hiểu đạo lý này không? Vì vậy, tâm không nên bị hoàn cảnh xoay chuyển. Khi mọi người đều làm một việc, chưa chắc mình phải làm theo. Người khác có chuyển thế nào, mình cũng không nhất thiết phải chuyển theo. Phải ghi nhớ: đừng để cảnh tượng trước mắt làm mê hoặc; tuyệt đối không được lấy giả làm thật. Cần học cách tâm không theo cảnh mà chuyển; linh không theo duyên mà chuyển, tức là linh không theo nghiệp mà chuyển.

Sư phụ dạy rằng, các đệ tử phải ghi nhớ: hãy đem mười phương ba đời chư Phật an trụ vào trong tâm mình. Tâm của quý vị phải giống như một vườn hoa, quanh năm nở rộ, bốn mùa như xuân, để chư Phật được gieo trồng và hiện hữu trong đó. Hãy đặt Phật trong tâm mình, hợp nhất với Phật, hợp nhất với Bồ Tát. Khi tâm đã tương ưng như vậy, thì quý vị chính là Phật, là Bồ Tát. Khi đem hình tượng của Bồ Tát, ngôn ngữ của Bồ Tát đặt vào trong tâm, ghi sâu vào ý thức; từ thân thể cho đến linh hồn đều thấm nhuần phẩm chất của Bồ Tát, vậy quý vị nói xem, mình có phải đang dần trở thành Bồ Tát hay không? Đó chính là điều Phật pháp gọi là tức thân thành Phật. 

Sư phụ còn dạy một pháp môn gọi là vô niệm. Vô niệm nghĩa là trong tâm không khởi vọng niệm. Khi một người niệm kinh mà trong tâm không có tạp niệm xen vào, tâm rỗng rang, thanh tịnh, đó chính là diệu pháp. Vô niệm không phải là không có suy nghĩ, mà là không chấp trước vào niệm. Khi trong tâm không còn chấp trước, thì mọi phiền não cũng không còn được xem là phiền não. Ví dụ, khi sinh khởi phiền não, đừng nghĩ đến nó, hãy buông xuống, để nó tự qua đi – đó chính là vô niệm. Tất cả phiền não, đừng hồi tưởng, đừng lặp lại trong tâm, đừng lưu giữ chúng. Điểm này vô cùng quan trọng. Người lớn tuổi thường thích nhớ lại những chuyện không vui trong quá khứ – đó chính là một loại chấp niệm. Việc đã qua thì không cần quay lại. Phiền não của hiện tại rồi cũng sẽ trở thành quá khứ; vì vậy hãy hóa giải ngay trong hiện tại, để nó tự nhiên trôi qua. Phiền não của tương lai thì đừng khởi nghĩ. Hãy học cách làm cho nội tâm rỗng rang, đoạn trừ những phiền não của chính mình. Khi ấy, sự thông minh nơi thế gian mới có thể chuyển hóa thành trí tuệ. Phải đem cái thông minh của nhân gian chuyển thành trí tuệ của Phật, của Bồ Tát.

Sư phụ mong rằng quý vị tinh tấn học Phật, nghiêm túc làm người. Tuyệt đối đừng khắc ghi phiền não trong tâm; cũng đừng giữ mãi những chuyện đã qua trong lòng. Phải học cách buông xuống ngay trong hiện tại, thuận theo nhân duyên mà an nhiên sống.

QUYỂN 2 – TẬP 21
HỌC THEO HẠNH “VĂN THANH CỨU KHỔ” CỦA QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT, HOẰNG PHÁP ĐỘ SINH LÀ PHÁP MÔN BẤT NHỊ
( 学习观世音菩萨闻声苦,弘法救度众生不二法门)

Chúng ta mỗi ngày trì niệm thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát. Vậy nên niệm như thế nào cho đúng pháp? Danh xưng đầy đủ, chân chính là: “Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quảng Đại Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát.” Người bình thường thường niệm: “Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát” hoặc “Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát.” Khi trì niệm thánh hiệu, trước hết nên bắt đầu bằng việc tụng kinh. Nghĩa là không chỉ đơn thuần xưng danh, mà nên tụng kinh trước, sau đó mới niệm thánh hiệu. Sư phụ hiện nay dạy quý vị một điều rất quan trọng: trong sinh hoạt thường ngày, tụng kinh kết hợp xưng niệm thánh hiệu sẽ tạo nên sự cảm ứng lớn lao tương hỗ lẫn nhau.

Vì vậy, khi quý vị gặp tai nạn hoặc hoạn nạn, nếu không kịp tụng các bộ kinh dài, chỉ cần xưng niệm thánh hiệu cũng được. Phải từ nơi nội tâm mà phát khởi lời cầu nguyện: “Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, xin cứu con…” Nếu tình thế quá cấp bách, có thể trực tiếp gọi: “Quán Thế Âm Bồ Tát…” Bởi lòng từ bi của Ngài vô cùng sâu rộng, tâm cứu độ chúng sinh hết sức khẩn thiết; chỉ cần quý vị khởi một niệm xưng danh, lập tức sẽ có sự cảm ứng. Quý vị nhất định phải ghi nhớ: chỉ cần thành tâm cầu cứu, ắt sẽ được gia hộ. Vì Ngài là bậc “nghe tiếng kêu khổ mà cứu”, là vị Bồ Tát “có cầu tất ứng”. Do Ngài cùng chúng sinh trong cõi khổ nạn có túc duyên sâu dày, có lẽ trong nhiều đời trước quý vị đã từng lễ bái và cầu thỉnh. Nhân duyên ấy vốn đã sớm kết nối, nên chỉ cần khởi tâm cầu nguyện liền được linh ứng.

Lòng từ bi của chư Phật rộng lớn; trong phương diện cứu khổ cứu nạn nơi thế gian, Quán Thế Âm Bồ Tát là vị thay Phật rủ lòng từ mà cứu độ. Ngài tiêu biểu cho hạnh đại từ đại bi cứu giúp chúng sinh trong hàng chư Phật, chư Bồ Tát. Vì vậy, khi thật sự gặp khó khăn, dù cầu thỉnh vị Bồ Tát nào, cũng nên trước hết hướng tâm đến Quán Thế Âm Bồ Tát, bởi Ngài là bậc đại diện cho hạnh cứu khổ cứu nạn. Khi còn tại thế, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng khuyên chúng sinh nên cầu niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát. Ngài từng dạy rằng trong vô lượng kiếp quá khứ, Quán Thế Âm Bồ Tát đã sớm viên mãn thành Phật; sự thành Phật ấy còn trước cả Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Tuy nhiên, do đại nguyện từ bi sâu rộng nhằm thành tựu đạo nghiệp cho hết thảy chúng sinh, Ngài vẫn thị hiện thân Bồ Tát để cứu độ muôn loài. Tâm từ bi của Ngài là tấm gương tiêu biểu và mẫu mực cho chư Phật, chư Bồ Tát. Mỗi vị Bồ Tát khi thành tựu đạo quả đều phát những đại nguyện khác nhau, như Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. Mỗi vị có nguyện lực riêng biệt, mỗi nguyện lực đều có đặc điểm và sở trường khác nhau; tuyệt đối không nên đem các vị ra so sánh với nhau. Điều này cần phải ghi nhớ, vì chư Bồ Tát đều đầy đủ trí tuệ viên dung, chỉ khác nhau ở nguyện lực mà thôi. Khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, Ngài cũng khuyên những chúng sinh đang chịu khổ nạn nên niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, huống hồ là chúng ta ngày nay?

Tiếp theo, Sư phụ giảng về “kiến địa tương đẳng”. Theo cách nói hiện nay, đó là sự tương ưng về nhận thức và trình độ hiểu biết giữa hai người. Ví dụ, quý vị từng du học tại Mỹ, người kia từng du học tại Anh; như vậy có thể xem là kiến địa tương đẳng. Trong việc học Phật cũng vậy, nền tảng tu học cần có sự tương xứng; chỉ khi hai bên ở cùng một mức độ nhất định, quý vị mới có thể truyền trao Phật pháp thù thắng ấy cho người kia. Thuở xưa nói “Phật truyền Phật”, nghĩa là sự truyền thừa diễn ra trong sự tương ưng sâu sắc, không giống như hình thức giảng dạy đại trà ngày nay, mà là sự truyền trao trực tiếp, cá biệt. Hiện nay là thời mạt pháp, nếu muốn truyền trao từng người một, thì kiến địa của người được truyền cần tương đồng với người truyền; tức là trình độ văn hóa, mức độ tín tâm và cảnh giới tu học phải có sự tương hợp. Đó gọi là kiến địa tương đẳng. Chỉ khi có sự tương ưng ấy mới có thể hình thành sự truyền thừa chân chính; việc cứu độ chúng sinh ngày nay cũng không ngoài nguyên tắc đó.

Nếu quý vị hiểu biết nhiều điều nhưng đó không phải là chân lý chân chính của chư Phật, chư Bồ Tát mà chỉ là những đạo lý thế gian, thì cũng giống như trong tâm đã đổ đầy nước; khi nước đã đầy, sẽ không thể thêm vào nữa, nghĩa là không còn khả năng tiếp nhận những chân lý cao sâu và thuần tịnh hơn. Ví như mùa đông muốn uống nước nóng, nhưng trong ly đã có sẵn nước lạnh; dù thêm nước nóng vào thì nước trong ly cũng chỉ trở thành ấm, chứ không thể là nóng thực sự. Chỉ khi đổ bỏ nước lạnh đi, rót vào hoàn toàn nước nóng, mới có được nhiệt độ thuần nhất. Vì thế, quý vị cần làm cho tâm mình thanh tịnh, buông bỏ những chấp trước đối với những điều đã từng học trước đây; không nên giữ trong tâm ý niệm “pháp môn này học một ít, pháp môn kia học một ít”. Nếu không, làm sao có thể tiếp nhận trọn vẹn pháp môn thù thắng được truyền dạy? Học Đông một ít, học Tây một ít, thực chất chỉ là pha trộn những điều mà chính mình cũng chưa chắc đã hiểu rõ đúng sai. Tu tâm cần có cảnh giới chuyên nhất; ví như mỗi ngày được tưới tẩm bằng “nước nóng”, nhưng nếu không chịu buông xả những tạp niệm cũ, thì rốt cuộc chỉ có thể nhận được “nước ấm”, mà không thể thọ hưởng sự tinh thuần trọn vẹn. Đó chính là cách dùng lời lẽ giản dị để giảng giải Phật pháp.

Vậy làm thế nào để đạt được pháp môn này? Hãy ghi nhớ rằng cần chuyên tâm thâm nhập một đường tu học. Nếu bản thân quý vị có quá nhiều ý kiến riêng, tâm trở nên tạp loạn, lại thường xuyên tiếp xúc với đủ loại người và sự việc cùng những thị phi tranh chấp của thế gian, thì những điều thiêng liêng và thuần tịnh sẽ khó có thể đi vào nội tâm, càng không thể bén rễ vững chắc. Bởi lẽ, những giá trị thiêng liêng không dung chứa sự tạp nhiễm hay cấu uế. Nghĩa là trong tâm không nên còn lưu giữ những điều không tương hợp với con đường mình đang theo đuổi. Đó chính là biểu hiện của cảnh giới tu học. Vì vậy, cần chuyên nhất thâm nhập; đời người hữu hạn, thời gian một kiếp sống chỉ đủ để chuyên tâm theo đuổi một hướng đi. Học quá nhiều chưa chắc đã tinh tấn, lại càng khó đạt đến chiều sâu, thậm chí có thể không thành tựu.

Pháp môn của Sư phụ được mọi người kính ngưỡng là bởi đây là pháp môn thích hợp và lợi lạc cho hàng cư sĩ tại gia, thuận tiện trong tu học và ứng dụng vào đời sống thường nhật. Trên con đường hoằng pháp, chúng ta cần kiên trì đến cùng; việc cứu độ chúng sinh cũng phải thực hiện đến nơi đến chốn. Chỉ cần quý vị thường xuyên quan tâm đến người khác, người khác tự nhiên sẽ quan tâm lại quý vị; thường khởi tâm từ bi đối với người, ắt sẽ được chư Bồ Tát từ bi gia hộ.

Nói với quý vị một đạo lý: quan tâm người khác chính là quan tâm chính mình; khởi tâm từ bi với người cũng chính là từ bi với chính mình. Con người thường mê muội ở chỗ chỉ biết nghĩ cho mình mà quên nghĩ cho người; nhưng thực ra, chỉ lo cho mình mà bỏ quên người khác rốt cuộc lại là tự làm tổn hại chính mình, đó là quy luật nhân duyên tương tác trong đời sống. Khi quý vị biết cho đi, điều nhận lại không chỉ là lợi ích hữu hình, mà còn là niềm vinh quang cao thượng, là sự hoan hỷ sâu xa, là ý nghĩa chân thật của đời người. Bố thí chính là chân nghĩa ấy, từ bi cũng chính là chân nghĩa ấy. Người không hiểu bố thí và từ bi khó có thể cảm nhận được pháp hỷ; cũng như người chưa từng khen ngợi ai thì hiếm khi được người khác khen ngợi lại, tự mình đánh mất cơ hội vui vẻ và hạnh phúc.

Chỉ khi đạt đến sự bình đẳng và tương ưng mới có thể âm thầm trao truyền; nếu không, sự truyền trao ấy dễ trở thành vọng truyền. Thế nào gọi là vọng truyền? Ví như người kia không tin chư Phật, chư Bồ Tát, quý vị giảng giải nhiều lần mà cuối cùng họ vẫn không khởi tín tâm, thì sự truyền dạy ấy trở nên vô ích. Thuở xưa, các đệ tử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni theo Ngài học Phật, tu tâm, trước hết đều khởi lòng tin nơi Đức Phật; nhờ có niềm tin ấy, Ngài mới có thể truyền trao pháp môn cho họ. Ngày nay, quý vị theo Sư phụ học Phật cũng là vì có tín tâm nơi Sư phụ, nơi pháp môn được truyền dạy và nơi Quán Thế Âm Bồ Tát. Giữa thầy và trò cần có sự tương ưng bình đẳng; bởi quý vị có căn cơ, có sự giác ngộ và nền tảng tu học từ nhiều đời trước nên mới có thể tiếp nhận pháp môn. Nếu thiếu niềm tin ấy, thì dù có truyền dạy, kết quả cũng khó thành tựu.

Hôm nay giảng đến đây. Lần sau sẽ tiếp tục bàn về ý nghĩa của bình đẳng và diệu pháp.

QUYỂN 2 – TẬP 22
NIỆM PHẬT DIỆU PHÁP QUÝ Ở “THÀNH”, TU DƯỠNG Ý NIỆM QUÝ Ở “THUẦN”
(念佛妙法是“诚”,意念修养是“纯”)

Tiếp theo xin giảng về sự bình đẳng trong truyền pháp. Bình đẳng ở đây nghĩa là tôi truyền cho quý vị, quý vị lại truyền cho người khác; trong việc truyền pháp, giữa người với người hoàn toàn bình đẳng. Niềm tin, quan niệm và nền tảng nhận thức trong khi truyền pháp cũng cần có sự tương ưng bình đẳng. Tuy nhiên, nếu một người ngay cả Bồ Tát còn không tin, thì làm sao có thể nói đến bình đẳng? Bình đẳng ở đây là chỉ sự tương xứng về tố chất, về khả năng lĩnh hội và về quan niệm; nghĩa là điều quý vị tin cũng là điều tôi tin, tín niệm và nhận thức có sự tương hợp thì mới có thể giảng pháp cho nhau. Khi đạt được sự bình đẳng ấy, có một nguyên tắc gọi là “mặc phó”, tức là âm thầm trao truyền và lặng lẽ hiến dâng. Cứu người cần âm thầm mà làm, lặng lẽ trao đi chân tình và thiện ý của mình; đó mới gọi là sự truyền pháp bình đẳng chân chính.

Chỉ khi đạt được Phật pháp, mới có thể nói đến cảnh giới cá nhân của mình. Cảnh giới ấy cần nương vào việc học Phật và trì niệm kinh điển mà dần dần nâng cao; khi cảnh giới được nâng cao rồi, mới có thể thoát khỏi phiền não. Nếu mỗi ngày chỉ nghĩ đến phiền não, thì trong tâm sẽ đầy ắp phiền não, bởi phần lớn phiền não đều do chính mình khởi niệm mà thành; có người còn chưa thật sự gặp chuyện đã bắt đầu lo nghĩ và tự tạo ra phiền não cho mình. Hễ ngày ngày nghĩ đến phiền não, thì phiền não cũng sẽ tìm đến; khi tâm đã chất chứa phiền não, con người khó giữ được sự thanh tịnh. Thử nghĩ xem, nếu tâm không thanh tịnh thì làm sao truyền pháp? Bình đẳng ở đây chính là kiến địa bình đẳng, tức là sự tương đồng trong nhận thức và hiểu biết; khi quan niệm và kiến giải của mọi người có sự tương ưng, nghĩa là tâm với tâm đạt đến sự bình đẳng, thì khi ấy mới có thể truyền pháp và tiếp nhận pháp một cách chân chính.

Trong nhân quả tích lũy từ nhiều đời trước, nghiệp chướng nơi thân người đã được hình thành; chỉ cần có duyên khởi tác động, liền có thể bùng phát. Nếu ví nghiệp chướng như thuốc nổ, thì những tập khí và nhân tố bất thiện đã tích tụ sẵn trong thân tâm chính là chất liệu; hễ có một tia lửa nhỏ chạm đến, nghiệp lực liền phát tác. Ngược lại, nếu trong thân tâm chứa đựng những yếu tố thanh tịnh và thiện lành, thì dù có kích động thế nào cũng khó khởi lên điều xấu ác. Cũng giống như việc ngày ngày nói đến phát tài, nhưng nếu bản thân không có nền tảng và điều kiện tương ưng thì cũng không thể thành tựu. Nếu trong người đã chất chứa nhiều nhân tố bất thiện, chỉ cần người khác khởi lời chê trách, tâm liền dao động và điều xấu dễ dàng hiển lộ. Bởi vậy, từ xưa mới có câu: điều tốt khó thấy ứng nghiệm ngay, còn điều xấu lại dễ hiển hiện.

Bình đẳng tu pháp chính là tu dưỡng nơi ý niệm. Khi ý niệm của một người đạt đến một mức độ nhất định, tự nhiên sẽ hình thành một loại nội chất, đó gọi là tu dưỡng; cảnh giới càng cao thì tu dưỡng càng sâu. Những người thiếu ý thức nơi công cộng, tùy tiện làm điều bất nhã hoặc xâm phạm lợi ích chung, thử hỏi có thể nói là có tu dưỡng cao hay không? Tu dưỡng của họ thấp, kiến địa cũng thấp, bởi cảnh giới chưa đến nên họ cho rằng những hành vi ấy không đáng kể. Cách nhìn như vậy lâu ngày sẽ hình thành trong nội tâm một loại “nền tảng” tương ứng với tập khí bất thiện. Vì thế, tu hành trước hết phải chỉnh đốn ý niệm, nâng cao cảnh giới, thì nội chất mới dần thanh tịnh.

Sư phụ nay giảng về diệu pháp niệm Phật: vì sao cùng là niệm Phật mà có người cảm ứng, có người lại chưa thấy linh nghiệm? Bởi trong đó có một diệu pháp vi tế.

Trước hết, dù là pháp thế gian hay xuất thế gian, thảy đều lấy chữ “thành” làm gốc; có thành tâm thì mới có thể tiêu trừ nghiệp chướng và tăng trưởng thiện căn. Diệu pháp của việc tu tâm niệm kinh cốt ở sự chân thành; suy cho cùng cũng chỉ quy về một chữ “thành”. Một người nếu không có thành tâm thì làm sao có thể niệm kinh, tu tâm một cách chân thật? Thành tâm ắt tiêu trừ nghiệp chướng; người chí thành trì niệm, mỗi khi khởi niệm tụng kinh đều có thể hóa giải nhiều nghiệp lực. Khi niệm kinh cần dùng tâm chí thành, như vậy mới có thể nuôi lớn thiện căn và khai mở trí huệ.

Thứ hai là “tức lự vong duyên, nhất tâm tịnh niệm”. Nghĩa là khi trì niệm kinh điển, cần buông lắng mọi ưu tư và lo lắng trong tâm, tạm thời gác lại hết thảy các duyên hệ thế gian, bất luận người ấy có quan hệ gì với mình; tất cả những vướng mắc và ràng buộc đều nên lắng xuống. Chỉ như vậy mới đạt đến thành tâm tịnh niệm. Khi đã lắng lo và quên duyên, tâm an trú trọn vẹn trong Phật pháp, thì chỉ còn một niệm thanh tịnh duy nhất, không xen tạp, gọi là nhất tâm tịnh niệm. Đến lúc ấy, dường như được nghe thánh âm, đích thân lắng nghe viên âm nhiệm mầu; tựa như nghe tiếng trời thanh khiết, như được nghe lời dạy từ bi của Quán Thế Âm Bồ Tát, cảm nhận sự gia hộ gần gũi và rõ ràng. Thực chất, đó chính là sự cảm ứng nội tâm khi tâm đạt đến thanh tịnh và chuyên nhất.

Thứ ba là “tiềm thông Phật trí, ám hợp diệu đạo”. Nghĩa là khi công phu trì niệm đã đạt đến chiều sâu, tâm dần dần thâm nhập và tương thông với trí tuệ của chư Phật, chư Bồ Tát, tự nhiên tìm được con đường tu tập đúng đắn. Khi niệm kinh đến mức tâm và cảnh giới của Bồ Tát có sự tương ưng, lúc ấy mới có thể học hỏi và thể nhập phần nào trí tuệ của các Ngài. Tu tâm đến khi đạt sự tương xứng về cảnh giới, mới có thể gọi là tiềm thông Phật trí, ám hợp diệu đạo; “ám hợp” ở đây có nghĩa là tương hợp một cách tự nhiên, không gượng ép, như đúng lúc, đúng chỗ mà hòa vào diệu lý.

Thứ tư là “thành đáo cực xứ, khoát nhiên quán thông”. Nghĩa là khi chí thành trì niệm, trong tâm hoàn toàn tin sâu nơi chư Phật, chư Bồ Tát, không còn xen tạp một niệm nghi hoặc hay vọng tưởng nào, thì bỗng nhiên tâm trí sáng tỏ, mọi điều dường như được khai thông. Học Phật suy cho cùng chính là trọng ở một chữ “ngộ”.

Lấy thành làm gốc để tiêu trừ nghiệp chướng và tăng trưởng thiện căn; lắng lo quên duyên để đạt nhất tâm tịnh niệm; tiềm thông Phật trí, ám hợp diệu đạo; thành đến chỗ cùng cực thì khoát nhiên quán thông, đó chính là diệu pháp của việc trì niệm kinh điển.

Có câu: “Chính nhân hành tà pháp, tà pháp cũng thành chính; tà nhân hành chính pháp, chính pháp cũng thành tà.” Nghĩa là nếu con người ngay thẳng, dù có lỡ thực hành điều còn thiên lệch, nhưng tâm ý vẫn chính trực, thì điều được nói ra vẫn không rời chánh đạo. Ngược lại, nếu tâm đã lệch lạc, thì dù học và thực hành chính pháp, kết quả cũng có thể biến thành sai lệch. Phật pháp vốn là chánh pháp, vậy vì sao lại xuất hiện tà đạo, tà kiến? Bởi khi chánh đạo bị người tâm không chính đem ra thực hành, chánh đạo ấy dễ bị biến dạng. Vì thế, trong quá trình tu học, điều quan trọng nhất là tự thân phải giữ cho chính; nếu tâm không chính, thì dù học pháp chân chính, lời nói ra cũng có thể trở thành lệch lạc. Ví như người tâm tà học chính pháp, rồi dùng giáo lý làm công cụ công kích người khác, lấy từng điều giới luật của Bồ Tát để áp đặt hay phê phán người này người kia, thì đó đã là sự lệch khỏi tinh thần từ bi của Phật pháp. Học Phật không phải để nói lỗi người khác, càng không phải để dùng giới luật làm thước đo cưỡng ép người khác. Khi nội tâm còn u tối, dù đứng giữa ánh sáng vẫn là u tối; khi nội tâm sáng tỏ, dù ở trong hoàn cảnh tối tăm vẫn giữ được ánh sáng.

Khi ta còn chưa sinh ra, ai là ta? Trước khi được sinh thành, “ta” ở nơi nào? Đến lúc được sinh ra, ta là ai? Sau khi lớn lên, trưởng thành, có phải đó chính là ta chăng? Ta có biết mình ở đời trước là ai, đời trước nữa lại là ai không? Khi trưởng thành rồi mới gọi là ta ư? Vậy rốt cuộc ta là ai? Suốt một đời người, có mấy ai thật sự hiểu rõ mình là ai? Đến khi nhắm mắt xuôi tay, ánh nhìn mờ dần, mọi cảnh vật trước mắt đều nhạt nhòa, lúc ấy ta lại là ai? Con người từ lúc sinh ra đến khi lìa đời, dường như sống trong mơ hồ, cả một kiếp người trôi qua thật chóng vánh. Nghĩ lại xem, đó là cảm giác gì? Bởi vậy mới nói, nếu ngay chính mình còn không biết mình là ai, thì đời người chẳng qua chỉ như một lữ khách vội vàng nơi thế gian: đến cũng vội vàng, đi cũng vội vàng. Điều cần thiết là phải tìm cho được điều chân thật, tìm ra ý nghĩa rốt ráo của chính mình.

Học Phật cần học cách im lặng; im lặng là lời đáp tốt nhất trước sự phỉ báng. Khi người khác nói điều không đúng về mình, phản ứng tốt nhất thường không phải là biện bạch, mà là giữ sự lặng im. Học theo hạnh Bồ Tát cũng cần biết im lặng; không phải là im lặng bề ngoài, càng không phải sự nhẫn nhịn gượng ép, mà là trong tâm biết hóa giải ác duyên, chuyển oán kết thành bình hòa. Sự im lặng của người học Phật phải mang tinh thần đại từ đại bi, tâm lượng rộng lớn, tùy duyên mà cứu độ. Chư Bồ Tát tuy lặng lẽ nhưng thấu suốt mọi hành vi của chúng sinh; các Ngài không nhiều lời, song vẫn toát lên oai nghiêm và từ lực. Vì thế, con người tu học cũng nên giữ phong thái chững chạc, không dao động trước lời khen chê, không vì lời người khác mà mất đi sự an định nội tâm; giữ được im lặng chính là giữ được uy nghi và sức mạnh chân chính của tự thân.

Có câu: “im lặng là vàng”; lời nói càng nhiều, sai lầm càng dễ tăng. Không ít người trong đời thất bại cũng bắt nguồn từ lời nói thiếu thận trọng; việc gì cũng thích nói, dù là việc thiện hay việc chưa thiện đều muốn phô bày. Người học Phật cần ghi nhớ rằng tu tâm và làm công đức quý ở chỗ chân thật và lặng lẽ; công phu làm nơi nội tâm mới là bền vững, tự nhiên sẽ được người cảm nhận và trân trọng. Hãy học theo sự im lặng của chư Phật, chư Bồ Tát, rèn luyện định lực của chính mình, để giữa hoàn cảnh rối ren vẫn giữ được bất động, trước thuận cảnh hay nghịch cảnh đều không buông lung dao động. Muốn vậy phải thường xuyên huân tập và tự chế ngự tâm mình, học cách “như như bất động”, không để tâm chạy theo ngoại cảnh. Dù ở thuận duyên hay nghịch duyên, tâm vẫn an nhiên và quân bình; đó chính là một trong những nền tảng căn bản của người học Phật.

QUYỂN 2 – TẬP 23
NẮM VỮNG PHÁP CHẤP, NHẤT MÔN THÂM NHẬP
(掌握法执,一门深入)

Người tu học Phật pháp cần ghi nhớ không tham, không sân, không si. Nếu có ai nói có thể giúp quý vị cầu tài cầu lợi, lúc ấy phải đặc biệt thận trọng, bình tâm suy xét xem điều đó có phù hợp với chánh pháp hay không. Việc cầu tài không phải mục đích của sự tu học; của cải là do nhân duyên bố thí mà thành, là quả báo từ những thiện nghiệp đã gieo trồng trong quá khứ, chứ không phải do cầu xin mà có. Chúng ta tu học là để cầu chánh pháp, cầu con đường đúng đắn, nhằm nuôi dưỡng thân tâm khỏe mạnh và thanh tịnh. Chỉ khi thân thể an ổn, tâm trí sáng suốt và lành mạnh, mới có thể chuyên tâm tu dưỡng, trì niệm kinh điển và học Phật một cách chân chính.

Có người nói rằng cầu cho thân thể khỏe mạnh chẳng phải cũng là một sự mong cầu hay sao? Xét cho cùng, thân thể này do cha mẹ sinh thành; trong cõi nhân gian, mỗi người đều phải đối diện với nghiệp chướng và những tai ương do nhân quả chiêu cảm. Giữ gìn thân thể khỏe mạnh cũng là một cách báo hiếu và tự chịu trách nhiệm với đời sống của mình. Hơn nữa, khi còn ở trong vòng nghiệp báo, dù là thiện nghiệp hay ác nghiệp, chúng ta mong tiêu tai giải nạn, được bình an cát tường, đồng thời có sức khỏe tốt để tu tập, đó là sự mong cầu chân chính. Còn những mong cầu thiên lệch như cầu tài lộc, cầu danh vị, cầu quyền thế… đều thuộc về chấp trước thế gian. Tu học không nhằm thỏa mãn dục vọng cá nhân; của cải hay địa vị vốn do nhân duyên và phúc báo mà thành, không phải do cầu xin mà được. Nếu mong cầu thân tâm an ổn, công việc thuận lợi, học tập tiến bộ, gia đình hòa hợp để có điều kiện tu dưỡng tốt hơn, đó là chính cầu, tương hợp với chánh đạo và tự nhiên cảm được sự gia hộ từ bi. Vì vậy, người học Phật cần luôn giữ tâm ngay thẳng, không đi vào lệch lạc; bởi hễ gieo nhân nào thì sẽ thọ quả ấy, và mỗi lời nói, mỗi hành vi đều phải tự mình chịu trách nhiệm.

Nếu thấy một pháp môn liền sinh tâm yêu thích, rồi gặp pháp môn khác lại đổi hướng, thì người ấy khó có thể học Phật đến nơi đến chốn. Nhất môn tinh tấn nghĩa là khi đã nhận rõ con đường phù hợp, thì kiên trì thực hành đến cùng. Cũng như trong việc tu học, chỉ khi hiểu được nguyên tắc và cốt lõi của một pháp, mới có thể xác định và vững tin nơi pháp môn ấy. Nếu cứ thấy pháp môn nào cũng thích, tâm sẽ dễ dao động và sinh phiền não. Ví như trước đây đã theo một pháp môn để tu học, sau đó nghe nói đến pháp môn khác rồi cảm thấy hay hơn mà bỏ dở con đường cũ, lúc ấy nội tâm liền phát sinh nghi hoặc: những gì đã tu trước kia có nên tiếp tục không, hay phải bắt đầu lại từ đầu? Sự phân vân ấy chính là nguồn gốc của bất an. Vì vậy cần ghi nhớ, học pháp nên chọn cho mình một hướng đi thích hợp và chuyên tâm thâm nhập, nhất tâm tiến bước, không nên nhìn đông ngó tây khiến tâm ý tán loạn.

“Nhất môn thâm nhập” cũng gọi là Nhất pháp thông.Thế nào gọi là “nhất pháp thông”? Nghĩa là khi quý vị học bất kỳ một pháp môn chân chánh nào, pháp môn đó đều có thể dẫn đến chỗ thông suốt. Bất kỳ pháp môn nào cũng đều giúp con người tinh tấn, làm việc tốt, làm điều thiện. Khi tìm được pháp môn phù hợp nhất với mình, quý vị sẽ càng học càng hoan hỷ, càng học càng được lợi ích. Pháp môn như vậy chính là con đường giúp quý vị thông đạt Phật pháp. Nhưng có nhiều người học một pháp môn mà rõ ràng học không thấy vui, không thấy khai thông, lại vẫn cố chấp bám chặt ở trong đó. Thực ra, trong trường hợp này, rất có thể quý vị đã học lệch hướng rồi.

Rất nhiều người trước đây đã từng học những pháp môn khác, nhưng vì sao khi gặp được pháp môn của Sư phụ lại cảm thấy rất hoan hỷ? Đó là vì họ đã tìm được một pháp môn phù hợp nhất với căn cơ của mình. Khi đã tìm được pháp phù hợp, thì phải thực hành cho đến mức một pháp thông. Khi nhất pháp thông, cũng tương đương với vạn pháp thông. Ví dụ, khi giảng pháp cho quý vị, Sư phụ không chỉ nói riêng về pháp môn của mình, mà còn giảng đến tinh hoa của các pháp môn khác. Khi quý vị từ một pháp môn này mà tinh tấn tu học lâu dài, dần dần sẽ hiểu thông nhiều pháp khác. Như vậy quý vị sẽ không đi lệch hướng, vì đã nắm được tinh yếu của pháp môn mình đang tu, đồng thời cũng hiểu được điểm hay của các pháp môn khác để làm sự hỗ trợ.

Nếu một pháp môn nào đó thực sự phù hợp với quý vị, thì hãy nhất môn tinh tấn. Khi nhất môn tiến nhập, quý vị sẽ dần đạt đến nhất pháp thông, và từ đó có thể vạn pháp thông. Ví dụ như cha mẹ dạy con từ nhỏ biết lễ phép, không chửi mắng người khác, không tùy tiện động vào đồ của người khác. Những điều tốt đẹp ấy khi đã thấm vào tâm, thì suốt đời đi đến đâu cũng đều được lợi ích, không dễ phát sinh tranh cãi với người khác. Quý vị nói xem, đó chẳng phải là từ một điều hiểu thông mà ứng dụng được vào rất nhiều việc hay sao? Ngược lại, có nhiều người từ nhỏ cha mẹ ly tán, gia đình bất hòa… Lớn lên trong môi trường như vậy, đứa trẻ rất dễ đi sai đường, dễ kết giao với bạn xấu rồi làm điều không đúng. Đứa trẻ ấy vì thiếu nền tảng đúng đắn nên rất dễ đi lệch hướng. Ví dụ này cho thấy rằng khi hiểu thấu một đạo lý, sẽ dần đi đến nhất pháp thông, và từ đó có thể ứng dụng rộng rãi trong đời sống. Vì vậy, quý vị cần tinh tấn tìm cho mình một pháp môn phù hợp, rồi kiên trì tu học lâu dài, như vậy mới thật sự có thể đạt được thành tựu. 

Khi quý vị đã đạt đến nhất pháp thông, thì dần dần sẽ đi đến vạn pháp thông. Khi đã có thể vạn pháp thông, thực ra cũng có nghĩa là quý vị đã kết được một thiện duyên với các pháp môn khác. Hôm nay, Sư phụ cũng kết duyên với tất cả các pháp môn. Có thể hiểu thế này: ta không nhất định phải tu học theo các pháp môn khác, nhưng ta có thể kết duyên với họ. Vì tất cả các pháp môn chân chính đều là để cứu độ chúng sinh, đều giống như những vị lương y chữa bệnh cứu người. Ta không nhất định phải tìm đến từng vị bác sĩ để chữa bệnh, nhưng tất cả các bác sĩ cứu người đều là những người mà ta kính trọng.

Cần tu đến chỗ gọi là pháp tương ưng. “Pháp tương ưng” nghĩa là có sự thích hợp và hòa hợp ở mức độ căn bản với các pháp khác. Ví dụ, trước khi tu học theo pháp môn của Sư phụ, quý vị đã từng học qua một chút các pháp môn khác, có sự tương ưng với một số nền tảng căn bản, điều đó hoàn toàn không sai. Thế nào gọi là nền tảng? Trước khi gặp được Sư phụ, không thể nào quý vị hoàn toàn không biết gì, không hiểu gì. Cũng không thể đến tận hôm nay mới bắt đầu học thế nào là Bồ Tát, thế nào là Phật, thế nào là thiện duyên, thế nào là ác duyên. Nếu ngay cả những đạo lý Phật học căn bản này cũng không hiểu, thì làm sao có thể theo học một pháp môn chuyên sâu để đi đến chỗ thông suốt? Thật ra, trước khi theo học pháp môn này, quý vị đã có nền tảng rồi, đã biết cách lễ bái chư Phật Bồ Tát, đã hiểu rằng các Ngài cứu độ chúng sinh như thế nào. Tuy nhiên, quý vị cũng không nên đào quá sâu vào các pháp môn khác. Chỉ cần hiểu một chút, học một chút, biết một chút để hỗ trợ cho việc tu học của mình là đủ. Nếu khi giảng pháp mà ngay cả một chút giáo lý, quy tắc căn bản của các pháp môn khác cũng không hiểu, thì làm sao có thể cứu độ được nhiều chúng sinh hữu duyên hơn? Sư phụ thường giảng cho người thuộc các tôn giáo khác biết điểm khác biệt giữa tôn giáo của mình với tôn giáo của họ, đồng thời cũng chỉ ra vì sao những đạo lý căn bản lại có chỗ tương đồng. Thực ra, các tôn giáo đều có những nguyên lý hướng thiện tương thông với nhau.

Mọi người cần hiểu cách dùng nhất pháp thông để đi đến vạn pháp thông. Nếu quý vị nhất môn tinh tấn, thì các pháp môn khác quý vị cũng sẽ dần dần hiểu rõ. Sau khi đạt đến chỗ nhất pháp thông, sẽ có một vị Bồ Tát tương ứng gia hộ cho quý vị, nghĩa là có một vị Bồ Tát chuyên biệt đến gia trì, bảo hộ và chỉ dẫn cho quý vị trên con đường tu học. Nếu quý vị học Phật mà lễ bái quá nhiều pháp môn, quá tạp loạn, thì có thể sẽ không có vị Bồ Tát chuyên biệt nào gia trì cho mình. Như vậy quý vị sẽ khó mà chuyên sâu vào một pháp môn, và cũng rất khó viên mãn con đường thành tựu. Hiện nay quý vị theo học Phật pháp cùng Sư phụ, khi gặp vấn đề gì thì có thể trực tiếp thỉnh giáo Sư phụ, Sư phụ sẽ giúp đỡ quý vị. Nhưng nếu quý vị học mỗi nơi một ít, pháp môn nào cũng học qua, thì khi có vấn đề phát sinh, quý vị sẽ biết tìm ai để chỉ dẫn đây? Cần phải hiểu rõ đạo lý này.

Nếu quý vị chuyên tâm tu học nhất môn tinh tấn, thì tự nhiên sẽ có chư Bồ Tát gia hộ, bảo vệ và chỉ dẫn cho quý vị. Khi đã như vậy, đâu cần phải đi khắp nơi cầu xin nữa? Phật ở ngay nơi thân tâm quý vị. Khi đạt đến chỗ nhất pháp thông, thân tâm dần trở nên rỗng rang, nhẹ nhàng như hư không. Khi trong thân tâm đã buông rỗng, thì pháp tự nhiên thông suốt, Bồ Tát cũng dễ dàng gia trì. Nhiều khi trong lúc quý vị thực hành hạnh Bồ Tát để giúp đỡ chúng sinh, ngay trong khoảnh khắc đó, quý vị chính là đang sống trong hạnh nguyện của Bồ Tát vậy.

Ví như trong kho chứa đầy tạp vật thì sẽ không thông suốt. Nếu dọn sạch hết những thứ lộn xộn ấy đi, kho sẽ thông thoáng ngay. Bây giờ quý vị học quá nhiều pháp môn cùng lúc, tâm đầy ắp thì làm sao “trống” được? Không trống thì không thông, không thông thì cũng không trống. Cũng giống như thân thể con người, nếu mang nhiều bệnh tật thì kinh mạch sẽ bế tắc. Nếu trong tâm suốt ngày u sầu, phiền não, đau khổ, thì thân thể cũng dễ sinh bệnh. Nếu trong đầu chứa đầy đủ loại tham, sân, si và tạp niệm, không thể buông xuống, thì làm sao nghĩ thông suốt được? Chỉ khi nào quý vị dần dần buông bỏ hết, làm cho tâm rỗng rang, thì mới có thể thông suốt. Khi thân tâm thanh nhẹ, rỗng lặng, Phật và Bồ Tát mới dễ dàng gia hộ. Ví dụ như Quán Âm Đường vì sao có nhiều Bồ Tát quang lâm? Vì Quán Âm Đường thanh tịnh, không có những điều tạp loạn,  người đến đó cũng ít tạp niệm, tâm hồn tương đối thuần khiết, nên dễ cảm ứng với Bồ Tát. Nếu trên thân tâm quý vị ít tạp niệm, không chứa những điều ô nhiễm thì Bồ Tát cũng dễ dàng gia hộ. Nhưng nếu trong tâm suốt ngày đầy u buồn, đau khổ, phiền não, vọng tưởng hay nghĩ những điều bất thiện, thì quý vị nói xem Bồ Tát có dễ đến gần không? Vì vậy, tu hành nhất định phải học cách buông xuống để tâm được rỗng lặng.

Tâm có “trống” hay không, pháp có “thông” hay không, đều có thể nhìn thấy phần nào qua thần sắc trên gương mặt của quý vị. Nếu một người lúc nào cũng mang vẻ u sầu, quý vị nói xem, tâm người ấy có thể thật sự rỗng rang được không? Nếu quý vị muốn tu học tất cả các pháp môn, thì e rằng suốt một đời cũng không thể học hết, vì mỗi pháp môn đều sâu xa vô cùng, làm sao có thể lĩnh hội trọn vẹn? Pháp môn mà Sư phụ hiện đang chỉ dạy quý vị là con đường “nhất thông bách thông”. Sư phụ cố gắng truyền trao tinh hoa của nhiều pháp môn, rồi chỉ ra cho quý vị một con đường phù hợp và thuận tiện nhất để chuyên tâm tu học. Sư phụ đối với tất cả các pháp môn, xưa nay không tùy tiện bình luận điều gì. Sư phụ tiếp thu sở trường của các pháp môn khác để bổ sung cho những sở đoản của mình. Cái “sở đoản” này là trong quá trình tu hành, trong việc giáo hóa quý vị, trong công việc cứu giúp chúng sinh và trên con đường tu tập. Nếu trên thân quý vị còn mang ác nghiệp, bệnh tật, tai ương về gia đình, sự nghiệp hoặc các loại kiếp nạn khác, Sư phụ sẽ chỉ dẫn quý vị phương cách từng bước tiêu trừ và hóa giải. Đây chính là chỗ vi diệu thù thắng nhất của pháp môn do Sư phụ truyền dạy.

QUYỂN 2 – TẬP 24
NẮM BẮT HIỆN TẠI – DÙNG TÂM PHẬT HOẰNG PHÁP – DÙNG DIỆU PHÁP ĐỘ NGƯỜI
(把握当下、佛心弘法、妙法度人)

Tiếp theo, Sư phụ giảng cho mọi người về “đương hạ”. Nhiều bậc đại pháp sư thường nhắc đến hai chữ “đương hạ”. “Đương hạ” nghĩa là ngay lập tức, ngay trong giây phút này — tức là phải lập tức bắt đầu tu tâm, lập tức bắt đầu học Phật, ngay bây giờ làm công đức, dốc hết sức mình để bù đắp và sửa đổi tất cả các ác nghiệp đã tạo trong quá khứ, bao gồm cả nghiệp chướng từ nhiều đời trước.

Lục Tổ từng nói: “Quá khứ bất khả đắc, hiện tại bất khả đắc, vị lai bất khả đắc” (Quá khứ không thể nắm giữ, hiện tại cũng không thể nắm giữ, tương lai lại càng không thể nắm giữ), vì thế phải biết nắm bắt ngay trong đương hạ. Những gì đã qua rồi thì tất cả đều không thể giữ lại được. Trong quá khứ chúng ta có từng rất vui vẻ không? Có. Chúng ta có từng trẻ trung xinh đẹp, từng huy hoàng, có quyền thế, giàu có không? Cũng có. Nhưng tất cả những điều đó đều đã qua rồi, không còn nữa, đều là “bất khả đắc” nữa. Nếu một người cứ mãi nghĩ về người và việc trong quá khứ, thì người đó chính là đang thụt lùi. Vì vậy, bất kể làm việc gì cũng phải nhìn về phía trước. Tương lai cũng không thể nắm giữ, vì tương lai còn chưa đến, làm sao nắm được? Ngay cả hiện tại còn chưa nắm chắc, lại muốn có được tương lai sao? Quá khứ không thể được, tương lai không thể được, nên phải nắm bắt hiện tại, tức là làm những việc có ý nghĩa mà ngay bây giờ mình nên làm. Sư phụ đã dẫn dắt mọi người làm rất nhiều việc ý nghĩa, như phóng sinh, phát nguyện, tụng kinh, tổ chức pháp hội để cứu độ chúng sinh… quý vị nói xem, những việc đó có ý nghĩa không?

Chúng ta học Phật, học Pháp, cần phải giữ tâm thanh tịnh, biết nắm bắt hiện tại, hiểu rõ rằng quá khứ đã qua thì không bao giờ gọi trở lại được. Dù ngày ngày có hồi tưởng, cũng không thể bù đắp được khoảng trống của hiện tại. Nếu quý vị thường xuyên sống trong ký ức quá khứ, thực ra là đang tự mình thụt lùi. Người luôn thụt lùi thì mãi mãi không có lối ra, và cũng là người sống trong đau khổ.

Phải học cách nắm bắt hiện tại, tức là nhìn vào ngay bây giờ, như vậy quý vị mới là người thật sự làm được việc. Nếu hiện tại cơm còn chưa đủ ăn mà lại nói sẽ đi mua bảo hiểm tiết kiệm, tính chuyện sau này được bao nhiêu tiền, quý vị nói xem có thực tế không? Học Phật cũng vậy, phải học ngay trong hiện tại, sửa đổi tập khí của mình ngay bây giờ. Khi làm được như vậy, những nghiệp chướng không tốt của hiện tại cũng sẽ dần trở thành quá khứ, con người nhờ đó trở nên nhẹ nhàng hơn. Nhưng quá khứ vốn đã là điều không thể nắm giữ, nghiệp chướng của quá khứ thật ra cũng không cần phải giữ lại, vì thế chúng ta càng phải sớm buông xuống, vì vốn dĩ đã là “bất khả đắc”!

Từ thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, việc truyền pháp được thực hiện theo cách mặc truyền, tức là âm thầm truyền pháp, cũng gọi là ám truyền. Hiện nay, pháp mà Sư phụ truyền dạy cho quý vị, thực chất cũng là sự truyền trao trong lặng lẽ như vậy. Bề ngoài là đang giảng bài cho đệ tử, nhưng đồng thời rất nhiều Phật tử theo học sau khi khai ngộ cũng có thể từ đó hấp thụ được dưỡng chất tâm linh. Đây chính là cách Sư phụ khai thị và truyền pháp cho đệ tử. Thời Đức Phật, có một đại đệ tử tên là Ma Ha Ca Diếp. Đức Phật đã truyền pháp cho ngài, rồi ngài lại truyền tiếp cho đời sau. Cứ như vậy, từng đời nối tiếp từng đời, truyền đến vị Tổ thứ hai mươi tám. Đến Bồ Đề Đạt Ma, Ngài cũng dùng phương thức truyền thừa một đối một mặc truyền, gọi là “tâm không truyền tâm không”. “Tâm không truyền tâm không” nghĩa là gì? Chính là điều Sư phụ đã giảng trước đây: khi tâm quý vị rỗng lặng, quý vị mới có thể tiếp nhận được điều người khác trao cho. Nếu trong tâm quý vị đầy ắp tạp niệm, làm sao có thể tiếp nhận điều mới? Giống như một kho hàng, chỉ khi kho trống thì hàng mới mới có thể đưa vào; nếu kho đã đầy, làm sao chứa thêm được nữa? “Dĩ tâm truyền tâm” nghĩa là dùng tâm để truyền tâm. Muốn vậy, trước hết tâm phải rỗng lặng thì mới tiếp nhận được pháp này, mới tiếp nhận được Phật pháp. Nhất định phải ghi nhớ: Phật pháp chỉ có thể thật sự học vào khi chính mình buông xuống, làm cho tâm rỗng lặng. Có như vậy, về sau mới có thể tu thành chánh quả.

Người truyền pháp và người tiếp nhận cần có tri kiến tương đối tương ưng, tức là cách nghĩ, cách nhìn phải gần nhau, thì mới có thể khai mở cho đối phương. Trong Phật pháp, điều này gọi là “tâm hành”, nghĩa là trạng thái và khuynh hướng trong tâm của hai bên phải tương đồng thì pháp mới truyền được. Ví dụ hôm nay quý vị tin Sư phụ, tin Phật Bồ Tát nên mới đến nghe khai thị. Nếu quý vị không tin, Sư phụ làm sao truyền pháp cho quý vị được? Không tương ưng thì không thể truyền pháp. Nếu người đó suy nghĩ hoàn toàn khác với quý vị, quý vị cũng không thể truyền pháp cho họ. Nếu cố chấp truyền một cách gượng ép, họ không những không tin mà còn có thể sinh tâm phản cảm, thậm chí nói lời tổn hại, khiến chính người truyền pháp cũng bị ảnh hưởng, liên lụy. Điều này cũng giống như có những tôn giáo kéo người ngoài đường để truyền đạo, làm người khác khó chịu, rồi sinh lời chê bai phỉ báng, như vậy ngược lại còn làm tổn hại đến người truyền giáo.

Khi tâm và hành vi trong tâm của hai người tương đồng, khi con người đối đãi nhau bằng lương tâm thiện lành, thì lúc đó quý vị đem Phật pháp, Phật duyên truyền cho họ, họ cũng có thể tiếp nhận. Điều này gọi là tâm tâm tương ấn. Nếu pháp quý vị truyền mà tâm người kia không thể tiếp nhận, thì truyền cũng vô ích, gọi là vô dụng vô ích, tức là không có lợi ích, cũng không có tác dụng. Nói cả buổi mà chẳng mang lại kết quả gì, vì đối phương vốn dĩ không nghe, cũng không muốn tiếp nhận.

Sự truyền thừa Phật pháp nhất định phải được xây dựng trên nền tảng mặc truyền, tức là phải có sự ăn ý trong im lặng (mặc khế), lặng lẽ mà truyền, nghĩa là tôi và bạn tâm ý tương thông, đều hiểu rằng mình muốn học Phật, khi đó tôi mới có thể giảng Phật pháp cho bạn. Hiện nay và trong tương lai, phương pháp tốt nhất của sự truyền thừa là phải cứu người một cách nhanh chóng. 

Ngày nay, việc truyền pháp đến với con người có hai hình thức: Đại truyền: tức là thông qua các phương tiện hiện đại như mạng internet, truyền thông, liên lạc… Tiểu truyền: tức là truyền từng người một. Quý vị giảng pháp cho bạn bè mình, giảng cho người thân trong gia đình mình, đó chẳng phải là truyền từng người một hay sao? Vì thời gian nhân duyên không còn nhiều, nên cần vận dụng đủ mọi diệu pháp để cứu người, kể cả những phương tiện thiện xảo có thể giúp con người nhanh chóng sinh lòng tin.

Sư phụ còn dạy một cách truyền pháp khác: chỉ cần người ấy còn có Phật tính, quý vị hãy dẫn họ đến Phật đường. Nếu nơi đó có Bồ Tát gia hộ, mọi người đều đang lễ lạy, thì hãy để họ cùng lễ lạy. Sau khi họ cúi lạy, Bồ Tát sẽ gia trì cho họ. Cũng giống như vì sao có rất nhiều người vốn không tin Phật, nhưng khi nghe Sư phụ giảng lại liền tin? Bởi vì trong tâm mỗi người đều có một sự cảm ứng, từ đó sinh khởi lòng tin. Do khí trường cảm ứng lẫn nhau, mọi người cùng lễ lạy, dần dần họ cũng sẽ tin. Đây là dùng trường khí bên ngoài để cảm hóa và ảnh hưởng họ, đồng thời nhờ sự gia trì bên trong của Bồ Tát mà khiến họ khởi lòng tin.

Cuối cùng, Sư phụ nói với mọi người rằng ai cũng muốn trở thành bậc thánh hiền hay Bồ Tát, nhưng thực ra điều đó không quá phức tạp. Nói theo cách dễ hiểu của Bạch Thoại Phật Pháp, chính là giảm dục vọng của mình xuống mức thấp nhất và nâng lý trí của mình lên mức cao nhất. Biết kiểm soát ham muốn, đồng thời không ngừng thăng hoa lý trí và nhận thức, người làm được như vậy chính là bậc thánh hiền. 

Ví dụ, khi gặp tai nạn hay nghịch cảnh mà không quá đau khổ, thì đó là người có khả năng làm chủ lý trí của mình. Trong mọi việc, nếu luôn biết đứng trên lập trường của người khác để suy nghĩ cho họ, đó chính là lòng từ bi. Bất kể chuyện gì cũng nghĩ cho người trước, người như vậy chính là người có tâm từ bi. Sở dĩ nhiều người chưa hiểu thế nào là từ bi, là vì trong tâm họ chưa từng thật sự biết nghĩ cho người khác, mà chỉ quanh quẩn với: “Tôi tức giận”, “Tôi đau khổ”, “Tôi khó chịu”. Người như vậy vẫn chưa khởi được tâm từ bi.

Phải học cách đặt mình vào vị trí của người khác để suy nghĩ cho họ, noi theo tâm đại từ đại bi của Quán Thế Âm Bồ Tát. Người tu tâm cũng cần biết xem phiền não như một tăng thượng duyên giúp mình trưởng thành, nghĩa là chuyển hóa những điều làm ta khổ não thành trợ lực để không ngừng tiến bộ và vươn lên.

QUYỂN 2 – TẬP 25
DÙNG BÁO THÂN NHÂN GIAN TU THÀNH PHÁP THÂN BỒ TÁT
(用人间的报身来修成菩萨的法身)

Lần trước Sư phụ đã giảng sơ lược cho quý vị về Pháp thân, Hóa thân và Báo thân. Vậy thế nào là Hóa thân? Thế nào là Pháp thân? Thế nào là Báo thân? Sự khác biệt giữa chúng ở đâu? Trước hết nói về Hóa thân. Hóa thân tồn tại trong không gian này dưới trạng thái sinh mệnh như thế nào? Ví dụ, chúng ta có thân xác bằng xương thịt để sinh hoạt trong không gian này, vậy Hóa thân tồn tại nơi nhân gian dưới hình thái ra sao? Và giữ vai trò, tác dụng gì?

Trước hết nói với quý vị, Hóa thân có thể hóa hiện thành hai thân: thứ nhất là Pháp thân, thứ hai là Báo thân. Pháp thân chính là thân của Bồ Tát – lời nói, hành vi, cử chỉ đều có thể ảnh hưởng đến người khác. Pháp thân có thể thị hiện cho con người nhìn thấy, cũng có thể không cho thấy. Chỉ có Bồ Tát mới có thể được gọi là Pháp thân. Báo thân là thân mà chúng ta dùng để học Phật, tu hành ngay tại nhân gian. Thân này tồn tại là do quả báo mà chúng ta mang theo, vì có báo nên mới có thân. Khi con người ở nhân gian và cõi trời làm được nhiều việc của Bồ Tát, sau khi thoát khỏi lục đạo mới có thể thành Bồ Tát – đó gọi là báo thân chuyển thành pháp thân. Nói cho quý vị biết, các vị Thiên vương ở cõi trời Dục giới cũng thuộc Báo thân Bồ Tát. Còn ở cõi trời Sắc giới và Vô Sắc giới thì khác, đó thuộc về Hóa thân Bồ Tát.

Pháp thân trong Phật pháp còn gọi là pháp tính thân, là bản của mọi năng lượng được thành tựu bởi nguyện lực. Pháp thân là nguồn gốc tụ hội của tất cả năng lượng; mà nguồn gốc năng lượng ấy chính là Phật trong tự tính, tức là bản tính chân thật của quý vị. Khi một người hoàn toàn chứng đắc pháp tính thân, người đó chính là một vị Bồ Tát ở tầng thứ rất cao. Nguồn năng lượng căn bản này có “phạm vi” và “tầm mức” của nó,  mà phạm vi đó trên thực tế chính là khả năng dung nhiếp toàn bộ thế giới. Ví dụ khi Sư phụ lễ Phật, hai tay có thể nâng đỡ vũ trụ, đó là biểu trưng cho việc bản tính nơi thân hợp nhất với bản năng của vũ trụ, tức là tổng thể năng lượng của vũ trụ. Điều này nếu nói theo cách nhìn của khoa học, cũng có thể lý giải phần nào từ góc độ vật lý. Bồ Tát là không gian vật chất rộng lớn nhất, vô hình vô tướng. Quý vị đừng nghĩ rằng Quán Thế Âm Bồ Tát thật sự chỉ có một nghìn tay một nghìn mắt. “Thiên thủ thiên nhãn” là cách nói hình tượng: mắt của Bồ Tát muốn nhìn đến đâu thì thấy đến đó, tay của Bồ Tát muốn cứu giúp nơi nào thì có thể cứu giúp nơi đó. Đó là để hình dung năng lượng và năng lực rộng lớn của Bồ Tát, chứ không phải chỉ giới hạn ở hình tướng nghìn mắt nghìn tay.

Báo thân chính là thân xác bằng xương thịt của chúng ta dùng để thọ nhận quả báo. Con người đến thế gian này là để nhận quả báo: nếu đời trước làm nhiều việc thiện thì đời này hưởng thiện báo; nếu đời trước tạo nhiều việc xấu thì đời này phải chịu khổ, nhận ác báo. Chính báo thân này mới là “người trực tiếp gánh chịu” mọi vui khổ trong thế giới này. Thân này được hưởng thụ cũng là nó, mà chịu đau khổ cũng là nó. Có thể nói, mọi cảm nhận vui – buồn, sướng – khổ trong đời người đều do báo thân gánh chịu. Báo thân là do nghiệp nhân quả tạo thành, khiến quý vị đến thế gian này để thọ báo.

Thế nào gọi là Báo thân Bồ Tát? Chính là khi quý vị ở nhân gian mà mọi hành vi, việc làm đều giống như Bồ Tát, thì trên thực tế quý vị đã là Báo thân Bồ Tát. Bởi vì khi đó con người đã vượt lên trên bụi trần thế tục, ở đây nói về tư duy và cảnh giới tâm, chứ không phải thân xác đã rời khỏi nhân gian. Báo thân Bồ Tát là dùng thân xác phàm tục để làm việc của Bồ Tát. Ví dụ hôm nay quý vị đi làm việc thiện, giúp đỡ người khác, đó là Báo thân Bồ Tát. Hôm nay quý vị đi cứu người, giảng Phật pháp cho người khác nghe, quý vị cũng chính là Báo thân Bồ Tát.

Chúng ta sống trong thế giới này theo quy luật nhân quả, và báo thân cũng là sự thành tựu từ công đức. Vì thân này trong đời trước đã tạo nhiều công đức, nên đời này quý vị mới dùng báo thân để hưởng những phúc báo hiện có, như sự an ổn, điều kiện sống hay địa vị, tất cả đều do công đức đời trước chiêu cảm. Báo thân thọ dụng trong Pháp thân, mà Pháp thân chính là bản tính chân thật của con người; Pháp thân ấy trên thực tế thuộc về cảnh giới thiên giới. Lấy ví dụ, hiện nay dùng thân người nơi nhân gian để hoằng pháp là biểu hiện của báo thân; còn Pháp thân thì thuộc tầng cao hơn. Báo thân chịu sự dẫn dắt của Pháp thân, nhưng chính sự tu hành và thành tựu nơi báo thân mới có thể thúc đẩy sự thành tựu của Pháp thân. Nói cách khác, khi quý vị ở nhân gian học theo hạnh Bồ Tát, tu đến một cảnh giới nhất định, chuyên sâu một pháp, khai mở trí huệ, thì mới dần dần có phần tương ưng với Pháp thân, dĩ nhiên điều này không hề dễ. Sự thành tựu của Hóa thân và Pháp thân trên thực tế đều bắt đầu từ nền tảng tu hành của Báo thân.

Trong bài kệ hồi hướng có câu: “Tận thử nhất báo thân, đồng sinh Cực Lạc quốc.” Bởi vì báo thân là thân không thể mang theo để tu ra khỏi thế gian. Cũng giống như thân xác này, quý vị nói xem có thể mang nguyên thân xác lên trời không? Điều đó là không thể. Chỉ khi buông bỏ và rời khỏi thân xác này, mới có thể thăng lên cảnh giới cao hơn. Ví như một quả bóng bay chứa khí nhẹ, muốn bay lên cao thì nó phải thật nhẹ, bên trong không thể chứa đầy tạp vật, lại càng không thể mang theo đồ nặng, như vậy mới có thể bay lên được.

Người triệt ngộ bản tính là người đã hoàn toàn khai ngộ tự tánh. Dù cả thế giới không ai hiểu mình, họ vẫn không cảm thấy cô đơn. Khi đã thật sự thông suốt đạo lý và khai ngộ rồi, thì dù hôm nay làm bất cứ việc gì, trong tâm cũng không còn cảm giác trống vắng hay lẻ loi. Nhiều người cho rằng học Phật là để sau khi chết được lên trời. Thật ra, học Phật không phải là gửi gắm hy vọng vào cái chết. Có người khi quả báo khổ đau đến liền nghĩ: “Thôi chết sớm cho xong, chết rồi có thể lên trời.” Đó chính là một sự nương tựa sai lầm vào cái chết. Họ đã hoàn toàn hiểu sai. Học Phật không phải để trông chờ sau khi chết sẽ ra sao, mà là để ngay trong hiện tại sống được tự tại và vượt lên trên phiền não khổ đau. Chúng ta học Phật hôm nay không phải vì chuyện sau khi chết, mà là để bắt đầu chuyển hóa từ bây giờ, sửa đổi bản thân, xây dựng nền tảng tốt đẹp cho tương lai. Như vậy mới đúng là học Phật. Chư Phật, chư Bồ Tát thị hiện nơi nhân gian là để cứu độ chúng sinh, mong cho quý vị ngay bây giờ được tốt lên, chứ không phải đợi đến sau khi chết mới tốt.

Sư phụ dạy đại chúng hãy luôn ghi nhớ: người khác luôn đúng, còn mình luôn sai, thì người ấy sẽ không còn sinh tâm oán hận. Hãy xem người khác mãi mãi là tăng thượng duyên giúp mình trưởng thành, thì suốt cuộc đời nơi nhân gian, quý vị mới có thể không ngừng tiến lên, cho đến khi đạt được đại giác đại ngộ, công đức viên mãn.

QUYỂN 2 – TẬP 26
HỌC THEO CẢNH GIỚI BỒ TÁT, CHUYỂN PHÀM THÀNH THÁNH
(学菩萨界,转凡成圣)

Mọi người đều biết làm việc thiện có thể chuyển thành công đức. Vậy ta hỏi quý vị: một người đã có công đức rồi, công đức đó có thể chuyển thành thiện nghiệp hay không? Nói cho quý vị biết: người xuất gia tu hành thì có thể. Nếu trong đời này họ xuất gia tu hành nhưng không tu cho tốt, đến đời sau tái sinh làm người, thì toàn bộ công đức ấy sẽ chuyển thành phúc báo. Ví dụ: niệm kinh mà hữu khẩu vô tâm, động ý xấu hoặc làm việc không tốt… thì tất cả công đức tích lũy trong đời này sẽ chuyển thành phúc báo. Bởi vì quả báo đã đầu thai làm người rồi, nên đời này coi như tu uổng công. Sư phụ nói cho quý vị đạo lý này là để quý vị nhất định phải kiên trì tu hành, tu tâm cho thật tốt. Ngoài ra, tất cả công đức mà quý vị làm được cần phải không ngừng “gia nhiệt” – bồi đắp thêm – thì mới có thể giữ vững được công đức ấy.

Chúng ta đều đang học theo Bồ Tát, học tinh thần từ bi của Bồ Tát. Hôm nay, Sư phụ sẽ giảng cho quý vị về “Thập Địa Bồ Tát”. Mỗi lần Sư phụ chỉ có thể giảng một địa. Thập Địa Bồ Tát là mười cảnh giới khác nhau của Bồ Tát. Cảnh giới của Bồ Tát chính là cảnh giới mà chúng ta cần học tập. Tuy hiện nay chúng ta đang học Phật, học theo Bồ Tát, nhưng quý vị nhất định phải biết rốt cuộc Bồ Tát có những cảnh giới như thế nào.

Thập Địa Bồ Tát còn được gọi là Thập Thánh Vị. Chúng ta học theo Bồ Tát là học theo cảnh giới của Bồ Tát. Mà cảnh giới của Bồ Tát có mười cấp bậc khác nhau. Chúng ta cần biết rốt cuộc mình đã tu đến cấp bậc nào, cũng tức là phải biết mình đã tu đến tầng thứ nào. Sư phụ sẽ lần lượt giảng về Thập Địa Bồ Tát, từng địa một, phân tích từ mặt chữ cho quý vị nghe, rồi dùng lời lẽ giản dị để giảng giải một cách thấu triệt mười cảnh giới của Bồ Tát, để quý vị có thể tu học theo Thập Địa Bồ Tát, hiểu rõ mỗi cảnh giới khác nhau của Bồ Tát rốt cuộc là như thế nào, và làm thế nào mới có thể đạt được cảnh giới Thập Địa Bồ Tát.

Hôm nay Sư phụ giảng cho quý vị về Nhất Địa Bồ Tát, tức Sơ Địa Bồ Tát, còn gọi là Hoan Hỷ Địa Bồ Tát. Hoan Hỷ Địa: là khi vừa bước ra khỏi cảnh giới phàm phu, lần đầu tiên tiến vào cảnh giới Thánh; niềm vui trong tâm dung hòa, hoan duyệt biểu lộ ra bên ngoài; phát sinh nhiều hoan hỷ, nên gọi là Hoan Hỷ Địa. Dùng trí huệ do văn – tư – tu làm gia hạnh trí; đoạn trừ vô minh chấp ngã của phàm phu; chứng đắc công đức viên mãn của Bố Thí Ba La Mật tăng thượng.

Sơ Địa Bồ Tát là khi vừa mới đạt đến cảnh giới của Bồ Tát, tức Hoan Hỷ Địa Bồ Tát. “Thủy xuất phàm cảnh” nghĩa là vừa mới rời khỏi cảnh giới nhân gian, đạt đến cảnh giới của bậc Thánh, tức cảnh giới của Bồ Tát. Nói cách khác, quý vị vừa thoát khỏi cảnh giới tầm thường của phàm nhân, bắt đầu tiến về cảnh giới của Bồ Tát. “Sơ đăng Thánh cảnh” nghĩa là quý vị vừa mới bắt đầu bước lên tầng thứ của bậc Thánh. “Khánh tâm nội dung, duyệt tình ngoại phát” nghĩa là tâm mừng vui, hoan hỷ; vừa bắt đầu cảm nhận niềm vui nơi nội tâm hòa nhập vào cảnh giới Thánh; đã hòa tan những việc rườm rà nơi nhân gian vào trong cảnh giới của Phật. “Duyệt” chính là tâm hoan hỷ – vô cùng vui mừng khi bước vào Thánh giới, bước vào cảnh giới Bồ Tát; đã khai ngộ, nhận ra rằng đời người chỉ là do nhân duyên hòa hợp mà thành; đối với mọi việc đều vui vẻ, đều có thể viên dung. Tất cả mọi việc nơi nhân gian đều có thể bao dung, dung hòa; từ đó tiến vào Thánh giới. Làm bất cứ việc gì cũng đều có một niềm vui trong đó. “Dung duyệt tình ngoại phát” nghĩa là tâm hoan hỷ, tâm từ – bi – hỷ – xả bắt đầu phát lộ ra bên ngoài; có một dạng năng lượng khiến quý vị vươn lên cao, giống như tên lửa – khi khí năng lượng được phóng ra ngoài, tên lửa liền bay lên. Bởi vì mỗi việc mà Sơ Địa Bồ Tát làm đều sinh khởi tâm hoan hỷ, nên gọi là Hoan Hỷ Địa Bồ Tát. Hoan Hỷ Địa Bồ Tát làm việc gì cũng vui vẻ, hoan hỷ; việc gì cũng nhìn thấu, việc gì cũng hiểu rõ. Chỉ có con người mới không vui, mới ưu sầu, phiền não.

Dùng trí huệ văn – tư – tu để tu dưỡng trí huệ của chính mình. “Văn” là thấy, nghe, ngửi… nhưng chữ “văn” ở đây không chỉ đơn thuần là nghe bằng tai mới gọi là văn. Tất cả những gì sáu căn của quý vị tiếp xúc với sáu trần đều gọi là “văn”; tức là mọi điều mà quý vị tiếp xúc đến đều thuộc về “văn”. Chữ “văn” ở đây là một khái niệm tổng thể. “Văn tư” nghĩa là khi quý vị tiếp xúc với sự vật, sẽ sinh khởi suy nghĩ. Có suy nghĩ rồi mới có thể tu dưỡng trí huệ, vì vậy gọi là văn – tư – tu – huệ. Khi ở nhân gian, tất cả những gì quý vị nhìn thấy, sau khi được bộ não chọn lọc và suy xét, phải dùng chánh kiến của Bồ Tát để tư duy. Lúc đó liền trở thành tu tâm, cũng chính là bắt đầu khởi dụng trí huệ của bản thân.

Trí huệ của con người từ đâu mà có? Chính là từ việc học cách chuyển hóa những điều mình nhìn thấy. Ví dụ, chữ giản thể sau khi được phần mềm máy tính chuyển đổi thì trở thành chữ phồn thể; chữ phồn thể cũng có thể chuyển thành chữ giản thể. Cũng vậy, trong tâm của Bồ Tát giống như có một bộ chuyển đổi: tất cả mọi thứ khi đi vào, sau khi được bộ não “lọc” qua, liền trở thành điều thuộc về cảnh giới của Bồ Tát. Nhưng còn phải có “gia hạnh trí”, nghĩa là tất cả hành vi và sự tu hành của quý vị đều phải có trí huệ đi kèm, đó gọi là gia hạnh trí. Tức là mọi hành vi do quý vị làm ra nhất định phải có trí huệ. Ví dụ, khi cãi nhau với người khác – hành vi đó có trí huệ hay không? Lấy trộm đồ của người khác, dùng lời nói để lừa gạt người khác – quý vị nói xem những hành vi ấy có trí huệ hay không? Những hành vi như vậy hoàn toàn chưa đạt đến cảnh giới của Bồ Tát. Sơ Địa Bồ Tát, mọi hành vi – bao gồm hành vi nơi suy nghĩ, hành vi trong nội tâm – tất cả đều hàm chứa trí huệ. Trí huệ đó chính là trí huệ của Bồ Tát.

“Đoạn phàm phu ngã tính” nghĩa là nhất định phải đoạn trừ vô minh. Mỗi người chúng ta đều là phàm phu tục tử. Phàm phu là người trong đầu chỉ nghĩ đến mình; phàm phu chính là người thường. “Ngã tính” là bản tính của cái “ta”, mà bản tính ấy bị vô minh che lấp. Vì vậy, phải đoạn trừ vô minh của chính mình. Vì sao hiện nay lại có vô minh? Là bởi trong những đời quá khứ, quý vị đã làm những việc sai trái, khiến tâm linh bị nhiễm bụi trần, cho nên mới sinh ra vô minh. Do đó, Bồ Tát dạy phải đoạn trừ vô minh nơi ngã tính của phàm phu. “Chứng biến mãn công đức Đàn Ba La Mật tăng thượng” nghĩa là tất cả những gì quý vị chứng ngộ trong Phật pháp đều viên mãn công đức; tức là mọi công đức hiện có của quý vị, khi tránh xa tập khí vô minh của bản thân – bao gồm điều mình suy nghĩ, lời mình nói ra, điều mình nghe thấy và việc mình làm – tất cả đều thấm nhuần trí huệ của Bồ Tát. (Ba La Mật nghĩa là bờ kia.) Dùng cảnh giới của mình mà nâng cao thêm một tầng, rồi lại nâng cao thêm một tầng nữa.

Tam địa hợp thành một giới. Khi đạt đến Thập Địa Bồ Tát thì viên mãn, cũng chính là câu trong Tâm Kinh: “A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”, tức là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tâm Kinh quý vị đều biết tụng, nhưng quý vị có biết ý nghĩa của tựa đề Tâm Kinh là gì không? “Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh” – Bát Nhã là trí huệ; Ba La Mật là bờ kia; Đa là đến. Ý nghĩa của Tâm Kinh là khiến tâm của quý vị đạt đến bờ kia mà mình mong cầu, tức là đạt đến cảnh giới khai ngộ; dùng trí huệ để đạt đến bờ kia, cũng chính là dùng cảnh giới của mình để đạt đến một tầng cảnh giới cao hơn. Sư phụ thường giảng cho quý vị về trí huệ Bát Nhã. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp suốt 49 năm, giảng chính là trí huệ Bát Nhã. Trí huệ của con người là điều quan trọng nhất. Bởi vì có trí huệ mới có thể khai ngộ, mới có thể tu hành cho tốt. Nếu ngay cả trí huệ cũng không có, nghe gì cũng không hiểu, thì làm sao tu hành được?

Hôm nay do thời gian có hạn, Sư phụ giảng đến đây thôi. Lần sau, Sư phụ sẽ giảng về điều kiện để bước vào Sơ Địa Bồ Tát, tức là làm thế nào chuyển từ phàm nhân thành Bồ Tát; làm thế nào từ cõi người, dùng ý niệm sau khi đã tu luyện của chính mình mà bước vào cảnh giới Bồ Tát. Sư phụ dùng tám câu tâm đắc để khuyên chúng sinh phá mê khai ngộ, sớm thành tựu Bồ Đề:

Thế đạo nan thành Phật, duy hữu tu tâm phục,
Tam miệu tam bồ đề, giới định tuệ lai y,
Phá trừ vô minh tâm, nhẫn nhục khai ngộ hân,
Chứng đắc vô thượng pháp, phàm nhân biến Bồ Tát

QUYỂN 2 – TẬP 27
HỌC CẢNH GIỚI CỦA PHẬT, HỌC CÁCH HỶ XẢ
(学佛境界,学会喜舍)

Tiếp theo, sư phụ sẽ triển khai giảng giải để quý vị hiểu rõ phải tu như thế nào mới có thể đạt đến cảnh giới của Bồ Tát. Quý vị cần lấy cảnh giới của Bồ Tát làm tiêu chuẩn để yêu cầu chính mình, tu hành – giác ngộ, viên thành Phật đạo.

Trước hết, phải có khả năng nhẫn chịu, có thể đảm đương việc khó, và tâm không thoái chuyển. Nghĩa là bất luận gặp chuyện gì cũng có thể nhẫn chịu, nhẫn nại. Học theo Bồ Tát trước hết phải học được sự nhẫn chịu. Mà trong sự nhẫn chịu ấy, không nhất định là do quý vị sai; cho dù quý vị đúng cũng vẫn phải nhẫn chịu. Sư phụ thường giảng cho quý vị rằng, trên thế gian này không có gì gọi là đúng hay sai tuyệt đối, chỉ có nhân và quả. “Có thể đảm đương việc khó” nghĩa là có thể đối diện và gánh vác những việc khó khăn. Ta sẵn lòng nhẫn chịu những điều làm khó mình; cũng tức là có thể đảm đương bất cứ việc gì khó khăn. Việc mình rõ ràng có thể làm mà lại không làm, đẩy cho người khác làm, đó là ích kỷ, không đạt đến cảnh giới của Bồ Tát. Dĩ nhiên, làm bừa làm ẩu cũng là không đúng. “Tâm không thoái chuyển” nghĩa là lương tâm và bản tính của quý vị vĩnh viễn không thoái lui, không chìm mất. Nếu đạt đến cảnh giới của Bồ Tát thì sẽ không bao giờ thoái chuyển. Tâm của sư phụ sẽ vĩnh viễn không thoái chuyển, mãi mãi cứu người; như vậy mới có thể xứng gọi là Bồ Tát. Nếu gặp việc thì né tránh, gặp việc thì trốn chạy, gặp việc thì thoái lui, nói rằng: “Tôi không tu nữa, tôi chỉ cần bảo vệ sự tu hành của riêng mình,” thì người đó vĩnh viễn không thể trở thành Bồ Tát.

“Bất hảo tránh tụng”: “hảo” ở đây nghĩa là hiếu thắng, thích hơn thua; “tránh tụng” là luôn muốn tranh biện, kiện tụng với người khác. Bồ Tát tuyệt đối không bao giờ tranh biện, kiện tụng, hay dùng đạo lý thế gian để hơn thua. Bởi lẽ, đạo lý nơi nhân gian thực chất chỉ là do chúng sinh tự gieo nhân rồi tự thọ nhận quả báo mà thôi. 

Thực ra, học Phật chính là khiến thân tâm của mình trở nên vô cùng nhu hòa. Tâm của Bồ Tát rất nhu hòa, lại vô cùng an ổn. Không phải chỉ nói trong tâm nhu hòa an ổn, mà là những việc làm ra đều nhu hòa, điều hòa và ôn hòa. Bất cứ việc gì làm ra cũng tuyệt đối không cứng rắn, mà luôn dùng sự mềm mại để giải quyết vấn đề. Nếu là Bồ Tát, khi người khác tranh luận hay hơn thua với mình, quý vị luôn biết lùi một bước để suy nghĩ và hóa giải. Lùi một bước, biển rộng trời cao. Khi quý vị lùi lại một bước, tâm liền nhu hòa; thân tâm nhờ đó mới được an ẩn. Tâm của Bồ Tát vĩnh viễn bình lặng, vĩnh viễn an ổn.

Học Phật, khi giảng nói Phật pháp mà trong tâm sinh khởi niềm vui, nghĩa là khi quý vị nói về Phật pháp, tâm trạng vô cùng hoan hỷ, nội tâm tràn đầy vui mừng. Khi thuyết pháp cho người khác, nếu trong lòng pháp hỷ sung mãn, như vậy mới có thể thành tựu cảnh giới của Bồ Tát. Nói cách khác, khi Bồ Tát cứu độ chúng sinh, là dùng một tâm hoan hỷ để cứu độ. Có nhiều vị đại pháp sư trước khi tiếp nhận những pháp môn mới, vốn học theo Phật pháp được truyền lại từ xưa. Khi các vị ấy được Bồ Tát trực tiếp gia trì, liền có thể phát sinh những phương diện Phật pháp mới. Nhưng khi những pháp môn ấy vừa được truyền ra, thường sẽ có không ít người vẫn còn học theo lối cũ, hoặc tư tưởng bảo thủ, đứng ra công kích. Bởi vì họ cho rằng những điều trước đây chưa từng có thì là giả, là không đúng, không phải Phật pháp lưu truyền từ thời xa xưa. Tuy nhiên, quý vị phải hiểu rằng theo sự biến chuyển của thiên thời, Phật pháp cũng có sự ứng hóa. Hãy nhìn xã hội hiện đại: từ vật chất cho đến tư tưởng, tất cả đều thay đổi. Điều đó có thể chứng minh rằng trên thế gian không có điều gì là bất biến.

Đối với Phật pháp phải có lòng tin. Nếu là Sơ Địa Bồ Tát, trước hết tự thân phải có lòng tin đối với Phật, có lòng tin đối với Phật pháp. Bồ Tát hiện hữu nơi nhân gian; trong pháp thân và ngay nơi nhục thân của chúng ta đều có Bồ Tát. Quý vị phải tin vào chư Phật, chư Bồ Tát; đối với Phật pháp phải có tín tâm và tâm thanh tịnh. Khi học Phật pháp, nội tâm nhất định phải thanh sạch. Nếu ngay chính mình còn nghi hoặc đối với pháp môn mình đang học, thì làm sao có thể học cho tốt được? Đó chính là thiếu tín tâm, tâm không thanh tịnh, nên khó có thể tu thành chánh quả.

Khởi tâm bi mẫn thương xót chúng sinh, ban cho họ sự cứu hộ. Sơ Địa Bồ Tát nhất định phải có đại bi tâm, thương xót chúng sinh. Sư phụ cứu đời độ người, đối với mỗi người nói lời phù hợp với căn cơ của người ấy. Hôm nay quý vị chưa hiểu gì nhiều, sư phụ chỉ có thể giảng những đạo lý căn bản. Nếu quý vị đã học Phật pháp thâm sâu, sư phụ sẽ giảng những pháp nghĩa thâm sâu hơn. Hiện nay sư phụ hoằng pháp, ngay cả chính quyền cũng hoan hỷ ủng hộ. Biết bao người sau khi học theo pháp môn của sư phụ, tu tâm niệm kinh mà thân thể được hồi phục sức khỏe, gia đình hòa thuận; lại có biết bao người quy y trở về chánh đạo. Quý vị thử nghĩ xem, như vậy chính quyền sao có thể không cảm kích? Điều sư phụ tuyên dương là khuyên người hướng thiện, chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, nhờ đó giảm bớt biết bao vấn đề trong xã hội. Sư phụ dạy quý vị học Phật học pháp một cách chính đáng, làm người cho tốt, khai mở trí huệ; mỗi việc làm đều đi trên chánh đạo. Quý vị phải kiên trì với con đường mà mình nhận thấy là chánh đáng, phải trân quý và tiếp tục tinh tấn tu học. Nếu những điều sư phụ giảng giải quý vị có thể tiếp nhận được, đó chính là điều chánh. Còn nếu hôm nay những lời sư phụ nói đều là sai, quý vị thử nghĩ xem, liệu mình có thể tiếp nhận hay không?

Không mang tâm sân hận và quái ngại mà học Phật, tâm thường hoan hỷ thực hành hạnh từ bi. Sơ Địa Bồ Tát phải không có tâm sân hận và tâm quái ngại, tức là vĩnh viễn không ôm lòng oán hận người khác, cũng không có tâm vướng mắc, chấp trước. Quý vị có thể làm được việc không có tâm sân hận, nhưng rất khó đạt đến vô quái ngại. Đối với cha mẹ, con cái, người thân quyến thuộc, cũng như danh và lợi, quý vị đều còn vướng mắc. Nếu những điều ấy không thể buông xả, thì không thể thành tựu cảnh giới Bồ Tát, cũng khó có nhân duyên với Bồ Tát. Chỉ khi có thể buông xả tất cả, nâng cao cảnh giới của mình, mới có thể tu thành chánh quả. Quý vị nên biết rằng Bồ Tát có cảnh giới của Bồ Tát; vì chúng sinh mà có thể thị hiện xuống nhân gian chịu khổ để cứu người. Nếu quý vị không thể buông bỏ, không thể xả ly, thì chính là chưa có cảnh giới. Vì cứu độ chúng sinh, cần xả bỏ lợi ích của bản thân, buông bỏ hết thảy mọi thứ – đó mới gọi là xả.

Quán Thế Âm Bồ Tát dạy chúng ta thực hành hạnh hỷ xả,  hoan hỷ buông bỏ những điều không nên lưu giữ. Biết bao người trên thế gian, khi tiền bạc còn chưa kiếm đủ thì mạng sống đã chấm dứt. Quý vị nói xem, tiền có thể mua được thân thể khỏe mạnh hay không? Nếu thật sự tai nạn hay tai kiếp ập đến, ai có thể tránh khỏi? Khi rời đi, có thể làm được vô khiên vô quải, không còn luân hồi nữa hay không? Đến lúc phải ra đi, dù buông được cũng phải đi; mà không nỡ buông cũng vẫn phải đi. Vì vậy, Bồ Tát dạy chúng ta phải học cách buông xả. Xả đến cuối cùng, quý vị sẽ không còn cảm thấy khổ nữa. Ví dụ, người bình thường không chịu bố thí tiền tài, nếu bị phạt vài trăm đồng, trong lòng sẽ vô cùng khó chịu, có khi buồn bực mấy ngày liền. Đó chính là vì bình thường không biết xả. Nếu thường ngày không biết buông xả, đến khi tai kiếp ập đến, không muốn xả cũng buộc phải xả, muốn trốn cũng không thể trốn được. Muốn tu tâm cho tốt thì phải học cách xả, nếu không thì khó có thể tu thành. Người không thể buông xả bất cứ điều gì, ngay cả cảnh giới Sơ Địa Bồ Tát cũng không thể đạt được. 

Phải khiến “tâm thường lạc từ hành” – nghĩa là nội tâm luôn an vui, và mọi việc làm ra đều là hành vi từ bi; như vậy mới có thể gọi là Bồ Tát. Khi giúp người khác nâng cao cảnh giới, cần phải có tâm từ bi, tâm thương yêu. Trong lúc trợ giúp người khác, cảnh giới của chính mình cũng sẽ được nâng cao hơn. 

Mong các đệ tử khi học Phật phải thận trọng, ở mọi nơi mọi lúc đều lấy tiêu chuẩn của Bồ Tát để yêu cầu chính mình; như vậy cảnh giới sẽ thăng tiến nhanh chóng, và mới có thể chân thật ngộ ra những đạo lý này.

QUYỂN 2 – TẬP 28
BUÔNG BỎ HƯ VỌNG CHẤP TRƯỚC, TU THÀNH TRÍ HUỆ GIÁC NGỘ
(抛开虚妄执著,修成悟性智慧)

Nếu phàm nhân có thể bước vào cảnh giới Sơ Địa Bồ Tát, thì người ấy đã xảy ra sự chuyển biến về chất. Ví như hiện nay quý vị theo Sư phụ học Phật tu tâm, nếu có thể thực hành được những điều kiện của cảnh giới Sơ Địa mà Sư phụ đã giảng giải ở phần trước, thì quý vị chính là Sơ Địa Bồ Tát. Khi ấy, bản chất sẽ thay đổi, cảnh giới cũng khác đi, không còn là người bình thường nữa. Trong một sát-na có thể hiện ra trăm hóa thân. Chỉ khi đạt đến Sơ Địa Bồ Tát mới có thể có “bóng dáng” ấy ( hóa thân) hiển lộ. Cũng giống như khi quý vị là một khối vàng ròng, vàng phát sáng sẽ tỏa ra từng tầng ánh sáng, tựa như hào quang rực rỡ muôn phương. Một tấm gương chỉ có thể phản chiếu một phía; nhưng nếu quý vị là vàng ròng, dưới ánh sáng mặt trời có thể chiếu sáng bốn phương tám hướng, bởi vì quý vị thanh tịnh, trong sạch. Nếu khối vàng ấy bị che phủ bởi toàn những thứ nhơ bẩn, quý vị nói xem, nó còn có thể phát ra ánh sáng được không? Khi đã có hóa thân thì sẽ có thần thông lực. Phải biết rõ rằng ở thế gian này, “ta” không còn là cái ta phàm tục nữa, mà là Bồ Tát. Vì vậy, nhất định phải dùng công đức lực để gia trì thọ mạng nơi nhân gian.

Nếu quý vị tu đạt đến Sơ Địa Bồ Tát, sau khi có được thần thông lực, sẽ tự biết rằng ở nơi thế gian này phải dùng công đức lực để gia trì thọ mạng; tức là có thể dùng công đức của mình để kéo dài tuổi thọ. Nói cách khác, thọ mạng được prolong (kéo dài) là nhờ công đức gia trì. Cảnh giới của quý vị càng cao thì càng giống Bồ Tát. Hằng ngày phải tự soi chiếu chính mình, xem bản thân đã làm được bao nhiêu. Nếu mỗi ngày đều tự quán chiếu như vậy, dần dần thực hành được đầy đủ, thì sẽ xuất hiện pháp thân. Điều quan trọng nhất là kéo dài thọ mạng để cứu độ chúng sinh. Nhất định phải tu thân dưỡng tính, nhất định phải kiên trì, nhất định phải hòa hợp với Bồ Tát; như vậy mới có thể tu hành ngày càng tốt hơn. Dùng công đức lực gia trì thọ mạng của chính mình, khiến dương thọ dù trải qua trăm kiếp cũng không sợ hãi. Trải qua trăm kiếp rồi, phải hiểu rằng sắc thân không hoại; sắc thân này là do tu mà thành tựu.

Khi con người rời khỏi thế gian, điều đau khổ nhất chính là sự vướng bận. Nếu người ấy vô khiên vô quái ( không vướng bận), lúc ra đi sẽ không còn đau khổ. Đời người có biết bao điều bất lực, lại có biết bao chuyện bi thương. Vì vậy, trong đời này phải học cách buông xả. Nếu hiện tại không học cách xả, về sau sẽ càng khó buông bỏ. Nói cách khác, bây giờ chính là cơ hội để tự cởi trói cho mình; phải hoan hỷ, phải pháp hỷ. Cởi trói nghĩa là không chấp trước danh lợi. Có rất nhiều người vì chức vị mà không chịu lui về, đến cuối cùng bị vu cáo, hoặc vì tham ô mà sa vào tù ngục. Đến lúc cần xả thì phải xả. Dù là mái nhà mình yêu quý, dù là con cái mình thương yêu, cũng không nên yêu đến mức chấp sâu nặng. Nếu yêu quá sâu, sẽ không thể thoát ly. Giống như có những bậc cha mẹ hết thảy đều vì con cái, nhưng con lại không nghe lời, suốt ngày khiến cha mẹ phiền não. Cha mẹ cứ giận dữ, uất ức mãi, cuối cùng tự làm tổn hại chính mình.

Quảng độ chúng sinh năng chứng kiến Bồ Tát. Sơ Địa Bồ Tát trước sau trăm kiếp đều có thể biết rõ. Đây cũng là nguyên do vì sao Sư phụ có thể dự biết nhiều sự việc. Tu đến tầng thứ ấy, quý vị sẽ tránh được rất nhiều kiếp nạn; đó cũng chính là linh cảm phát sinh từ cảnh giới tu hành. Phải chấn động khắp trăm thế gian, phải khởi tam-muội định. Tam-muội định là có thể an định được tâm, là định lực phát sinh từ trí huệ. Bồ Tát giảng về tam thiên đại thiên thế giới, còn thiên văn học nói đến hệ ngân hà. Địa cầu này chỉ là một tinh cầu rất nhỏ bé; cũng như con người, nó có sinh thì có diệt.

Một niệm của Bồ Tát cùng với quang minh của Bồ Tát có thể chiếu khắp trăm thế giới; nghĩa là ánh sáng của Bồ Tát có thể soi đến một trăm thế giới. Quý vị làm việc thiện hay làm việc ác, trời đất đều biết; đừng cho rằng không ai hay biết. Muốn người khác không biết, trừ khi chính mình đừng làm. Bồ Tát động đến nhân quả của con người là tìm nhân mà chuyển quả, tức là lần theo cái nhân của quý vị để tác động đến cái quả. Nói cách khác, tùy theo nhân duyên mà hóa giải. Vốn dĩ quý vị phải thọ nhận quả báo ấy, nhưng Bồ Tát lần theo quả báo đó mà giúp giảm nhẹ, trợ duyên hóa giải nhân quả. Tuy không thể hoàn toàn tiêu trừ hết thảy, nhưng có thể làm cho giảm bớt — việc lớn hóa nhỏ, việc nhỏ hóa không.

Khi thân này phát ra ánh sáng, chấn động và chiếu khắp trăm thế giới, thì thần thông lực của quý vị sẽ ngày càng tăng trưởng, từ đó có thể giáo hóa chúng sinh. Hiện nay Sư phụ cũng đang làm việc giáo hóa chúng sinh. “Nguyên duyên tánh tịnh hóa” nghĩa là vốn dĩ quý vị đã có sẵn nhân duyên ấy, rồi dần dần dùng duyên đó mà độ hóa, khiến chúng sinh được thanh tịnh, đó gọi là tịnh hóa chúng sinh. Bồ Tát độ hóa chúng sinh không chấp vào một pháp môn duy nhất, mà lựa chọn trăm ngàn diệu pháp thâm sâu để tùy duyên giáo hóa. Vì vậy khi Sư phụ giảng dạy, thường nhắc đến những pháp môn khác. Điều gì tốt đẹp đều nên tiếp nhận và học hỏi.

Từ chỗ tu hành mà ngộ ra trí huệ, rồi do trí huệ ấy mà cảm thọ và chứng ngộ pháp huệ; nghĩa là phải tu để ngộ, tu thành ngộ tính và trí huệ. Trí huệ dần dần hiển lộ, từ đó tự mình cảm nhận và thể chứng pháp huệ nơi tự thân, tức là chân thật ngộ ra những đạo lý này. Ở nơi hư vọng mà cưỡng ép phân biệt, chấp trước, đó chính là tạo thêm nghiệp chướng. Khi đang ở trong một cảnh giới vốn trống rỗng, không chân thật, do vọng tưởng mà thành lập, đó gọi là hư vọng. Nếu ở nơi hư vọng ấy, đối với những điều vốn không thể làm được mà vẫn cố chấp muốn làm cho bằng được, thì chính là tự tăng thêm nghiệp chướng cho mình. Ví dụ, vốn dĩ không đủ tư cách hay điều kiện để tham gia ứng cử một chức vị nào đó, nhưng vẫn cố chấp tranh cầu. Trong khi những chức vị ấy qua vài năm lại thay đổi, vốn chỉ là danh tướng tạm thời, không có thực thể bền chắc. Những điều hư vọng ấy, sinh không mang đến, tử không mang đi. Ở nơi hư vọng mà còn phân biệt, chấp trước; biết rõ đó chỉ là những hiện tượng hư ảo, mà vẫn tiếp tục truy cầu, lại còn chấp chặt không buông, như vậy chính là tăng thêm nghiệp chướng. Nghiệp chướng vô cùng nguy hiểm, có thể khiến con người đọa lạc. Ở thế gian gọi là tội lỗi; trong Phật pháp gọi là nghiệp chướng.

Người thế gian phải chịu trách nhiệm trước pháp luật; người tu hành phải chịu trách nhiệm trước nhân quả. Người tu hành, những nhân mình đã gieo, khi quả báo đến thì đừng oán trách người khác. Khổ đau của chính mình phát sinh, đều là do những ác nhân tự thân đã gieo trồng. Khi quả báo hiện tiền, không ai có thể thay thế. Cũng giống như con người ở thế gian, khi bệnh tật đến mức đau đớn mới biết là khổ. Phải đến lúc lâm bệnh mới thấm thía rằng đời người là khổ, thân này chịu bệnh thống khổ biết bao. 

Khi còn khỏe mạnh thì suốt ngày bận rộn vì người khác; cũng cùng một đạo lý ấy, lúc khỏe thì chỉ lo toan cho bên ngoài. Đến khi thân thể suy yếu mới biết tự than rằng: “Ta khổ biết bao.”

Người không cưỡng cầu sự việc, thì sự việc tự nhiên thành tựu; trời đổ mưa xuống, có khe suối thì nước tự nhiên tụ lại. Đừng truy cầu mọi việc bằng tâm chấp trước; khi không cưỡng cầu, sự việc lại dễ thành tựu. Ta không cầu mà chỉ nỗ lực; thành thì tốt, không thành cũng an nhiên chấp nhận. Nếu cố chấp truy cầu cho bằng được, ngược lại thường khó thành. Mưa của trời đất, chỉ cần có một dòng suối nhỏ, nước mưa tự nhiên sẽ tích tụ vào đó. Học Phật chẳng phải cũng như vậy sao? Sư phụ nói với quý vị rằng, minh sư chỉ điểm không phải là dùng ngón tay mà chỉ; chỉ cần trong tâm thật sự sáng tỏ, thì mọi điều đều sáng tỏ. Đừng dùng thân xác để khống chế linh hồn; phải dùng linh hồn để làm chủ thân xác. Đó mới là bước đầu tiên trong việc học theo hạnh Bồ Tát.

Hôm nay giảng đến đây, lần sau sẽ tiếp tục khai thị cho các đệ tử.

QUYỂN 2 – TẬP 29
HOẰNG PHÁP TU THIỆN, LY DỤC ĐẮC LẠC
(弘法修善,离欲得)

Hôm nay Sư phụ giảng cho đại chúng: dùng lời Phật, ngữ Phật để công kích người đã chứng ngộ, trong Phật pháp gọi là “tăng thượng mạn nhân”. Nếu một người học Phật, lại dùng lời lẽ của Bồ Tát để công kích người đã chứng ngộ, tức là công kích người khai ngộ, thì trong Phật pháp gọi đó là tăng thượng mạn. Nói cách khác, người ấy chưa có sự tu chứng chân thật, chưa thật sự tu tâm. “Tăng thượng mạn” nghĩa là tự cho mình ngày càng cao hơn, tưởng rằng mình có tu có chứng, nhưng lại sinh tâm kiêu mạn. Bề ngoài nhìn như đang tu hành, nhưng trên thực tế lại đang thối lui. Ví như có người tự cho mình học được đôi chút Phật pháp, liền tùy tiện đem Phật pháp ra biện luận với người khác. Xin hỏi, quý vị tu đạt đến cảnh giới nào? Thọ giáo nơi ai? Nghĩ lại xem, trong tám vạn bốn ngàn pháp môn, dù có đạo hạnh đến đâu, quý vị có thể nói rõ được bao nhiêu pháp môn?

Trên mạng có một người viết rằng, có người hỏi ông ấy Pháp Môn Tâm Linh xuất phát từ kinh điển nào, thọ giáo từ đâu? Ông ấy cũng luôn cảm thấy nghi hoặc. Kết quả một đêm nọ, ông mộng thấy Sư phụ đang giảng pháp, liền lớn tiếng nêu ra câu hỏi ấy. Lư Đài Trưởng nghe xong không trả lời ngay, mà từ bên cạnh hiện ra một vị Bồ Tát rất từ hòa nói với ông rằng: Pháp Môn Tâm Linh do Quán Thế Âm Bồ Tát trong hình tượng Tây Phương Tam Thánh truyền thọ, và tên của pháp môn chính là Pháp Môn Tâm Linh. Đại chúng phải hiểu rằng, tu pháp cần thuận theo thiên thời mà chuyển biến. Có rất nhiều pháp môn, nhưng cần biết pháp môn nào thiết thực nhất, linh nghiệm nhất, và phù hợp nhất với con người trong thời đại hiện nay. Đối với đệ tử, yêu cầu của Sư phụ là nhất môn thâm nhập. Sư phụ trực tiếp truyền trao cho đệ tử rất nhiều năng lượng và trường khí. Nếu quý vị lại đi nghe thêm những pháp môn khác, tâm ý sẽ dao động, nội tâm cũng chuyển động theo. Chỉ một niệm chuyển động ấy có thể sinh ra phiền não, tạo thêm nghiệp chướng, như vậy khó mà tu hành thành tựu.

Người đã học pháp môn của Sư phụ thì không được dùng Phật pháp do Sư phụ truyền dạy để chỉ trích người khác; cũng không được dùng Phật pháp mà người khác học để công kích pháp môn của Sư phụ. Nếu làm như vậy thì gọi là tăng thượng mạn, có hiểu không? Nếu quý vị dùng Phật pháp để nói người này không tốt, thì quý vị không phải là người tu hành chân chính. Phải ghi nhớ trước hết đừng làm kẻ kiêu mạn, tức là đừng làm người ngạo mạn. Một khi tâm kiêu mạn khởi lên thì mọi việc đều không thể tiến bộ, chỉ dần dần thoái lui mà thôi. “Mạn” cũng chính là “lùi”. Người khác đều đang tiến về phía trước, còn mình bước chậm lại; như vậy chẳng phải là đang tụt hậu đó sao? Bất cứ ai công kích người đã chứng ngộ thì bản thân người ấy chưa có sự chứng ngộ. Nói cách khác, khi một người nói xấu người khác, chứng tỏ người ấy chưa khai ngộ; những lời nói ra đều đã lệch lạc. Có hiểu không? Không được tùy tiện nói về người khác, nhất là không được nêu đích danh mà chỉ trích. Tuyệt đối không nên làm như vậy. Đạo lý làm người và đạo lý học Phật vốn là tương thông như nhau.

Trong Thập Pháp Giới mà Bồ Tát giảng, có sáu giới là điều mọi người đều biết, cũng gọi là Lục Đạo luân hồi, gồm: Thiên đạo, A-tu-la đạo, Nhân đạo, Súc sinh đạo, Ngạ quỷ đạo và Địa ngục đạo. Trong toàn thể vũ trụ, tức trong Thập Pháp Giới, có sáu giới thuộc vòng luân hồi; còn bốn giới không thuộc luân hồi. Bốn giới ấy gọi là Tứ Thánh Đạo, tức con đường của bậc Thánh, là cảnh giới cao thượng, chứng ngộ sâu xa. Bốn giới đó gồm: Thanh Văn giới, Duyên Giác giới, Bồ Tát giới và Phật giới.

Có nhiều người hỏi Sư phụ: đến cảnh giới nào thì không còn luân hồi nữa? Sư phụ nói rõ với quý vị rằng chỉ khi siêu thoát khỏi Lục Đạo, bước vào cảnh giới thứ bảy, thì mới không còn luân hồi. Có người nói với Sư phụ: “Hiện nay chúng con tụng niệm Ngôi Nhà Nhỏ để siêu độ người thân lên cõi trời.” Nói như vậy cũng đúng, nhưng là lên tầng trời nào? Phần lớn chỉ được siêu độ lên Dục giới thiên. Mà Dục giới thiên vẫn còn thuộc trong Lục Đạo luân hồi, vẫn chưa thoát khỏi vòng sinh tử, thật đáng thương. Vì vậy, nếu không tu theo chánh pháp thì rất khó siêu thoát luân hồi. Một khi đã sinh làm người nơi nhân gian, việc vượt khỏi Lục Đạo lại càng không dễ dàng. Do đó, đừng tùy tiện làm điều xấu, đừng buông lời tạo khẩu nghiệp, cũng đừng khởi những vọng tưởng không nên khởi.

Trong thiên giới có hai loại người có thể xuống nhân gian. Thứ nhất là do nhân duyên bức bách, tức là do nghiệp lực chiêu cảm. Những chúng sinh này trong Lục Đạo bị nghiệp lực dẫn dắt, buộc phải đầu thai làm người, làm quỷ hoặc làm súc sinh. Chính nghiệp lực của họ quyết định phải thọ sinh vào cảnh giới nào, và phải luân hồi không ngừng trong Lục Đạo. Thứ hai là Bồ Tát. Bồ Tát đến nhân gian đều là thừa nguyện tái lai. Có người hỏi Sư phụ: “Bồ Tát sau khi xuống nhân gian, có khả năng không trở về được hay không?” Có. Nếu không tinh tấn tu hành, không tu tâm sửa tánh, hoặc tạo tác điều ác, làm những việc bất thiện, thì về sau sẽ không thể trở lại cảnh giới ban đầu, mà có thể đọa vào Lục Đạo luân hồi. Đây cũng chính là lý do vì sao Bồ Tát vẫn phát nguyện xuống nhân gian cứu độ chúng sinh, viên mãn Phật quả.

Đại chúng nhất định phải ghi nhớ, làm người chỉ cần một niệm bất cẩn là có thể rơi xuống hố sâu, khó mà tự thoát ra. Dù có gắng sức trèo lên được, nhưng đôi chân đã dẫm vào nước bẩn trong hố, rất khó tẩy rửa sạch sẽ. Lục Đạo trong Thập Pháp Giới còn được gọi là Lục Phàm, tức cảnh giới của phàm phu. Kể cả thiên giới, hễ còn trong vòng luân hồi thì đều thuộc phàm giới. Còn Tứ Thánh Giới là cảnh giới vĩnh viễn lìa sinh tử, không còn luân hồi, không nhập vào Lục Đạo.

Vậy nên có nhiều người hỏi Sư phụ: rốt cuộc Sư phụ muốn dẫn dắt chúng con tu lên đến tầng trời nào? Sư phụ nói rõ với quý vị rằng: cảnh giới mà Sư phụ mong muốn đưa quý vị đến là cảnh giới vĩnh viễn không còn luân hồi. Cảnh giới vĩnh viễn không luân hồi có ba lựa chọn: Một là Tây Phương Cực Lạc Thế Giới của A Di Đà Phật; Hai là Thanh Văn giới và Duyên Giác giới; Ba là Bồ Tát giới và Phật giới. Phải hiểu rằng khi đã siêu thoát khỏi Lục Đạo, thì vĩnh viễn lìa khỏi nỗi khổ luân hồi, không còn tái nhập vào Lục Đạo nữa.

Sư phụ giảng cho đại chúng về Thanh Văn pháp giới, tức là cảnh giới vừa mới vượt khỏi Lục Đạo, bước vào cảnh giới thứ bảy. Thanh Văn pháp giới cũng gọi là A-la-hán đạo; tu chứng là A-la-hán quả, thuộc Thánh quả của Tứ Thánh Đế. Về Tứ Thánh Đế, trước đây Sư phụ đã giảng nhiều lần, hôm nay không nói thêm. Tứ Thánh Đế gồm: Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế và Đạo Đế. Nếu quý vị không muốn tiếp tục luân hồi, thì tối thiểu phải tu chứng đạt được Thánh quả của Tứ Thánh Đế.

Duyên Giác pháp giới là tầng thứ tám. Duyên Giác pháp giới cũng gọi là Bích Chi Phật. Trong Bích Chi Phật có hai loại: một là Duyên Giác, hai là Độc Giác. Độc Giác là nương vào tự lực mà tu hành dần dần, dựa trên thiện căn sâu dày từ đời trước. Do tiền thế đã tu hành tốt, đời này tiếp tục làm việc thiện, học theo hạnh Bồ Tát, nên có thể thành tựu Độc Giác. Còn Duyên Giác, “duyên” là nhờ gặp được Bồ Tát. Quý vị có Bồ Tát làm thầy, làm bậc dẫn dắt; nhờ có nhân duyên ấy mà theo học và tu hành, nên có thể thăng tiến lên cảnh giới cao hơn. Ví như học lên cao học, nhất định phải có vị giáo thọ hướng dẫn; có người chỉ dạy thì dễ dàng hoàn thành bậc thạc sĩ, tiến sĩ. Lại có người từ nhỏ học hành xuất sắc, được thầy đặc biệt đề bạt, nâng đỡ. Bích Chi Phật chính là Duyên Giác. Phúc báo lớn nhất của quý vị hiện nay là có thể đi theo con đường Duyên Giác, chứ không phải Độc Giác; bởi Độc Giác phần nhiều dựa vào công đức tích lũy từ nhiều đời quá khứ. Duyên Giác còn có một ý nghĩa là sinh vào thời có Phật ra đời, tức là sinh trong thế gian đã có Phật, có Bồ Tát hiện hữu. Ở đây nói đến “Phật sống” theo nghĩa chân thật: người đã thực sự khai ngộ, thực sự buông xả, thực sự thừa nguyện tái lai cứu độ chúng sinh, đó chính là bậc Bồ Tát hiện thân giữa đời.

Cuối cùng, tổng kết lại cho đại chúng: Địa ngục đạo và Ngạ quỷ đạo đều là những cảnh giới khổ đau. Chúng sinh trong Ngạ quỷ đạo vô cùng thống khổ: bụng rất lớn mà miệng lại nhỏ, đói khát đến cùng cực nhưng không thể ăn uống được. Khi thọ thực, chỉ có thể dùng phương tiện đặc biệt để đưa từng chút một vào, nên mới có nghi thức gọi là “phóng diệm khẩu”. Những vị ở gần Ngạ quỷ đạo được gọi là Địa thần, tức những vị thần mang tính uy mãnh, nghiêm khắc.

Phía trên Ngạ quỷ đạo là Súc sinh đạo; phía trên Súc sinh đạo là Nhân đạo. Có một cách giảng nói rằng giữa Nhân đạo và Súc sinh đạo có một cảnh giới gọi là Hạ tam A-tu-la đạo; còn Thượng tam A-tu-la đạo thì ở trên Nhân đạo. Theo điều Sư phụ quán thấy, phần lớn A-tu-la thuộc về Thượng tam A-tu-la đạo, tức ở trên Nhân đạo. A-tu-la đạo có phải là linh giới không? Có phải là linh thể không? Có thuộc về quỷ đạo không? Đó là linh giới, nhưng không thuộc về quỷ đạo. Chúng sinh trong A-tu-la đạo thường giao chiến với chư thiên. Nếu là Hạ tam A-tu-la đạo, có thể lên thiên giới giao chiến không? Có thể cùng tiên nhân tranh đấu không? Thông thường, A-tu-la ở cảnh giới thấp không thể lên trên để chiến đấu với chư thiên. Phía trên A-tu-la đạo là Thiên đạo. Chư thiên có “ngũ suy”; khi phước trời hưởng hết thì vẫn phải rơi xuống. Về Thiên đạo, trước đây Sư phụ đã giảng rồi, hôm nay không lặp lại nữa.

Trong Lục Đạo cứ xoay chuyển như vậy, làm sao mới có thể thoát khỏi Lục Đạo, không còn chịu khổ luân hồi? Trừ phi quý vị chuyên tâm tu tâm, tu hành và trì tụng kinh văn. Mọi sự luân hồi trong Lục Đạo đều do nghiệp lực chiêu cảm. Hôm nay quý vị rơi xuống cảnh giới thấp là vì nghiệp lực quá nặng. Hôm nay quý vị sinh lên cảnh giới cao là vì nghiệp lực nhẹ hơn, làm nhiều việc thiện, ít tạo điều ác; nhưng dẫu vậy vẫn còn ở trong vòng luân hồi, vẫn chịu nỗi khổ sinh tử. Có câu nói: “Chạy được hòa thượng, không chạy được miếu.” Hôm nay nếu quý vị mắc nợ, dù chạy đi đâu người ta cũng có thể tìm thấy. Cũng vậy, nếu đã có nghiệp chướng, quý vị có thể trốn được không? Chính nghiệp lực dẫn dắt, khiến lên trời thì lên trời, đọa địa ngục thì đọa địa ngục.

Quý vị đều biết địa ngục có mười tám tầng, nhưng quý vị có biết địa ngục ấy do ai tạo ra không? Chính là do con người tự tạo ra. Giống như nhà tù nơi nhân gian: vốn dĩ nơi ấy không có nhà tù, nhưng vì có quá nhiều người phạm tội, không còn cách nào khác nên phải xây dựng nhà giam. Tội phạm càng nhiều, nhà tù càng được xây thêm. Về sau, tầng địa ngục thứ mười chín, hai mươi cũng sẽ xuất hiện; bởi lòng người ngày càng ác độc, ác niệm, ác tập sâu nặng, tạo thành tội nghiệp nhất định phải đọa vào địa ngục. Khi mười tám tầng đã không còn đủ, thì sẽ có thêm tầng mười chín, hai mươi. Tâm người càng xấu ác, đọa xuống càng sâu. Đại chúng nhất định phải hiểu rõ đạo lý này, ghi nhớ kỹ: Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành. Sư phụ mong quý vị hiểu – thấu triệt – khai ngộ.

Được rồi, lần sau sẽ giảng tiếp.

QUYỂN 2 – TẬP 30
THẬT SỰ HIỂU PHẬT PHÁP, TRỞ THÀNH BỒ TÁT NƠI NHÂN GIAN
(真正了解佛法,成为人间菩萨)

Bất cứ phàm phu nào nếu cảnh giới đạt đến Sắc giới thiên hoặc Vô sắc giới thiên, thì người đời thường gọi là “thiên tiên”. Cảnh giới của họ rất cao, định lực cũng rất cao, thậm chí là cực cao. Thế nào là định lực cực cao? Chính là khả năng an trụ vững vàng, ngồi được, đứng được, tâm không dao động. Ở nhân gian, khi Bồ Tát thị hiện, dù người khác đối xử thế nào, các Ngài vẫn bất động như như, định lực cực cao, cảnh giới cực cao. Người như vậy sẽ không nghĩ quẩn, không tranh cãi, không nổi giận, không ganh tỵ… Cảnh giới ấy đã vượt khỏi Lục Đạo luân hồi, thậm chí siêu vượt cả Vô sắc giới thiên, và có thể dùng hóa thân Bồ Tát để độ hóa chúng sinh. Vì sao? Bởi trong Bồ Tát giới, các Ngài dùng hóa thân để hành đạo. Nói cách khác, cảnh giới của người tu tâm ấy đã vượt qua Sắc giới và Vô sắc giới, trở thành hóa thân của Bồ Tát. Ví như ở nhân gian, chúng ta thường nói người nào đó là “Bồ Tát”. Thực ra, ý nói cảnh giới của họ đã ở trong Bồ Tát giới; họ là hóa thân của Bồ Tát. Sự thị hiện ấy chính là thành tựu của Bồ Tát.

Rất nhiều người hỏi vì sao Bồ Tát ở trên trời không an hưởng phước báo, mà lại xuống nhân gian chịu khổ để cứu độ chúng sinh? Quý vị có biết vì sao không? Bởi vì khi ở nhân gian độ hóa chúng sinh, đồng thời nơi nhân gian có được một đạo tràng tu hành, thì sau này khi trở về thiên giới sẽ có mười phương tịnh độ tương ứng. Nơi nào ở nhân gian có công phu tu hành, có đạo tràng được kiến lập, thì trên thiên giới sẽ thành tựu một cõi tịnh độ tương đồng. Quán Thế Âm Bồ Tát trên thiên giới là Phật – Nam Hải Cổ Phật; đồng thời là Bồ Tát – Quán Thế Âm Bồ Tát. Vì sao Ngài còn thị hiện xuống nhân gian cứu độ chúng sinh? Bởi vì mỗi một nguyện lực của Ngài, mỗi một đạo tràng của Ngài nơi nhân gian, thì trên thiên giới sẽ có một cõi tịnh độ tương ứng. Ví như Phổ Đà Sơn là đạo tràng của Quán Thế Âm Bồ Tát nơi nhân gian; khi trở về thiên giới, cũng sẽ có một thế giới tịnh độ của Quán Thế Âm Bồ Tát tương tự như Phổ Đà Sơn.

Trong kinh Phật có một câu rằng: “Một niệm A Di Đà Phật, nếu niệm đến cuối cùng, thì nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới, trong ao bảy báu, nước tám công đức, sẽ sinh ra một đóa sen.” Hôm nay Sư phụ có một đạo tràng như thế này tại Đài Đông Phương, thì trên thiên giới cũng sẽ có một đạo tràng tương ứng như vậy. Vì thế nhất định phải học. Bất luận là làm người cũng được, tu thành Phật cũng được, đều phải có một nguyện lực. Có nguyện lực rồi mới có thể thị hiện xuống nhân gian cứu độ chúng sinh, viên thành Phật đạo. Phải ghi nhớ: ở nhân gian, mảnh đất Phật này quý vị gieo trồng càng rộng lớn, thì quả thành tựu của quý vị càng lớn; quả vị trên thiên giới tự nhiên cũng càng cao. Ví như: Chỉ khi làm nhiều công đức thì công đức của quý vị mới tăng trưởng; Làm nhiều việc thiện thì quý vị mới có được một tấm lòng thiện lương; Thường nghĩ cho người khác thì người khác mới nghĩ cho quý vị, nhờ đó mới có thể thành tựu công đức của mình. Rất nhiều người chỉ nghĩ cho bản thân, không chịu hy sinh, không chịu phụng hiến – như vậy có thể có công đức được sao? Cho nên, quả vị là do chính mình tạo nên.

Nhất định phải dùng báo thân mới có thể thành tựu quốc độ Phật của mình, mới có thể ở nơi quốc độ Phật ấy mà khai hoa kết quả. Báo thân chính là thân này của chúng ta, thân đến để thọ nhận quả báo của nghiệp. Thiện có thiện báo, ác có ác báo. Cái “báo” này không phải báo trên linh tính của quý vị, mà báo trên thân xác thịt nơi nhân gian. Đã có báo thân này, nhất định phải thọ nhận quả báo. Ở nơi mảnh đất nhân gian này, quý vị làm việc thiện thì thọ thiện báo; làm việc ác thì thọ ác báo, bởi vì chính trên mảnh đất quý vị gieo nhân quả ấy mà phải tự mình gánh chịu sự báo ứng của nhân quả. Ví như tại đạo tràng của Sư phụ, nếu gieo trồng toàn là thiện nhân, thì công đức quả báo mà Sư phụ thọ nhận cũng sẽ báo hiện nơi mảnh đất này (đạo tràng). Vì thế, đừng suy nghĩ quá nhiều, hãy vững vàng từng bước một mà tiến về phía trước. Đừng làm sai việc. Khi đến lúc quý vị viên thành Phật đạo, tự nhiên sẽ thành tựu. Giống như nấu cơm vậy: khi cơm chưa chín mà lấy ra ăn thì vẫn còn sống sượng. Nhất định phải đợi cơm chín rồi ăn mới có hương vị. Phật pháp cũng là đạo lý như thế.

Có chúng sinh hỏi Sư phụ: nếu là Bồ Tát chân chính, có thể dùng pháp lực để trừng trị người khác không? Nếu là người xấu thì có thể. Nhưng nguyên tắc quan trọng là tâm của quý vị phải chánh, chứ không được tà. Bồ Tát lấy tâm từ bi để độ chúng sinh; còn chư vị Hộ Pháp Thần nhất định sẽ trừng phạt kẻ ác. Ví như hôm nay quý vị chịu khổ hoặc chịu sự trừng phạt, ắt hẳn là vì đã gieo ác nhân; hôm nay quý vị được hưởng thụ, ắt hẳn là vì đã gieo thiện nhân. Bất luận là nhân gì, quý vị cũng chỉ có thể bình thản mà tiếp nhận. Nhiều người nói: “Tôi không chấp nhận, như vậy là không công bằng.” Thế nào gọi là không công bằng? Quý vị có nhìn thấy được tiền thế của mình không? Những tội nghiệp quý vị đã tạo trong tiền thế, những pháp thí người khác đã bố thí trong tiền thế – có bao nhiêu điều trong đời này quý vị có thể thấy rõ? Khi khổ nạn đến với mình thì cảm thấy bất công; nhưng khi khổ nạn đến với người khác, vì sao quý vị lại cảm thấy vui? Như vậy có công bằng không?

Trong Thập Pháp Giới, giới thứ bảy đã là cảnh giới vượt thoát khỏi Lục Đạo luân hồi. Vậy trong Lục Đạo có Bồ Tát hay không? Trong Lục Đạo dĩ nhiên có Bồ Tát. Ví như trong Nhân đạo có những vị “thừa nguyện tái lai”, sẽ có hóa thân và pháp thân thị hiện. Nói cho quý vị biết: trong mỗi một đạo đều có Bồ Tát; nhưng khi đạt đến giới thứ bảy thì không còn giống như vậy nữa, vì đã vượt thoát khỏi Lục Đạo luân hồi. Bồ Tát chính là sự giác ngộ. Khi quý vị giác ngộ rồi, quý vị chính là Bồ Tát. Nhất định phải hiểu rõ những đạo lý này. Giới thứ tám là Duyên Giác; giới thứ chín là Bồ Tát giới. Bồ Tát ở cảnh giới này là những vị có đại từ đại bi, đại trí đại huệ. Đến giới thứ mười, cũng là cảnh giới cao nhất – Phật giới. Toàn bộ được gọi chung là Lục Phàm Tứ Thánh giới.

Sư phụ đã giảng cho quý vị rất nhiều lần rằng: phải có hóa thân thành tựu công đức, thì mới có thể thành tựu pháp thân. Khi hóa thân của quý vị đã giống như Bồ Tát cứu độ chúng sinh, thì pháp thân của quý vị nơi nhân gian mới là Bồ Tát. Nói cách khác, linh hồn của quý vị rất thanh tịnh, bởi vì hóa thân chính là linh hồn của quý vị. Khi linh hồn của quý vị đã thành tựu trí huệ của chư Phật, chư Bồ Tát, thì thân thể của quý vị chính là Phật, là Bồ Tát. Thân thể của quý vị không làm việc xấu, là vì linh hồn của quý vị không muốn làm; như vậy thân thể nhất định sẽ thanh tịnh. Khi một người muốn làm điều xấu, thì linh hồn của người ấy nhất định đã ô nhiễm. Ví như một người đi trộm cắp – nhất định là ý nghĩ khởi lên trước, đầu óc suy tính trước, rồi thân thể mới hành động. Khi trí huệ đạt đến một mức độ nhất định, thì đối với mọi việc đều không chấp trước, không vướng mắc, như vậy sẽ không còn đau khổ. Ngược lại, khi chuyện gì cũng thấy quan trọng, chuyện gì cũng chấp vào, thì khổ đau liền sinh khởi. Nếu một người đã tu sửa quan niệm, lý niệm và linh hồn của mình đến mức như Bồ Tát, thì hành vi và cuộc đời của quý vị chính là Bồ Tát. Khi quý vị chưa tu thành hóa thân của chính mình, thì pháp thân của quý vị nhất định chưa phải là Bồ Tát.

Sư phụ tiếp tục giảng cho mọi người về trí huệ của Phật, trí huệ của chư Phật, chư Bồ Tát. Dù một người dùng hết toàn bộ sự thông minh, trí huệ và mọi tư duy của mình để lấp đầy đi nữa, cũng không thể sánh với trí huệ của chư Phật, chư Bồ Tát. Sư phụ lấy một ví dụ: Một con voi đi đến bờ biển uống nước. Bụng của voi rất lớn, có thể hút được rất nhiều nước. Quý vị thử nghĩ xem, bụng của một con voi dù có lớn đến đâu, có thể hút cạn nước biển hay không? Phật pháp rộng lớn mênh mông như biển cả. Dù quý vị học nhiều đến đâu, có thể học hết Phật pháp hay không? Cũng vậy, một con muỗi hút máu, cũng uống nước. Nếu con muỗi bay ra biển uống nước, thì trước hết, sự khác biệt giữa voi và muỗi đã rất lớn rồi. Nhưng khi muỗi uống no nước và voi uống no nước, có phải là cùng một khái niệm hay không? Đúng, đều là “no”. Có người học Phật như voi uống nước, học rất nhiều; có người học Phật như muỗi, chỉ uống một chút mà đã tưởng rằng mình học được toàn bộ. Quý vị chỉ uống được một ít nước như thế, mà đã cho rằng mình no rồi, vì bụng của quý vị cảm thấy no. Nhưng xét theo Phật pháp, Phật pháp nhiều đến như vậy, quý vị chỉ học một chút ít, làm sao có thể đủ được? Phật pháp là nguồn vô tận, lấy không hết, dùng không cạn, làm sao quý vị có thể học hết cho được?

Quý vị học Phật pháp như thế nào? Có một phương pháp, có thể giúp quý vị căn bản học được toàn bộ Phật pháp. Hãy nghĩ như thế này: nước biển vốn dĩ là của quý vị. Quý vị chính là Phật, là Bồ Tát. Chỉ khi quý vị là Phật, là Bồ Tát, thì mới có thể thọ dụng nguồn suối trí huệ vô tận của Phật. Bởi vì khi quý vị đã hiểu rõ mọi vật chất trong nước, nó có bao nhiêu cấu trúc phân tử, bao nhiêu khoáng chất, bao nhiêu thành phần… khi tất cả đều minh bạch, thì nước ấy đến nơi quý vị tự nhiên trở thành của quý vị. Nếu quý vị chẳng hiểu gì, chỉ uống một ngụm nước biển rồi nói: “Sao nước này mặn thế?” — thì phải biết rằng nước biển vốn dĩ là mặn. Cũng giống như nhiều người học Phật: trong miệng đang ngậm đường, lại đi uống nước biển, rồi cho rằng nước biển phải ngọt. Đó chính là lý do vì sao học Phật đến cuối cùng, mỗi người lại có một cách nghĩ riêng, mỗi người một đạo tràng riêng, cách giảng cũng khác nhau; ai cũng cho rằng mình là chánh pháp, cực đoan cho rằng mình đúng, còn người khác đều là tà pháp. Sư phụ xưa nay không bàn luận pháp môn khác đúng hay sai. Sư phụ chỉ nói với quý vị: hãy theo bước chân của Quán Thế Âm Bồ Tát mà đi. Những lời Sư phụ giảng ra, quý vị hãy dùng tâm Phật của mình để cân nhắc; điều gì có thể tiếp nhận được bằng tâm Phật, thì đó là chánh pháp.

Vì sao điều chánh thì mọi người đều có thể tiếp nhận? Bởi vì điều chánh tương ưng với bản tính của quý vị, tâm tâm tương ấn, có thể khiến bản tính của quý vị tự nhiên tiếp nhận. Mà sự tiếp nhận này vô cùng quan trọng. Ví như: học Phật pháp có phải để cầu tiền tài hay không? Học Phật pháp có nên thu tiền của người khác hay không? Học Phật pháp có nên cứu độ chúng sinh hay không? Hiện nay có bao nhiêu người tu hành có thể bước ra giảng giải Phật pháp cho người khác nghe? Nếu quý vị hỏi họ, họ không nói nhiều. Thật ra họ cũng học không ít, nhưng học rồi chưa chắc đã giảng ra được. Cũng không thể trách họ, bởi vì còn có vấn đề ở chỗ hiểu và thấu triệt – quý vị hiểu chưa?

Phải ghi nhớ chúng ta học Phật, học Pháp, phải hòa mình vào biển Phật. Nghĩ xem, khi đã hòa vào đại dương ấy, chẳng phải đại dương thuộc về quý vị sao? Nếu không, quý vị chỉ là chuồn chuồn lướt nước, chạm đến rồi thôi, lại còn tưởng rằng mình đã no đủ, vui mừng khôn xiết. Thật ra quá ít! Phật pháp thâm sâu huyền diệu, điều quý vị học được chỉ là chút da lông bên ngoài mà thôi. Có một câu gọi là “người mù sờ voi”. Người mù chưa từng nhìn thấy voi. Một người chạy đến sờ vào vòi voi rồi nói: “Con voi là một vật dài.” Người khác sờ vào bụng voi lại nói: “Không đúng, voi tròn tròn mềm mềm, giống như quả bóng.” Quý vị nghĩ xem, những điều họ tưởng tượng chỉ là tiếp xúc với một phần rất nhỏ mà thôi, chứ không thể nhìn vấn đề một cách tổng thể. Nói theo cách hiện nay gọi là “vĩ mô”, tức là nhìn sự vật một cách toàn diện. Học Phật, học Pháp phải nhìn sự vật một cách toàn diện, chứ không phải phiến diện.

Báo thân Phật nghĩa là người ấy nơi nhân gian đã có được trí huệ của Phật. Nhất định phải có sự nhẫn nại của chư Phật, chư Bồ Tát. Sư phụ là nhẫn nhục tinh tấn. Quý vị đừng vì mình làm được một chút việc nhỏ, rồi người khác nói sai quý vị một chút, mà đã cảm thấy khó chịu, không chịu nổi. Nhất định phải học cách nhẫn nhục. Phải nhớ rằng, con người sống ở đời, thế nào cũng sẽ bị người khác nói. Quý vị làm đúng, người ta cũng nói; làm sai, người ta càng nói; không nói không làm gì, người ta vẫn nói. Đó chính là “hiện tượng xã hội” ngày nay. Hãy thản nhiên đối diện. Người ta nói thì cứ nói, có gì đâu? Nếu mình làm đúng, sau khi nói xong họ sẽ tự giác ngộ, về sau vẫn sẽ đối xử tốt với quý vị. Nếu quý vị có bản lĩnh, người khác nói mà không làm quý vị lung lay, chứng tỏ quý vị là thật. Nếu bị người khác nói vài câu mà đã gục ngã, bảo rằng “tôi không làm nữa”, thì quý vị đã ngã rồi, đã bị lời nói ấy đánh trúng. Từ xưa đến nay, có ai mà không bị người đời bàn tán? Bao nhiêu bậc lãnh đạo có cống hiến xuất sắc, dù danh tiếng tốt đến đâu, vẫn có người nói điều không hay về họ. Phải chuẩn bị tâm lý để bị người khác nói. Người ta nói quý vị là cho quý vị cơ hội để tiến bộ. Nếu không có người nói, quý vị sẽ khó mà tiến bộ. Nếu Sư phụ không nhắc nhở, không chỉ ra lỗi cho các đệ tử, thì các đệ tử làm sao có thể nỗ lực tinh tấn?

Vĩnh viễn đừng quên rằng tự thân chúng ta cũng là Phật. Chỉ khi tự thân là Phật, mới có thể làm được những hành vi giống như Phật; nếu tâm không chánh, thì không thể thành Phật. Sư phụ nói với quý vị: Báo thân Phật chính là Phật nơi nhân gian, là sự hưởng thọ trong chánh định. Con người có thể an định được, tâm lại rất chánh, đó gọi là chánh định hưởng thọ. Chỉ khi một người tâm chánh và có thể định lại được, người ấy mới đạt được sự hưởng thọ chân thật, thực chất là hưởng thọ ở cảnh giới. Ví như người có cảnh giới cao thượng, khi giúp đỡ người khác, sẽ cảm thấy đó là niềm vui của chính mình; bởi vì đạt đến cảnh giới ấy rồi, mới có thể hưởng được niềm vui đó. Ngược lại, nếu giúp người mà cảm thấy mình thiệt thòi, mất mát, thì là chưa đạt đến cảnh giới ấy, nên không thể có được sự hưởng thọ đó.

Làm một việc gì đó, nếu chưa làm thành công, mọi người đều chưa làm được, có người sẽ rất đau khổ, nhưng có người lại vẫn vui vẻ. Vì sao? Người đau khổ cho rằng lần này đã thất bại rồi, sẽ không còn lần sau nữa, vì họ không muốn tiếp tục làm nữa. Còn người vui vẻ thì nghĩ: “À, thì ra lần này thất bại là vì nguyên nhân này. Lần sau nhất định tôi sẽ thành công.” Cùng một sự việc như nhau, nếu tâm chánh và có thể an định lại, người ấy sẽ tiếp tục nỗ lực, không bị khó khăn đè ngã. Người như vậy mới có thể thành công, đó mới là sự hưởng thọ chân thật.

QUYỂN 2 – TẬP 31
HÓA THÂN NGƯỜI THÀNH PHÁP THÂN, LÀM CHỦ LINH HỒN CỦA CHÍNH MÌNH NƠI NHÂN GIAN
(化人身为法身,在人间主宰自己的灵魂)

Chủ nhân của thế giới Ta-bà trên thực tế chính là Báo thân Phật. Nếu quý vị có thể làm chủ được chính mình trong thế gian này, thì quý vị chính là một vị Phật, một vị Bồ Tát; khi ấy, quý vị có thể làm chủ toàn bộ tinh thần và vật chất trong thế gian.

Sư phụ đã từng nói với quý vị: Sư phụ là “cảnh chuyển mà tâm không chuyển”, tức là để cảnh giới xoay theo tâm mình, chứ không phải để tâm mình xoay theo cảnh. Sư phụ thích dùng lời giản dị để giảng giải Phật pháp cho quý vị. Ví dụ, có một việc người khác không chịu làm, quý vị phải dùng trí huệ của Phật, của Bồ Tát để khiến cảnh chuyển mà tâm không chuyển. Nếu quý vị có thể khiến một người hôm nay rất hận mình, thì cũng có thể khiến người ấy hôm nay rất yêu quý mình, đó chính là sự chuyển biến của tâm cảnh. Yêu và hận vốn dĩ là một loại oan kết; có yêu thì sẽ có hận, có hận ắt sẽ có yêu. Quý vị xem nhiều bộ phim, có người vì hận đối phương mà cuối cùng lại kết hôn với người ấy. Mọi sự vật đều có hai mặt chính và phản. Bất kỳ sự vật nào cũng đều biến đổi. Hôm nay quý vị có bản lĩnh khiến người ta mắng mình, tôi tin rằng quý vị cũng có bản lĩnh khiến người ta nói lời tốt về mình,  điều này tùy thuộc vào trí huệ của quý vị. Rất nhiều người không có trí huệ này, cho rằng: “Người ấy sẽ vĩnh viễn không thể hòa thuận với tôi.” Điều đó là không thể. Thật ra trên thế gian này không có thứ gì là vĩnh viễn bất biến. Con người bản thân còn không có cái “vĩnh viễn”, huống chi là sự vật. Ví dụ, quý vị có thể mãi mãi trẻ trung sao? Điều đó là không thể.

Người như thế nào sẽ không thất bại? Người hiểu được sự biến đổi của hoàn cảnh thì sẽ không bao giờ thất bại. Người như thế nào sẽ thành công? Người hiểu được mọi biến hóa của thế giới bên ngoài (của sự việc), biết thuận theo trào lưu, thì sẽ không bao giờ thất bại. Con người phải học cách thích ứng với hoàn cảnh, thích ứng với xu thế. Người ta thay đổi, mình cũng thay đổi; người ta không thay đổi, mình vẫn phải thay đổi. Học Phật cũng như vậy. Hôm nay học được một pháp môn mới, cảm thấy có tốt không? Tốt! Vậy thì hãy nghiêm túc học cho tốt. Những pháp môn khác cũng tốt; có những pháp môn khác làm nền tảng, thì học pháp môn mới sẽ càng nhanh hơn. Những điều căn bản của các pháp môn khác, học một chút cũng là điều tốt. Sư phụ không phải không cho quý vị học, mà là sợ quý vị học lệch lạc, không tìm được phương hướng, vì quý vị chưa có cảnh giới và khả năng lĩnh hội cao như vậy, lại rất khó gặp được minh sư chỉ điểm. Vì thế nhất định phải hiểu rõ đạo lý trong đó.

Tiếp theo, Sư phụ giảng cho mọi người: khi Đức Thích Ca Mâu Ni Phật còn tại thế, Ngài là Hóa thân Phật. Năm xưa khi Đức Thích Ca Mâu Ni còn làm Thái tử ở Ấn Độ, hầu như không có báo thân nghiệp chướng, rất thanh tịnh, rất tốt đẹp. Đức Thích Ca Mâu Ni từ cõi trời hạ thế, chính là để hoằng dương tôn giáo này – tôn giáo ấy chính là Phật giáo. Trước khi Đức Thích Ca Mâu Ni Phật viên tịch, Ngài cũng đau đầu suốt ba ngày – đó là để hoàn trả hết thảy những điều còn lại nơi nhân gian.

Ở nhân gian, phương pháp tốt nhất là dốc sức làm công đức. Công đức của mình làm càng lớn, thì quả vị trên trời càng cao. Ở nhân gian, nếu quý vị chuyên tâm niệm “A Di Đà Phật”, thì nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới, trong ao bảy báu sẽ có một đóa sen của quý vị. Quý vị niệm càng tốt, đóa sen ấy càng nở rộ, càng lớn mạnh. Đợi khi quý vị rời khỏi nhân gian, đến cõi trời, sẽ được tắm trong nước Bát Công Đức, rồi an tọa trên hoa sen. Bởi vì khi lên đó không phải là nhục thân, mà là linh hồn; linh hồn rất nhẹ, và cần phải rất thanh tịnh. Tu nơi nhân gian, thì trên trời có hoa sen, có quả vị. Ở nhân gian làm điều ác, trên trời nhất định sẽ có sự trừng phạt tương ứng. Sư phụ giảng cho quý vị từ trời xuống đến đất; thật ra Sư phụ không muốn giảng nhiều về những việc dưới đất, vì nói nhiều quá, quý vị sẽ sinh ác mộng.

Khi ấy, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật là Hóa thân Phật. Ngài có hai hình thái tồn tại nơi thế gian. Hình thái thứ nhất là thị hiện thân tướng khác nhau của các chúng sinh để tồn tại – tức là chư Phật, chư Bồ Tát có lúc hiện ra với những hình tướng khác nhau của chúng sinh. Ví dụ, khi quý vị làm bác sĩ, ở trong bệnh viện hoằng pháp chẳng phải mặc áo blouse trắng sao? Khi ấy, quý vị thị hiện là một vị bác sĩ đang hoằng pháp. Nếu mặc âu phục, thắt cà vạt, với thân phận một thương nhân, xung quanh đều là thương nhân, khi độ hóa họ, quý vị thị hiện thân phận thương nhân để hoằng pháp, để cứu độ chúng sinh. Đây là có hình có tướng, dùng những thân xác khác nhau để hoằng pháp, cứu độ chúng sinh. Năm xưa, khi Đức Thích Ca Mâu Ni còn làm Thái tử, Ngài đã ngộ ra đạo lý này; sau đó xuất gia làm sa môn. Ngài biết rằng thế gian này quá khổ. Về sau, Ngài lại thị hiện hình tướng Phật, Bồ Tát, đi khắp nơi giảng kinh thuyết pháp – đó đều là dùng nhục thân để hoằng pháp.

Hình thái thứ hai là vô hình vô thần, không bóng không tướng. “Vô ảnh vô hình” là tồn tại dưới dạng quang năng. Quang năng là gì? Khi quý vị nhìn thấy Quán Thế Âm Bồ Tát, thực ra điều nhìn thấy là ánh sáng. Quý vị có từng thấy trên đầu Sư phụ có ánh sáng không? Đó chính là quang năng. Bất kỳ vật chất nào trên thế gian đều có thể phân giải. Một sợi tóc có thể phân giải; nước có thể phân giải; con người cũng có thể phân giải; bất cứ thứ gì cũng đều có thể phân giải. Khi một người qua đời, vì cơ thể con người có 70–80% là nước, về sau chỉ còn lại xương; nhục thân phần lớn là nước nên dần dần tan rã, trở thành vô hình vô ảnh. Sau khi không còn hình bóng nữa, thực chất là đi vào thế giới linh thể. Người có cảnh giới cao thì trở thành Bồ Tát. Chúng ta thấy Bồ Tát giáng lâm, chính là ở trạng thái vô hình vô ảnh – lúc thấy như có, một lát sau lại không còn nữa.

Hình thái thứ nhất là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát. Quán Thế Âm Bồ Tát hóa thân thành một người xuất gia đến với thế gian này; Đại Thế Chí Bồ Tát thì hóa thân thành một chúng sinh tại gia để tu hành, đều là Bồ Tát. Có vị Bồ Tát hóa thân thành người xuất gia, có vị Bồ Tát hóa thân thành hàng tại gia. Nếu trong quý vị có ai là hóa thân của Bồ Tát, thì hiện nay chính là hóa thân trong thân phận tại gia. Tại gia tức là người tu hành ở trong gia đình, không phải người xuất gia.

Hình thái thứ hai là người có công phu tu chứng, thừa nguyện tái lai. “Tu chứng” nghĩa là người này đã đạt được chứng ngộ, có công phu thực sự; họ thừa nguyện trở lại nhân gian. Họ vốn đã là Bồ Tát. “Tôi muốn xuống nhân gian cứu người, tôi muốn cứu độ bao nhiêu bao nhiêu người; nhất định phải khiến người trên mảnh đất này đều khai ngộ, biến mảnh đất này thành Phật tịnh độ và lạc độ.”- đó chính là nguyện lực của Bồ Tát thừa nguyện tái lai. Bồ Tát thừa nguyện tái lai, quý vị có thể gặp được, có thể cảm nhận được thân thể của họ phát ấm. Người thừa nguyện mà đến thì thân thể phát ấm; có người còn phát quang, tức là trên thân có ánh sáng. Nếu người ấy được mọi người xưng là Bồ Tát, thì nhất định sẽ có ánh sáng, thân thể phải ấm nóng. Khi Sư phụ dẫn quý vị bái lạy Bồ Tát, thân thể quý vị sẽ phát nhiệt. Khi Sư phụ khai pháp hội, quý vị có thể thấy ánh sáng trên đầu Sư phụ; có một thính giả đã chụp được quang hoàn trên đầu Sư phụ.

Sư phụ nói thêm vài lời tâm huyết: Khi quý vị có “biện pháp”, người khác sẽ không làm gì được quý vị. Khi quý vị có thể làm chủ tâm linh của mình, người khác cũng không làm gì được quý vị. Muốn người khác không thể làm khó mình, tốt nhất là tự mình phải có “biện pháp”. Tâm tri túc phải thường tồn, tức là tâm biết đủ của chúng ta phải luôn hiện hữu trong đời, trong lòng lúc nào cũng nên cảm thấy mãn nguyện. Tâm hiếu thắng bất thiện phải thường diệt. Tâm tri túc thường có, tâm hiếu thắng thường diệt, thì sẽ an nhàn tự tại. Không hiếu thắng, không tranh đấu, thì tự nhiên rất an nhàn tự tại. Khi sinh có gì đáng vui? Khi chết có gì đáng sợ? Lúc sống vốn dĩ cũng sinh ra trong mơ hồ; khi chết cũng đừng nên lo buồn hay sợ hãi. Điều quan trọng là phải biết sau này mình sẽ đi về đâu. Công phu tu hành của chính mình chính là mục tiêu tốt nhất dẫn dắt mình đi về đâu. Nếu ngộ được pháp Không tánh thì không sinh cũng không tử. Nếu ngộ được “Không”, tức là đã khai ngộ, hiểu rằng cả cuộc đời này vốn là không. Có một tâm pháp như vậy, trong tâm hiểu rõ; nếu biết nên sống thế nào, thì sẽ không còn khái niệm sinh và tử. Vô sinh vô tử chính là Không – đó chính là cảnh giới của Bồ Tát.

Hôm nay giảng cho các đệ tử đến đây là kết thúc.

QUYỂN 2 – TẬP 32
DÙNG TÂM NHƯ LAI, HỌC PHẬT ĐỘ CHÚNG, KHÉO QUÁN NHÂN DUYÊN
(用如来心,学佛度众,善观因缘)

Hôm nay giảng cho đại chúng về tâm Như Lai, về ý nghĩa chân như của Phật. Tâm Như Lai chính là tâm chân chính của chư Phật và chư Bồ Tát. Trong đó có một tầng hàm nghĩa: tâm Như Lai tức là tâm chân như; mà tâm chân như chân thật của Phật cũng chính là tâm Như Lai. Tâm Như Lai là chân chính, là chân thật, là kiên cố. Tâm Như Lai nghĩa là đối với Phật tính và Phật tâm không có một mảy may hoài nghi. Trong đó còn bao hàm tâm tùy duyên, tâm thanh tịnh, và tâm Niết-bàn. Học Phật là học bản tính chân chính và tâm chân như của Phật. Tâm nguyên sơ chân thật vốn sẵn nơi mỗi người, tức tâm của Phật, của Bồ Tát,  chính là bản tính, cũng chính là tâm Như Lai. Đại chúng đều biết, Niết-bàn chính là quán thế giới này là vô thường; khi tự mình khai ngộ, hoàn toàn thấu hiểu tính chân thật của thế gian, thì tâm trở về như thuở ban đầu – đó chính là tâm Như Lai.

Chư Phật, chư Bồ Tát dạy chúng ta rằng “không nên nói rõ ra”, tức là không nên trực tiếp giảng pháp môn cho những người chưa có căn cơ giác ngộ; không thể nói một cách minh bạch, không thể nói thẳng ra. Học Phật tu tâm, điều quan trọng nhất là chính mình phải khai ngộ trước. Bởi vì sau khi quý vị nói với họ về pháp môn này, nếu họ không học cho tốt, không tu cho tốt, không khai ngộ, thì đối với quý vị mà nói lại càng bất lợi hơn. Phương pháp thù thắng nhất là tự mình trước hết phải khai ngộ, sau đó khơi mở căn cơ giác ngộ của người khác, khiến họ tự mình cảm ngộ, tự mình thể hội, rồi tự mình minh bạch. Sự minh bạch ấy phải là sự thấu hiểu phát xuất từ nội tâm, không phải do nghe người khác nói mà sinh ra hiểu biết. Ví như khi tự thân liễu ngộ một việc, ắt sẽ bỗng nhiên đại ngộ; còn nếu người khác giảng giải hồi lâu, dẫu có hiểu cũng chỉ là hiểu lờ mờ, chưa phải là triệt để khai ngộ. Quý vị giảng điều gì, họ cũng khó thể tiếp nhận, bởi chưa đạt đến trình độ có thể lãnh hội đạo lý ấy. Chẳng phải như vậy sao? Đợi khi họ đạt đến mức có thể thấu hiểu Phật lý mà quý vị nói ra, lúc ấy, lời gì quý vị nói họ mới có thể tin nhận.

Sư phụ nay giảng cho quý vị ba điều, dạy quý vị cách tự mình khai ngộ:

Thứ nhất, hành Bồ Tát đạo, tức là đi trên con đường mà Bồ Tát đang đi. Bồ Tát cứu người, chúng ta cũng cứu người. Bồ Tát làm công đức, cứu độ chúng sinh, chúng ta cũng làm công đức, cứu độ chúng sinh. Bồ Tát trì giới, tu Thập Thiện nghiệp, chúng ta cũng trì giới, tu Thập Thiện nghiệp. Đó gọi là hành Bồ Tát đạo.

Thứ hai, tích lũy phúc đức. Phúc đức và công đức là hai khái niệm sai biệt. Phúc đức là làm việc thiện, làm nhiều việc thiện để chuyển hóa nhân quả của chính mình. Tuy nhiên, việc thiện chưa hẳn đã thành tựu công đức. Vì vậy, khuyên người học Phật ắt phải bắt đầu từ phúc đức. Nếu một người ngay cả những việc thiện căn bản cũng không muốn làm, thì người ấy quyết không thể thành tựu công đức. Nếu đến một việc thiện nhỏ cũng không chịu thực hành, thử hỏi có thể tạo nên công đức chăng? Ắt hẳn là không thể. Chỉ khi thiện căn, trí tuệ và định lực, ba nhân duyên ấy được thành thục, mới có thể kết thành công đức thù thắng. Thiện căn bản tính của một người là điều hệ trọng nhất; nghĩa là bản tính lương thiện, lương tâm chân chánh, mới đầy đủ điều kiện căn bản để tu tâm. Sau đó phải tuần tự tu tập, trưởng dưỡng trí tuệ, mới có thể ngày càng tiến gần đến sự khai ngộ trong Phật pháp.

Thứ ba, phải có định lực. Nhiều người học theo Bồ Tát, đã có trí tuệ, nhưng lại thiếu định lực. Quý vị có biết định lực từ đâu mà có chăng? Định lực ấy do tu luyện mà thành. Đã có trí tuệ, ắt phải có định lực tương ưng. Học Phật học pháp, nếu đến sau cùng mà thiếu định lực thì không thể đạt đến sự thành thục của Phật. Nói cách khác, muốn đạt đến cảnh giới Phật, trước hết phải đạt đến sự thành thục. Sự thành thục ấy chính là điều Sư phụ đã giảng cho đại chúng, từ Nhất Địa Bồ Tát cho đến Thập Địa Bồ Tát. Nếu quý vị muốn viên thành Phật đạo, thì khi còn hành Bồ Tát đạo, ắt phải có trí tuệ, có định lực và giữ vững bản tính. Đầy đủ ba điều kiện ấy mới có thể viên mãn chuyển nhập Bồ Tát giới, và sau cùng đạt đến Phật giới. Ví như một người thông minh, khéo độ người, phát nguyện làm công đức, đầy đủ trí tuệ, lại có thể giữ tâm an định, không bị các duyên cảnh dụ hoặc chi phối. Nếu cứ như thế mà tu hành thì về căn bản đã có thể viên thành Bồ Tát đạo; song sự viên thành ấy là sự viên thành tương ưng.

Bồ Tát dạy chúng sinh phải khéo quán nhân duyên, tức là học cách quan sát và thấu xét nhân duyên của người khác. Ví như hôm nay hai người bất hòa, trong lòng không vui, trước hết quý vị phải quán sát nhân duyên và quả báo giữa hai người ấy, đó gọi là khéo quán nhân duyên. Nhiều người không hiểu điều này: khi cha mẹ đang tranh cãi, đứa con lại xen vào, kết quả bị đánh một cái tát, ấy chính là không biết khéo quán nhân duyên. Muốn cứu độ chúng sinh, ắt phải hiểu rõ nhân duyên. Nếu quý vị muốn độ người, trước hết phải xét xem giữa mình và người ấy có nhân duyên hay không, có đủ duyên phận để độ họ, cứu họ chăng. Nếu người ấy đang oán hận quý vị, không muốn tiếp xúc với quý vị, mà quý vị lại đến giảng pháp, há chẳng phải tự chuốc lấy sự khước từ sao? Người ta vừa thấy quý vị đã sinh tâm chán ghét, khi ấy còn có thể cứu độ được chăng? Nếu nhân duyên đã chín muồi thì có thể trực tiếp khai thị. Ví như người ấy từng học Phật pháp, thì có thể tùy duyên giảng pháp cho họ. Sư phụ nhờ có năng lực xem đồ đằng nên có thể trực tiếp khai thị; dĩ nhiên, sự khai thị ấy tự nhiên thù thắng hơn, bởi quý vị không thể nhìn ra nhân duyên của họ, chỉ có thể khuyên rằng: “Hãy cố gắng tu hành cho tốt.” Biết đâu người ta lại đáp: “Quý vị tu còn chưa bằng tôi.” Vì thế, cần phải khéo quán nhân duyên.

Tiếp theo, Sư phụ giảng rằng: nếu không khéo quán nhân duyên mà trực tiếp khai thị, sẽ khiến những chúng sinh nhân duyên chưa chín muồi bị tổn hại. Khi khuyên bảo người khác, nếu nhân duyên của họ chưa thành thục mà quý vị lại trực tiếp nói họ nên làm gì, phải làm gì, thì trên thực tế chính là đang làm hại họ. Ví như quý vị khuyên họ, họ không nghe; dù ngoài miệng không nói, nhưng trong lòng đã sinh bất mãn. Trong tâm liền khởi lên một niệm bất thiện, thực ra lúc ấy quý vị đã khiến họ khởi tâm tạo nghiệp nơi ý thức. Họ oán hận quý vị trong lòng, rồi lại nói năng sai lệch, như vậy quý vị càng tăng thêm nghiệp. Họ tạo nghiệp, quý vị cũng tạo nghiệp. Vì thế, người nhân duyên chưa chín muồi thì không thể độ, thực sự không có cách nào khác. Chư Phật, chư Bồ Tát còn không thể độ tận hết thảy chúng sinh, huống chi hàng phàm phu như chúng ta? Quý vị chỉ có thể chọn những quả đã chín mà hái, chứ không thể hái những quả còn xanh; đạo lý cũng là như vậy. Có những người căn cơ chưa khai mở, quý vị nói mãi, giảng mãi, đến sau cùng họ còn quay lại trách mắng quý vị, như vậy quý vị lại tạo nghiệp. Bởi vì thiện căn và phúc đức của họ vẫn chưa đầy đủ. Ví như một người cơm chưa đủ ăn, áo chưa đủ mặc, quý vị lại bảo họ: “Anh có thể lấy tiền ra đầu tư được không?” Họ không có duyên ấy, làm sao có thể tham dự những việc như vậy? Có phải thế không? Đó gọi là phải biết xem duyên phận, mà còn phải đầy đủ nhân duyên mới có thể cứu độ họ.

Lại nữa, khi nhân quả của một người chưa thành thục, không thể trực ngôn thực tướng pháp giới (tức pháp tướng chân như). Khi người ấy còn mê muội, chưa rõ chân lý, chớ nên vội đem chân tướng thế gian mà khai thị. Ví như có người tự mãn nơi nhân sinh của mình, tự cho là an vui đầy đủ, suốt ngày ẩm tửu thực nhục, ca vũ hoan lạc, tự nhận mình giàu có, vô ưu vô lự. Khi ấy, nếu quý vị đến nói với họ rằng: “Nếu các vị cứ tiếp tục trầm luân như thế, ắt không thể sinh thiên, không thể vãng sinh Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, mà sẽ đọa vào lục đạo luân hồi, chịu khổ vô cùng vô tận”,  thì rất có thể họ sẽ lập tức phản ứng dữ dội, cho rằng quý vị nói điều điên đảo. Bởi nhân duyên của họ vẫn chưa thành thục, cho nên không thể đem thực tướng pháp giới mà giảng cho người duyên chưa chín. Không thể nói với họ về chân diện mục của thế gian, về bản chất chân thật của thế giới này. Bởi thế giới này vốn là vô thường: sinh bất tùng lai, tử bất tương khứ (sinh không mang đến, tử không mang đi), ấy chính là thực tướng.

Bởi nhân duyên của họ chưa đến, cho nên trong tâm không thể sinh khởi được tâm bình an và tâm nhẫn nại. Ví như có người làm chủ, vừa có được chút tiền tài, hôm nay liền nghĩ đến đầu tư việc này, ngày mai lại toan tính việc khác, hết dự định này đến dự định kia, mỗi ngày đều tính toán, mỗi ngày đều mạo hiểm; người như vậy vĩnh viễn không thể an ổn. Phải ghi nhớ rằng: bất luận làm bất cứ việc gì, trước hết phải giữ được tâm bình an, phải có tâm nhẫn nại. Bình an chính là phúc. Ngàn vạn lần chớ khởi tâm tham; hễ đã tham, ắt sinh nguy hiểm. Phải thường giữ một tâm an định. Bất luận làm việc gì, thành hay bại, đều phải có tâm nhẫn nại, học được thái độ “vô sở trước”, nhất thiết tùy duyên.

Học Phật pháp là học cảnh giới, phải buông xả tham, sân, si, tùy duyên mà an trụ. Đối với chúng sinh, chỉ những ai có nhân duyên tương ưng mới có thể cứu độ. Sự tinh tấn của tự thân cùng với sự gia trì của Sư phụ mới có thể đạt được hiệu quả, mới có thể viên thành. Nếu Sư phụ dốc lòng gia trì, mà tự thân quý vị không trì kinh tu tập, thì cũng không thể chuyển đổi nhân duyên của chính mình. Người nghe Phật pháp, nếu thiện căn chưa đầy đủ, phúc đức chưa viên túc, ắt dễ sinh tâm phỉ báng, nói lời bất thiện, chê trách người khác. Như vậy sẽ kết thành nghiệp chướng đối với đạo nghiệp tương lai; đồng thời cũng gây chướng ngại cho sự hoằng pháp nơi nhân gian về sau. Ví như những người nhân duyên chưa thành thục, trước hết nên tạm để đó, đợi khi Sư phụ đích thân hóa độ, khi ấy sự giáo hóa sẽ tương đối viên mãn hơn. Bởi nếu quý vị vội vàng giảng nói, họ chẳng những không tin, mà còn sinh tâm oán hận; thậm chí đối với Pháp môn khởi tâm phê phán, bài xích. Đến khi Sư phụ tiếp tục hoằng pháp cho họ, trong tâm họ đã sẵn có một tầng chướng ngại, liền dễ kết thành nghiệp chướng. Vì đã có tâm niệm tiên nhập vi chủ (ấn tượng đầu tiên làm chủ): “Ta không vui, ta không nghe.” Thực ra, khi quý vị hoằng pháp như vậy đã động đến nhân quả của người ta. Người vốn chưa tin, lại bị cưỡng cầu phải tin; như thế liền sinh chướng ngại, mà chướng ngại ấy chuyển hóa thành nghiệp chướng. Phần sau sẽ tiếp tục giảng giải.

QUYỂN 2 – TẬP 33
LY DỤC PHẠM HẠNH, THÀNH TỰU PHẬT TÁNH
(离欲梵行,成就佛性 )

Hôm nay, Sư phụ tiếp tục giảng về Nhị Địa Bồ Tát. Trước hết, Sư phụ trình bày cảnh giới của Nhị Địa Bồ Tát cho đại chúng. Nhị Địa Bồ Tát còn gọi là Ly Cấu Địa. “Diệu tu trung đạo, dứt trừ pháp cấu, nên gọi là Ly Cấu Địa. Lại dùng gia hạnh trí đoạn trừ vô minh khiến chúng sinh khởi tà hạnh, khiến vô minh ấy dứt tận; chứng đắc Giới Ba-la-mật tối thắng công đức làm tăng thượng.” Đó chính là cảnh giới của Nhị Địa Bồ Tát. Nhị Địa Bồ Tát lấy Thập Thiện Nghiệp làm căn bản để tự lợi và lợi tha; vừa thành tựu tự thân, vừa lợi ích chúng sinh. Tức là tự thân nhờ thọ hưởng lợi ích của Thập Thiện Nghiệp, rồi đem lợi ích ấy giúp đỡ người khác, khiến công đức lợi ích được viên mãn. Cảnh giới của Nhị Địa Bồ Tát là: sau khi từ Sơ Địa tiến nhập Nhị Địa, cảnh giới bắt đầu phát sinh sự chuyển hóa mới. Sự chuyển hóa ấy chính là sự hiển lộ của quang minh tâm.

Bởi vì Nhị Địa Bồ Tát có quang minh tâm, tức là tâm sáng suốt, đã khai ngộ. Quang minh tâm ấy dần dần, từng bước một, chuyển hóa thành đại từ bi tâm. Tâm từ bi vốn ai cũng có, nhưng thiếu một chữ “đại”. Đại từ bi tâm, đại nguyện lực tâm, đại phúc đức tâm, đại xả tâm, nghĩa là trong mỗi ngày, mỗi thời, phải thường giữ đủ từ, bi, hỷ, xả, nhưng phải là tâm quảng đại. Thế nào là lớn? Thế nào là nhỏ? Ví như hôm nay phát nguyện: “Con trước Quán Thế Âm Bồ Tát, một năm ăn chay một ngày,” hoặc “một tháng ăn chay hai ngày,” ấy đều là nhỏ. Lớn là phát nguyện rằng: “Bạch Quán Thế Âm Bồ Tát, con nguyện cứu độ hết thảy chúng sinh hữu duyên.” Phải hiểu rằng, nguyện lực tối vi trọng yếu. Địa Tạng Vương Bồ Tát từng phát đại nguyện: “Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật.” Tuy địa ngục đến nay vẫn chưa không, nhưng chính đại nguyện ấy đã thành tựu quả vị của Ngài. Vì sao một người sau khi phát nguyện, dẫu chưa viên thành, vẫn được quả báo? Ví như quý vị chân thành muốn làm một việc thiện, dù sự việc chưa thành tựu, nhưng tâm nguyện chân thật đã phát khởi, thì tự thân đã có công đức. Cho nên, nhất định phải phát khởi đại nguyện lực.

Lại nữa, khi đại xả tâm, đại phúc đức tâm, đại nguyện lực tâm và đại từ bi tâm của quý vị dần dần sinh khởi, chính là đang từng bước tẩy trừ tâm linh, gột rửa nội tâm cho thanh tịnh. Khi bản tính đã thanh tịnh, liền có thể thấy được bản tính thanh tịnh ấy; từ đó dần dần thoát khỏi sự nhiễm trước, không còn trầm đắm trong cảnh giới Dục giới. Khi quý vị từng bước trải qua sự tẩy luyện ấy, tâm cảnh sẽ dần dần vượt thoát khỏi Dục giới thiên.

Sư phụ nói cho các vị nghe: Thuở trước, các bậc tăng nhân có thể thoát ly Dục giới, bởi các ngài ẩn tu nơi sơn tự, an trụ trong chốn già lam mà chuyên tâm tu hành; không gần nữ sắc, không nhiễm tiền tài, đối với hết thảy đều không chấp trước, chỉ một lòng tinh tấn tu tâm. Nhờ vậy mà có thể đạt đến cảnh giới thoát khỏi sự nhiễm trước của Dục giới. “Nhiễm trước” tức là sự ô nhiễm và chấp dính của tâm. Ngày nay, nhà nhà đều có báo chí. Các vị có xem những trang mục không nên xem chăng? Các vị theo Sư phụ tu tâm, nếu còn xem những nội dung không thích hợp, thì chưa thể gọi là người đệ tử chân chính biết chuyên tâm tu hành. Nếu có người nói rằng: “Tôi xem những điều ấy là để phê phán,” thì Sư phụ nói với các vị rằng: người ấy là kẻ chưa có cảnh giới, tự mình hạ thấp phẩm hạnh, dễ bị người đời khinh chê. Những thứ ấy vốn là bất tịnh, là điều đáng hổ thẹn trong thế gian, không nên xem. Hãy tự quán chiếu: trong thân người, những phần bất tịnh là gì? Nếu lại sinh tâm ưa thích những điều như vậy, há chẳng phải là tự làm cho tâm mình trở nên ô nhiễm sao? Đó là tập khí dục nhiễm thô trọng còn tồn đọng trong tâm thức, không phải là điều người tu hành nên gần gũi.

Vì vậy, người học Phật nhất định phải rời xa cảnh giới trần ai, thành tựu sự thanh tịnh; phải ly dục, hành phạm hạnh, tức là rời xa mọi dục vọng của chính mình. Chữ “Phạm” nghĩa là chân chánh tin sâu, thật sự tu sửa hành vi của tự thân. Giới hạnh phải đầy đủ. Mọi hành vi đều phải có giới luật làm chuẩn mực. Phật pháp dạy: “Lấy giới làm gốc.” Vì thế, nhất định phải trì giới, và phải trì giới một cách viên mãn, toàn diện từ tư tưởng, lời nói cho đến hành vi, hết thảy đều phải đặt trong khuôn khổ giới luật. Chỉ khi được như vậy, người ấy mới có thể bước vào lĩnh vực tu hành của Nhị Địa Bồ Tát, tức là vừa mới tiến nhập cảnh giới tu chứng của Nhị Địa.

Nhiều người nói: “Sau này con muốn lên cõi Bồ Tát, có thể lên được chăng?” Hiện nay, Sư phụ đã chỉ rõ mục tiêu cho các vị. Con đường đã được vạch ra. Có thể tu lên hay không, hoàn toàn là việc của tự thân mỗi người. Có chịu tu hay không, đều do chính mình quyết định. Giống như sóng lớn đãi cát, có người không đủ kiên trì nên tự nhiên bị đào thải; có người vì phẩm hạnh bất chánh mà tự rút lui; có người thiếu chí tiến thủ, không đủ niềm tin để sửa đổi tập khí của bản thân, nên dần dần thoái chuyển. Chỉ những ai thật sự tu hành chân chánh, trong tâm có Phật, thực sự bước đi theo con đường của chư Phật, chư Bồ Tát, mới có thể vượt qua hết thảy chướng ngại, dũng mãnh tinh tấn tiến về phía trước. Ví như các vị đều từng thấy con thuyền. Mũi thuyền luôn nhọn và hướng thẳng về phía trước. Chính phần nhọn ấy rẽ nước mà đi, giúp con thuyền vượt sóng tiến lên. Việc học Phật, tu pháp cũng như vậy. Nếu tìm đúng con đường, giống như con thuyền có mũi nhọn, sẽ có thể rẽ sóng mà tiến, đẩy mọi chướng ngại sang hai bên. Nhưng nếu mũi thuyền bằng phẳng, lực cản ắt sẽ rất lớn; muốn tiến lên cũng vô cùng khó khăn. Tu học Phật pháp cũng thế. Nhất định phải tìm đúng con đường chân chính – tức con đường của chư Phật, chư Bồ Tát. Chỉ khi đi đúng Phật đạo, mới có thể dũng mãnh tinh tấn, tiến thẳng về phía trước.

Trong kinh điển Phật giáo dạy rằng hết thảy pháp môn tu học đều phải lấy Thập Thiện Nghiệp làm nền tảng căn bản. Sư phụ trước đây đã từng giảng giải về Thập Thiện Nghiệp cho đại chúng. Nhị Địa Bồ Tát chính là nương nơi Thập Thiện Nghiệp mà tự lợi, lợi tha, vừa thành tựu tự thân, vừa lợi ích hữu tình. Còn về Thập Ác Nghiệp, hôm nay không nhắc lại chi tiết. Thập Thiện Nghiệp gồm có: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không lưỡng thiệt, không ác khẩu, không ỷ ngữ, không tham, không sân, không si. 

Người tu hành trước hết phải tu Thập Thiện Nghiệp, như vậy mới có thể hành trì đúng pháp. Chỉ cần chuyên tâm tu học Thập Thiện Nghiệp, ắt sẽ tìm được chánh pháp. “Như” nghĩa là tương ưng, là phù hợp với chân lý. “Như pháp” tức là tìm đúng pháp, nương đúng pháp mà tu, rồi dần dần đắc pháp, khiến tâm từng bước trở nên thanh tịnh. Kỳ thực, bao nhiêu bận rộn trong đời, rốt cuộc cũng chỉ xoay quanh một chữ “tâm”. Những tập khí, phiền não và rắc rối của quý vị hôm nay từ đâu mà có? Đều là vì tâm chưa an tịnh, chưa thanh sạch. Nếu tâm có thể trong sạch thêm một phần, thì lỗi lầm tự nhiên giảm bớt một phần; phiền não cũng theo đó mà tiêu trừ.

Con người sở dĩ sinh ra nhiều tật bệnh và sai lầm, phần lớn đều do tâm không thanh tịnh mà khởi. Vì thế mới nói: tâm là căn nguyên sinh bệnh, là đầu mối của tai họa, là gốc rễ phát sinh mọi lỗi lầm. Cổ đức dạy rằng: “Tâm định tắc vạn bệnh tiêu.” Tâm an định thì muôn bệnh có thể dần dần chuyển hóa. Người mang tâm bệnh, dẫu nơi thân phát sinh nhiều chứng bệnh, chỉ cần tâm có thể an định, giữ được niềm tin và ý chí, vẫn có thể từ căn bản mà cải chuyển. Các vị có hiểu chăng? Có một người mắc bệnh ung thư. Gia đình không nói rõ bệnh tình, mà một mực chăm sóc, đối đãi ân cần, khích lệ tinh thần, giúp người ấy giữ vững niềm tin. Kết quả, vì không sinh tâm sợ hãi, không khởi niệm tuyệt vọng, trái lại còn tăng trưởng ý chí, bệnh tình dần dần thuyên giảm, cuối cùng chuyển biến theo hướng tốt. Lại có một người khác, vừa nghe nghi ngờ mắc bệnh nặng. Gia đình nói rằng rất có thể là ác tính, tuy chưa xác định rõ ràng. Nghe xong, người ấy tâm sinh kinh sợ, ý chí suy sụp; chưa đầy một tuần thì qua đời. Đó chính là tâm niệm tạo nghiệp. Tâm khởi tuyệt vọng, tự mình đoạn mất sinh khí. Tâm suy bại, thân mạng cũng theo đó mà tổn giảm. Vì vậy phải ghi nhớ: tâm không được để suy vong. Chỉ cần tâm còn giữ được ánh sáng của niềm tin và định lực, sinh mệnh vẫn còn cơ hội chuyển hóa. Tâm còn sáng, đời người mới có ý nghĩa.

Trước hết, phải vượt khỏi cấu nhiễm của Dục giới. Vượt khỏi cấu nhiễm của Dục giới tức là cảnh giới tự thân phải siêu xuất khỏi Dục giới thiên, thoát ly sự nhiễm trước ô trược của thế gian. Có người tu hành đến một mức độ nhất định liền không thể tiến thêm, nguyên do là vì tầng bậc tâm linh không còn đề thăng. Vậy làm sao để nâng cao cảnh giới? Sư phụ giảng cho các vị một đạo lý rất giản dị, nhờ đó các vị sẽ hiểu sự thăng tiến ấy diễn ra như thế nào. Vì sao hiện nay các vị không còn tùy tiện khạc nhổ nơi công cộng? Trước kia vì sao lại có thể làm như vậy? Đó chính là biểu hiện của sự thăng tiến nội tâm. Khi tâm đạt đến một mức độ nhất định, tự mình hiểu rằng: làm người phải giữ gìn vệ sinh, phải tôn trọng môi trường chung, không thể hành xử tùy tiện. Đó là sự đề thăng của nội hàm cảnh giới. Khi nội tâm chuyển hóa, hành vi tự nhiên chuyển hóa theo. Không cần cưỡng ép, không cần người khác nhắc nhở, mà tự nhiên không còn tái phạm. Vậy cảnh giới rốt cuộc tu như thế nào? Có thể nhìn thấy chăng? Có thể nắm bắt chăng? Sự thăng tiến ấy vốn không thể thấy bằng mắt, không thể chạm bằng tay; chỉ có thể nương nơi tự tâm mà từng bước khai ngộ, từng bước tu luyện. Vì sao có người chỉ gặp một việc nhỏ liền không thể tự chủ, tâm động thân động, nóng nảy bất an? Vì sao có người lại trầm ổn, nhẫn nhục tinh tấn, không dao động trước nghịch cảnh? Đó chính là sự sai biệt nơi tầng bậc tâm linh. Người cảnh giới cao, dẫu người khác chỉ thẳng vào mặt mà mắng nhiếc, cũng chỉ mỉm cười, không khởi một lời biện giải. Không phải vì yếu đuối, mà vì tâm đã vượt ngoài đối đãi được – mất, hơn – thua. Khi nội tâm an định, ngoại cảnh tự nhiên không còn làm dao động.

Vì sao có thể trở thành Thập Địa Bồ Tát? Bởi vì cũng là từng tầng từng tầng mà thăng lên. Cảnh giới của quý vị càng cao, thì thăng càng nhanh; cảnh giới càng thấp, thì thăng càng chậm. Giống như nơi nhân gian, cùng một sự việc, nhưng người khác nhau xử sự sẽ có phản ứng khác nhau; những phản ứng khác nhau ấy chính là đại biểu cho những cảnh giới khác nhau. 

Phát tâm tu học theo Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát là cảnh giới tu hành xuất thế của bậc Thánh. Thánh giả tức là bậc Thánh nhân. Vì sao nơi Thanh Văn đạo và Duyên Giác đạo, sau khi Bồ Tát chứng đắc quả vị A-la-hán, không có quá nhiều bậc Thánh nguyện xuống cứu độ chúng sinh? Bởi vì sau khi xuống nhân gian, nếu lỡ không thể quay trở về, thì sẽ lại rơi vào trong Lục đạo luân hồi. Bồ Tát giới ở Pháp giới thứ chín và Phật giới ở Pháp giới thứ mười phát nguyện xuống cứu độ chúng sinh, nguyện lực của các Ngài rất lớn. Nhưng ngay cả Bồ Tát của cảnh giới Bồ Tát giới khi xuống cứu người cũng là mang theo nguy cơ không thể trở về. Tuy vậy, cảnh giới của Bồ Tát giới rất cao, dẫu phải đối diện với nguy cơ không thể quay về, vẫn nguyện xuống nhân gian cứu độ chúng sinh. Chỉ có Phật thị hiện nơi đời mới vĩnh viễn không trầm luân trong nhân gian, không rơi vào Lục đạo luân hồi. Bởi vì Phật là bậc đại triệt đại ngộ, là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

QUYỂN 2 – TẬP 34
HỌC BỒ TÁT ĐẠO, HÀNH THẬP THIỆN NGHIỆP, THÀNH TỰU THIỆN QUẢ
(学菩萨道,行十善业,成就善果)

Nhị Địa Bồ Tát cần phải càng thêm kiên cố mà hướng thượng cầu Phật đạo. Nhị Địa Bồ Tát phải lấy Phật đạo làm mục tiêu tinh tấn vươn lên, phát tâm Bồ-đề và đại bi nguyện, độ hóa chúng sinh; tức là trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sinh, tiếp tục lấy Thập Thiện Nghiệp để tự lợi và lợi tha. Hy vọng các vị hãy xem lại Thập Thiện Nghiệp cho thật kỹ. Muốn học theo chư Phật, chư Bồ Tát, trước hết phải làm được Thập Thiện Nghiệp; làm người cũng nhất định phải học Thập Thiện Nghiệp (thân, khẩu, ý).

Phải dùng tâm quang minh thanh tịnh vốn có, tiếp tục lấy sự chính trực, nhu hòa, thuần thiện, bất tạp, điều phục, tức là phải dùng một tâm địa vô cùng sáng suốt để điều giải và hàng phục nghiệp chướng trong tâm mình. Mỗi người các vị trong tâm đều có nghiệp chướng, phải tự mình hàng phục nó, tự mình điều giải. Ví dụ, hôm nay bị phạt tiền, liền nên nghĩ: “Đều là do mình không tốt. Đã bị phạt mấy lần rồi, tật xấu đỗ xe bừa bãi này vẫn không sửa. Lần này bị cảnh sát bắt cũng là đáng chịu. Sau này nhất định phải cẩn thận hơn, nhất định không được đỗ xe bừa bãi nữa.” Như vậy chẳng phải đã tự điều giải rồi sao? Phải hàng phục tâm sân hận của chính mình. Bị phạt tiền, các vị nói xem, có hận không? Trong lòng có thấy dễ chịu không? Điều phục chính là điều giải nội tâm của mình, khiến tâm không khởi hận ý. Áp lực trong lòng phải do tự mình điều giải.

Nhị Địa Bồ Tát chính là điều phục, nhu thuận, chính trực, và phải tịch tĩnh. Tịch tĩnh tức là gặp bất cứ việc gì cũng phải có thể an tĩnh lại; có thể an tĩnh lại thì mới có tư cách làm Bồ Tát. Việc gì cũng không thể tĩnh xuống thì không thể làm Bồ Tát. Còn phải quảng đại. Sau khi đã tĩnh lại, tâm phải rộng lớn, phải vô biên vô tế, phải dung nạp bốn biển. Vì thế có câu: “Hải nạp bách xuyên.” Nghĩa là biển lớn có thể dung chứa nước của bất cứ con sông nào chảy vào; dù là dòng sông ô nhiễm, khi vào biển cả cũng sẽ trở nên thanh sạch. Cho nên nói: nghìn sông đều quy về biển lớn. Lấy những người đang ngồi đây làm ví dụ: trên thân các vị có khuyết điểm hay không? Nếu Sư phụ đối với những lỗi lầm của các vị mà không nghiêm khắc quở trách, thì đó là Sư phụ không đúng. Sau khi nghiêm trách, chẳng khác nào giúp các vị gột rửa cho sạch sẽ. Sư phụ vẫn muốn các vị “hải nạp bách xuyên”; biển ấy chính là Phật hải.

Các vị phải thâm tri về Thập Bất Thiện Nghiệp (Sư phụ trước đây đã giảng về Thập Thiện Nghiệp và Thập Bất Thiện Nghiệp). Thập Bất Thiện Nghiệp tức là những nghiệp không tốt đã tạo tác, cũng gọi là Thập Ác Nghiệp. Thập Ác Nghiệp có thể khiến chúng sinh đọa lạc vào Tam Đồ ác đạo: súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục. Một khi đã rơi xuống đó thì vô cùng thảm khổ, rất khó có thể thoát lên; chịu khổ vô cùng vô tận, nên cũng gọi là chúng sinh chìm đắm trong biển khổ sinh tử. Chúng ta phải có tâm thương xót, phải biết xót thương họ. Hiện nay Sư phụ có phải đang thương xót họ chăng? Bao nhiêu người đang ở dưới âm phủ, bao nhiêu người đang trong địa ngục. Sư phụ dạy mọi người siêu độ thân quyến quá cố của mình lên cõi trên, siêu lên A-tu-la đạo, siêu lên nhân đạo, như vậy chẳng phải là đang cứu độ chúng sinh đó sao? Không những cứu người, mà đến quỷ cũng phải cứu; họ đều rất đáng thương. Họ quấy nhiễu các vị, họ cầu xin nơi các vị, đều là vì mong có thể được siêu lên. Các vị đừng sợ, không có gì đáng sợ cả. Hãy nghiêm túc cứu độ họ, hết lòng giúp đỡ họ. Kỳ thực, con người chỉ cần rời khỏi thân xác vật chất thì gọi là quỷ; chỉ có linh thể mới có thể siêu thăng. Trên cõi người là A-tu-la đạo, lên cao hơn nữa gọi là cõi trời; nhưng tất cả vẫn còn ở trong Lục đạo luân hồi.

Nhị Địa Bồ Tát phải phát khởi tâm lợi ích, tâm an lạc, tâm từ bi, tâm lân mẫn, tâm nhiếp thọ, tâm thủ hộ, tâm giáo hóa… Đó đều là những điều mà Nhị Địa Bồ Tát cần phải thực hành. Phải nghiêm khắc yêu cầu chính mình đem lại lợi ích cho chúng sinh; làm bất cứ việc gì cũng phải vì lợi ích của mọi người, đó gọi là tâm lợi ích. Tâm an lạc là mỗi ngày làm nhiều việc, mà mỗi một việc đều phải tốt cho đại chúng; khiến mình được an vui, cũng khiến người khác được an vui. Tâm từ bi là thấy ai cũng sinh lòng thương xót. Lân mẫn và từ bi có chỗ sai khác: lân mẫn là chỉ cụ thể đối với một sự việc hay một người nào đó, thấy người ấy đáng thương mà sinh tâm lân mẫn; còn trong tâm từ bi vốn đã bao hàm cả tâm lân mẫn. Tâm nhiếp thọ là tự nhiếp giữ tâm mình lại để có thể gánh chịu áp lực. “Nhiếp” nghĩa là tập trung — tập trung để tiếp nhận, để gánh chịu. Tâm thủ hộ là phải gìn giữ đạo này, gìn giữ pháp môn này. Hôm nay các vị theo Sư phụ học pháp môn này, học đạo này, thì phải biết hộ trì, bảo vệ nó. Tâm giáo hóa là giáo hóa chúng sinh, đi giáo dục họ, giúp đỡ họ, cảm hóa họ. Tâm tâm niệm niệm đều mong chính mình trở thành người thực hành việc giáo hóa chúng sinh; tâm của mình, niệm của mình, toàn bộ đều là giúp người khác, giáo dục người khác trở thành Bồ Tát, như vậy chính mình mới có thể trở thành Bồ Tát. Giống như một trường sư phạm: thầy cô trong trường luôn mong đào tạo học sinh của mình trở thành những người thầy.

Giáo hóa chúng sinh hướng thiện thì tự mình cũng thành tựu; khiến chúng sinh chân thành, chí thiết mà làm việc thiện. Phải khẩn thiết lợi ích chúng sinh. “Khẩn thiết” nghĩa là vô cùng chân thành, vô cùng tha thiết mà giúp đỡ họ, đem lại lợi ích cho họ, cứu độ họ. Ví dụ, Sư phụ có tâm khẩn thiết giúp đỡ quý vị. Quý vị là đệ tử của Sư phụ; cho dù có đắc tội với quý vị, Sư phụ cũng không một lời oán trách, bởi vì Sư phụ đối với Quán Thế Âm Bồ Tát là không hổ thẹn. Dù quý vị có rời xa ta, không còn để ý đến ta, ta vẫn phải nói, vẫn phải nhắc nhở quý vị. Bất kể ai có lỗi lầm, nếu Sư phụ không nói ra, thì đó là Sư phụ không đúng; làm thầy như vậy là không chân thật. Vĩnh viễn phải ghi nhớ: Sư phụ cho dù chỉ ra những lỗi lầm nơi các vị, cũng là để các vị hiểu rõ những tập khí xấu ác từ quá khứ của chính mình, rồi giúp các vị sửa đổi, tiêu trừ nghiệp chướng. Nếu không như vậy, các vị theo tôi học để làm gì? Phải dùng chính tâm thanh tịnh nhất, trong sạch, thuần khiết nhất của mình mà tăng trưởng, củng cố, mở rộng đại bi nguyện độ hóa chúng sinh của tự thân. Các vị nhất định phải độ hóa chúng sinh, nhất định phải đi cứu độ chúng sinh; nếu không, thì không thể tu đến cảnh giới Bồ Tát.

Trên thế gian, điều đáng buồn nhất chính là không hiểu được lòng từ bi; người không biết từ bi đối với chúng sinh mới là người đáng thương nhất. Phải hiểu rằng phiền não khởi sinh từ những dục vọng không hợp lý. Nếu nguyện vọng của mình không hợp lý, thì tiếp theo đó chính là tự chuốc lấy phiền não. Việc rõ ràng không thể làm được mà vẫn cố chấp làm cho bằng được, phiền não liền theo đó mà sinh khởi. Rõ ràng người ấy không thích mình, mà vẫn cố chấp theo đuổi, như vậy chẳng phải là tự mình tăng thêm phiền não đó sao?

Cho nên, hết thảy hiện tượng trên thế gian đều có thể trở thành lao ngục của chính chúng ta. Những gì quý vị nhìn thấy trên thực tế chính là nhà tù trói buộc tự thân — tức là ngục thất. Hễ thấy một điều gì rồi sinh tâm ưa thích, liền bị nó trói buộc; khi ấy chẳng khác nào tự mình bước vào nhà giam. Ví như thấy người khác hút thuốc, mình cũng thử hút; một khi đã nghiện, sẽ rất khó từ bỏ. Lại như hôm nay vào sòng bạc, thắng được vài trăm đồng, thì ngay sau đó đã bước vào lao ngục của nó, trở thành nô lệ của nó. Một khi đã sa vào bên trong, muốn thoát ra cũng khó mà thoát được.

Đã được thân người, lại còn tạo tác hành vi tà ác. Vốn đã làm người mà còn liều mình làm điều xấu, chẳng khác nào một viên châu báu vốn trong sạch lại đem ngâm vào chốn phân nhơ; khi lấy ra, mùi hôi không thể ngửi nổi. Bồ Tát dạy rằng: “Nhân thân nan đắc.” Được thân người là điều vô cùng khó khăn. Đã làm người rồi mà còn đi làm việc ác, thì đó chính là kẻ ngu si nhất trên đời.

Hôm nay Sư phụ giảng đến đây. Lần sau sẽ tiếp tục giảng cho các vị về pháp lực của Nhị Địa Bồ Tát, tức là năng lực (công năng) của Nhị Địa Bồ Tát.

QUYỂN 2 – TẬP 35
NÂNG CAO CẢNH GIỚI CON NGƯỜI, TU LUYỆN ÁNH SÁNG CỦA BỒ TÁT
(提升人的境界,修炼菩萨之光)

Hôm nay trước hết giảng cho mọi người về việc cảnh giới của con người làm sao để tiến nhập vào cõi Sắc giới thiên, đây là điều vô cùng quan trọng. Thật ra, những điều này đều là sau khi tu đến một mức độ cảnh giới nhất định thì phát sinh ra những biến hóa mang tính vật chất. Theo cách nói của người hiện đại, đó là những biến đổi mang tính “cơ chất”, tức là sự thay đổi thực chất từ bên trong. Nhiều người đều biết rằng tu luyện là dùng khí trường để tu luyện. Ví dụ như tọa thiền, niệm kinh v.v…, trên thực tế đều là đang tu một loại “khí”. Nhưng nếu thật sự tu đến một cảnh giới nhất định, thì ngay cả cái “khí” ấy cũng không còn cần đến nữa. Lại như trong đời sống hằng ngày, nếu một người “không có khí”, không phải là nói người ấy không còn hơi thở, mà là nói đến thứ “khí” thuộc Dục giới nơi bản thân con người, đó là cái khí của nóng giận, của phát cáu. Nếu một người không phát cáu, chẳng phải người ấy rất giống Bồ Tát sao? Khuyết điểm lớn nhất của con người chính là vì thứ “khí” này không có chỗ tiêu tán, cho nên khi không vui liền phải phát tiết ra ngoài. Nhưng khi tu hành dần dần, theo sự nâng cao của cảnh giới, về sau ngay cả thứ “khí” ấy cũng phải dần dần không còn nữa.

Khi tu luyện đến một mức độ nhất định, trong thân thể sẽ sinh khởi một loại “chuyết hỏa”. Loại hỏa này có thể khai thông các kinh mạch trong cơ thể. Rất nhiều người tu hành về sau mà âm khí quá thịnh, chính là vì thiếu loại “chuyết hỏa” này. Khi âm khí quá nặng, con người rất dễ sinh bệnh, thân thể thường cảm thấy bất an, không được điều hòa. Nếu suốt ngày tiếp xúc hoặc giao cảm với cảnh giới âm phần, thì sẽ dễ cảm nhận hoặc nhìn thấy những hiện tượng thuộc về âm giới; mà càng chấp trước vào đó, những cảm nhận ấy lại càng gia tăng.

Sư phụ nói với quý vị rằng, trên thân người nhất định phải có một loại “chuyết hỏa”, tức là một đoàn quang minh. Đoàn quang minh này vô cùng quan trọng. Đoàn quang minh ấy đi đến đâu thì có thể khai thông kinh lạc ở nơi đó; bởi vì nó vốn là một đoàn quang, rồi chuyển hóa thành một đoàn hỏa, sau đó từ hỏa mà tiếp tục thông suốt các kinh mạch. Còn “khí” của quý vị thì không thể tự mình khai thông mạch lạc. Khi kinh lạc và các huyệt đạo bị khí bế tắc, đó chính là điều người ta thường nói: “khí uất bất thông.” Kinh lạc không thông, xét cho cùng là do tâm khí bị bế tắc. “Khí” có thể làm tắc nghẽn nhiều bộ phận trong cơ thể, bao gồm cả máu huyết, mạch máu v.v… Vì vậy khi con người nổi giận, thân thể thường cảm thấy không khỏe, bất an. Nếu khí vận dụng không đúng cách thì còn có thể sinh ra lệch lạc. Ví dụ, có người tu luyện khí công không đúng phương pháp mà gặp nguy hiểm; cũng có người vì tu hành sai lệch mà rơi vào trạng thái “tẩu hỏa nhập ma”. Do đó, người tu luyện khí công chỉ cần sơ suất một chút cũng có thể phát sinh vấn đề ở tay chân; hoặc đột nhiên đầu óc đình trệ, dẫn đến trúng phong; thậm chí về sau còn xuất hiện những biểu hiện bất thường nơi thân thể.

Sư phụ nói với quý vị rằng “khí” có thể làm bế tắc kinh lạc của quý vị. Vì vậy, không nên chỉ luyện khí, mà phải khai thông mạch; phải tu luyện một loại “quang”, kỳ thực chính là ánh sáng và nhiệt năng. Loại năng lượng này, trong quá trình học Phật, chính là một loại khí trường mà Sư phụ dạy quý vị cần đặc biệt chú ý, tức là “chuyết hỏa”. Chuyết hỏa có thể khiến mạch lạc của quý vị chuyển thành sắc đỏ, bởi vì khi đoàn hỏa này lưu thông và khai thông mạch đạo, mạch lạc sẽ dần dần trở nên hồng nhuận. Rất đơn giản, khi Sư phụ dẫn quý vị lễ bái chư Phật, chư Bồ Tát, quý vị có cảm thấy thân thể mình phát nóng không? Đó chính là quá trình khai thông kinh lạc. Sư phụ không phải là một loại “khí”, mà hoàn toàn là một loại quang minh. Thời trước, người ta thường nói đến năng lượng nguyên tử; còn ngày nay, người ta nói đến tốc độ ánh sáng, đến cấu trúc phân tử. Điều đó cho thấy năng lượng nguyên tử đã không còn đủ để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội hiện đại. Cũng giống như người phương Tây chữa bệnh: hễ là những gì có thể nhìn thấy được thì đều có thể dùng phẫu thuật để giải quyết. Còn người Trung Hoa thì giảng về kinh lạc, có thể nhìn thấy được không? Không. Nhưng nó thực sự tồn tại. Vì vậy, người Trung Hoa chữa bệnh là vừa trị phần biểu hiện bên ngoài, vừa điều trị tận gốc căn nguyên, tức là trị cả “ngọn” lẫn “gốc” cùng lúc.

Khi quý vị tu luyện đến một mức độ cảnh giới nhất định, trên thân thể thực sự sẽ xuất hiện một loại nhiệt năng. Loại nhiệt năng này có thể thông qua khí mạch mà khiến mạch lạc dần chuyển sang sắc đỏ, rồi từ đó trở nên thanh tịnh. Chính nguồn nhiệt năng ấy sẽ giúp quý vị an định lại. Lấy một ví dụ đơn giản: khi quý vị cùng Sư phụ lễ bái chư Phật, chư Bồ Tát, điều hòa vẫn mở như bình thường, nhưng toàn thân lại cảm thấy nóng. Thông thường, khi con người cảm thấy nóng bức thì rất dễ nổi giận, rất dễ sinh tâm không vui. Thế nhưng vì sao khi lễ bái chư Phật, chư Bồ Tát, quý vị đứng đó lại vô cùng an tĩnh? Đó là vì năng lượng vốn sẵn có nơi tự thân quý vị đã được khơi dậy. Năng lượng thể này có thể lưu thông khắp toàn thân. Đây chính là một loại quang năng mà sau khi học Phật, niệm kinh, chúng ta cần đạt được. Ví như trong một nơi rất tối, nếu quý vị thắp lên một ngọn lửa, có phải lập tức trở nên sáng không? Ngọn lửa ấy chẳng phải chính là một đoàn quang minh sao? Điều đó có nghĩa là, lúc ban đầu phải tu luyện “chuyết hỏa” của chính mình, tu luyện năng lượng thể của chính mình. Khi năng lượng thể này đạt đến một mức độ nhất định, nó sẽ chuyển hóa thành một đoàn quang minh, là quang minh màu đỏ, lại vô cùng ấm áp. Khi nguồn năng lượng ấy tràn đầy khắp các kinh lạc trong toàn thân, thân thể sẽ phát sinh một loại quang. Loại quang này là quang minh chi quang, là thanh tịnh chi quang. Ví như khi quý vị đang nóng nảy, cuống quýt, phát cáu, bỗng nhiên nhìn thấy một luồng quang chiếu đến, cảm nhận như Quán Thế Âm Bồ Tát đang hiện diện, thì quý vị sẽ lập tức lắng xuống. Bồ Tát chính là quang. Quang ấy chiếu rọi muôn trượng, có thể khiến tâm người ta trở nên bình tĩnh. Ánh sáng mặt trời cũng có thể soi chiếu vạn vật, nhưng loại quang ấy, loại năng lượng ấy, vẫn còn có âm có dương, cho nên đến ban đêm thì không còn nữa.

Nếu khi quý vị tu luyện mà phát sinh được loại quang này, thì nó sẽ lưu chuyển trên thân thể quý vị suốt 24 giờ không gián đoạn. Nó có thể giúp quý vị khai thông kinh lạc. Đó cũng chính là lý do vì sao nhiều người tu tâm có chánh niệm thì không dễ sinh bệnh, cũng không rơi vào trạng thái tẩu hỏa nhập ma; ngược lại, người tâm niệm không chánh thì rất dễ tẩu hỏa nhập ma, đồng thời cũng dễ sinh bệnh.

Sư phụ giảng giải cho quý vị từ góc độ vật lý, từ phương diện khí chất mà nói. Khi quý vị có thể tu luyện phát sinh được loại “chuyết hỏa” này, thì cảnh giới của quý vị xem như đã tiến nhập vào Sắc giới. Mọi người đều biết có Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Khi bước vào cảnh giới của Sắc giới thiên, quý vị có thể tự mình làm chủ chính mình, có thể khiến quang minh ấy lưu chuyển khắp toàn thân, và ánh sáng ấy luôn luôn chiếu rọi nơi tự thân. Vậy ánh sáng này từ đâu mà có? Chính là do tu tâm, niệm kinh, làm việc thiện, tích lũy công đức mà thành. Khi công đức của một người tích lũy đến một mức độ nhất định, “chuyết hỏa” sẽ tự nhiên phát sinh. Dùng Phật quang để chế ngự dục vọng của chính mình, dùng Phật quang để tiêu trừ tham – sân – si của chính mình. “Chuyết quang” có thể được giải thích là linh tính chi quang và thân ngoại chi quang. Khi chuyết hỏa hình thành và chuyển hóa thành một loại quang minh, thì trên thực tế đó chính là linh quang nơi tự thân của quý vị. Đây cũng chính là lý do vì sao khi một người tu hành đạt đến một cảnh giới nhất định, trên đỉnh đầu sẽ xuất hiện hào quang.

Sư phụ hiện nay giảng cho quý vị về cảnh giới cao tầng. Cho dù quý vị đã tu đến Sắc giới thiên, thì sau khi vào cảnh giới ấy, vẫn phải hiểu rõ ba điều: lạc ái, pháp vị và quang minh. Lạc ái là niềm vui, là sự hoan hỷ tràn đầy lòng từ ái. Pháp vị là hoàn toàn nương theo Phật pháp tam muội của Bồ Tát mà hành trì, mà vận hành; nghĩa là mọi việc quý vị làm đều là việc Bồ Tát làm. Quang minh chính là vì tất cả những điều quý vị làm đều là việc của Bồ Tát, đều tràn đầy từ bi, mà trong tâm mình lại cảm thấy hoan hỷ, an vui. Thế nào là quang minh? Có ánh sáng thì mới có sáng, mới có thể nhìn thấy được. Không có ánh sáng thì làm sao có sáng được? Chính là dựa vào ánh sáng nơi tự thân mình mà thắp lên.

Giảng đơn giản cho quý vị về Vô Sắc Giới thiên. Vô Sắc Giới thiên là thể tánh Không, là cảnh giới thuộc về tính Không; ngay cả linh thể cũng vô cùng thanh tịnh. Nhiều người thường nói đến việc “đới nghiệp vãng sinh” về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Vì sao có thể đới nghiệp vãng sinh? Vậy nếu đã tạo ác nghiệp, cũng có thể lên đó sao? “Đới nghiệp vãng sinh” ở đây là chỉ người trong quá khứ từng tạo nghiệp chướng, hoặc từng phạm lỗi, phạm tội. Nhưng hiện nay biết tu hành, biết sám hối nghiệp chướng, biết sửa sai và hành thiện, thì mới có thể mang theo phần nghiệp rất nhẹ ấy mà vãng sinh. Ví dụ, trước đây từng làm tổn hại người khác, nhưng nay đã sửa đổi, luôn luôn tu tâm niệm kinh, làm việc thiện; đến khi lâm chung, chỉ mang theo phần nghiệp rất nhẹ ấy mà rời khỏi nhân gian. Cũng giống như một bộ y phục dơ bẩn, tuy đã giặt nhiều lần vẫn còn lưu lại dấu vết, nhưng tổng thể vẫn là sạch. Chư Bồ Tát từ bi. “Đới nghiệp vãng sinh” là mang theo loại nghiệp đã được thanh lọc đến mức rất nhẹ như vậy, chứ không phải sau khi đã hiểu rõ đạo lý vẫn tiếp tục tạo nghiệp, đợi đến lúc sắp qua đời mới sám hối, như vậy thì không thể thăng được. Đây là vấn đề thuộc về nhận thức và chánh kiến. Quý vị có thể hiểu rõ chăng? Phật pháp giảng: “Khổ hải vô biên, hồi đầu thị ngạn.” Vì sao nhân quả báo ứng như bóng theo hình? Vì sao hiện nay quả báo lại đến nhanh hơn trước? Đạo lý vốn dĩ chính là đơn giản như vậy.

Cho dù linh tính của một người đã đạt đến cảnh giới của A Di Đà Phật, thì trong linh tính ấy vẫn có thể tồn tại những lỗi lầm mà trước kia từng tạo. Ví dụ, trước đây từng sát sinh, hoặc từng vu khống người khác, thậm chí khiến người ta vì mình mà mất mạng, những nghiệp chướng ấy vẫn sẽ theo “thể tánh Không” mà tiến nhập vào linh thể. Ví như một đám mây trắng, đó là linh hồn. Bỗng nhiên có một chút mây đen xen vào trong đám mây trắng ấy, lúc ẩn lúc hiện ở bên trong. Ví dụ này muốn nói rằng: trong chỉnh linh thể vẫn có một phần phân linh thể mang theo tội nghiệp; nhưng xét về tổng thể, vẫn là một đám mây trắng. Các nhà khoa học từng làm thí nghiệm: họ lấy một ít mây trên bầu trời đem đi phân tích, phát hiện bên trong là những giọt nước vô cùng nhỏ bé; nhưng những vật chất ấy đều có trọng lượng. Đám mây đen kia chính là nghiệp chướng tiến nhập vào đám mây trắng, làm tăng thêm “trọng lượng” của chính mình. Hơn nữa, đám mây đen ấy lúc ẩn lúc hiện. Cũng giống như khi đến Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, vào trong Thất Bảo Trì, dùng nước Bát Công Đức để tẩy rửa — sau khi rửa sạch, tạm thời không còn thấy những vệt đen ấy nữa; nhưng một thời gian sau, màu sắc ấy lại dần dần hiện ra. Quý vị đã hiểu rõ chưa?

Khi nội tâm còn ô nhiễm, trong A-lại-da thức vẫn còn tồn tại nghiệp chướng, thì không thể nào tẩy sạch được một cách dễ dàng. Chỉ có một phương pháp có thể khiến nó dần dần thanh tịnh, đó là khi quý vị thật sự đại triệt đại ngộ, thoát ly khỏi lục đạo luân hồi, toàn tâm toàn ý tu học Phật pháp, thì theo thời gian dài lâu, mới có thể từng bước một mà hoàn toàn thanh tịnh. Nhưng điều ấy là vô cùng khó. Giống như trước đây quý vị từng làm điều sai trái, hiện nay có thể quên hẳn được chăng? Sau khi học Phật, chỉ cần nhớ lại, trong tâm liền tự trách mình, thậm chí hối hận không nguôi. Cũng như có rất nhiều người nói rằng: “Từ khi theo Sư phụ học Phật, mới phát hiện bản thân mình có quá nhiều khuyết điểm; mới biết mình đã làm sai nhiều việc đến như vậy.” Những lỗi lầm đã từng gây ra, thậm chí không dám nhắc lại. Vì sao lại như vậy? Bởi vì người ấy đã tự cảm nhận được sự tồn tại của nghiệp chướng nơi chính mình, cho nên mới sinh khởi sự giác ngộ như thế. Thế nhưng có rất nhiều người nghiệp cũ chưa tiêu, nghiệp mới lại tiếp tục tạo thêm. Như vậy thì làm sao có thể tẩy rửa cho sạch được?

QUYỂN 2 – TẬP 36
DÙNG TÂM THUẦN THIỆN DUNG HỢP CÙNG TÂM BỒ TÁT
(用纯善的心和菩萨心融合一起)

Sư phụ tiếp tục giảng cho quý vị: Khi tiến nhập vào Không tánh thể, Sư phụ ví nó như một đóa mây trắng. Khi đóa mây trắng ấy thanh tịnh, thì chính là Không tánh thể. Quý vị thử chạm vào xem có cảm nhận được nó là vật gì không? Không thể cảm nhận được. Nhưng lại có thể nhìn thấy. Giống như khi chúng ta đứng trên núi Lư Sơn, thấy một đóa mây trắng bay tới, liền không còn nhìn rõ cảnh vật phía trước nữa. Quý vị muốn xua tan đám mây ấy cũng không thể xua tan được. Đợi đến khi mây trôi qua, mọi thứ lại trở nên rõ ràng. Đó chính là Không tánh thể. Nhưng Không tánh thể không phải tự nhiên mà có. Nó được ngưng tụ từ vô số điểm quang. Vậy những điểm quang ấy từ đâu mà có? Chính là từ những việc thiện quý vị đã làm, từ công đức quý vị đã tích lũy. Công đức càng nhiều, Không tánh thể ấy càng thanh tịnh. Nếu bên ngoài linh thể của quý vị không có đủ công đức rót vào trong “đám mây” ấy, thì đóa mây ấy trên trời sẽ không thể hiển hiện. Khi quý vị làm việc thiện, làm công đức, cứu độ chúng sinh, sẽ có những điểm quang không ngừng ngưng tụ vào tầng mây của mình. Lúc ấy, đóa mây của quý vị sẽ trở thành một đóa mây vô cùng đẹp đẽ, có thể nhìn thấy, không thể chạm tới, nhưng lại có thể cảm nhận được. Về sau, khi linh thể không còn thân thể vật chất, trạng thái ấy chính là như vậy. Giống như trong Tây Du Ký: khi yêu quái xuất hiện, trước hết là một đám mây đen kéo đến. Còn khi Bồ Tát đến, là ngự trên mây lành. Trong truyện, trước khi nhìn thấy Bồ Tát, trước hết là một đóa tường vân xuất hiện. Một lát sau, trên tầng mây lành ấy, Bồ Tát mới hiện thân – như thể được ngưng tụ từ chính mây ấy mà thành.
Sư phụ dạy quý vị học chính là học cách làm thế nào để gom tụ những điểm quang ấy lại, rồi dung hợp cùng các điểm quang của vũ trụ. Những điểm quang của vũ trụ là tự nhiên mà có, là bản thể vốn sẵn có của vũ trụ này. Khi những điểm quang nơi tự thân quý vị dung hợp cùng điểm quang của vũ trụ, trạng thái ấy chính là quang và quang tương hỗ chiếu soi lẫn nhau. Ví dụ, tâm của Quán Thế Âm Bồ Tát vô cùng thiện lương; nếu tâm của quý vị cũng thiện lương như vậy, quý vị cùng Quán Thế Âm Bồ Tát tâm liên tâm, thì có thể tiếp nhận được khí trường của Ngài. Nhưng nếu tâm quý vị ô trọc, lương tri bại hoại, thì làm sao có thể tiếp nhận được khí trường thanh tịnh, thiện lành của Quán Thế Âm Bồ Tát? Cho nên, quang và quang phải tương ứng, tương xứng với nhau, thì mới có thể càng tụ càng sáng. Những người làm sân khấu đều hiểu rõ: một luồng bạch quang chiếu xuống sân khấu, nếu lại có một luồng ánh sáng sẫm màu chiếu vào cùng một vị trí, thì nơi ấy lập tức trở nên u tối, không còn quang minh nữa.
Đại chúng nhất định phải ghi nhớ: Loại quang này chính là đem Phật quang do tự thân quý vị tu luyện nơi nội tâm hòa nhập cùng vũ trụ chi quang. Khi hai luồng quang ấy dung hợp làm một, sẽ hiển lộ những cảnh giới vi diệu. Chư Phật, chư Bồ Tát hiển hiện nơi thiên giới, mà “thiên” ấy lại chính ở trong tâm của quý vị. Bởi vì khi tự tánh chi quang của quý vị, Phật chi quang nơi tự thân, và vũ trụ chi quang nơi thiên thượng hợp thành một thể, thì nhãn tâm của quý vị liền có thể cảm ứng và nhìn thấy chư Phật, chư Bồ Tát, vì quang minh của các Ngài đang chiếu rọi vào tự tâm của quý vị.
Lấy một ví dụ mà Sư phụ thường giảng cho quý vị: Hiện nay quý vị chỉ ở trình độ tiểu học, thì làm sao có thể gặp được giáo sư? Đợi đến khi quý vị tốt nghiệp đại học, lại tiếp tục học lên những học vị cao hơn, thì tự nhiên ngày nào cũng ở bên cạnh giáo sư. Nói cách khác, khi quý vị tu đến cảnh giới của Bồ Tát, thì tự nhiên sẽ có thể nhìn thấy Bồ Tát. Đạo lý rất đơn giản. Nếu mỗi ngày đều ở cùng những người có tư tưởng và cảnh giới rất cao, thì tư tưởng và cảnh giới của quý vị cũng sẽ theo đó mà nâng lên. Ngược lại, nếu ở cùng những người cái gì cũng không hiểu, việc gì cũng không học được, thì quý vị có thể học được điều gì đây?
Đem quang minh của chư Phật, chư Bồ Tát truyền nhập vào thân thể của quý vị. Khi quang nơi tự thân quý vị và quang của chư Phật, chư Bồ Tát trên trời dung hợp lại làm một, thì cũng chính là đem chư Phật, chư Bồ Tát truyền nhập vào thân thể của quý vị. Giống như một vì sao băng lao thẳng vào nội linh của quý vị. Thế nào gọi là nội linh? Những tư duy tiềm ẩn sâu trong nội tâm chính là nội linh. Thế nào gọi là ngoại linh? Ngoại linh chính là những tư duy biểu hiện ra bề mặt, là những hiện tượng bên ngoài. Từng luồng, từng luồng quang minh giống như sao băng, tiến nhập vào thân thể quý vị, tiến nhập vào nội linh của quý vị. Chỉ khi nội tâm quý vị sáng lên, thì nội linh mới sáng. Mà chỉ khi nội linh đã sáng, ngoại linh mới có thể sáng theo. Ví dụ: Một tim đèn nhỏ bé, khi vừa mới châm lửa, đó là nội linh. Khi ngọn lửa bốc cháy lên, đó là ngoại linh. Đèn đã được thắp sáng, bên ngoài nhìn thấy toàn là ánh lửa. Cho nên, khi Phật quang tiến nhập vào nội linh của quý vị, quý vị liền trở thành quang của hư không; thân thể cũng trở nên rỗng không, như không còn chấp trước vào hình tướng nữa. Đó chính là cảnh giới quang minh của Vô sắc giới.
Hiện nay Sư phụ giảng cho quý vị chỉ mới là phương diện thuộc về vật chất cảnh của Vô sắc giới thiên, vẫn chưa giảng đến phần nội hàm thâm sâu bên trong. Khi cảnh giới tu hành của quý vị đã đạt đến Vô sắc giới thiên, có được nền tảng ấy rồi, liền có thể tiếp tục tu theo Thanh văn đạo, Duyên giác đạo; từ đó vượt thoát Lục đạo luân hồi, đó chính là Niết-bàn. Chỉ những bậc chư Phật, Bồ Tát ở cảnh giới rất cao mới có thể chứng nhập Niết-bàn. Niết-bàn là trực tiếp tiến nhập vào thế giới của Phật, tức Pháp giới thứ mười, tức Phật giới.
Học Phật, học Bồ Tát, là học theo những quả vị khác nhau của chư Phật, chư Bồ Tát. Nếu quý vị chuyên tu theo quả vị Tam địa Bồ Tát, thì sau này khi rời khỏi nhân gian, có thể trực tiếp chứng đắc quả vị Tam địa Bồ Tát. Không phải nói rằng vừa tu đã muốn đạt ngay quả vị Thập địa Bồ Tát, mà nhất định phải từng địa, từng địa một mà tinh tấn tu lên. Nếu khi còn ở nhân gian, quý vị tu đến cảnh giới Tam địa Bồ Tát, đến lúc xả bỏ báo thân này, nếu cảnh giới thật sự tương ưng với Tam địa, thì có thể trực tiếp chứng đắc quả vị Tam địa Bồ Tát. Điều ấy cũng giống như ở nhân gian có trường đào tạo binh sĩ và trường đào tạo sĩ quan. Quý vị học sĩ quan, tốt nghiệp ra là sĩ quan. Quý vị học binh sĩ, tốt nghiệp ra là binh sĩ. Tất cả đều tùy nơi công phu tu hành của quý vị ở nhân gian, xem quý vị đã tu đến mức độ nào.
Lần trước đã giảng cho quý vị về Nhị địa Bồ Tát, hôm nay bổ sung thêm một chút. Nhị địa Bồ Tát là cảnh giới thành tựu về thanh tịnh và giới hạnh. Nhị địa Bồ Tát rất an tĩnh, rất thanh tịnh, nghiêm trì giới luật. Giới hạnh — quý vị đã giữ giới hay chưa? Những điều không được làm, quý vị có từng làm hay không? Không phải chỉ cần nói: “Tôi không phạm pháp” là đã tốt. Không phạm tội chỉ là điều kiện căn bản nhất mà thôi. Trước đây đã từng giảng cho quý vị về Thập thiện nghiệp đạo và Thập ác nghiệp đạo. Ác nghiệp đạo vốn dĩ không nên tồn tại. Quý vị không những không được tạo ác nghiệp, mà còn phải thực hành đầy đủ Thập thiện nghiệp.
Nhị địa Bồ Tát lấy Thập thiện nghiệp làm nền tảng để tự lợi và lợi tha. “Chúng thiện phụng hành, chư ác mạc tác.” Nhưng “chư ác mạc tác” vẫn chưa phải là trọn vẹn Bồ Tát giới. “Chư ác mạc tác” chỉ là điều kiện căn bản mà một con người vốn dĩ phải có. Lẽ nào làm người lại có thể làm điều ác sao? Tuyệt đối không thể. Nhị địa Bồ Tát là cảnh giới viên mãn về giới hạnh, tức là đã trì giới, trì đến chỗ viên dung thanh tịnh. Muốn đạt đến Nhị địa Bồ Tát, còn cần có một tâm thanh tịnh, nghĩa là tâm của quý vị, lương tâm của quý vị, và bản tánh của quý vị đều thuần tịnh, không nhiễm ô.
Nếu quý vị muốn trở thành Nhị địa Bồ Tát, trước hết phải tịch tĩnh, rất tịch tĩnh. Đồng thời còn phải thiện lương. Hãy ghi nhớ: trước chữ “thiện” phải thêm một chữ, đó là chữ “thuần”. Tức là thuần thiện. Cái thiện ấy phải thanh thuần, không pha tạp, không xen tạp ý đồ riêng. Ví dụ, nhiều bạn nam hoặc bạn nữ muốn theo đuổi một người nào đó, khi người kia bệnh liền giả vờ rất quan tâm, rất săn sóc. Quý vị nói xem, đó có phải là thuần thiện không? Không. Đó là cái thiện có mục đích. Nhưng khi họ giúp người khác, giúp mua thuốc, giúp làm việc này việc kia, họ có phải là thiện không? Có. Nhưng chưa phải là thuần thiện.
“Chất trực nhu nhuyễn cập kham năng, điều phục tịch tĩnh dữ thuần thiện, tốc xuất sinh tử quảng đại ý, dĩ thử thập tâm nhập Nhị địa.” Nghĩa là: Bản chất của con người phải ngay thẳng, chính trực, nhưng đồng thời phải nhu hòa, mềm mại, đó gọi là chất trực nhu nhuyễn; lại còn phải có năng lực đảm đương, có khả năng gánh vác, đó là kham năng. Người tu Bồ Tát đạo bản chất phải thẳng thắn, quang minh chính đại; tánh tình phải nhu thuận, biết điều phục tự thân, giữ tâm tịch tĩnh và thuần thiện. Nhị địa Bồ Tát còn phải có nguyện lực, có niệm lực, và đặc biệt phải có trí lực, tức là trí huệ phải có sức mạnh thực sự. Nếu chỉ có niệm lực mà trí lực không đủ, thì vẫn chưa thể đạt đến cảnh giới Nhị địa. Ngoài ra còn phải có phúc đức lực, nghĩa là người ấy phải có phúc báo, có phúc khí, và có đạo đức chân thật, đó cũng là một loại lực lượng.
Học Phật, học Bồ Tát, trước hết phải có thể an tĩnh lại. Tuy quý vị tiếp nhận sự khai thị của Sư phụ chưa được bao lâu, nhưng khí chất của quý vị đều đang chuyển biến, cảnh giới cũng đang không ngừng nâng cao. Thứ nhất, lời nói ít lại; thứ hai, con người trở nên bình thản, an tĩnh hơn. Bởi vì tham cầu ít thì tâm sẽ bình tĩnh; người tham cầu càng nhiều thì tâm càng không thanh tịnh. Bồ Tát là vô sở cầu. Nhị địa Bồ Tát càng ngày càng thành thục, tín tâm dần dần hướng về tịch tĩnh và thuần thiện, sau đó thoát ly con đường sinh tử.
Nhị địa Bồ Tát có thể tu ở nhân gian hay không? Đương nhiên có thể tu ở nhân gian. Hiện nay tất cả các vị đều có thể tu. Ví dụ, hôm nay quý vị làm bất cứ việc gì đều không khởi vọng niệm, rất tịch tĩnh; trong tâm rất thiện lương, hơn nữa là thuần thiện, không có bất kỳ mong cầu nào, thì quý vị đã tiến nhập vào cảnh giới của Nhị địa Bồ Tát rồi. Điều duy nhất đáng tiếc là chúng ta thường chỉ tiến nhập vào cảnh giới ấy trong mười lăm phút, nửa giờ, hoặc một giờ, mà không thể duy trì lâu dài. Chỉ cần rời khỏi nơi đây, liền lập tức lại rơi vào cảnh giới nhân gian, có phải vậy không? Nếu có thể giữ vững được, thì chính là Bồ Tát. Nếu có thể giữ được sự thuần thiện ấy, thì chính là Nhị địa Bồ Tát. Đạo lý rất đơn giản. Siêu thoát sinh tử là khi hoàn toàn minh bạch đạo lý, không còn nghĩ mình sinh ra như thế nào, cũng không còn sợ hãi tương lai sẽ chết ra sao. Khai ngộ rồi, chính là Bồ Tát. Không khai ngộ, chỉ là một phàm nhân.

QUYỂN 2 – TẬP 37
BUÔNG BỎ PHIỀN TÂM, TÌM LẠI CHÁNH GIÁC
(放下烦心,找到正觉 )

“Thiên hữu bất trắc phong vân, nhân hữu đán tịch họa phúc” (Trời có gió mây bất trắc, người có họa phúc sớm chiều”) Con người sống ở thế gian, kiếp nạn sẽ không rời khỏi thân. Người chân chính hoằng pháp cứu độ chúng sinh không phải tự khoác lên mình dáng vẻ như Bồ Tát, mà là làm một con người chân thật, có thân, có linh hồn. Nếu linh hồn không thể chiến thắng nhục thể, thì người ấy vẫn chỉ là phàm nhân. Nếu linh hồn thanh tịnh thuần khiết, có thể chiến thắng chính nhục thể của mình, thì người ấy chính là một vị thần. Bởi vì người ấy không bị dục vọng của thân thể mình khống chế, ngược lại còn có thể khống chế dục vọng. Đó là điều chỉ khi tu tâm đạt đến một cảnh giới nhất định mới có thể làm được. Nếu quý vị bị chính dục vọng của mình khống chế, thì quý vị sẽ không thể làm chủ thân thể mình. Ví dụ, khi quý vị rất đói, nhìn thấy những món hải sản kia, nhưng biết rõ mình là người ăn chay, lúc ấy quý vị có thể khống chế bản thân, không động tâm, không ăn hay không? Lại như, rõ ràng thân thể quý vị không khỏe, quý vị có thể khống chế mình không ăn những thứ gây hại cho cơ thể, những thứ vốn không nên ăn hay không? Đạo lý cũng đều như nhau.

Học Phật rất quan trọng, học là học cái tâm, học là học tinh thần. Tu tâm chính là sửa bỏ những thói quen không tốt trên thân, tham, sân, si đều phải sửa đổi. Tu tâm còn là phải quên hết những việc đã làm trong quá khứ. Quên đi là điều tốt nhất, giống như một chiếc máy tính, phải xóa bỏ virus và những tập tin không tốt vậy. Nếu thật sự có thể quên hết tất cả những việc mình đã làm trong quá khứ, thì quý vị đã thành công rồi. Tật xấu của con người là: người ta đối xử không tốt với mình, thì không quên được; người ta đối xử tốt với mình, thì lại không nhớ. Nếu con người sống ở thế gian không hiểu tu tâm, không hiểu cách làm người, thì giống như một cỗ máy, phó mặc cho số phận sắp đặt. Nếu một người không hiểu tu tâm, thì đó là một người rất thô tục.

Hôm nay giảng cho mọi người về giác tánh. Giác tánh là bản tánh của con người, là tánh vốn sẵn có nơi mỗi người, gọi là bản tánh. Thấy được Phật tánh vốn sẵn có nơi tất cả chúng sinh, đó là giác tánh. Nói cách khác, khi bạn thấy được nơi một người bản tánh vốn sẵn có của họ, đó chính là bản tánh giác ngộ.

Giảng tiếp về “căn bản trí.” Căn bản trí là trí huệ vốn sẵn có nơi mỗi người; đó là trí huệ của Bồ Tát. Căn bản trí phải đạt đến vô niệm. Không có niệm đầu mới đạt được sự an tĩnh chân thật. Sự an tĩnh chân thật không phải chỉ cần ngồi đó là có thể an tĩnh. Ngồi tụng kinh, tâm có thật sự tĩnh lại được không? Nếu không thể định xuống, thì chưa phải an tĩnh chân thật. An tĩnh chân thật là sau khi ngồi xuống không còn niệm đầu, gọi là vô niệm. Chỉ có vô niệm mới là tĩnh thật sự. Nếu có thể thật sự an tĩnh, đó chính là nền tảng của Niết-bàn. Niết-bàn là không sinh không diệt, là minh tâm kiến tánh. Niết-bàn là tiếng Phạn, nghĩa là diệt độ, diệt phiền não, diệt sinh tử. Chỉ khi thoát khỏi phiền não và liễu thoát sinh tử mới đạt được sự tịch tĩnh chân thật. Chúng khổ vĩnh viễn lặng dứt, đầy đủ trạng thái không sinh không diệt. Tức là người ấy không còn sinh, không còn tử, vĩnh viễn không còn diệt độ, liền thành Phật.

Vì sao phải bế quan? Bế quan là để người hoằng pháp được an tĩnh, không bị thế tục xâm nhiễu. Người thật sự cứu độ chúng sinh mới xứng danh là Bồ Tát. Bồ Tát không sợ bản thân chịu khổ mà đi cứu độ chúng sinh. Bồ Tát chân chính là bậc đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn, phổ độ chúng sinh. Nếu một người chỉ biết bảo vệ chính mình, không chịu đi cứu người khác, thì người ấy vĩnh viễn không thể thành Bồ Tát.

Xả bỏ hết thảy những tâm niệm dao động. Nếu là người thật sự an tĩnh, thì tất cả những tâm niệm dao động ấy đều phải buông xả. Tâm dao động chính là tâm bất an, chao đảo, không ổn định. Ví dụ, khi công việc chưa ổn định, chưa thể an vị, quý vị nói xem, tâm có dao động không? tâm có thể định xuống được không? Lại như, lo lắng con mình có thể thi đậu vào trường tốt hay không, tâm ấy có phải là tâm dao động không? … Cho nên, phải trừ bỏ hết thảy những tâm niệm dao động, thì mới có thể thật sự an tĩnh lại. Tâm không an định là vì thiếu trí huệ, không biết rằng mình đang học theo Quán Thế Âm Bồ Tát, đang học Phật. Học Phật có thể chuyển hóa tất cả của chính mình; chỉ cần tín niệm kiên định, thì sẽ không còn tâm dao động. Muốn khiến tâm mình an định, chỉ có sự tin tưởng chân thật mới có thể làm được. Tin rằng Quán Thế Âm Bồ Tát nhất định có thể cứu mình, thì mới có thể khắc chế được tâm dao động nơi tự tâm. 

Niết-bàn là thể tánh chân thật. Khi một người có thể đạt đến Niết-bàn, thì người ấy chính là một thể an tĩnh chân thật. Niết-bàn là trạng thái trong tâm hoàn toàn rỗng lặng, không còn tạp niệm; trạng thái Niết-bàn ấy chính là thể tánh chân tĩnh của tự thân. Tĩnh chân thật là phải buông xả hết thảy những tâm niệm dao động, loại trừ tâm kiêu ngạo, tâm ngã mạn nơi thân, tức là tâm ngạo mạn. Phải loại trừ tâm tự cho mình tôn quý, loại trừ tâm phân biệt. Tâm tôn quý là tự cảm thấy mình cao quý hơn người. Tâm phân biệt là khi thấy người khác không bằng mình liền sinh tâm khinh thường. Ví dụ, người ta kinh tế không bằng mình, liền xem thường người ta; còn nếu người ta giàu có hơn mình, thì lại sinh tâm đố kỵ, v.v. Quý vị không được có bất kỳ tâm phân biệt nào, cũng không được có tâm đố kỵ. Tâm đố kỵ cũng là một loại độc tố, bởi vì tâm đố kỵ của con người là bẩm sinh đã có, sinh ra đã mang theo, nó là sản phẩm của lục đạo luân hồi. Chính vì có tâm đố kỵ, mới có lục đạo luân hồi. Nếu quý vị đã đạt đến cảnh giới Bồ Tát, thoát khỏi lục đạo luân hồi, thì sẽ không còn tâm đố kỵ nữa. Ngoài ra, tâm tranh đấu cũng phải loại bỏ.

Vì sao phải sám hối? Bởi vì sám hối có thể tiêu trừ nghiệp chướng. Người tu tâm phải “không có đạo lý” mới là đạo lý; mà khi cho rằng mình đã có đạo lý, thì lại không còn đạo lý nữa, đó gọi là biện chứng pháp. Người thường xuyên nói mình sai, thì người ấy vĩnh viễn không sai; người thường xuyên nói mình đúng, thì người ấy lại thường có sai lầm. Đã là con người ắt sẽ có sai sót. Làm sai việc không đáng sợ; điều quan trọng là phải biết sám hối, biết xin lỗi, rồi sửa đổi lỗi lầm. Như vậy mới có thể chuyển hóa khuyết điểm nơi chính mình, cảnh giới cũng theo đó mà nâng cao. Con người sở dĩ như vậy là vì không chịu thừa nhận lỗi lầm của mình, luôn tìm ra đủ mọi lý do để che đậy sai trái của bản thân. Làm sai việc chính là do trước đây không chịu tu tâm cho tốt mà ra. Nay đã học Phật, đã tu tâm, thì nhất định phải sửa đổi. Quá khứ hãy để nó trở thành quá khứ, đừng cố chấp níu giữ nơi thân tâm mình, lại còn nghiến răng nói: “Không đúng! Bởi vì tôi thế này… tôi thế kia…” Chính vì không muốn thừa nhận lỗi lầm của mình, mới khiến những điều bất thiện ấy mãi mãi mang theo bên người, và sau cùng tự chuốc lấy thất bại lâu dài cho chính mình.

Có một cụ già đúng là như vậy, mang theo trên mình tất cả những chuyện quá khứ, mỗi khi nhớ lại liền sinh tâm oán hận. Chính chữ “hận” ấy đã mang đến cho bà một thân đầy bệnh tật. Những bệnh ấy từ đâu mà ra? Tám mươi phần trăm là do con cái của bà. Bởi vì bà có một người con bất hiếu; mỗi khi nghĩ đến đứa con ấy liền vô cùng tức giận, vô cùng đau lòng, vô cùng oán hận — cuối cùng tạo thành một thân bệnh khổ cho chính bà. Thế nhưng, tám mươi phần trăm bệnh khổ nơi thân bà cũng là do chính bà tự tạo ra. Vì bà cứ mang nó trên lưng, không chịu buông xuống. Nếu có thể sớm một chút quăng bỏ gánh nặng ấy đi, thì thân thể bà còn đến nỗi như vậy hay không? Phải biết rằng, tức giận làm tổn hại thân thể, hơn nữa còn đang làm tổn hại chính sinh mệnh của mình. Nhất định đừng nổi giận. Tất cả đều là nợ, đều là nhân quả. Đời trước quý vị nợ con cái, đời này phải hoàn trả; hơn nữa phải hoàn trả vô điều kiện, phải hoàn trả trong tâm hoan hỷ. Phải tự cởi trói cho chính mình, phải triệt để buông xuống gánh nặng của mình.

Vì vậy, phải buông bỏ tâm hoan hỷ, tâm bi ai, tâm cầu tài, tâm tranh đấu, tâm đố kỵ, tâm phân biệt, tâm tự cho mình tôn quý, tâm ngạo mạn… Gần như tất cả những tâm phiền não đều phải loại bỏ hết. Quý vị hãy buông xuống tất cả những tâm ấy, đừng giữ lại nữa, để chúng hoàn toàn buông rơi, lặng dứt. Có một vị Phật, Bồ Tát được gọi là Ngọa Phật. Quý vị có biết không, mỗi một động tác của Phật đều hàm chứa rất nhiều tầng ý nghĩa? Chính vị Phật, Bồ Tát ấy đã buông bỏ hết thảy mọi tâm niệm. Khi tất cả những tâm ấy vẫn còn tồn tại nơi quý vị, thì quý vị không thể đạt đến Niết-bàn. Tư thế của Đức Phật nằm (Ngọa Phật) chính là biểu trưng cho việc đạt đến Chánh định Niết-bàn – khai ngộ, tỉnh ngộ, đạt đến Diệu giác định. “Diệu” chính là cứu cánh giác, tức là đạt đến sự giác ngộ rốt ráo, tối hậu.

Giác có bốn loại: Thứ nhất là Thủy giác, Thủy giác tức là vừa mới bắt đầu giác ngộ. Thứ hai là Tương tự giác, Tương tự giác tức là dường như đã giác ngộ, nhưng thực ra vẫn chưa phải là giác ngộ chân thật. Thứ ba là Tùy phần giác, Tùy phần giác tức là tùy theo nhân duyên, từng phần, từng phần mà dần dần giác ngộ. Thứ tư là Cứu cánh giác, Cứu cánh giác tức là đến sau cùng, khi đã hoàn toàn minh bạch rồi mới thật sự giác ngộ. 

Bốn loại giác này cũng chính là bốn tầng chuyển hóa trong tiến trình tu tập của con người.

1. Thủy giác Là sự giác ngộ vừa mới bắt đầu. Giống như khi chúng ta còn nhỏ, chưa từng nghĩ rằng cha mẹ rồi sẽ qua đời; đến khi mẹ mất rồi, mới biết rằng hóa ra mẹ cũng sẽ chết, đó gọi là Thủy giác.

2. Tương tự giác: Là cảm thấy ta và quý vị chịu khổ như nhau, phúc khí của ta và quý vị cũng giống nhau. Dần dần, thông qua sự giao cảm tình cảm mà sinh ra giác ngộ, giống như giữa hai người có duyên phận với nhau. Tương tự giác là một loại duyên phận từ quá khứ. 

3. Tùy phần giác: Là theo nhân duyên mà dần dần giác ngộ; theo sự gia tăng không ngừng của nhân duyên mà từng bước tỉnh ngộ. Sư phụ giảng điều này cũng gọi là “mạn giác” (giác ngộ chậm), bởi vì khi quý vị gặp được, tiếp xúc được với Sư phụ, thì mới bắt đầu giác ngộ. Đáng lẽ phải chủ động nắm lấy sự giác ngộ ấy, phải truy cầu cái “giác” đó, chứ không nên chậm chạp mà giác ngộ từng chút một. 

4. Cứu cánh giác: Là sau cùng rốt cuộc đã thật sự giác ngộ. Người đạt đến sự giác ngộ rốt ráo này có thể là người trẻ, cũng có thể là người già; không phải nói “cuối cùng mới giác ngộ” thì nhất định phải là người cao tuổi. Giác ngộ không nằm ở tuổi tác lớn hay nhỏ. Chỉ cần quý vị hiểu rõ đạo lý của nhân sinh, hiểu rõ chân tướng của vũ trụ, thì quý vị đã giác ngộ rồi. Nếu một người còn rất trẻ bỗng nhiên trong khoảnh khắc mà giác ngộ, thì người ấy chính là một vị Bồ Tát. Vì sao xuất gia gọi là “đốn nhập không môn”? Chính là trong chốc lát liền minh bạch, bước vào “không môn”. “Không môn” là cánh cửa của “không”, bởi vì thế giới hữu sắc này vốn dĩ là không.

QUYỂN 2 – TẬP 38
HỌC TRƯỚC TIÊN PHẢI CÓ GIÁC, MỚI CÓ THỂ BIẾT NGỘ
(学习先有觉,才能知道悟)

Sau khi linh hồn tiến nhập vào thân xác con người, tất cả những cảm thọ phát sinh đều gọi là Sơ phát tâm, tức là cái tâm vừa mới khởi lên. Khi ấy, Phật tánh bắt đầu vận chuyển; sự vận chuyển ấy chính là khởi đầu, gọi là Thủy. Từ Thủy giác bắt đầu xuất hiện sự tiến triển tuần tự của Cảnh ngoại giác, Nội giác và Trực giác. Cảnh ngoại giác là cảm nhận đối với cảnh giới bên ngoài. Nội giác là cảm nhận nơi linh hồn của chính mình. Trực giác là sự cảm thọ trực tiếp mà linh hồn và thân thể có thể cảm nhận được, đó gọi là Giác. Người khác nói chuyện với quý vị, chỉ một động tác của họ cũng có thể khiến quý vị sinh khởi một cảm nhận trực tiếp, điều đó gọi là Trực giác. Khi tương ưng với bản sơ nguyên của vũ trụ, nghĩa là khi Cảnh ngoại giác và Nội giác của quý vị, cộng thêm Chánh giác nơi tự thân, đã tương ưng với bản sơ nguyên của vũ trụ, tức là bản sơ nguyên của địa cầu này, khi lương tâm và bản tánh của con người phù hợp, tương ứng với vũ trụ, thì sẽ sinh khởi một loại bản tánh nguyên sơ nhất; cuối cùng đạt đến Viên mãn Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Sư phụ đã giảng với quý vị rằng phải trước tiên có Giác, rồi mới có thể Ngộ. Khi quý vị chưa có Giác, thì vĩnh viễn không thể Ngộ ra đạo lý. Khi quý vị cảm nhận người này là người tốt, rồi mới Ngộ ra rằng đó là người tốt. Khi quý vị cảm nhận người này là người xấu, thì đó là trước Giác, sau đó mới Ngộ, vì vậy gọi là Giác ngộ. Còn tướng trạng của người phàm thông thường là bất giác. Những gì người bình thường cảm nhận được gọi là nhân tướng; mà người bình thường phần nhiều là không Giác. Vậy, loại “tướng” nào của con người là không Giác ngộ? Ví dụ như, chúng ta nói rằng con người đều phải theo đuổi hòa bình, thế nhưng trên thế giới ngày nào cũng có chiến tranh, quý vị nói xem, những người ấy có Giác ngộ không? Con người theo đuổi sự hòa ái, khả thân, phải lấy thiện đãi người; thế nhưng có người vừa nhìn thấy người khác đã sinh tâm chán ghét. Nếu ngày ngày đều sống như vậy, thì con người sẽ dần dần biến đổi. Nếu ngày ngày đi làm những việc không có ý nghĩa, biết rõ hút thuốc có hại cho phổi mà vẫn cứ liều mạng hút, đó gọi là bất giác. Vì vậy, chỉ người thật sự có Giác ngộ mới có thể được gọi là Giác giả.

Hôm nay giảng về Tam địa Bồ Tát. Tam địa còn gọi là Minh địa. “Tuỳ Văn, Tư, Tu chiếu pháp hiển hiện, nên gọi là Minh địa; dùng Gia hạnh trí đoạn trừ sự trì trệ và khổ não nơi tâm; dứt sạch vô minh do quên mất Văn, Tư, Tu; chứng đắc Thắng lưu công đức Nhẫn Ba-la-mật, lấy đó làm pháp tăng thượng.” Minh địa nghĩa là ánh sáng trí huệ đã hiển lộ. Khi hành giả tu tập theo Văn, Tư, Tu, nghe pháp (Văn), suy tư quán chiếu (Tư), thực hành tu tập (Tu),  thì các pháp được soi chiếu rõ ràng, không còn mê mờ. Dùng Gia hạnh trí, tức là trí huệ do công phu tu tập mà thành, để đoạn trừ sự trì trệ và những khổ não nơi tâm. Nếu quên mất Văn, Tư, Tu thì vô minh sinh khởi; nay do tu tập mà vô minh được đoạn trừ. Khi ấy hành giả chứng đắc Thắng lưu công đức Nhẫn Ba-la-mật, lấy đó làm pháp tăng thượng để tiến tu. 

“Tùy Văn, Tư, Tu” nghĩa là tùy theo những gì quý vị thấy, nghe – tai nghe, mắt thấy, mũi ngửi… Bồ Tát ở địa vị này, chỉ cần nhìn thấy bất cứ điều gì liền biết suy tư quán chiếu; Phật pháp tự nhiên hiển hiện, mọi việc đều minh bạch. Tam địa Bồ Tát là Văn – Giác – Tri: nghe rồi trước hết sinh khởi sự cảm nhận. Quý vị có thể sẽ hỏi: “Chẳng phải là phải “Không” sao? Vậy còn phải cảm nhận làm gì?” Quý vị đã hiểu sai rồi, vì cảnh giới không giống nhau. Cái “Không” ấy là chỉ việc học Phật ở nhân gian, dạy quý vị buông xả; còn hiện nay đang giảng là cảnh giới của Tam địa Bồ Tát. “Tuỳ Văn, Tư, Tu chiếu pháp hiển hiện” nghĩa là khi chánh tư duy sinh khởi, thì hiểu được cách tu sửa cho đúng. Đem tất cả thiện pháp và mọi cách làm nơi nhân gian ra đối chiếu, soi chiếu, đều có thể hiển hiện rõ ràng; tự nhiên sẽ biết điều gì đúng, điều gì sai.

Tam địa Bồ Tát có thể nhìn ra tất cả điều thiện và điều bất thiện nơi nhân gian (điều này không phải theo quan niệm thiện – ác của người đời, mà là đã nâng lên trên lập trường trí huệ của Phật), đều lập tức hiển hiện và trở nên minh bạch, cho nên gọi là Minh địa. “Trí đoạn tâm trì” nghĩa là dùng trí huệ để phán đoán và thấu triệt tâm của chính mình. Chữ “trì” ở đây chỉ rằng chỉ cần trong tâm hơi có một chút không chánh, thì trí huệ liền lập tức phân định đâu là chánh, đâu là bất chánh. Cũng có nghĩa là mọi sự việc và mọi đạo lý trong không gian vũ trụ Bồ Tát đều biết rõ.

“Tu vong thất vô minh tận” nghĩa là tu để dứt sự quên mất chánh pháp, khiến vô minh đoạn tận. “Tu vong” tức là tu để bỏ đi, tu để xóa sạch. “Thất” là đánh mất, quên mất. “Vô minh” là mê mờ, không sáng suốt. “Tận” là dứt sạch, chấm dứt hoàn toàn. Vì vậy, “Tu vong thất vô minh tận” nghĩa là tu để đoạn trừ sự quên mất chánh pháp, khiến vô minh dứt sạch. “Tu vong” cũng chính là tu để bỏ đi tất cả những điều không tốt nơi chính mình. Tam địa Bồ Tát có thể đem tất cả mọi sự nơi nhân gian, dùng đại trí huệ quán chiếu, đều nhìn thấu và hoàn toàn minh bạch đạo lý. “Chứng thắng lưu công đức” nghĩa là chứng đắc công đức thù thắng tuôn chảy không ngừng. Chữ “thắng” ở đây mang nghĩa thù thắng, vượt trội. Khi đã chứng đắc thắng lưu công đức, tức là công đức đã đầy đủ, hoàn toàn thuộc về mình. Giống như một người khi không còn nợ nần, thì tiền kiếm được đều hoàn toàn thuộc về mình. Còn khi vẫn còn nợ người khác, thì tiền kiếm được trước hết phải đem trả nợ, chưa thể hoàn toàn sở hữu. 

Bồ Tát lấy Nhẫn Ba-la-mật làm pháp tăng thượng, nghĩa là vì muốn đến bờ kia, vì muốn nâng cao cảnh giới, nên việc gì cũng có thể nhẫn chịu. “Tăng thượng” nghĩa là đem tất cả những điều không tốt đều xem thành một loại nhân duyên giúp mình tăng tiến và đi lên. Người khác mắng quý vị, quý vị vẫn hoan hỷ – vì đó là đang rèn luyện nhẫn nhục của mình. Người khác đánh quý vị, quý vị cũng hoan hỷ – vì đó là đang tiêu trừ nghiệp chướng. Chính là phải chuyển hóa toàn bộ tư duy của mình, biến tất cả thành tăng thượng duyên.

Từ trước đến tam địa này (tức tiền tam địa), đều là tổng tu Đại thừa Tam-ma-đề. “Tự thử dĩ tiền tam địa, tổng tu Đại thừa Tam-ma-đề.” – Cứu độ chúng sinh chính là tu Đại thừa Phật pháp, bởi vì tiền tam địa của Bồ Tát (Sơ địa, Nhị địa, Tam địa) đều tu Đại thừa Tam-ma-đề. Tam-ma-đề là đoạn trừ tập khí bất tín của hạng Nhất-xiển-đề. 

Một người có thể an định được tâm mình chính là thiền định. Khi ở trong thiền định, phải loại bỏ hết thảy vọng niệm và tạp niệm. Nhưng khi ngồi thiền, tâm có thể hoàn toàn rỗng lặng hay không? Rất khó đạt đến trạng thái “không”. Còn tiền tam địa của Bồ Tát thì ngay cả sự chấp trước vào thiền định cũng phải đoạn trừ.

Ví dụ, trong tâm quý vị có một chuyện rất buồn, tự nhắc mình đừng buồn nữa, nghĩ đến những lời Sư phụ dạy, muốn khiến tâm mình định lại, định, định, định… Nhưng trên thực tế, chính vì trong đầu vẫn còn những việc ấy, nên quý vị mới không thể định xuống được. Cũng giống như có người nói: “Tôi phải nhẫn nại, tôi phải nhẫn nại.” Thật ra, người trong tâm càng cố nghĩ đến việc nhẫn nại, thì lại càng khó nhẫn nại. Người thật sự có thể nhẫn, không cần phải nghĩ, cũng có thể nhẫn được. Không cần cưỡng ép khắc chế, mà tự nhiên đã có thể khắc chế. Đó là do công phu tu tập thường ngày mà thành. Thiền định chân thật là ngay cả thiền định cũng không còn chấp trước, tất cả đều là Không.

“Chướng phương tiện sinh tử quả báo.” “Chướng” nghĩa là chướng ngại, ngăn trở. “Phương tiện sinh tử quả báo” nghĩa là còn chịu quả báo sinh tử. “Chướng sinh tử quả báo” tức là ngăn chặn, chướng ngại sinh tử quả báo — nghĩa là không còn chịu sinh tử quả báo nữa. Sinh tử quả báo vốn là điều bình thường. Nay phía trước thêm một chữ “chướng”, tức là đã ngăn lại, chặn đứng, không còn sinh khởi nữa. “Đắc Đại Tịnh Quả dã” nghĩa là đạt được quả báo thanh tịnh lớn nhất. Khi sinh tử quả báo không còn, tức là đã thoát khỏi Lục trần, đổi lại được Đại Tịnh Quả. Loại bỏ những quả báo thấp kém, sửa đổi những sai lệch trong tư duy và hành vi, mà đạt được một quả báo thanh tịnh tối thắng, đó gọi là Đại Tịnh Quả. 

Vì thời gian có hạn, hôm nay chỉ có thể giảng đến cảnh giới ban đầu của Tam địa Bồ Tát; những nội dung cụ thể hơn về Tam địa Bồ Tát xin hẹn lần sau sẽ tiếp tục giảng giải.

QUYỂN 2 – TẬP 39
HỌC VÔ NGÃ, KHỞI DỤNG TỰ TÍN
(学会无我,启用自信)

Hôm nay giảng cho quý vị rằng: tụng kinh phải dùng tâm mà tụng, phải thật sự tin, phải thiết nguyện, phải có nguyện vọng chân thiết; hơn nữa còn phải có duyên niệm Phật. Khi tụng kinh, điều quý vị đang niệm chính là tâm của mình. Khi niệm Phật, đó là nhân từ sức lực tự thân. Quý vị niệm Phật, niệm Bồ Tát, cũng chính là đang niệm chính mình, bởi vì bản lai quý vị vốn là Bồ Tát. Vì vậy, dùng tâm làm nhân, nghĩa là dùng cái tâm đang niệm để hướng về vị Phật mà mình niệm; tức là dùng chân tâm để trì tụng kinh văn. “Nhân” ấy có thể do tâm niệm mà hiển hiện. Nghĩa là, sau khi quý vị niệm Phật, vì đã dùng chân tâm mà niệm, nên chư Phật, Bồ Tát sẽ hiển hiện trong tâm quý vị. Đó chính là Phật tánh chân thật nơi tự tâm của quý vị được hiển lộ. Phải dùng cái tâm đang niệm ấy để tiếp cận vị Phật mà mình đang hướng về. Những lời này tuy nghe có vẻ khó hiểu, nhưng quý vị chỉ cần suy nghĩ kỹ một chút thì sẽ có thể lãnh hội được. Khi quý vị dùng tâm chuyên chú, nghiêm túc trì tụng, tụng đến một mức độ nhất định, thì trong tâm sẽ hiển hiện hình bóng của Phật. Thực ra, điều sinh khởi nơi tâm quý vị là một loại Phật quang, là ánh sáng của Phật, là sự quang minh của Phật tánh. Khi ấy, tâm của quý vị sẽ dần dần trở nên thanh tịnh.

Sức mạnh do tự mình trì tụng, cộng thêm sự cảm ứng giao hòa với Phật được hình thành nhờ công phu trì tụng ấy, khiến nhân duyên dần dần hòa hợp. Nói cách khác, khi quý vị tụng kinh mà có thể “tụng đến” Phật, Bồ Tát, tức là đã sinh khởi sự cảm ứng đạo giao, thì nhân duyên của quý vị đã hòa hợp. Về sau, quý vị có thể vãng sinh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, hoặc siêu thoát khỏi Lục đạo luân hồi, tiến nhập cảnh giới của Bồ Tát. Phải hết lòng, dốc sức mà trì tụng, tụng đến mức khiến Phật tánh của chính mình hiển lộ. Nói cách khác, là tụng cho đóa sen nơi tự tâm được nở ra. Khi tâm của quý vị đã cảm ứng tương ưng với Phật, Bồ Tát, thì có thể thăng tiến lên cảnh giới cao hơn. Nếu tụng rất lâu mà vẫn chưa sinh khởi được sự cảm ứng, thì sẽ khó có thể thăng tiến. Muốn vãng sinh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, đến lúc lâm chung phải nhân duyên đầy đủ. “Nhân” chính là cái tâm mà quý vị sử dụng, phải thật sự tin sâu, phải có nguyện lực tha thiết và chân thành. “Duyên” chính là Phật duyên, quý vị dùng tâm chí thành, khẩn thiết nhất của mình để gieo trồng duyên với chư Phật, Bồ Tát, khiến tự tâm và Phật, Bồ Tát tương ưng hòa hợp làm một. Như vậy, quý vị mới có thể vãng sinh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, hoặc sinh về các pháp giới thù thắng vượt trên Lục đạo. Chư Phật, Bồ Tát ắt sẽ cảm ứng, đến tiếp dẫn quý vị.
Vô ngã nghĩa là không có “cái tôi”. Vô ngã có hai loại:

1. Nhân vô ngã “Nhân vô ngã” là người khác không xem quý vị là quan trọng, người khác coi nhẹ quý vị, người khác không đặt quý vị vào vị trí đặc biệt, tức là trong mắt họ “không có quý vị”. Kết quả là phiền não của quý vị sẽ được trừ bỏ. Vô ngã có thể phá trừ phiền não chướng, tức là phá bỏ những chướng ngại do phiền não tạo thành. Vì sao vô ngã có thể phá trừ phiền não chướng? Bởi vì khi người khác không xem quý vị là quan trọng, quý vị sẽ trở nên nhẹ nhàng, không còn chấp trước. Khi người khác không nghĩ đến quý vị, quý vị cũng sẽ không còn vướng bận họ. Như vậy, quý vị sẽ không còn phiền não. Ví dụ, khi con cái không để ý đến quý vị nữa, thì quý vị cũng cứ thuận theo đó mà không chấp trước, như vậy sẽ không còn phiền não. Nếu con cái luôn nhớ nghĩ đến quý vị, thì trong tâm quý vị cũng sẽ luôn nhớ nghĩ đến con cái; sự vướng mắc qua lại ấy chính là phiền não chướng. Khi không còn chấp “cái tôi”, quý vị sẽ thấy mọi việc đều nhẹ nhàng, tự nhiên sẽ không còn nhiều phiền não.

2. Pháp vô ngã “Pháp” chính là các pháp nơi nhân gian; tất cả mọi sự việc trong đời đều gọi là pháp. Pháp vô ngã có thể phá trừ sở tri chướng, tức là phá bỏ những chướng ngại về nhận thức và trí huệ. Đối với bất cứ sự vật nào, nếu quý vị có thể giữ được tâm không chấp ngã, thì đó gọi là pháp vô ngã. Phật pháp giảng rằng: Vạn pháp giai không, nghĩa là không có pháp cố định, cũng không có cái ngã chân thật. Trong tất cả những sự việc phát sinh nơi thế gian, nếu trong đó không còn xen vào cái “ngã” của quý vị, thì người ấy mới thật sự là người có trí huệ. Muốn phá trừ mọi chướng ngại của trí huệ, phải xem thứ thông minh, trí xảo nơi nhân gian chỉ là một loại chấp trước, một loại nghiệp chướng, mà cần phải đoạn trừ. Không có cái gọi là thông minh hay không thông minh, cũng không có cái gọi là trí lực cao hay thấp. Nói rằng: “Tôi rất thông minh”, “Tôi có trí huệ hơn người”, “Tôi làm được việc này, việc kia”, tất cả đều là vọng niệm hư giả. Chỉ cần hiểu rõ rằng vạn pháp giai không, hết thảy đều là Không, thì những ý niệm phân biệt ấy tự nhiên sẽ không còn sinh khởi.

Vì sao có người tu hành tốt thì có cảm ứng, còn quý vị lại không có cảm ứng? Cảm ứng từ đâu mà có? Cảm ứng đến từ thiện nghiệp của một người. Nhiều người đến Quán Âm Đường lễ bái Phật, Bồ Tát để cầu nguyện, nhưng khi cầu xin, trong tâm lại đầy dẫy tạp niệm, còn tưởng rằng Phật, Bồ Tát không thấy, không biết. Nếu ác niệm của quý vị nhiều hơn hoặc lớn hơn thiện niệm mà quý vị đang cầu, thì nhất định sẽ không linh nghiệm; thậm chí còn có thể chiêu cảm quả báo. Tuy nhiên, sau khi cầu Phật, quả báo ấy có thể từ lớn hóa nhỏ, nhưng lớn hay nhỏ đều tùy theo nghiệp lực mà quý vị đã tạo trong tiền thế và hiện thế. Dù không thể nói rõ nghiệp ấy lớn đến mức nào, nhưng khi quả báo hiện tiền, tự nhiên sẽ biết nặng nhẹ. Ví như người lớn tuổi thân thể suy yếu, bị té một cái liền gãy xương; có người thân thể mọc khối u; có trẻ nhỏ đột nhiên mắc trọng bệnh… Tất cả những điều ấy đều thuộc về quả báo. Mức độ nặng nhẹ của quả báo hoàn toàn bắt nguồn từ nghiệp mà chính mình đã tạo. Khi một người thiện tâm tăng trưởng, thì trong mọi việc đều có thể sinh khởi cảm ứng.

Thế nào gọi là “Nhiễm duyên”? Ví như, ta dùng nhiễm duyên mà khiến một người bị nhiễm trở lại. Người ấy khi còn nhỏ, thiện duyên vốn rất tốt. Nếu giao kết với những đứa trẻ không tốt, thì thiện duyên của họ liền bị người khác làm ô nhiễm; do đó thiện duyên ấy dần dần chuyển sang bất thiện. Khi nhiễm duyên đã sinh khởi, thì thiện duyên của người này liền rời xa. Nhiễm phải duyên xấu thì thiện duyên liền lìa bỏ; nhiễm phải duyên tốt thì thiện duyên liền quay về; nếu nhiễm vào ác duyên, thì ác duyên lại trở về với họ. Phật pháp giảng rất rõ ràng: “Nhiễm duyên” chính là một loại nhân duyên vốn tốt đẹp, nhưng có thể bị chuyển đổi. Vì thế, nhiễm duyên cần phải được tẩy trừ và thanh lọc.
Phật pháp dạy rằng khi nghe kinh, học Phật pháp cần phải hết sức thận trọng. Vào thời Mạt pháp, xuất hiện đủ mọi tông phái, pháp môn khác nhau; lại có nhiều người tự xưng thông linh, nhiều vị đại pháp sư… đều nhân danh cứu độ chúng sinh mà xuất hiện nơi thế gian. Nhưng bất kỳ một “duyên” nào khi đến với con người, thường đều được bao phủ bởi một lớp che lấp bên ngoài, khiến người ta khó thể nhận ra bản chất chân thật của nhân duyên ấy. Ví như có những đôi vợ chồng vốn là ác duyên; thế nhưng trong thời gian yêu đương lại si mê sâu đậm, yêu đến mức tưởng như không thể rời xa. Sở dĩ như vậy là vì bên ngoài ác duyên ấy được bao bọc bởi một lớp “nhiễm duyên”. Chính lớp nhiễm duyên này khiến con người không thể thấy rõ chân tướng của nhân duyên. Trước khi kết hôn, hầu như không ai nghĩ đến việc sau này sẽ phát sinh tranh chấp hay ly biệt; nhưng theo thời gian, mọi sự dần dần đổi khác, đó chính là do nhân duyên đã chuyển biến, thậm chí biến chất.

Sư phụ thường giảng rằng, điều trọng yếu nhất trong tu học chính là cảm ứng. Cảm ứng của một người vô cùng quan trọng. Cảm ứng ấy phát sinh từ thiện duyên và thiện nghiệp của chính mình. Nếu trong tâm không có thiện niệm, thì làm sao có thể sinh khởi được cảm ứng? Vì vậy, khi nghe kinh, học Phật pháp, nhất định phải hết sức cẩn trọng. Dù nhân duyên đến muộn, dù việc học Phật còn chậm, tất cả những điều ấy đều không đáng lo ngại. Điều đáng sợ nhất là đi lầm đường, rơi vào tà lối. Sinh mệnh của con người vô cùng hữu hạn. Nếu chỉ vì một bước sai lầm mà lạc vào đường lệch lạc, thì thật sự sẽ không còn kịp nữa. Đến khi muốn quay lại tu học Phật pháp chân chánh, e rằng thời gian đã không cho phép. Ví như bị người khác dẫn dắt đến những nơi bất thiện, chẳng hạn như cờ bạc và các hành vi sai trái khác. Một khi đã sa vào, muốn quay đầu trở lại con đường chánh thiện sẽ vô cùng khó khăn.

Tu Phật phải nhẫn những điều người khác không thể nhẫn, hành những điều người khác không thể hành. Người học Phật phải có tâm nhẫn nại, có thể chịu đựng những điều người thường không thể chịu đựng, thực hành những việc người thường không thể thực hành. Phải học cách tĩnh tọa, thường xuyên quán chiếu lỗi mình. Khi lắng tâm ngồi yên, phải thường tự xét lại bản thân đã sai ở đâu, thiếu sót chỗ nào. Dù trong lúc nhàn đàm cũng không nên luận bàn thị phi của người khác, không nên nói đến đúng – sai của người khác, không nên nói điều bất thiện về người khác. Người học Phật tâm Bồ-đề phải thường khởi, phải luôn phát tâm Bồ-đề. Ngọn đèn trí huệ cần phải luôn được thêm dầu. Nếu trí huệ không được bồi dưỡng thường xuyên, thì ánh sáng sẽ dần lụi tắt. Không có trí huệ thì không thể tu tâm cho đúng pháp. Người thiếu trí huệ thấy người khác tốt thì sinh tâm bất an, thấy người khác không tốt thì lại sinh tâm vui mừng. “Thêm dầu” ở đây chính là siêng năng tụng kinh, thường phát tâm Bồ-đề, tinh tấn làm việc thiện, tích lũy công đức.

Tín tâm là ngọn minh đăng. Tín tâm ấy chính là tự thân quý vị, không phải từ người khác. Tín tâm có lợi ích gì? Bởi vì khi có tín tâm, quý vị sẽ cảm thấy chính mình là người đáng tin cậy nhất. Quý vị đã từng xem nhiều bộ phim: khi một người rơi vào trạng thái phân vân, không rõ ràng, thì dường như xuất hiện hai “nhân vật” — một là bản thân người ấy, một là cái tôi trong nội tâm. Người ấy sẽ hỏi nội tâm mình: “Tôi có thể làm việc này không?” Và rồi nhận được câu trả lời: “Bạn không thể làm việc này.” Đó chính là sự đối thoại nơi nội tâm. Nội tâm ấy chính là tín tâm của quý vị, chính là tự tánh của quý vị. Phải nắm vững được tâm này, bởi vì tín tâm của chính mình vô cùng quan trọng.
Một cụ già từng phát nguyện rằng: “Tôi tin Quán Thế Âm Bồ Tát nhất định không bỏ tôi. Tôi nguyện trả hết những món nợ mình còn mang, nguyện được vãng sinh về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Tôi tin chắc Quán Thế Âm Bồ Tát nhất định sẽ đến tiếp dẫn tôi.” Quý vị nghĩ xem, tín tâm ấy đối với cụ già kia có trọng yếu hay không? Chỉ một niệm, chỉ một tín tâm, cũng có thể chuyển đổi vận mệnh của cả một đời người. Chỉ cần có tự tín, biết mình có chỗ nương tựa chân thật và vững chắc, mà chỗ nương tựa chân thật nhất ấy chính là Quán Thế Âm Bồ Tát; tin sâu rằng Quán Thế Âm Bồ Tát nhất định sẽ gia hộ mình, thì há chẳng phải đã có chỗ nương tựa rồi sao? Không cần nương tựa nơi người khác. Nương nơi chính tín tâm của mình. Cầu người không bằng cầu chính mình.

Một người có tự tín tâm, thì nơi tự tâm tàng chứa vô lượng bảo tàng. Cần biết khai mở kho báu nơi tâm linh mình, đem tất cả những điều thiện lành, tốt đẹp đều hiển phát ra, mà ứng dụng vào đời sống. Như vậy, niềm vui sẽ vô cùng tận, an lạc sẽ không bao giờ cạn.

QUYỂN 2 – TẬP 40
PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, VIÊN MÃN PHÁT TAM TÂM
(发菩提心,圆发三心)

Tiếp theo, giảng về phương pháp phát khởi Bồ-đề tâm. Nhiều người chỉ biết nói rằng: “Tôi nguyện phát Bồ-đề tâm”, nhưng phát như thế nào mới đúng pháp? 

Thứ nhất, phải học cách quan tâm đến tất cả chúng sinh, phải biết quan tâm đến từng người một. “Nhân nịch ngã nịch” nghĩa là khi thấy người khác rơi xuống nước, phải cảm nhận như chính mình đang rơi xuống nước vậy. “Nhân cơ kỷ cơ” nghĩa là khi thấy người khác đói khát, thiếu thốn, phải cảm nhận như chính mình đang đói khát vậy. “Lợi kỷ lợi nhân, đạt kỷ đạt nhân” nghĩa là bất luận làm việc gì, đều phải có thể thông đạt, hiểu lý lẽ, có thể giúp đỡ người khác. Giúp mình cũng chính là giúp người, giúp người cũng chính là giúp mình.

Thứ hai, phải bao dung tất cả chúng sinh. Khi người khác làm sai, phải có thể bao dung họ, không nên oán hận. “Dĩ trách nhân chi tâm trách kỷ” nghĩa là khi muốn trách người, trước hết phải dùng tâm ấy mà tự trách mình; trách người, trước hết phải trách mình. “Dĩ thứ kỷ chi tâm thứ nhân” nghĩa là lấy tâm tha thứ đối với chính mình mà tha thứ cho người khác. Nói theo cách hiện đại, đó là biết đặt mình vào vị trí của người khác. Một người phải biết khoan dung; không biết khoan dung chính là thiếu trí huệ. Ai cũng có lúc phạm sai lầm. Khi quý vị biết bao dung người khác, người khác mới có thể bao dung lại quý vị, đó gọi là sự hồi báo theo nhân quả.

Thứ ba, học cách khắc kỷ. Phải thường xuyên quán xét lỗi lầm của chính mình, học quên mình, học cách tự chế ước bản thân. Thường xuyên nghĩ lại những điều mình đã làm chưa đúng, thì trong tâm sẽ không còn oán trách hay buồn khổ. Học quên mình chính là học buông cái “ta”. Hãy thường nghĩ rằng mình không có gì đặc biệt, mình còn yếu kém; mọi thành tựu đều nương nhờ đại chúng, nếu không có mọi người thì bản thân cũng không thể làm tốt được. Không nhớ nghĩ lỗi lầm của người khác, không nhắc lại những điều sai trái họ đã làm trong quá khứ. “Vô ý, vô tất” nghĩa là không khởi tâm cưỡng cầu, không ép buộc bản thân phải nhất định làm một việc nào đó; những ý niệm không nên có thì chớ để chúng sinh khởi. “Vô cố, vô ngã” nghĩa là không cố chấp, không chấp giữ cái “ta”.

Thứ tư, làm một người tu tâm, người phát Bồ Đề tâm, phải biết đem niềm tin đến cho người khác, đem niềm hoan hỷ đến cho người khác. Phải khiến người khác sinh tâm hoan hỷ, khiến người khác tăng trưởng tín tâm — làm được như vậy chính là hạnh của Bồ Tát. Dùng ngôn ngữ bố thí để đem lại niềm tin cho người, khiến người nghe pháp mà pháp hỷ sung mãn,đó chính là học theo Bồ Tát. Nên nói nhiều lời thiện lành, bớt nói lời tiêu cực; có thể nói thêm một câu tốt đẹp, thì sẽ bớt đi một câu không thiện. Lấy lòng chân thành mà đối đãi với người, đem thiện pháp trao tặng cho người, nhiệt tâm giúp đỡ người, thành tựu điều tốt đẹp cho người khác. Thường xuyên dùng tâm chân thành để giúp người và thành tựu điều thiện cho người, đó chính là hành trì Bồ Đề tâm.

Viên mãn phát tam tâm. Người học Phật phải từ trong tâm mình phát khởi ba loại tâm: 1. Tâm chí thành. 2. Tâm thâm sâu. 3. Tâm hồi hướng phát nguyện. 

Tâm chí thành là tâm chân thật không hư ngụy, hoàn toàn chân thật, không chút giả dối. Lời nói đều chân thực, không có bất kỳ sự ngụy trang nào. Phải dùng tâm chân thành không hư ngụy ấy để đối đãi với tất cả chúng sinh.

Thâm tâm là lấy tâm vô duyên từ thương xót hết thảy chúng sinh; dùng tâm sâu xa ấy để giúp đỡ người khác.

Tâm hồi hướng phát nguyện là tâm của người học Phật, là một tâm niệm cao thượng. Tâm hồi hướng phát nguyện cần ghi nhớ hai điều: 

Thứ nhất, vạn thiện đồng quy – hết thảy các thiện hạnh đã làm đều quy về một chỗ. Theo lời Sư phụ dạy, chính là quy về công đức; đem toàn bộ việc thiện lành hồi quy về công đức. 

Thứ hai, phổ nguyện hữu tình – tự tâm phát nguyện độ hết thảy chúng sinh hữu tình. “Chúng sinh hữu tình” tức là những chúng sinh có tình thức.

Ở nhân gian, thế nào gọi là cát tường? Phàm những gì ở nhân gian vốn nên được, đáng được, thuộc phần của mình, ấy gọi là cát tường. Còn những gì vốn dĩ không nên được, không thuộc về mình, nhưng do cưỡng cầu mà đạt được, đó là không cát tường. Ở nhân gian, điều gì đáng để mình có, đáng để mình nhận, thì gọi là cát tường; còn điều không nên được mà vẫn cố cầu cho được, thì sau khi đạt được, ấy chính là điều không cát tường. Ví dụ như mua xổ số. Mỗi ngày đều đi cầu, mỗi ngày đều bỏ tiền ra mua. Trải qua mấy chục năm, số tiền đã tiêu hao không cần nói đến; đến cuối cùng, cho dù có trúng được, rất có thể lại bị người truy đuổi, thậm chí bị bắt cóc. Đó chính là: cái không nên được mà lại được, nên gọi là không cát tường. Đây là một khái niệm, một đạo lý, cũng là trí huệ của Bồ Tát. Mọi người nhất định phải ghi nhớ: làm người, những gì không nên được thì chớ nên truy cầu.

Thế nào gọi là đại cát tường chân chính? Hết thảy những gì nơi vạn sự vạn vật mà ta có thể thọ dụng một cách chính đáng, đó gọi là đại cát tường. “Thọ dụng” nghĩa là những điều có thể chân thật sử dụng, an nhiên hưởng dùng; là những gì thuộc về mình một cách hợp đạo lý, hợp nhân quả, ấy mới là đại cát tường. Ví như tiền bạc vốn dĩ không nên thuộc về mình, nhưng lại dùng thủ đoạn cướp đoạt, lừa gạt, trộm lấy; rồi sau đó bị pháp luật bắt giữ,  thử hỏi như vậy có phải là cát tường chăng? 

QUYỂN 2 – TẬP 41
CẢNH GIỚI HỌC PHẬT, HIỂU RÕ NHÂN QUẢ, NĂNG XẢ TỨC KHÔNG
(学佛境界,懂得因果,能舍即空)

Một người ngay đến tâm bền bỉ căn bản còn không có, thì không thể tu tốt được. Tu hành nhất định phải có trí huệ. Phải dùng trí huệ để phân biệt: con đường này có đúng hay không? Pháp môn này có phù hợp hay không? Tất cả đều cần dùng trí huệ để quán sát và nhận định. Nếu không có trí huệ, nghe pháp này một chút, nghe pháp kia một chút, dao động theo lời người khác, người như vậy có thể làm Bồ Tát được chăng? Có thể tu thành tựu được chăng? Ngay cả làm một người bình thường cho trọn vẹn cũng chưa làm được.

Phải an trụ trong giới hạnh thanh tịnh, dưới sự điều phục của Thập thiện nghiệp mà nghiêm trì giới luật. “Giới” tức là giới luật. Người học Phật phải lấy giới làm nền tảng căn bản. Trong quá trình hành trì giới hạnh, cần nương vào Thập thiện nghiệp để điều phục thân tâm. Nghĩa là trong sự giữ giới không gián đoạn ấy, phải siêng năng làm các việc thiện, tích lũy công đức, dùng thiện nghiệp để điều phục và thanh lọc tự tâm, khiến tâm dần dần trở nên thanh tịnh. Chỉ có như vậy mới có thể tiến đến viên mãn. Sau khi đã nghiêm trì giới luật, mới có thể lấy Thập thiện nghiệp làm phương tiện điều phục, khiến giới hạnh ngày càng kiên cố và thanh tịnh hơn. Sư phụ vừa giảng về “tịch tĩnh” và “thuần thiện”. Chỉ cần quý vị y theo giới hạnh mà Sư phụ chỉ dạy để điều phục tự thân, thì nội tâm sẽ ngày càng tịch tĩnh, ngày càng thanh tịnh, ngày càng thuần thiện. Khi trong tâm không còn nghiệp chướng cấu nhiễm, không còn các niệm bất thiện, thì tâm tự nhiên an định và bình hòa. Ngược lại, khi khởi sinh ác niệm, còn tham, sân, si, thì tâm không thể an tĩnh, cũng không thể đạt đến cảnh giới tịch tĩnh của Bồ Tát.

Phải tu tập để thanh tịnh hóa định lực. Nghĩa là sau khi trì giới, cần phải phát triển định lực, và dùng định lực ấy làm nền tảng cho sự tu hành. Ví như hôm nay có người mắng nhiếc bạn. Quý vị có thể giữ được sự an định, tuy trong tâm còn thoáng khởi chút sân ý, nhưng vẫn không mắng trả. Điều ấy chưa phải là thanh tịnh chân chính, mà chỉ là sự tạm thời kềm chế và đè nén: “Ta không mắng lại, mặc cho người mắng.” Thế nào mới là định lực thuần tịnh, thanh sạch? Là khi người khác mắng quý vị, trong tâm không những không khởi sân, mà còn sinh lòng thương xót, nghĩ rằng: “Người này thật đáng thương. Không chuyên tâm tu học, niệm kinh hành thiện, lại còn tạo khẩu nghiệp mắng người. Nguyện cầu Quán Thế Âm Bồ Tát từ bi gia hộ cho họ, xin rộng lòng tha thứ cho họ. Mong họ sớm tỉnh ngộ, không còn hành xử trong vô minh, biết tu tâm sửa mình, biết chuyển hóa chính mình.” Đó mới gọi là định lực thuần tịnh và thanh sạch. Không phải là đem sân giận dồn nén trong lòng; bởi định lực do đè nén mà có rốt cuộc sẽ có ngày bộc phát.

Học theo Bồ Tát, cần khai mở một phần thần thông lực. Khi ở nhân gian mà tu đạt đến cảnh giới của Bồ Tát, tự nhiên sẽ phát sinh thần thông lực. Hiện nay là thời mạt pháp, cần nương vào thần thông lực để cứu độ chúng sinh. Bởi vì tư tưởng con người ngày càng nhiễm ô, chấp trước; nếu không dùng một phần thần thông lực khiến họ thấu hiểu nhân quả, thì họ khó có thể tin nhận, cũng khó sinh khởi tín tâm đối với Phật pháp. Đó chính là nguyên nhân vì sao vẫn còn nhiều người tạo ác mà không tin Phật. Khi một người tu hành đạt đến cảnh giới của Bồ Tát, ắt sẽ có thần thông lực. Tuy thân còn ở nhân gian, nhưng cảnh giới tâm linh đã tương ưng với cảnh giới của Bồ Tát. Chỉ cần cảnh giới an trụ nơi Bồ Tát, thì người ấy chính là Bồ Tát, tự nhiên đầy đủ thần thông lực. Ví như khi ở nhà, ăn mặc tùy tiện, thân tâm cũng có phần buông thả. Nhưng khi tham dự yến tiệc hay nghi lễ trang trọng, liền ăn mặc chỉnh tề, cử chỉ đoan nghiêm, ứng xử lễ độ. Lúc ấy, quý vị đã là người có tu dưỡng, cảnh giới cũng bước vào tầng thứ cao hơn. Trong hoàn cảnh như vậy, quý vị còn có thể nói những lời thấp kém nữa sao? Khi hành vi và cảnh giới đạt đến một mức độ nhất định, người khác tự nhiên sinh tâm kính trọng.

Phải biết khai mở thần thông lực sâu rộng của Bồ Tát, hơn nữa phải dùng thần thông lực ấy để tiếp dẫn vô số chúng sinh tin Phật và nghe Pháp. Thần thông lực được ban cho quý vị là để quý vị tiếp dẫn vô số chúng sinh học Phật, tin Phật và nghe Pháp. Hiện nay, Sư phụ có phải đang cứu độ chúng sinh, giáo hóa họ học Phật, tin Phật và nghe Phật pháp hay không? Nếu công năng này chỉ bị sử dụng một cách ích kỷ cho riêng bản thân, mà không dùng để lợi ích chúng sinh, thì công năng ấy sẽ dần dần tiêu giảm. Công năng của Sư phụ hiện nay ngày càng rộng lớn, chính là vì tâm từ bi của Sư phụ, vì tâm thiết tha cứu độ chúng sinh, và tâm ấy không ngừng mở rộng. Quý vị hãy suy nghĩ cho kỹ, nếu quý vị làm càng nhiều việc lợi ích chúng sinh, thì đồng thời quý vị cũng sẽ được càng nhiều. Đây là thiên lý, là định luật nhân quả. Hôm nay, Bồ Tát có thể hóa hiện thành bất cứ hình tướng nào để cứu độ chúng sinh, cũng có thể đến trong giấc mộng của quý vị để cứu độ quý vị, v.v… Tất cả những năng lượng ấy đều có thể hiển hiện, đều do nguyện lực mà thành tựu. Nguyện lực vô cùng quan trọng. Có rất nhiều người mắc bệnh ung thư nói rằng: “Tôi nhất định phải sống”, và nhờ ý chí cùng nguyện lực mạnh mẽ ấy mà họ có thể tiếp tục sống. Thật ra, ung thư cũng là một loại “ma”, là bệnh ma. Ma chính là nghiệp chướng.

Vô lượng tự tại độ chúng sinh, nghĩa là quý vị phải có sự tự tại vô lượng vô biên. Có một vị Phật gọi là Tự Tại Phật. “Tự tại” nghĩa là: ta muốn cứu người thế nào thì cứu thế ấy; ta có thể cứu được bao nhiêu thì tận hết thảy sức lực mà cứu bấy nhiêu. Chỉ cần cảm nhận rằng duyên giữa quý vị và ta chưa đến, thì ta có thể tạm thời không cứu. Ở nhân gian học Phật, phải văn tán nhi bất hỷ (nghe lời tán thán mà không sinh vui mừng), khi nghe người khác khen ngợi mình cũng không nên hoan hỷ đắc ý, mà phải càng thêm tinh tấn. Phải văn báng nhi bất ưu (nghe lời phỉ báng mà không sinh lo buồn), khi người khác nói xấu mình, cũng không khởi tâm ưu não. Phải hủy dự nhi bất động (trước sự hủy báng hay khen chê mà tâm không dao động), cho dù người ta muốn hủy hoại thanh danh của quý vị, quý vị cũng như không có việc gì xảy ra. Ví như có người nói quý vị trộm cắp, quý vị vẫn bất động, bởi vì quý vị không hề trộm, quý vị trong ngoài như một.

Mạc hành tâm thượng quá bất khứ chi sự (chớ làm những việc mà lương tâm mình không thể vượt qua, không thể chấp nhận được). Nghĩa là phải dùng lương tâm để làm việc. Trước khi làm bất cứ việc gì, hãy tự hỏi lòng mình, việc này có thể “qua được” hay không? Nếu lương tâm cảm thấy không ổn, không yên, không thể chấp nhận, thì nhất định không nên làm. Mạc manh sự thượng hành bất khứ chi tâm (chớ khởi tâm đối với những việc trên đời vốn không thể thực hành, không thể thành tựu). Nếu một việc rõ ràng không thể làm được, không thể thành tựu, thì ngay từ đầu cũng đừng khởi tâm nghĩ đến. Những việc ở thế gian vốn không thể thực hiện, thì ngay cả ý niệm cũng không nên sinh khởi. Học Phật tu tâm nhất định phải hạ mình, đừng cho rằng bản thân rất tài giỏi, rất có năng lực. Phải luôn ghi nhớ: Sơn ngoại hữu sơn, thiên ngoại hữu thiên (ngoài núi còn có núi cao hơn, ngoài trời còn có trời cao hơn).

Phải biết rằng người luôn xuyên tạc ý tốt của người khác thì là người thật sự khó mà cứu vãn. Người ta nói với quý vị một câu, mà quý vị luôn cố tình bẻ cong, hiểu sai ý của họ, thì người như vậy thật sự là khó mà cứu vãn. Ví dụ, có người nói: “Quý vị nên cẩn thận giữ gìn sức khỏe.” Người kia lập tức đáp lại: “Ý anh là gì? Anh muốn hại tôi sao?” Đó chính là xuyên tạc ý tốt của người khác. Người ta vì muốn tốt cho mình, mà mình lại đi nghi ngờ họ, người như vậy là khó mà cứu vãn. Phải dùng phương pháp phản chứng. Trước tiên hãy cưỡng chế chính mình tin tưởng và khẳng định ý kiến của người khác là thiện ý, sau đó mới suy nghĩ lại. Đó mới gọi là biết làm người. Khi quý vị nghi ngờ người khác có ý không tốt với mình, sau khi nghe họ nói một câu, hãy dùng phương pháp phản chứng: trước hết nhắc mình tin rằng lời họ nói là đúng, là thiện ý, rồi sau đó mới suy xét. Đừng dùng lối suy nghĩ chủ quan của mình để phán đoán đúng sai của người khác. Học Phật và làm người vốn là một, không phải hai, không thể tách rời. Nếu bình thường làm người rất xấu, miệng mỗi ngày niệm “A Di Đà Phật”, thì đến khi mạng chung có thể vãng sinh về Tây Phương Cực Lạc Thế Giới được không? Điều ấy tuyệt đối không thể.

Ở nhân gian, phải học cách làm cho tâm mình trở nên “Không”. Thế nào là “Không”? Có thể xả thì nên xả, điều khó xả cũng phải học cách buông xả. Nhìn thấu, buông xuống, đó chính là “Không”. “Không” là sự tự tại và an tường. Rất nhiều chuyện chỉ cần một câu “xin lỗi” là có thể hóa giải, nhưng có người vì không buông được sĩ diện mà không chịu nói. Thật ra, khi đã buông được rồi, thì trong tâm liền tự tại an nhiên, chính là bình an và hòa thuận. Bình an là phúc. Hòa thuận là đức. Hòa thuận sinh ra niềm vui và sự hoan hỷ. Học Phật là phải học cho được sự bình an và hòa thuận trong tâm, đó chính là tố chất tâm lý. Một người không có tố chất tâm lý vững vàng thì rất khó học Phật cho tốt.

Ở nhân gian cũng có Bồ Tát. Người nào có thể thoát ly sinh tử, nhìn thấu cõi đời, không tham danh lợi, thì chính là Bồ Tát.

Trong cõi nhân gian này có đủ mọi đạo, chỉ là xem quý vị chọn đi con đường nào mà thôi.

QUYỂN 2 – TẬP 42
VẬN DỤNG TRÍ HUỆ VÀ ĐỨC NĂNG ĐỂ ĐIỀU HÒA, ĐIỀU NHU TÂM TỊCH TĨNH
(运用智慧德能,调节调柔寂静)

Nếu không trân quý sinh mệnh, tức là đang lãng phí sinh mệnh. Rất đơn giản: nếu quý vị không trân quý công đức, tức là đang lãng phí công đức. Đợi đến khi quý vị cần công đức, thì sẽ không còn công đức nữa, cũng giống như rất nhiều người trong gia đình không có tiền, là vì bình thường không biết tích lũy.

Hôm nay tiếp tục giảng cho mọi người về thần thông lực. Con người ngày nay không phải chỉ đơn giản nghe kể một câu chuyện chân thật, kỳ diệu xảy ra trong đời sống mà lập tức tiếp nhận sự tồn tại của sự việc ấy. Bởi vì hiện nay trên thế gian có quá nhiều điều giả dối, lời nói dối đã tràn lan khắp nơi, cho nên nhất định phải dùng thần thông lực để khuyên dẫn chúng sinh học Phật, niệm kinh. Một người có thần thông lực, nơi tự thân có thể hiển hiện trăm loại thân tướng; tức là khi một người thừa nguyện tái lai mà có thần thông lực, thì có thể hiển hiện ra rất nhiều pháp thân.

Dĩ nhiên, thần thông lực cũng được phân thành nhiều loại. Ví dụ, có người có âm dương nhãn, có thể thông quỷ thần, thông suốt hai cõi địa phủ và nhân gian. Còn Sư phụ có Pháp thân, là thần thông lực của Bồ Tát, có thể thông suốt Thiên – Địa– Nhân, cũng có thể biết rõ nhân quả ba đời. Loại thần thông lực này có trăm loại thân tướng, tức là thân thể và tướng mạo sai khác. Giống như khi Sư phụ thường đến trong giấc mộng của người khác để cứu độ, có lúc mặc đạo bào, có lúc mặc âu phục, có lúc mặc pháp y của người xuất gia, v.v… đó chính là trăm loại thân tướng. Xung quanh mỗi một hóa thân lại hiện ra trăm loại thân tướng; tức là mỗi khi một vị Pháp thân xuất hiện, sẽ có gần trăm vị đệ tử trang nghiêm vây quanh hộ pháp. Tuy nhiên, những đệ tử ấy không nhất định đều là các vị, vì bất cứ vị hộ pháp nào, bất cứ ai có duyên với Sư phụ, hoặc bất cứ ai từ trên Trời xuống để hộ pháp, đều có đủ công năng này để hộ trì, đó là những vị Bồ Tát Ma Ha Tát tự hiển hiện. Khi một vị Pháp thân xuất ra ngoài, trong lúc cứu độ chúng sinh, sẽ có gần trăm vị đệ tử vây quanh hộ pháp (những đệ tử này bao gồm tất cả các vị đệ tử trong đời này và các đời trước). Tất cả những ai có duyên với Sư phụ đều tụ hội bên cạnh để hộ pháp. Hơn nữa, không phải họ tự mình muốn đi hộ pháp, bản thân họ hoàn toàn không hay biết; đó là sự tự hiển hiện từ nguyện lực của Bồ Tát, chư vị Bồ Tát Ma Ha Tát. Trên thực tế, khi Pháp thân của Sư phụ xuất ra ngoài để cứu người, thì gần trăm vị đệ tử ấy đều hóa hiện thành Bồ Tát. Ví dụ, khi Sư phụ khai pháp hội giảng pháp, tất cả các đệ tử đứng ở cửa hoặc bên cạnh Sư phụ đều là Bồ Tát đang hộ pháp.

Nếu muốn tu thành thân Bồ Tát, đạt được Pháp thân hoặc thần thông lực (tức pháp lực), cần ghi nhớ vài điểm căn bản sau:

1. Bồ Tát không thấy lỗi người. Bồ Tát vĩnh viễn không nhìn thấy lỗi lầm hay sai sót của người khác. Trước hết, hãy lấy điểm này để tự soi lại chính mình: quý vị có ai thật sự không nhìn thấy khuyết điểm và lỗi lầm của người khác không? Bồ Tát là vĩnh viễn không thấy khuyết điểm và lỗi lầm của người khác. Còn Sư phụ khi giúp quý vị khai ngộ thì lại khác. Vì nhằm cứu độ quý vị, nên buộc phải chỉ ra tất cả những khuyết điểm và lỗi lầm của quý vị, để quý vị hiểu rõ đạo lý, rồi nghiêm túc sửa đổi và cải quá. Học theo Bồ Tát là không được nhìn lỗi người, không thấy lỗi người mà chỉ thấy lỗi mình. “Không thấy lỗi người, chỉ thấy lỗi mình” nghĩa là lấy tiêu chuẩn của Bồ Tát để yêu cầu chính mình: vĩnh viễn không nhìn thấy lỗi lầm của người khác, mà luôn nhìn thấy lỗi lầm của bản thân, tất cả đều quy về chính mình. Ở nhân gian, đừng bàn luận đúng sai của người khác. Mình làm sai thì chính là sai; luôn luôn tự nhận lỗi về mình. Bởi vì thế gian này vốn là không, là giả, là vô thường; không có tuyệt đối đúng hay sai, chỉ có nhân và quả. Không có “ta đúng”, chỉ có “ta cần sửa mình”. Nghĩ được như vậy mới dần dần tiếp cận cảnh giới của Bồ Tát.

2. Chỉ lo cày cấy, không tính đến thu hoạch, đó mới là cảnh giới của Bồ Tát. Bồ Tát chỉ chuyên tâm gieo trồng, chỉ chuyên tâm làm công đức, chưa từng nghĩ rằng: hôm nay gieo nhân thiện này, về sau sẽ được quả báo gì. Quý vị chỉ cần tinh tấn niệm kinh, hết lòng làm công đức, thì làm gì có đạo lý không có quả báo? Bởi vì định luật nhân quả là vĩnh viễn không thay đổi. Hôm nay làm việc thiện, gieo nhân lành, tương lai nhất định sẽ kết thành quả tốt. Còn người vừa mới bỏ ra đã lập tức mong được nhận lại, đó là tâm lượng nhỏ hẹp của phàm phu. Làm gì có chuyện chưa hề bỏ ra mà đã muốn thu về? Giống như có người hỏi: “Lư Đài Trưởng, con theo Thầy tu hành niệm kinh, liệu con có được tốt lên không?” Chỉ riêng câu nói ấy cũng đủ cho thấy niềm tin căn bản còn chưa vững. Ngay cả tín tâm tối thiểu còn chưa có, thì làm sao có thể tu tốt tâm mình được?

3. Vô tâm. Học theo Bồ Tát, một trong những điểm căn bản là vô tâm. Vô tâm ở đây không phải là không có tâm, mà là không còn tâm chấp trước của phàm phu. Vô tâm tức là không sân hận, không phiền não, không chướng ngại; bởi vì cái tâm chấp ngã, chấp pháp đã được buông xả. Khi không còn sự chấp trước ấy, nội tâm tự nhiên thanh thản và tự tại. Giống như người đời thường nói “không tim không phổi”, ý chỉ không còn bị ràng buộc bởi cảm xúc nhỏ nhen. Nhưng Bồ Tát không phải là thật sự không có tâm. Bồ Tát là lấy tâm của chúng sinh làm tâm mình. Tâm của chúng sinh chính là tâm của Bồ Tát. Vì luôn nghĩ cho chúng sinh, nên không còn cái tâm vị kỷ riêng tư; do đó tâm ấy vô ngại, không chướng ngăn.Từng niệm từng niệm đều nghĩ cách cứu độ chúng sinh thoát khỏi biển khổ. Bồ Tát luôn nghĩ cho người khác, không nghĩ cho riêng mình, nên gọi là “vô tâm”. Chính vì không còn tâm vị ngã nên tâm ấy không còn ngăn ngại, không còn chướng ngại, luôn tự tại, luôn thông suốt. Nỗi khổ của chúng sinh chính là nỗi khổ của Sư phụ. Hiện nay, trong từng niệm từng niệm, Sư phụ luôn nghĩ đến việc làm sao cứu độ chúng sinh thoát khỏi biển khổ. Bồ Tát lấy tâm của chúng sinh làm tâm mình, vĩnh viễn nghĩ cho người khác, không còn tâm vị kỷ riêng tư. Vì thế, Bồ Tát là vô ngại, không chướng ngại; tâm ấy luôn thông suốt, tự tại, không bị ngăn che.

Mục đích học theo Bồ Tát của chúng ta rất đơn giản: chính là từng bước hiểu rõ sự khác biệt giữa Bồ Tát và con người phàm phu ở chỗ nào. Vì sao chúng ta là người, mà khi cảnh giới được nâng cao thì có thể trở thành Bồ Tát? Vì sao chúng ta chưa đạt đến cảnh giới của Bồ Tát? Vì vậy, cần phải hiểu rõ cảnh giới của từng địa vị Bồ Tát. Chỉ có như thế, chúng ta mới có thể y theo từng cảnh giới ấy mà tu dưỡng, học tập và từng bước tiến lên.

Trước hết phải chánh tu cảnh giới, học theo cảnh giới của Bồ Tát, giữ cho tâm địa được thanh tịnh. Trước khi học theo Bồ Tát, cần thanh tịnh tự tâm trước, tức là làm cho tâm địa trong sạch, khiến nội tâm an tĩnh; bởi vì chỉ khi tâm tĩnh lặng mới có thể khai phát trí huệ. Xã hội hiện nay được gọi là thời đại quang tử; trước kia là thời đại nguyên tử. Bồ Tát dùng ánh sáng để chiếu soi chúng ta, ban cho chúng ta linh cảm; ý niệm của Bồ Tát đều được truyền đi như ánh sáng. Mọi người đều biết: chỉ có ánh sáng mới có thể chiếu rọi khiến nội tâm sáng tỏ; chỉ có ánh sáng mới giúp chúng ta minh bạch; chỉ có ánh sáng mới giúp chúng ta minh tâm kiến tánh. Giống như khi mặt trời xuất hiện, nội tâm tràn đầy hoan hỷ; còn khi bóng tối bao phủ, tâm dễ rơi vào u ám. Vì vậy, chúng ta thắp đèn cho sáng, để thấy rõ thế giới vốn luôn sáng tỏ. Khi hướng đến cảnh giới quang minh, Bồ Tát vận dụng nhiều diệu pháp và pháp môn khác nhau để phổ độ chúng sinh. Muốn đạt đến cảnh giới quang minh, cần có diệu pháp và phương tiện thích hợp. Trong thời mạt pháp, phải có pháp lực mới có thể cứu độ hữu tình; đồng thời cần khai phát trí huệ viên mãn, vận dụng các pháp môn và phương tiện thiện xảo để giúp chúng sinh mở bày trí huệ viên dung.

Tiếp theo, xin giảng về việc tu tâm và tu hành cần vận dụng nhiều phương pháp khác nhau. Tu tâm và tu hành không thể rời rạc; cần có phương pháp thích hợp và sự vận dụng đúng đắn. Phương pháp tốt nhất chính là dùng hết trí huệ và năng lực của chính mình để điều chỉnh, điều nhu và làm cho lắng dịu. Phải đem tâm vọng động của mình, dùng trí huệ và năng lực mà điều chỉnh, điều nhu, khiến nó dần dần trở nên tịch tĩnh.

Cái tâm này thật sự rất khó điều phục: chỉ cần nhìn thấy một chút điều không vừa ý liền sinh vọng động. Vọng động tức là tùy tiện dao động, loạn khởi. Tâm vọng động là bất luận nhìn thấy điều gì cũng khởi lên sự xao động. Ví dụ, thấy dưới đất có người đánh rơi một trăm đồng, tâm liền khởi lên ý nghĩ: “Có nên nhặt không?”, đó chính là vọng động. Những điều không nên nhìn, vì sao lại nhìn? Những điều không nên nghĩ, vì sao lại nghĩ? Những việc không phải việc của mình, vì sao lại làm? Phiền não của con người chính từ đó mà sinh khởi: nghe một chút chuyện này, nhìn một chút chuyện kia, tâm luôn bị lôi kéo, dao động không ngừng. Nếu người ta nói xấu quý vị sau lưng mà quý vị không nghe thấy, quý vị vẫn vui vẻ như thường; nhưng một khi nghe được rồi, phiền não liền sinh khởi. Người ta nói sau lưng, tức là vốn không phải điều nên để quý vị nghe. Khổng Tử dạy: “Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động” (không hợp lễ thì chớ nhìn, không hợp lễ thì chớ nghe, không hợp lễ thì chớ nói, không hợp lễ thì chớ làm). Điều không nên nghe, vì sao còn muốn nghe? Vốn dĩ tâm đang an vui, nhưng khi tai tiếp nhận những lời không nên nghe, phiền não liền theo đó mà sinh khởi.

Mọi người nên suy nghĩ cho thật kỹ: chúng ta ở trên thế gian này phải học Phật, học Pháp như thế nào? Phải điều chỉnh và làm cho tâm mình trở nên nhu hòa, điều thuận ra sao? Tâm này đừng để vọng động nữa. Chỉ khi giữ được tâm thì mới có thể tu tốt. Nếu tâm giữ không vững, lại sinh vọng động thì phải làm sao? Chính là phải điều nhu, điều thuận, khiến tâm dần dần trở nên tịch tĩnh, tức là làm cho tâm mình an lặng lại, đối với mọi việc đều không chấp trước, không xem nặng. Sư phụ dạy rằng trong xã hội này, phải giữ cho mình từng giây từng phút đều an tường. Nếu mỗi một giây đều có thể an tường như vậy, thì sẽ giữ được tâm tịch tĩnh. Người có thể giữ được sự an tường trong từng giây từng phút, đó là người có tu dưỡng rất sâu. Ý niệm của người ấy vô cùng cao thượng, quan niệm cũng cao thượng; bởi vì họ đã nhìn thấu mọi sự, tâm hết sức bình lặng, trên thế gian không có điều gì có thể khiến tâm họ dao động. Chỉ khi tâm đã an tĩnh, mới có thể khắc phục những tập khí nơi tự thân như tham, sân, si. Phải chế phục được tâm vọng động của chính mình; phải loại bỏ những lý tưởng hão huyền không phù hợp với thực tế. Những nguyện vọng không thể đạt được, không tương ưng với nhân duyên, chính là “phi nguyện” (nguyện không thực tế).

Tâm từ bi chính là tâm nhu hòa. Người có tâm từ bi thì tâm mới có thể nhu hòa. Khi một người nói năng mềm mỏng, người ấy ắt hẳn có tâm từ bi. Tâm từ bi phải nhu hòa, rồi dần dần được thăng hoa, tức là khiến tâm từ bi ngày càng rộng lớn. Tâm lượng rộng lớn thì mới có thể bao dung và tha thứ cho người khác; đó là đem tâm hẹp hòi của mình mà mở rộng ra. Người suốt ngày chỉ biết nghĩ cho bản thân mình chính là người có tâm lượng nhỏ hẹp. Người tu tâm là tu nơi tâm địa. Tâm địa phải thiện lương, phải nhu nhuyễn, khiêm cung, khiêm hạ, tức là tự đặt mình xuống thấp hơn một chút. Phải biết tùy thuận, tức là tùy duyên mà an nhiên; bất luận việc gì đến, cũng thuận theo nhân duyên mà ứng xử. Phải “bất trọc”, nghĩa là tâm không để bị ô nhiễm, không bị nhiễm trước. Phải thuần thiện. Thiện lương vẫn chưa đủ, còn phải đạt đến thuần thiện, nghĩa là phải hết sức thanh sạch, là sự thiện lành tinh thuần, chứ không phải thứ thiện lương chỉ ở bề ngoài. Phải nhuận trạch, phải viên dung, phải có khả năng bao dung người khác. Thân thể con người có đến tám mươi phần trăm là nước cấu thành, vì vậy nhất định phải có “thủy tính”, phải nhu hòa, phải thấm nhuần, phải làm cho người khác cảm nhận được sự dịu mát và dung chứa. Tiếp đến là tịch tĩnh. Tâm phải an định, không được vọng động. Tâm lượng phải rộng rãi, phải quảng đại, phải kiên cố; không được dao động, không được bất định. Phải “minh thịnh”, tức là sáng suốt và quảng đại. Nghĩa là sau khi đã minh bạch rồi thì sự rộng lớn mới có ý nghĩa; không phải chỉ nói tâm lượng lớn là đủ. “Minh thịnh” là khi quý vị thật sự hiểu rõ, từ nơi sự minh bạch ấy mà hiển lộ ra sự quảng đại và thịnh lớn, như vậy mới là có giá trị chân thật. Sau cùng, phải thanh tịnh, phải bình đẳng, phải vô tướng.

QUYỂN 2 – TẬP 43
NGÔN NGỮ TRÍ HUỆ CỦA LƯ ĐÀI TRƯỞNG
(卢台长的智慧语言)

Phải nhận thức rằng: sinh là sự khởi đầu của trách nhiệm, còn tử là sự kết thúc của nhiệm vụ. Chúng ta đến nhân gian này; khi rời khỏi thế gian, tất cả đều buông xuống, nhiệm vụ nơi nhân thế cũng theo đó mà chấm dứt. Điều quan trọng là: nhiệm vụ ấy rốt cuộc quý vị hoàn thành có viên mãn hay không? Con đường tu hành của quý vị rốt cuộc có thành tựu hay không? 

Trí huệ tuy vô hình, nhưng có thể làm phong phú và nâng cao sinh mệnh của quý vị. Trí huệ tuy không nhìn thấy, không sờ chạm được, vô hình vô tướng, nhưng sinh mệnh con người lại chính nương nơi trí huệ mà sống và phát triển. Người không có trí huệ, sinh mệnh sẽ trở nên khô khan và bất lực. Việc gì cũng nghĩ không thông, không tìm ra lối thoát, sống như vậy thì ý nghĩa ở đâu? Không tìm ra phương pháp giải quyết chính là thiếu trí huệ. Người có thể nghĩ ra cách tháo gỡ vấn đề, đó chính là người có trí huệ.

Đài trưởng thường giảng rằng: người dùng việc làm tổn thương người khác để che đậy khuyết điểm của mình là điều đáng hổ thẹn. Vì bản thân có khuyết điểm mà lại đi làm tổn hại người khác, đó là điều mà người tu tâm tuyệt đối không thể dung thứ. 

Vì vậy, một người không nên quá khẳng định quan điểm của mình. Đừng luôn cho rằng việc mình làm nhất định là đúng, đừng chấp chặt vào ý niệm “tôi cho rằng thế này, tôi nghĩ thế kia”, như vậy thì về sau sẽ bớt đi sự hối hận. Bởi khi quá coi trọng và cố chấp với quan điểm của bản thân, thì nhất định sẽ có lúc phải hối tiếc.

Đạo lý trong việc đối nhân xử thế nằm ở sự bao dung vô hạn. Nếu không thể bao dung thì không thể cùng nhau chung sống; vì vậy nhất định phải hiểu và thực hành hạnh nhẫn nhịn. Phật pháp giảng chính là một loại dung nhẫn, một loại nhẫn nại. “Nhẫn nhục tinh tấn” là một loại công đức giúp tiến bộ rất nhanh. Khi một người có thể nhẫn nhục, công đức của người ấy sẽ vô cùng to lớn. Tuy nhiên, nếu trên thân người ấy có ma chướng, có nghiệp chướng mà vẫn cố cưỡng ép bản thân nhẫn nhịn một cách gượng ép, thì cũng không đúng. Sư phụ đến nhân gian này không phải chỉ một mực dung nhẫn người khác. Tu tâm vẫn cần có những giới hạn nhất định. Thuở trước, giới luật của Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni có hơn ba trăm điều. Nghĩ thử xem, với số lượng giới luật như vậy, vị tăng hay ni còn có thể tùy tiện hành động được chăng? Giới luật nghiêm mật đến mức đi cũng phải giữ, ngồi cũng phải giữ, làm việc gì cũng phải giữ. Vì thế, chỉ có thể chuyên tâm niệm kinh, thành thật tu tâm; giới luật chính là nghiêm minh như vậy.

Còn chúng ta hiện nay là người tại gia tu hành, phải học cách: “Tòng tha báng, nhiệm tha phỉ; hỏa thiêu thiên, đồ tự bì; ngã văn kháp như ẩm cam lộ, yếu tiêu dung đốn nhập bất tư nghì.” (Tùy người phỉ báng, mặc người chê bai; như lấy lửa đốt trời, chỉ tự mình mệt nhọc; ta nghe lời ấy như uống cam lộ, nhờ đó tiêu dung mà chóng vào cảnh giới không thể nghĩ bàn.) Mặc cho người khác nói tốt hay xấu về mình, cũng giống như dùng lửa đốt trời, chỉ tự họ mệt nhọc mà thôi. Khi người ta mắng quý vị, nói quý vị không tốt, quý vị hãy xem như đang uống cam lộ ngọt lành. Bởi vì khi trên thân quý vị có khuyết điểm mà không ai chỉ ra, quý vị sẽ không biết. Đợi đến khi có người mắng quý vị, quý vị mới chợt tự hỏi: “Ta thật sự là như vậy sao?” Bản thân phải cẩn trọng hơn một chút. Khi quý vị sửa đổi được, chẳng phải cũng giống như uống cam lộ hay sao? Đừng suy nghĩ người ta nói đúng hay sai. Có thì sửa, không có thì tự khuyên mình tinh tấn hơn. Phải ngay trong khoảnh khắc ấy mà tỉnh ngộ, thì mọi sự liền như băng tan tuyết rã. Không chấp vào chuyện đó nữa, thì liền có thể vượt qua. Cũng giống như rất nhiều người, trước khi cãi vã thì ấm ức chất chứa trong lòng, mãi không vui. Đợi đến một ngày thực sự nói ra, mắng ra, cãi xong rồi thì thôi, coi như xong chuyện. Chẳng phải đó chính là băng tan tuyết rã hay sao?

Ngay cả những lời ác khẩu, đối với quý vị mà nói, cũng là công đức. Người ta mắng quý vị, quý vị phải nghĩ rằng: đây là công đức. Quý vị nên cảm ơn người đã mắng mình. Họ đang giúp quý vị chỉ ra khuyết điểm. Cũng giống như Sư phụ nói các đệ tử, chẳng phải Sư phụ đang giúp quý vị chỉ ra những thiếu sót đó sao? Như vậy chẳng phải là Sư phụ đang tăng thêm công đức cho quý vị hay sao? Khi quý vị sửa đổi được tật xấu ấy, chẳng phải đã có công đức rồi sao? Nếu quý vị không sửa đổi, thì những việc làm sau này chẳng phải sẽ không còn công đức hay sao? Không vì sự phỉ báng mà sinh tâm oán hận, nghĩa là đừng vì người khác nói xấu mình mà khởi tâm oán hận. “Hà biểu vô sinh từ nhẫn lực”, nghĩa là khi bị người khác mắng chửi, lại có thể từ đó sinh khởi sức mạnh của tâm từ bi và nhẫn nhục. Người chưa từng bị người khác mắng chửi thì khó có thể sinh ra loại sức mạnh này. Càng bị người khác mắng chửi, sức mạnh từ bi và nhẫn nhục ấy lại càng tăng trưởng. Nhẫn lực của một người chính là được tích lũy từng chút một như vậy theo thời gian.

QUYỂN 2 – TẬP 44
TÂM NHƯ NƯỚC, TÁNH NHƯ GƯƠNG
(心如水,性如镜)

Hôm nay Sư phụ giảng cho đại chúng về cách đoạn trừ phiền não. Con người có một tật xấu: cái gì cũng muốn, cái gì cũng muốn thu nhận hết; món ăn nào cũng muốn nếm, trò gì cũng muốn chơi. Vì thế mà bất cứ loại phiền não nào cũng đều “chiếu đơn toàn thu” (nhận hết không bỏ sót). Chính vì con người có thói quen cái gì cũng nhận hết như vậy, nên mới sinh ra phiền não. Phiền não từ đâu mà đến? Đều là do tự mình tìm lấy. Giống như bóng trăng dưới nước: trong nước vốn dĩ không có mặt trăng, nhưng vì sao lại nhìn thấy trăng trong nước? Là vì quý vị đi tìm trăng dưới nước. Là vì trăng phản chiếu xuống, khiến mặt nước không còn yên tĩnh, dường như nhiều thêm một vật. Đợi một lúc khi trăng đi rồi, mặt nước lại trở nên bình lặng. Nước này cũng giống như tâm của quý vị vậy. Ví như chiếc gương soi thấy hoa: nếu không có hoa, trong gương sẽ không hiện bóng hoa. Tâm của chúng ta cũng như một tấm gương trong suốt. Nếu không nhìn thấy những cảnh tượng của thế gian, thì sẽ không khởi sinh phiền não. Khi chưa thấy “hoa”, tâm vốn thanh tịnh như gương, sạch sẽ và trong sáng. Nhưng vì đã nhìn thấy hoa, đã soi thấy “hoa trong gương”, nên tâm mới trở nên không còn bình lặng.

Tiếp theo, Sư phụ giảng cho quý vị về cách đoạn trừ phiền não, cần hiểu rõ một cảnh giới. Tâm của quý vị chính là một cảnh giới. Hôm nay quý vị tu đến mức độ nào, thì cảnh giới của quý vị ở mức độ đó. Hôm nay quý vị làm công đức mà không mang theo bất kỳ tâm riêng tư hay tạp niệm nào, thì đó mới thật sự là công đức. Hôm nay quý vị giúp đỡ người khác, nếu không xuất phát từ tâm thanh tịnh, mà làm với mục đích riêng hoặc mang theo tình cảm cá nhân để xử sự, thì đó là chưa tu tốt, chưa có cảnh giới. Học Phật tu tâm thật sự không dễ. Nếu làm bất cứ việc gì cũng mang theo tư tâm và tạp niệm, thì cảnh giới của quý vị sẽ không thể nâng cao, tâm sẽ không thể bình lặng, và phiền não sẽ sinh khởi. Thậm chí rõ ràng là đang làm công đức, mà vẫn có thể sinh ra phiền não.

Khi phiền não tồn tại trong đầu quý vị, khi cảnh giới tâm của quý vị không cao, khi quý vị đem tất cả những thứ mình ưa thích gom hết vào thân và vào tâm, khi quý vị đối với mọi thứ đều “chiếu đơn toàn thu”, đem tất cả đồ ăn đều ăn vào (vì đồ ngon thì ai cũng thích ăn), thì vào lúc đó, quý vị sẽ đạt được một thứ, đó chính là bệnh. Ví dụ, nếu đem tất cả những thứ nơi nhân gian đều thu hết vào trong đầu, thì đầu óc sẽ sinh bệnh. Nếu cái gì cũng muốn ăn vào trong thân thể, thì thân thể của quý vị sẽ sinh bệnh.

Vì vậy, muốn đoạn trừ phiền não thì phải loại bỏ toàn bộ những phiền não trong tâm. Nói thì có vẻ dễ, nhưng quý vị thử nghĩ xem: ai thật sự có thể loại bỏ hết phiền não của mình? Hôm nay trong quý vị, có ai là người hoàn toàn không có phiền não? Chỉ nhìn trên gương mặt cũng có thể thấy phiền não rồi, huống hồ là nơi hành vi và lời nói. Khi thì vì hôn nhân, khi thì vì con cái, khi thì vì tiền bạc, khi thì vì công việc, khi thì vì thân thể… đủ mọi thứ. Quý vị nói xem, có mệt mỏi vì phiền não hay không? Quý vị học đến hôm nay, đã thật sự buông xuống được chưa? Sư phụ thường giảng cho quý vị rằng: phiền não phải buông xuống như thế nào? Chính là phải nghĩ cho thông, phải nghĩ cho thấu. Khi nghĩ không thông, thì phải cầu Phật, cầu Bồ Tát. Phải bằng tâm kiên trì niệm kinh, cầu xin Phật Bồ Tát giúp mình nghĩ cho thông suốt, loại bỏ đi những phiền não.

Hôm nay có một gia đình ba người cất công từ Trung Quốc đến gặp Đài trưởng. Hai đứa con của họ đều bị chậm phát triển trí tuệ, cha mẹ vô cùng đau khổ. Sư phụ đã giúp họ xem nguyên nhân là do đâu mà ra. Người mẹ vốn cho rằng đó là do mình từng phá thai nên mới dẫn đến hậu quả như vậy, nhưng thực tế không chỉ đơn thuần là vấn đề phá thai mà chủ yếu là do nghiệp đã tích lũy từ tiền kiếp. Nghiệp chướng từ đời trước quá sâu nặng, lại cộng thêm nghiệp phá thai trong đời này, cho nên khi đứa trẻ vừa sinh ra, giống như một túi thuốc nổ lập tức bị châm lửa. “Thuốc nổ” ấy chính là nghiệp mà cậu bé đã tạo trong tiền kiếp. Sư phụ hỏi họ: “Trong gia tộc của cậu có từng tạo sát nghiệp hay không? Ban đầu cậu ấy trả lời: “Không có, con không nhớ ra.” Sau đó suy nghĩ kỹ lại mới nhớ rằng mẹ cậu ấy trước đây làm nghề bắt và bán ốc nước. Bà thường xuống nước vớt ốc đem đi bán, nhờ nghề ấy mà nuôi cậu ấy khôn lớn và cho ông ăn học đến đại học. Chính vì nghiệp sát sinh từ nghề nghiệp ấy, nên cậu ấy sinh ra đã mắc bệnh về máu, lại liên lụy đến con cái đều bị chậm phát triển trí huệ, khiến cậu vô cùng thống khổ. Sư phụ đã giúp cậu tìm ra căn nguyên của bệnh nghiệp, chỉ ra phương hướng chuyển hóa, đồng thời ban cho họ niềm hy vọng và củng cố tín tâm.

Cậu ấy hỏi Sư phụ: “Thưa Đài Trưởng, nếu lúc đó mẹ con không đi bắt ốc, không bán ốc, thì làm sao có thể nuôi con khôn lớn? Làm sao con có thể được học đại học?” Câu hỏi ấy có lý không? Xét ở phương diện nhân gian thì có lý. Nhưng nếu nhìn từ cảnh giới tu hành thì lại khác. Nếu khi ấy mẹ cậu có cảnh giới cao hơn, có sự hiểu biết sâu về nhân quả, thì có lẽ mọi việc đã không diễn ra như vậy. Bà sống trong thế gian, cho rằng nuôi con trưởng thành là thiên chức của người làm mẹ. Vì thế, dù là bán ốc hay làm bất cứ công việc gì, bà cũng chỉ một lòng nghĩ đến việc nuôi con khôn lớn, cho con ăn học nên người. Chỉ tiếc rằng bà không hiểu rõ đạo lý nhân quả: nghiệp mình tạo ra trong lúc mưu sinh, về sau nhất định sẽ có quả báo, thậm chí còn có thể ảnh hưởng đến đời sau của con cháu.

Mẹ cậu ấy đi bắt ốc, bán ốc, vì thế đã tạo thành hậu quả là đứa con sinh ra liền mắc bệnh về máu. Không chỉ vậy, cháu nội và cháu ngoại của bà cũng đều mang bệnh. Tai họa mà hiện nay bà phải gánh chịu, đã vượt xa rất nhiều so với những khổ cực mà bà từng chịu đựng khi nuôi con năm xưa. Hôm nay Sư phụ kể cho quý vị nghe câu chuyện có thật trong đời sống này, chính là để quý vị hiểu đạo lý, hiểu rõ định luật nhân quả: đã gieo nhân gì, tương lai nhất định sẽ nhận quả báo ấy.

Học Phật phải có tâm vô sở đắc. Ta có cái tâm gì đâu? Ta không có cái tâm ấy, không có cái tâm phiền não ấy. Tâm vô sở trụ là tâm không dính mắc vào bất cứ điều gì; trên thế gian này không có bất kỳ sự việc nào có thể khiến ta giữ lại trong lòng, chấp giữ trong tâm. Phải hiểu rõ tâm mình, phải nhận ra tâm mình, thì mới có thể thấy được chân tâm, thấy được Phật tâm. Chính vì quý vị đã quên mất Phật tâm của mình, nên mới sinh ra tham, sân, si.

Nếu một người nói năng chua cay, khắc nghiệt, thì suốt đời sẽ là người phúc mỏng. Quý vị hiện nay theo Sư phụ học Phật pháp, tuyệt đối không được châm biếm, mỉa mai người khác. Người thường xuyên nói lời châm biếm người khác là người phúc mỏng, thiếu phúc khí. Ngay cả ý niệm muốn châm biếm người khác cũng không nên khởi lên. Chỉ cần khởi một niệm như vậy, thì phúc khí đã dần dần hao tổn.

Phải ghi nhớ rằng tất cả rồi sẽ trở thành quá khứ. Nếu không buông bỏ phiền não, thì mọi thứ cũng sẽ trở nên trống rỗng, bởi vì quý vị sẽ sống trọn một đời trong phiền não. Bây giờ quý vị thử nghĩ xem: quý vị đã đi qua nửa đời người, có người gần như đã đi hết một đời. Đến nhân gian này một lần, rốt cuộc đã đạt được điều gì? Rốt cuộc chẳng đạt được gì, thứ đạt được chỉ là một đời phiền não và cả một đời sân giận. Quý vị hiện nay hãy thử tổng kết lại một đời mình đã đi qua: niềm vui nhiều hay phiền não nhiều? Đời người cứ như thế mà trôi qua trong phiền não. Bồ Tát từng dạy: nhân đạo chính là phiền não đạo. Con người thật đáng thương. Hãy nghĩ xem, hiện nay nhân loại đang làm gì? Đang gây ô nhiễm môi trường, đang phá hoại sự cân bằng sinh thái. Trái đất mỗi ngày đều bị tổn hại; nếu không nhờ mọi người cùng nhau gìn giữ và bảo vệ, thì sớm muộn gì trái đất cũng sẽ đi đến chỗ hủy diệt.

Nếu tư tưởng và cảnh giới của mỗi người đều dừng lại ở chỗ làm mọi việc vì bản thân mình, vì “tôi” mà cãi vã, vì “tôi” mà tranh đấu, vì “tôi” mà có thể tàn hại lẫn nhau – tất cả đều xuất phát từ chữ “tôi” ấy. Đó là tiểu ngã, chứ không phải đại ngã. Con người thật đáng thương, thật nhỏ bé, cũng chỉ vì một chữ “tôi”. Hôm nay Sư phụ làm tấm gương cho quý vị: tôi đối xử tốt với mọi người trên khắp thế giới, nên tôi nhận được sự ủng hộ của mọi người trên khắp thế giới. Mọi người đều yêu kính Sư phụ. Vậy ai sẽ yêu kính quý vị? Chỉ cần biết cho đi thì nhất định sẽ nhận lại. Khi quý vị giúp đỡ mọi người, thì những vấn đề của gia đình nhỏ cũng có thể được giải quyết. Nếu chỉ nghĩ đến gia đình nhỏ của mình, thì sẽ không thể giải quyết được việc chung. Nếu mọi người đều không làm việc thiện, thì trái đất này sẽ trở thành ra sao? Rất đơn giản – đó chính là một cảnh giới. Quý vị ngồi ở đây thì phải có cảnh giới cao. Nếu ngồi ở đây mà không có cảnh giới, hoặc cảnh giới còn thấp, chỉ đơn thuần là không làm điều xấu, thì như vậy quý vị chỉ mới đạt đến tiêu chuẩn của người thế gian. Nhưng như thế vẫn chưa phù hợp với tiêu chuẩn của Sư phụ, cũng chưa phù hợp với tiêu chuẩn của Bồ Tát.

Con người phải hiểu “vạn niệm quy nhất”, tức là đem muôn vàn ý niệm gom về một niệm – quy về việc học Phật, học Pháp. Hôm nay không cần khởi bất cứ niệm nào khác, chỉ chuyên tâm học Phật. Như vậy thì sẽ không còn phiền não. Hiện nay là thời kỳ mạt pháp, vô thường đến nhanh như vậy, nghiệp lực đến mạnh như vậy, mà quý vị vẫn còn khởi tâm riêng tư, còn mang tạp niệm sao? Hãy buông xuống đi, buông bỏ phiền não, đừng suy nghĩ thêm nữa, phải vạn niệm quy nhất. “Vạn niệm quy nhất niệm” nghĩa là ngay cả một niệm cũng không được có. Có người nói: “Con có rất nhiều ý niệm, gom lại thành một niệm có được không?” Học Phật thì ngay cả ý niệm “học Phật” cũng không nên có, như vậy cảnh giới của quý vị mới cao hơn. Niệm này vô cùng quan trọng. “Vạn niệm quy nhất” trên thực tế chính là nói rằng một người không nên khởi vọng niệm.

Khi chúng ta học về “vạn niệm quy nhất niệm”, Sư phụ dạy rằng có ba loại tâm không nên chấp giữ: 1: Tâm quá khứ. 2: Tâm hiện tại. 3: Tâm vị lai. Ba loại tâm này đều bất khả đắc.

Tâm quá khứ là gì? Là nghĩ rằng: trước đây tôi thế này thế kia, trước đây tôi đã đối xử với người ấy tốt biết bao nhiêu. Chính vì chấp vào tâm quá khứ như vậy nên sinh ra không vui, phiền não theo đó mà khởi, rồi sinh sân giận, cuối cùng tức đến mức phát bệnh.

Tâm hiện tại là gì? Là nghĩ rằng: hiện tại tôi phải thế này thế kia, tâm tôi bây giờ phải ra sao. Nhưng như vậy thì có thể giải quyết được điều gì? Quý vị là ai chứ? Thực ra chẳng có gì cả. Đến nhân gian đi một chuyến, vốn dĩ chỉ là một giấc mộng. Đến nhân gian chính là một giấc mộng. Nếu có một ngày ngủ rồi không tỉnh lại nữa, trong mộng biết mình đã chết, lúc đó hãy xem thử mình đang ở nơi nào, đó chính là quả báo do sự tu hành và nghiệp lực mà quý vị đã tạo trong suốt một đời. Quý vị hiểu chưa?

Tâm vị lai là gì? Là nghĩ rằng: sau này tôi sẽ thế này thế kia, con cái tôi lớn lên sẽ ra sao, tương lai sẽ như thế nào. Thay vì nghĩ những điều ấy, trước hết hãy tự mình tu tâm cho tốt, tích lũy thêm đức hạnh và phúc báo cho đời sau. Sư phụ thường dạy quý vị: bình thường phải biết tạo phúc, thì đến tuổi về già mới có phúc. Bình thường tạo ác, thì đến tuổi về già sẽ nhận quả báo ác.

Tiếp theo, Sư phụ giảng cho quý vị về lý luận của Phật pháp. Trong kinh Phật có nói: cái gọi là “pháp”, kỳ thực chính là “vô pháp”. Những lý luận và pháp chỉ nói suông bằng miệng, mà không thực hành vào trong hành vi của mình, như vậy có phải là pháp không? Thực ra cũng chẳng khác gì không có pháp. Sư phụ nói trước cho quý vị nghe, rồi sau đó sẽ giải thích rõ hơn. Bởi vì “vô pháp” tức “hữu pháp”. Nói là không có pháp, vậy trên thực tế pháp có tồn tại hay không? Nó là có tồn tại. Nhưng quý vị nói rằng mình đã thấy được pháp ấy chưa? Chưa. Vậy nên nói là “vô pháp”.

Sư phụ đưa ra cho quý vị một ví dụ đơn giản: vì có không khí, quý vị mới có thể sống. Nhưng quý vị không nhìn thấy không khí; quý vị có thể rời khỏi không khí được không? Thực tế, không khí là tồn tại, nhưng lại khiến quý vị không có cảm giác rõ ràng về nó. Vì vậy, pháp học Phật cũng như thế, pháp ấy vốn ở ngay trong tâm. Rất nhiều người học Phật học Pháp, cứ nghĩ rằng chỉ cần ăn mặc sạch sẽ, hoặc đã quy y một pháp môn nào đó, hoặc ở đây biểu hiện ra vẻ rất tốt đẹp; cũng giống như có người cầm hương, khi lễ Phật thì làm rất nhiều động tác cho người khác xem, để người khác bắt chước. Như vậy là đang học “pháp”, chứ không phải học “Phật”. Người thật sự học Phật là “vô vi nhi hữu vi”, dường như không làm gì, nhưng thực ra đã làm; mà thực ra là không làm, lại giống như đã làm.

QUYỂN 2 – TẬP 45
VÔ NIỆM TỨC THỊ HỮU NIỆM, VÔ ĐỨC TỨC THỊ HỮU ĐỨC
(无念就是有念,无德即是有德)

Phải hiểu rằng, khi trong tâm nghĩ “tôi có công đức”, thì thực ra là không có công đức. Hôm nay quý vị làm công đức ở đây, nhưng trên thực tế lại chưa chắc đã có công đức. Chính vì không chấp vào công đức, đó mới thật sự gọi là công đức. Khi quý vị không có tâm hại người, thì quý vị chính là người tốt. Khi khởi tâm muốn giúp người khác, bề ngoài đừng nói rằng mình có công đức; nhưng trên thực tế, hễ giúp người thì tự nhiên sẽ có hồi báo. Quý vị giúp người, người ta chưa chắc sẽ cảm ơn ngay. Nếu trong tâm mong người khác phải cảm ơn mình, thì việc thiện ấy cũng không còn trọn vẹn nữa. Quý vị giúp người khác, người ta nhất định sẽ cảm ơn quý vị, như vậy là có công đức. Cho nên công đức cũng là như vậy: khi không nghĩ mình có công đức, thì ngược lại là có công đức; còn khi trong tâm muốn có công đức, thì lại không có công đức. Làm công đức rồi thì đừng nghĩ đến nó. Làm được một chút việc thiện mà đã cảm thấy mình ghê gớm, sợ người khác không biết, như vậy là đã khởi tâm chấp trước. Hữu vi nhi vô vi, vô vi nhi hữu vi (làm mà như không làm, không chấp tướng làm). Người thật sự làm thì không nói; người chỉ nói thì không làm. Vừa làm vừa nói để người khác biết, thì công đức ấy cũng không còn nữa. Quý vị có thể hiểu được không?

Phật pháp thâm sâu vô lượng. Einstein từng nói rằng Phật pháp là tôn giáo duy nhất trong tương lai của thế giới và vũ trụ, có thể khai mở tư duy của nhân loại. Những điều Phật pháp mà Sư phụ giảng giải đều mang lại sự giúp đỡ rất lớn cho quý vị. Nếu quý vị thật sự đối xử tốt với người khác, thì lòng biết ơn của họ đều ở trong tâm, đó gọi là vô vi. Việc quý vị làm dường như là vô vi, nhưng thực ra là hữu vi. Khi quý vị cho rằng mình là hữu vi, thì trên thực tế lại là vô vi. Rất nhiều người phát tâm thì dễ, nhưng làm được mới khó. Khuyết điểm của con người là phát tâm rất dễ, nhưng lại không có lòng kiên trì để tiếp tục thực hành. Niệm thực ra là khi có khi không. Niệm của con người, trên thực tế vốn là không, là trống không, cho nên nói theo thực tướng thì là “vô”. Nhưng nếu nói niệm là vô, vậy nó có tồn tại hay không? Nó vẫn tồn tại. Một vạn niệm, một triệu niệm xoay chuyển trong đầu; nhưng khi xoay xong, dừng lại rồi, thì cũng không còn nữa. Vì vậy, phải đem những niệm ấy “vạn niệm quy nhất”, gom chúng lại, tập trung lại. Tu tâm học Phật, khi tu đến một cảnh giới nhất định, thì phải quên cả cái niệm ấy đi, đến mức không còn chấp vào niệm nữa.

Phải hiểu rõ chính mình. Đời người vốn chỉ là một giấc mộng. Nếu nói rằng đời người là một giấc mộng, thì chỉ sau khi đã khai ngộ rồi mới dám nói như vậy. Nếu ngay cả sự giác ngộ ấy cũng không có, đến việc đời người là một giấc mộng còn không biết, thì coi như sống uổng một đời nơi nhân gian. Phải vì lợi ích của mọi người mà sẵn sàng hy sinh tất cả; còn vì lợi ích riêng của bản thân (tư dục) thì phải dứt bỏ hoàn toàn, đó mới gọi là học Phật. Phải thường xuyên suy ngẫm về một câu mà Sư phụ hay dạy: “Vô dục tự nhiên tâm như nước.” Tuyệt đối đừng khởi tâm dục vọng, vì dục vọng mang đến cho quý vị chính là sự thất vọng. Dục vọng càng nhiều thì thất vọng càng lớn; thất vọng càng lớn thì phiền não nối tiếp kéo đến; mà phiền não thì có thể làm tổn thương tâm mình.

Sư phụ nói rằng đối với dục vọng của thế nhân thì phải dứt khoát đoạn trừ. Dục vọng của con người, Sư phụ ví dụ cho quý vị nghe: nó giống như một mũi tên, cái gì cũng muốn đạt cho bằng được mục đích của mình. Nhưng dục vọng lớn nhất của con người giống như bắn mũi tên lên trời, nó lớn đến mức không gì sánh bằng. Vì vậy dục vọng của con người vốn không thể đạt tới. Giống như một mũi tên bắn lên trời, quý vị có thể bắn cao đến đâu? Bắn đến một mức độ nhất định thì tự nhiên sẽ rơi xuống, chỉ là một phen lao lực vô ích. Tất cả đều là vô sở đắc. Không có gì thật sự có thể nắm giữ. Dục vọng của con người khiến rốt cuộc chẳng đạt được điều gì chân thật. Cho dù có đạt được, thì cũng chỉ là tạm thời; cuối cùng lại mất đi, rốt cuộc vẫn là không đạt được. Quý vị hiểu chăng? Trên thế gian này không có đúng hay sai để tranh cãi, chỉ có nhân quả – tất cả đều chỉ là một giấc mộng.

Vô niệm chính là Chánh giác, là Phật bảo. Nghĩa là không khởi vọng niệm; như vậy mới gọi là học Phật đúng chánh pháp, gọi là Chánh giác, Chánh niệm. Khi quý vị có sự giác ngộ chân chánh, có niệm chân chánh, thì quý vị đã tiến gần đến quả vị của chư Phật và chư Bồ Tát. Vô niệm chính là Chánh giác, là Phật bảo. Nghĩa là không khởi vọng niệm; như vậy mới gọi là học Phật đúng chánh pháp, gọi là Chánh giác, Chánh niệm. Khi quý vị có sự giác ngộ chân chánh, có niệm chân chánh, thì quý vị đã tiến gần đến quả vị của chư Phật và chư Bồ Tát.

Tiếp theo, Sư phụ giảng cho mọi người: thế nào gọi là vô niệm? Chính là không còn niệm vọng khởi lên. Không có niệm thì không có phiền não. Hiện nay Sư phụ dạy quý vị một phương pháp để “vạn niệm quy nhất”. Nếu chưa thể đạt đến vô niệm, thì trước hết hãy quy về một niệm. Ví dụ như khi xem truyền hình, tâm trí hoàn toàn nhập vào nội dung bộ phim, những niệm khác tạm thời đều không còn. Đó chính là quy về một niệm. Nhưng phải dần dần chuyển niệm ấy sang việc tin Phật, khiến mỗi niệm đều hướng về Phật. Sau khi đã an trụ trong niệm tin Phật, thì tiếp tục chuyển dần đến vô niệm, đến cả niệm “ta đang tin Phật” cũng không còn. Lúc ấy tuy không còn khởi niệm tin Phật, nhưng thực chất đã ở trong Phật, đang hành trì và lễ Phật.

Sư phụ nói cho quý vị nghe một ví dụ về vô niệm. Khi quý vị quỳ xuống lễ Phật, trong đầu có niệm không? Thân và tâm vẫn đang lễ Phật, động tác vẫn đang thực hành, nhưng có khởi niệm lăng xăng nào không? Nếu nói hoàn toàn không có niệm thì làm sao có thể lễ Phật? Cho nên vẫn có niệm. Thế nhưng, niệm ấy chỉ đơn thuần khiến quý vị biết mình đang lễ Phật, rồi không còn khởi thêm vọng niệm nào khác,  đó chính là vô niệm. Giống như một người làm một động tác đã quen thuộc, quen đến mức không còn ý thức rõ mình đang làm gì, đó gọi là vô niệm. Niệm Phật cũng phải niệm đến mức “niệm niệm hữu niệm, niệm niệm vô niệm”: trong mỗi niệm dường như có niệm, nhưng trong mỗi niệm lại không chấp vào niệm. Tự mình đang niệm, dường như có niệm; niệm mãi đến sau cùng thì không còn niệm nữa. Chẳng phải khi tụng kinh cũng như vậy sao? Lúc mới bắt đầu tụng còn biết từng chữ; tụng dần dần nhanh hơn, đến sau cùng lại không còn phân biệt mình đang tụng điều gì, đó gọi là vô niệm học Phật. Học đến chỗ rốt ráo là đạt đến “niệm niệm vô niệm”, không còn khởi tâm phân biệt. Chư Phật, chư Bồ Tát dạy chúng ta lễ Phật trong trạng thái không khởi vọng niệm, đó mới chính là hữu niệm chân thật: đem toàn bộ tâm mình giao phó cho chư Phật, chư Bồ Tát, để mọi niệm đều an trụ nơi Phật. Như vậy mới gọi là hữu niệm. Quý vị hiểu chăng?

Phải ghi nhớ rằng, phiền não của chính mình phải đoạn tận. Nếu không đoạn trừ, phiền não sẽ tích lũy ngày càng nhiều; phiền não càng nhiều, gương mặt quý vị sẽ trở thành một gương mặt đầy phiền não. Vì vậy, phiền não đến bao nhiêu thì phải tiêu trừ bấy nhiêu. Nếu đem phiền não quá khứ chồng lên người, lại không ngừng chất thêm phiền não hiện tại, tinh thần quý vị sẽ không chịu nổi, thậm chí rối loạn; thân thể cũng chống đỡ không nổi mà suy sụp, cuối cùng tự làm hại chính mình. Phải nhớ rằng, phiền não giữ lại càng lâu thì tích tụ càng nhiều. Thời gian dài, quý vị sẽ bị phiền não trói buộc như dây thừng quấn chặt. Vì phiền não thuộc về cõi người, nên quý vị sẽ bị những phiền não của cõi người trói buộc mãi, càng quấn càng nhiều, đến cuối cùng không thoát khỏi lục đạo luân hồi, vẫn rơi trong vòng sinh tử thế gian, không ra khỏi lục đạo được. Vì thế, niệm Phật mà ngay cả ý niệm muốn thành Phật cũng không nên chấp trước. Khi tụng kinh, ngay cả ý nghĩ “ta muốn thành Phật” cũng buông xuống, thì quý vị đã thành tựu Phật tánh từng phần, tức là trong từng phần tâm niệm đã có Phật. Giống như hôm nay quý vị giúp người mà không cầu báo đáp, tự nhiên sẽ có hồi báo; còn nếu giúp người mà mong người đền đáp, thì ngược lại sẽ không được báo đáp.

Hãy đem tất cả những điều đang chất chứa trong lòng móc rỗng ra, biến thành không còn việc gì nữa. Sư phụ dạy quý vị một cách để “móc rỗng”: khi ban đêm không ngủ được, thì hãy viết hết những phiền não trong lòng ra, đặt bên cạnh giường. Khi quý vị đã đem tất cả mọi việc móc rỗng ra rồi, thì sẽ ngủ được. Nhưng đó chỉ là phương pháp của thế gian. Sư phụ muốn quý vị dùng phương pháp niệm kinh để hóa giải và trừ bỏ toàn bộ phiền não của mình. Khi không còn phiền não nữa, quý vị sẽ ngủ được.

Mỗi lần Sư phụ giảng bài cho quý vị đều là đang giúp quý vị biết cách loại trừ phiền não. Dĩ nhiên, phương pháp tốt nhất vẫn là chính quý vị tự mình loại trừ phiền não; điều đó còn tốt hơn nhiều so với việc Sư phụ giúp quý vị loại trừ. Ví dụ, một đứa trẻ ngoan khi ngồi dưới lớp học mà không nói chuyện, thì vẫn tốt hơn nhiều so với việc để Sư phụ phải nhắc: “Con đừng nói chuyện.” Hiện nay trên thân quý vị còn có nghiệp chướng, còn có khuyết điểm. Sư phụ nói người này không tốt, nói người kia không tốt, quý vị nói xem Sư phụ có mệt không? Quý vị tự mình tu sửa còn tốt hơn nhiều so với việc để Sư phụ phải nhắc nhở tu hành. Đó mới gọi là giác ngộ. Vì quý vị chưa giác ngộ, nên trong lòng mới có tâm sự, lại thêm phiền não, khiến mình càng ngày càng phiền hơn. Nếu trong tâm không còn việc riêng tư, biết buông xuống chuyện của bản thân, quên đi lợi ích của mình mà đặt việc của chúng sinh vào lòng, thì khi ấy quý vị mới thật sự có được niềm vui. Khi đem tâm hướng về mọi người, quý vị sẽ nhận được rất nhiều niềm vui. Mọi người cùng vui, cùng hạnh phúc, còn tốt hơn một người tự vui, tự hạnh phúc, không biết bao nhiêu lần. Chỉ khi tâm hướng về đại chúng, quý vị mới có được niềm vui chân thật.

Vì vậy phải đoạn trừ phiền não, đoạn trừ hết thảy phiền não, để tâm không còn vướng mắc điều gì. Khi ấy quý vị sẽ không còn mất ngủ, không còn suy nghĩ lung tung; bởi vì không có phiền não thì sẽ không mất ngủ, cũng không nghĩ ngợi quá nhiều, và tự nhiên sẽ có được nhiều niềm vui hơn. Nếu đã mất ngủ mà còn tiếp tục nghĩ đến những chuyện phiền não, thì cuối cùng lại sinh ra thêm nhiều việc, nhiều phiền não hơn nữa. Cho nên phải đoạn tận mọi phiền não. Phiền não tức là Bồ-đề: khi quý vị đoạn trừ được phiền não thì trí huệ liền sinh khởi. Nếu phiền não còn ở nơi thân tâm, thì trí huệ không thể hiển lộ. Người có trí huệ, cho dù phiền não đến, cũng tự mình có thể giải quyết. Khi đạt đến mức ấy, quý vị sẽ nhìn thấy được tâm mình – và nhận ra rằng Phật tánh vốn ở ngay nơi đây, ở ngay trong tâm mình.  Chỉ khi không còn phiền não, quý vị mới có thể thấy được bản tâm; người còn phiền não thì không thể thấy được tâm mình. Người có phiền não, nhìn việc gì cũng cho rằng mình đúng.

Hiện nay có người cho rằng mình đã học được một ít Phật pháp, đọc qua vài quyển kinh sách liền tự cho mình là hơn người. Sư phụ nói với mọi người một đạo lý: làm người, thà kết bạn với một người đoan chính, tức là người ngay thẳng, dù không biết chữ cũng được, còn hơn kết bạn với một kẻ tà tâm, dù đọc thuộc muôn quyển sách. Tự cho mình hiểu hết mọi điều, lại lấy kinh Phật ra để công kích người khác, bản thân hành vi ấy đã là tạo nghiệp, là lỗi lầm nghiêm trọng. Lấy những lý luận khác nhau trong kinh Phật được thuyết giảng ở những thời kỳ khác nhau, để công kích pháp môn xuất hiện trong thời Mạt pháp, thì cũng giống như một nhà toán học thời xưa lại chê trách nhà toán học thời nay không hiểu toán học. Làm như vậy chính là khinh mạn kinh Phật, là mê muội. Vì thế Sư phụ nói: thà kết bạn với một người đoan chính không biết chữ, còn hơn kết bạn với một kẻ tà tâm đọc thuộc muôn quyển sách.

Hãy xa rời mùi vị của tội lỗi, vì đời người vốn là nếm trải đủ thứ mùi vị đắng cay. Chúng ta phải tránh xa cái vị đắng của tội lỗi, tức là phải tránh xa điều ác. Vừa ngửi thấy một chút mùi vị ấy liền rời đi: “À, họ sắp làm việc xấu rồi, mình phải tránh xa.” Người này tư tưởng đã lệch lạc, thì mình cũng phải rời xa. Phải tránh xa mùi vị của tội lỗi. Phải biết đến mùi vị của sự tịch tĩnh, đó là khi một người rất an tĩnh, biết giữ tâm, biết nhẫn nại. Mùi vị của tịch tĩnh chính là mùi vị của pháp lạc, là cảm giác pháp hỷ sung mãn, gọi là pháp lạc. Người đã nếm được mùi vị ấy thì sẽ không còn sợ hãi, đó gọi là “vô khủng bố”. Bởi vì khi đã xa lìa sợ hãi, xa lìa tội lỗi, thì chính là người ngay thẳng. Con người một khi tiếp xúc với tội lỗi, lập tức sẽ không còn vui vẻ nữa. Ví dụ như có người làm tổn hại quý vị một chút, quý vị liền không vui, không hoan hỷ, trong tâm nghĩ đến việc phải báo đáp lại người ấy. Như vậy là quý vị đã tiến gần đến sự sợ hãi rồi. Bởi vì khi quý vị dùng thủ đoạn để báo phục người khác, tiếp theo đó trong tâm sẽ sinh ra lo lắng, sợ người ta trả thù lại mình. Chỉ khi nào xa lìa sợ hãi thì mới đạt được trạng thái vô úy, tức là “vô khủng bố cố”.

Cầu chân bất cầu tự. Việc gì cũng phải tìm cái chân thật, không nên chạy theo cái tương tự bên ngoài. Chân thật tăng trí huệ, giả dối tăng ngu si.

QUYỂN 2 – TẬP 46
VẬN DỤNG NĂNG LỰC TRÍ HUỆ, NHẬN RÕ CÁI “NGÔ HƯ GIẢ
(使用智慧能量,认识虚假自我意识)

“Trí năng chứng lượng”: “trí năng” chính là trí huệ và năng lượng của con người; “chứng lượng” là công đức và năng lực của trí huệ ấy có thể chứng minh mức độ tu học Phật pháp của quý vị đạt đến đâu. Người càng có trí huệ thì Bồ Tát càng gần người ấy. Việc gì cũng có thể nghĩ ra phương cách giải quyết, mà đều là chánh tư duy, lại làm được viên mãn, người như vậy chính là người có trí huệ; Bồ Tát sẽ gia trì nơi họ. Ngược lại, nếu tư duy không chánh, điều gì xấu cũng nghĩ ra được, đầy những ý niệm bất thiện, thì người ấy chính là ma. Nếu trí năng ngày càng tăng trưởng, ngày càng sâu rộng, ngày càng rốt ráo, thì căn tánh giác ngộ của người ấy sẽ đạt đến mức cứu cánh chánh giác. Làm sao biết mình đã khai ngộ? Đó là khi trong một điểm nào đó, quý vị nghĩ thông suốt, hơn nữa đó là sự suy nghĩ bằng chánh niệm, rồi thấu hiểu rõ ràng, đó gọi là khai ngộ. “Khai ngộ” là một thuật ngữ trong Phật pháp. Nhưng nếu chỉ trong một sự việc nào đó mà quý vị hiểu rõ, điều đó không có nghĩa là quý vị đã hiểu rõ mọi việc.

Kinh Phật dạy: “Nhất thiết hiền thánh giai dĩ vô vi pháp nhi hữu sai biệt” (Tất cả hiền thánh đều do pháp vô vi mà có sai biệt). Vô vi pháp không phải là không làm gì cả, cũng không phải là không biết gì, mà là trong tâm không khởi vọng niệm tạo tác, không chấp trước, không dính mắc. Nghĩa là tuy làm mà như không làm, tuy biết mà không chấp vào cái biết. Vậy giữa phàm phu và Bồ Tát trong pháp vô vi có sự sai biệt gì? Bồ Tát ở nhân gian không khởi tâm hữu tác theo chấp trước; cảnh giới của Ngài vượt lên trên thế gian. Nhìn bề ngoài, vô vi pháp dường như là không làm gì cả; nhưng thực chất là dùng trí huệ để xử lý mọi việc trong đời. Sau khi làm xong, trong tâm không lưu dấu vết, tựa như chưa từng làm gì, đó chính là cảnh giới của Bồ Tát. Sự sai biệt của vô vi pháp chính là sự khác biệt giữa phàm nhân và Bồ Tát.

Lương tâm của mỗi người chính là vị quan tòa công chính nhất của chính mình. Bởi vì lương tâm vốn rất công bằng; quý vị có thể lừa được người khác, nhưng không thể lừa được lương tâm của mình. Quý vị có thể nói với người khác rằng: “Tôi không làm, tôi không nói, tôi không có thế này thế kia…”, nhưng quý vị có thể lừa được chính lương tâm mình hay không? Vì vậy, khi một người làm sai điều gì, mọi biểu hiện đều sẽ tự nhiên hiển lộ. Phải ghi nhớ rằng lương tâm của mỗi người là công chính nhất. Phải biết tự giác, tự ngộ; tự mình cảm nhận, tự mình học hỏi, tự mình lĩnh hội. Muốn biết việc mình làm là đúng hay sai, trước hết hãy tự quán chiếu rằng Phật ở ngay trong tâm mình, rồi tự giác, tự ngộ.

Phải học cách buông xuống chính mình. Người có thể buông bỏ phiền não mới có thể đạt được niềm vui chân thật. Chỉ khi một người thật sự buông được phiền não thì mới có thể có được hạnh phúc đích thực. Muốn đạt được sự giải thoát trong tâm linh, phải không để ngoại cảnh lôi kéo. Nếu tâm muốn được giải thoát, tuyệt đối đừng để những sự việc nơi thế gian trói buộc; nghĩa là bất cứ điều gì cũng không để mình bị dính mắc. Ví dụ như bị tình cảm trói buộc, bị danh lợi ràng buộc, bị những điều bất thiện lôi kéo, bị con cái níu giữ… Tất cả đều phải thật sự buông bỏ, thật sự thoát ra. Học Phật là phải đối diện với thực tại, rồi từ đó vượt lên trên thực tại. Bởi vì nếu không dám đối diện với thực tại thì sẽ không thể siêu vượt thực tại. Ví dụ, nếu con cái đối xử với mình không tốt, ta phải thẳng thắn nhìn nhận thực tế ấy. Phải học cách vượt qua, không chấp nhặt, không xem đó là điều quá quan trọng. Hãy nghĩ rằng đây là món nợ nghiệp từ đời trước của mình; không phải người khác không tốt, mà là tự mình chưa đủ tốt. Tại sao đời trước mình không làm nhiều việc thiện hơn? Tại sao không cứu độ chúng sinh nhiều hơn? Nếu có thể suy nghĩ như vậy, thì sẽ buông xuống được cái ngã, giải thoát khỏi phiền não, và tâm hồn mới có thể đạt được niềm an lạc chân thật.

Nếu một người vì phải trả giá mà nỗ lực, thì thường sẽ thất bại. Khi quý vị theo đuổi một việc gì đó, phải biết rằng điều ấy tất nhiên phải trả giá, hơn nữa lại rất dễ thất bại. Điểm căn bản thứ hai trong việc học Phật mà Sư phụ vừa giảng là: “Chỉ lo cày cấy, không hỏi thu hoạch”, chính là dạy quý vị đừng theo đuổi những điều phải trả giá. Mỗi người nhất định phải hiểu rằng những điều mình khổ tâm theo đuổi ấy, xét cho cùng đều là hư ảo, là những thứ không thể thật sự nắm giữ. Người cứ mãi chạy theo những thứ phải trả giá như vậy chính là người ngu muội nhất.

Tự ngã ý thức có hai loại: một là tự ngã ý thức chân thật, hai là tự ngã ý thức hư giả. Nếu chỉ giảng giải như vậy, quý vị sẽ cảm thấy trống rỗng và khó hiểu. Vì thế, Sư phụ dùng ví dụ thực tế để giúp quý vị hiểu thế nào là tự ngã ý thức. Ví dụ, hôm nay quý vị đến thư viện, nhìn thấy một cuốn sách mình rất thích nhưng lại không có tiền, vậy có nên lấy không? Lúc ấy chợt nhớ đến câu người xưa nói: “Trộm sách không tính là trộm.” Thế là trong tâm liền khởi lên ý nghĩ: đúng vậy, mình lấy cuốn sách này cũng không phải ăn cắp, người xưa đã nói như thế rồi. Đó chính là tự ngã ý thức hư giả đang chi phối quý vị, khiến quý vị tự tìm ra một lý do để che đậy ý niệm sai trái của mình. Khi làm sai một việc, cho dù tìm ra ngàn vạn lý do, mục đích cũng chỉ là để biến điều sai thành như đúng. Rõ ràng là hư giả, nhưng lại cố tình bao bọc nó thành chân thật. Lấy một ví dụ không hay: quý vị vào nhà hàng, con cá đó đã để nhiều ngày, đã bốc mùi hôi. Rõ ràng là đã hư, vậy mà đầu bếp vẫn đem chiên lên, thêm thật nhiều gia vị đậm đà rồi bưng ra. Khi ăn vào miệng, có phải mùi hôi ấy vẫn còn đó không?

Ý thức hư giả sinh ra những hành vi hư ảo. Con người vì sĩ diện; nếu có thể lột bỏ lớp sĩ diện ấy, tức là đang tước bỏ tự ngã ý thức hư giả. Học Phật là phải loại trừ toàn bộ những điều hư giả nơi thân tâm mình. Vì sao phải niệm Lễ Phật Đại Sám Hối Văn? Chính là để dốc sức đào tận gốc những ác căn trong bản thân. Khi đã nhổ bỏ được ác căn, về sau mới không mọc lên cỏ dại mới. Nếu không chịu đào bỏ gốc ác ấy, dù tạm thời che đậy được, theo thời gian vẫn sẽ sinh ra cỏ độc. Học Phật là sửa đổi lỗi lầm của chính mình, là phải triệt để nhổ tận gốc những ác căn trong thân tâm. Ý thức hư giả, tâm sĩ diện, tất cả đều là những thứ rỗng không, nhất định phải kiên quyết sửa đổi. Học Phật trước hết phải buông bỏ cái Tôi, phải đạt đến vô ngã. Bởi vì khi có tự ngã ý thức hư giả, tất nhiên sẽ sinh ra tâm hư vinh. Con người do mắt thấy, tai nghe, lại bị mê hoặc bởi các giả tướng, nên mỗi ngày đều bị những giả tướng ấy chi phối, làm điều sai trái, sống trong sai lầm, từ đó không ngừng sinh ra vô tận phiền não. Nếu chúng ta không làm điều sai trái, thì sẽ không có phiền não, và có thể giữ được từng phút từng giây an tường.

Học Phật, trước hết phải triệt để buông bỏ tự ngã, phải đạt đến vô ngã. Bởi vì khi đã sinh khởi tự ngã ý thức hư giả, tất nhiên sẽ nảy sinh tâm hư vinh. Con người do mắt thấy, tai nghe, lại bị mê hoặc bởi những giả tướng, nên mỗi ngày đều bị các giả tướng ấy che lấp, làm điều sai trái, sống trong sai lầm, từ đó không ngừng sinh ra vô tận phiền não. Nếu chúng ta không làm điều sai trái, thì sẽ không có phiền não, và có thể giữ được từng phút từng giây an tường.

Phải ghi nhớ một câu: người hữu dụng thì biết có điều không dùng đến. Người thật sự hữu dụng, tức là người có năng lực, thì trước nhiều việc lại tỏ ra như không làm. Họ lắng nghe, học hỏi, chứ không phải việc gì cũng nhúng tay vào. Có những việc rõ ràng biết mình làm được, nhưng vì khiêm tốn mà không nhận làm; việc gì cũng giữ lại ba phần, không phô bày hết. Còn người vô dụng thì lại không việc gì là không dùng đến mình. Họ cảm thấy việc gì mình cũng làm được: “Cứ tìm tôi, tôi làm được, bảo đảm làm xong.” Nhưng đến lúc thì lại không làm nổi. Giống như có người làm ăn buôn bán, nói đầy miệng, cuối cùng lại mắc một khoản nợ lớn rồi bỏ trốn. Mãn khẩu phạn (miếng cơm đầy miệng) thì ngon, nhưng mãn khẩu thoại (lời nói đầy miệng) thì bất khả ngôn tận; người học Phật quý ở chỗ không nói lời quá mức.

Mỗi người trên thân mình có bao nhiêu thói hư tật xấu? Đã làm bao nhiêu việc sai lầm? Bây giờ thử nghĩ lại xem, có cảm thấy hổ thẹn hay không? Quý vị nhất định phải tu tâm cho tốt, sửa đổi những tập khí vô minh của bản thân, phải lo làm người cho tốt. Trước hết, phải làm một người tốt thì Sư phụ mới có thể cứu quý vị, mới có thể giúp được quý vị. Nếu quý vị không phải là người tốt, cho dù quý vị cầu Bồ Tát cứu mình, Bồ Tát cũng chưa chắc có thể cứu được quý vị.

Quý vị nhất định phải gắng công tu tâm, phải tạo mọi điều kiện để tu tâm, phải làm sao để toàn bộ đức năng  – bao gồm cả đạo đức và trí năng – của chính mình được phát huy hết mức, nhằm hoằng pháp lợi sinh. Bằng không, quý vị sẽ có lỗi với Quán Thế Âm Bồ Tát, có lỗi với Sư phụ, và có lỗi với chính lương tâm của mình.

II. Giải Đáp Về Mối Quan Hệ Giữa Pháp Môn Tâm Linh Và Các Pháp Môn
二、关于心灵法门和 其他法门的关系解答

[Lời Ban Thư ký]: Gần đây, Ban Thư ký nhận được một bức thư của một cư dân mạng, trong đó nêu ra nhiều thắc mắc mang tính đại diện. Vì vậy, Ban Thư ký đã trích lục từng câu hỏi của vị cư dân mạng này cùng với phần trả lời để mọi người tham khảo, hiểu rõ và giải tỏa nghi vấn.

Câu hỏi 1 từ thư cư dân mạng: Kính chào Ban Thư ký, trước đây đệ tử từng tu các pháp môn khác, đã tiếp xúc với nhiều pháp môn như Tịnh Độ Tông v.v., và vẫn thường in ấn kinh sách của các pháp môn để kết duyên. Cuối năm 2009, đệ tử bắt đầu tiếp xúc với Pháp Môn Tâm Linh, và từ năm ngoái bắt đầu tụng Ngôi Nhà Nhỏ. Tuy nhiên, không lâu sau khi bắt đầu tu Pháp Môn Tâm Linh, đệ tử gặp rất nhiều việc không thuận lợi, chẳng hạn như: ví tiền bị mất trộm, hàng xóm gây sự cãi vã, thân thể không được khỏe… Không biết những việc này có liên quan đến việc tu Pháp Môn Tâm Linh hay không?

Ban Thư ký trả lời: Rất cảm ơn thư của quý vị. Trước hết, việc sau khi quý vị niệm kinh mà liên tiếp xảy ra những việc như ví tiền bị mất, hàng xóm gây sự cãi vã, thân thể không khỏe… thực ra rất đơn giản. Bởi vì trước đây quý vị đã tu nhiều pháp môn khác nhau; càng tu nhiều pháp môn thì càng dễ phát sinh một số phiền phức. Vì vậy, Phật pháp giảng phải “nhất môn thâm nhập”. Giữa các pháp môn tuy có chỗ tương thông, nhưng rốt cuộc vẫn có những khác biệt nhất định. Cũng giống như cùng đi đến Bắc Kinh, dù đi tàu hỏa, xe ngựa, tàu thủy hay máy bay, mỗi phương tiện đều có quy tắc riêng; nếu vi phạm quy tắc thì tàu hỏa, tàu thủy hay máy bay đều không thể lên được. Còn những vấn đề quý vị gặp phải, lẽ ra chỉ là tạm thời. Pháp Môn Tâm Linh có thể giúp hàng triệu người chuyển họa thành phúc, tiêu tai cát tường; không thể nào khiến một người làm công đức như quý vị lại thân thể không khỏe. Vì vậy, những vấn đề này không liên quan đến Pháp Môn Tâm Linh. Đây có thể là do trước kia quý vị tu quá nhiều pháp môn; hoặc bản thân còn có vong linh, những vong linh này khiến quý vị xuất hiện các phản ứng như vậy; hoặc sau khi mới tiếp xúc Pháp Môn Tâm Linh, Ngôi Nhà Nhỏ tụng chưa đủ, hoặc tụng lúc có lúc không, khiến các oan gia trái chủ của mình đặc biệt sốt ruột, từ đó thúc đẩy những việc này xảy ra. Cũng có một khả năng nữa là khi vừa chuyển đổi pháp môn, giữa các cảnh giới trong linh giới tồn tại một mức độ bài xích nhất định; nhưng những tình huống này thông thường sau khi tiếp nhận một pháp môn mới khoảng ba đến sáu tháng sẽ dần dần không còn nữa.

Câu hỏi 2 của cư dân mạng: Khi tu Pháp Môn Tâm Linh, có thể đồng thời tu Tịnh Độ Tông hay không?

Ban Thư ký trả lời: Thực ra Tịnh Độ Tông cũng là một pháp môn tốt. Tịnh Độ Tông khuyên con người xem nhẹ thế gian, để khi lâm chung có thể một niệm A Di Đà Phật mà vãng sinh về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nhưng cần hiểu một điều: nếu bất kỳ ai chỉ cần một niệm A Di Đà Phật đều có thể vãng sinh Tây Phương Cực Lạc thế giới, thì nhân quả sẽ không còn tồn tại nữa.

Đài Trưởng đã nhiều lần giảng cho mọi người rằng trên thân con người còn có rất nhiều nghiệp chướng và cũng có nhiều vong linh. Chúng ta cần phải làm cho bản thân thanh sạch, giống như một người rất dơ bẩn thì sẽ không được người khác chấp nhận vậy; phải rửa sạch những thứ ô uế ấy, và điều đó phải dựa vào chính mình tu tâm, tu hành, niệm kinh, làm công đức.

Ví dụ, một người chỉ cầu xin hiệu trưởng cho mình vào đại học, mà không chịu dụng công học tập, thì người đó có thể vào đại học được không? Nếu một người chỉ cầu A Di Đà Phật để được đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, mà không tu tâm, tu hành, làm công đức, làm việc thiện, căn cơ lại nông cạn, nghiệp chướng còn sâu dày, thì người ấy có thể vãng sinh hay không? Đây chính là điểm vừa khác biệt, vừa tương đồng giữa Pháp Môn Tâm Linh và các pháp môn khác.

Thực tế Tịnh Độ tông có thể tu, Pháp Môn Tâm Linh cũng có thể tu. Pháp Môn Tâm Linh có thể nói là một pháp tu tổng thể từ nền tảng căn bản đến cảnh giới cao, giống như một người khi còn học tiểu học, trung học thì chưa thể học chương trình đại học; đợi đến khi nền tảng tiểu học và trung học đã vững chắc, lúc ấy học các môn đại học mới có thể thông qua.

Vì vậy, Đài trưởng luôn dạy mọi người rằng, về sau cũng hy vọng mọi người có thể tu đến Tây Phương Cực Lạc thế giới và siêu thoát lục đạo, tiến vào Tứ Thánh Đạo. Nhưng khi căn cơ còn nông cạn, nghiệp chướng còn sâu dày, vong linh còn nhiều, thì trước hết vẫn nên giải quyết cho rõ ràng những phiền não và nghiệp chướng của bản thân, rồi sau đó mới có thể đến Tây Phương Cực Lạc thế giới hoặc Tứ Thánh Đạo.

Thử hỏi, nếu một người trước khi lâm chung đã mắc chứng sa sút trí huệ, mắc bệnh Ménière, hôn mê trên giường bệnh, trên thân gắn đầy ống dẫn, ý thức không còn tỉnh táo, người như vậy có thể đến Tây Phương Cực Lạc thế giới hay không? Đó chính là lý do vì sao Đài trưởng luôn dạy mọi người phải loại bỏ phiền não chướng của thế gian; đây là một nền tảng rất quan trọng để sau này có thể đến Tây Phương Cực Lạc thế giới. Vì vậy, Pháp Môn Tâm Linh và Tịnh Độ tông không hề mâu thuẫn; chỉ là muốn đến cõi nước Tây Phương Cực Lạc thì trước hết bản thân phải tiêu trừ nghiệp chướng và nuôi dưỡng thiện căn, sau khi tu tâm tu hành rồi mới tiếp tục tu Tịnh Độ.

Nói ngược lại, Quán Thế Âm Bồ Tát là một trong Tây Phương Tam Thánh; nếu chúng ta ở nhân gian đã tu hành tốt rồi, Quán Thế Âm Bồ Tát cũng sẽ tiếp dẫn chúng ta về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Vì vậy, phải ghi nhớ rằng vấn đề then chốt là hiểu điều gì nên làm trước, điều gì nên làm sau; căn cơ thế nào thì trước hết làm việc tương ứng với căn cơ ấy. Ví dụ, phải trả hết nợ nần thì mới có thể tích lũy tiền bạc; cũng như một người trước tiên phải tiêu trừ sạch nghiệp chướng thì mới có thể tích lũy công đức. Nếu không, công đức người ấy làm ra đều bị nghiệp chướng và vong linh tiêu mất, vậy người ấy lấy đâu ra công đức? Kinh A Di Đà đã viết rất rõ: “Bất khả dĩ thiểu thiện căn phúc đức nhân duyên, đắc sinh bỉ quốc.” (Không thể dùng chút ít thiện căn phúc đức nhân duyên mà được sinh về nước đó.)

Câu hỏi 3 từ thư cư dân mạng: Tu Pháp Môn Tâm Linh, có phải chỉ là đọc Ngôi Nhà Nhỏ để siêu độ thôi không? Tu tâm như thế nào? Chỉ xem khai thị thì không đủ.

 Ban Thư ký trả lời: Xin hỏi, các pháp môn khác dùng phương pháp gì để dạy mọi người tu tâm? Chẳng phải cũng dùng khai thị sao? Chẳng phải cũng đọc kinh văn sao?

Đài Trưởng không chỉ dạy mọi người đọc Ngôi Nhà Nhỏ để trả nợ nghiệp, mà bản thân còn phải làm công phu hằng ngày, nghe ghi âm chương trình, ghi âm các buổi giải đáp, xem khai thị trên blog, kết hợp phóng sinh và phát nguyện. Xin hỏi, các pháp môn khác còn có phương pháp nào nhiều hơn thế để tu tâm, tu hành hay không?

Phải hiểu một đạo lý: bất kỳ pháp môn mới nào xuất hiện cũng sẽ đối diện với sự bài xích do một số rất ít người tu theo pháp môn truyền thống tạo ra; điều này là điều khó tránh khỏi. Người học Phật chúng ta cần hiểu rằng tám vạn bốn ngàn pháp môn có trước có sau; bất kỳ pháp môn nào xuất hiện sau đều có thể chịu sự bài xích, dù thiện ý hay ác ý, từ một số cá nhân của các pháp môn trước đó.

Đây cũng là tình huống của Pháp Môn Tâm Linh khi vừa truyền ra nhân gian. Hiện nay pháp môn mới bắt đầu, nên một số người tu theo pháp môn truyền thống có thể có ý kiến. Thực ra không phải pháp môn bài xích pháp môn, mà là một số cá nhân thực hành pháp môn truyền thống có sự bài xích; điều đó là bình thường, và Đài trưởng cũng thấu hiểu họ. Nhưng sau vài năm nữa, những vấn đề này liệu còn tồn tại hay không?

Pháp Môn Tâm Linh là do Quán Thế Âm Bồ Tát truyền xuống nhân gian. Trong vòng hai, ba năm, pháp môn này đã được gần bảy triệu người tiếp nhận; sau khi niệm kinh, hiệu quả rõ rệt, hầu như không có ai là không linh nghiệm. Vì vậy, pháp môn này nhất định sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển.

Trên thế gian có nhiều người có khả năng cảm ứng tâm linh; chúng ta cũng có thể thông qua họ để thỉnh hỏi Quán Thế Âm Bồ Tát, nhằm chứng thực pháp môn này.

Câu hỏi 4 từ thư cư dân mạng: Mục tiêu học Phật của đệ tử là muốn thành Phật, nhưng không biết Pháp Môn Tâm Linh làm sao có thể giúp đệ tử thành Phật?

 Ban Thư ký trả lời: Xin hãy nhớ rằng thành Phật là do từng bước tu hành mà đạt được. Căn bản nhất của việc thành Phật chính là căn cơ. Người muốn thành Phật, căn cơ phải thanh tịnh, không còn nghiệp chướng; tâm phải trong sạch, thuần khiết; không bị nghiệp chướng đời trước lôi kéo; không bị vong linh quấy nhiễu, như vậy mới có thể thành Phật.

Thành Phật là từng bước đi lên, từ trước đến nay chưa từng có chuyện một bước lên trời.

Vì vậy, nếu tu theo Lư Đài Trưởng, muốn thành Phật, trước tiên phải loại bỏ nghiệp chướng trên thân, phải đoạn trừ tập khí xấu trong quá khứ của mình, đoạn trừ tham – sân – si, tu Ngũ giới, hành Thập thiện, thay đổi bản thân, nâng cao cảnh giới nhân sinh.

“Nhân thành tức Phật thành” – lời của Thái Hư Đại Sư – nghĩa là làm người cho trọn vẹn thì mới có thể thành Phật. Cho nên, muốn thành Phật phải dựa vào sự tu hành từng bước vững chắc mà tiến lên, chứ không phải một bước là có thể thành Phật.

Câu hỏi 5 từ thư cư dân mạng: Tại nơi đệ tử có một người thông linh. Sau khi xem sách của Đài trưởng, người ấy nói: “Ngài không phải người bình thường, là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát.” Nhưng người đó cũng nói pháp môn của Đài trưởng dễ chiêu cảm vong linh. Xin hỏi, có phải Pháp Môn Tâm Linh dễ chiêu cảm vong linh hay không?

Ban Thư ký trả lời: Xin hãy xem Tịnh Độ Tông, Mật Tông v.v., có pháp môn nào không liên hệ với linh giới? Niệm Kinh Địa Tạng chính là đang siêu độ chúng sinh cõi quỷ; Địa Tạng Vương Bồ Tát cũng ở địa phủ, địa ngục để cứu độ chúng sinh. Quý vị nói xem, có pháp môn nào không chiêu cảm vong linh? Bất kỳ pháp môn nào cũng cứu độ chúng sinh, siêu độ vong linh. Văn hóa và lịch sử truyền thừa hàng nghìn năm nơi chùa miếu, mỗi ngày đều làm pháp sự để giúp chúng sinh siêu độ vong linh. Lẽ nào nói rằng họ đang chiêu cảm vong linh hay sao?

Câu hỏi 6 từ thư cư dân mạng: Tịnh Độ Tông tu tập đều căn cứ vào kinh điển để thiết lập công khóa, nhưng đệ tử cảm thấy Pháp Môn Tâm Linh hiện nay còn thiếu một hệ thống lý luận hoàn chỉnh và cơ sở căn bản.

Ban Thư ký trả lời: Thực ra, sự khởi đầu của bất kỳ pháp môn nào cũng phải trải qua quá trình dần dần hoàn thiện. Quán Thế Âm Bồ Tát truyền pháp môn này xuống nhân gian; khi mới bắt đầu, về mặt lý luận không thể lập tức hình thành một hệ thống hoàn chỉnh, cũng giống như nhiều ngành khoa học nơi nhân gian khi chưa phát triển đầy đủ, các nhà khoa học chưa thể dùng một hệ thống lý thuyết để chứng thực các vấn đề của vũ trụ.

Hơn hai nghìn năm trước, Thích Ca Mâu Ni Phật đã nói về Tam thiên đại thiên thế giới, nhưng khoa học lúc đó chưa có hệ thống lý luận để chứng thực. Phải trải qua hàng nghìn năm sau, con người mới dần dần hiểu về thái không, vũ trụ, tinh cầu, hệ Mặt Trời, Ngân Hà, và mới có thể xây dựng một hệ thống lý luận để phân tích.

Sau khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc, nhiều tông phái lúc bấy giờ cũng không thể chấp nhận. Khi Phật giáo mới truyền vào, chưa có hệ thống lý luận hoàn chỉnh; ngay cả kinh điển dịch sang Hán văn cũng rất ít, huống hồ là một hệ thống lý luận đầy đủ. Phật giáo từng bị một số học phái tôn giáo khác bài xích và gọi là “ngoại đạo”.

Thực ra Pháp Môn Tâm Linh không phải không có lý luận, mà cần dựa vào hàng Phật tử chúng ta để chứng thực. Không thể vì hệ thống lý luận chưa hoàn thiện mà phủ định pháp môn này.

Pháp Môn Tâm Linh đã mang lại niềm vui cho chúng sinh, giúp họ rời xa đau khổ. Về mặt lý luận chỉ là công việc tiếp nối về sau, cần chúng ta tổng kết. Cũng giống như ông Lương Tiêu và nhiều cư dân mạng khác đang tổng kết lý luận của Pháp Môn Tâm Linh, những lý luận ấy sẽ do hậu thế từng bước hoàn thiện.

Một pháp môn tốt là pháp môn có thể làm cho đông đảo chúng sinh được lợi ích, lìa khổ được vui. Phải để nhiều chúng sinh biết rằng, Pháp Môn Tâm Linh sẽ đứng vững trong tám vạn bốn ngàn pháp môn. Đây là pháp môn của Quán Thế Âm Bồ Tát – đó chính là căn cứ nền tảng.

Xin cảm ơn sự tư vấn của quý vị. Gửi quý vị tham khảo. Cảm tạ Quán Thế Âm Bồ Tát.

III. Chân Thành Tu Học Theo Đài Trưởng Lư Quân Hoành
三、 跟随卢台长真心修学

Nhận thức, cảm ngộ và những cảm ứng, phản hồi chân thực nhiệm mầu sau khi niệm kinh theo Pháp Môn Tâm Linh của Quán Thế Âm Bồ Tát.

Do khuôn khổ có hạn, tại đây chỉ trích đăng một số bài viết của thính giả và cư dân mạng sau khi tu học và niệm kinh theo Pháp Môn Tâm Linh của Quán Thế Âm Bồ Tát, ghi lại những nhận thức, cảm ngộ cùng các cảm ứng chân thực nhiệm mầu. Nếu muốn tìm hiểu thêm, xin truy cập blog của Đài trưởng Lư Quân Hoành.

Địa chỉ Blog của Đài trưởng Lư Quân Hoành:

https://lujunhong2or.com/

Cảm tạ Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát!

Cảm tạ Đại Từ Đại Bi Đài trưởng Lư Quân Hoành!

Cảm tạ toàn thể đồng tu Ban Thư ký Đài Phát thanh Đông Phương!

Đệ tử là một cán bộ nghỉ hưu cấp tỉnh, sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo khó. Nhờ cơ duyên từ nước Trung Hoa mới do Đảng Cộng sản lãnh đạo, đệ tử được đi học, lên thành phố và trở thành cán bộ nhà nước. Mang trong lòng niềm biết ơn sâu sắc, đệ tử luôn nỗ lực làm việc, học tập, phấn đấu tiến bộ và đảm nhiệm nhiều trọng trách. Trong quá trình công tác, đệ tử dần nhận ra rằng trong cuộc sống có rất nhiều hiện tượng mà khoa học hiện đại không thể lý giải; đặc biệt là những căn bệnh mà bệnh viện không thể chữa khỏi, dân gian thường gọi là “bệnh hư”. Để tìm lời giải cho điều này, nhờ sự chỉ dẫn của một đồng nghiệp tin Phật, đệ tử bắt đầu dùng thời gian rảnh để tìm hiểu và học tập Phật pháp. Từ đó mới hiểu rằng những “bệnh hư” ấy thực chất có liên quan đến nghiệp chướng tích lũy từ nhiều đời nhiều kiếp.

Kể từ đó, đệ tử phát nguyện tinh tấn học Phật, mong tìm được con đường giải thoát khỏi khổ đau do nghiệp lực gây ra.

1.1 Phát nguyện kiếp này thề nguyện thành Phật, để cứu giúp người chịu khổ vì “bệnh hư”

Trong những ngày thường, bên cạnh việc hoàn thành tốt công việc, đệ tử nỗ lực đọc và nghiên cứu kinh điển của các tông phái trong Phật môn, tích cực tham gia trợ in kinh sách để bố thí, kết duyên với đại chúng, thành tâm tu hành, hy vọng sớm có đủ năng lực cứu giúp những người mắc “bệnh hư”.

Vì tâm mong cầu công năng quá tha thiết, vào những năm phong trào khí công thịnh hành, đệ tử thấy rất nhiều “đại sư” khí công đều nhân danh “Phật tử” đi khắp nơi truyền công trị bệnh. Thế là đệ tử liền quên ăn quên ngủ chuyên tâm “luyện công”, mong đạt được công năng, để có thể giống như những “đại sư” ấy, giúp người bệnh hư thoát khỏi khổ đau.

Sau một thời gian khổ luyện, cuối cùng hai tay đệ tử cũng xuất hiện chút cảm giác “năng lượng”. Từ đó, đệ tử thường xuyên phát công điều chỉnh bệnh cho những người tìm đến mình mà không nhận bất kỳ sự báo đáp nào. Có người vừa phát công xong thì bệnh thuyên giảm ngay; có người tuy có giảm nhẹ nhưng chưa khỏi hẳn; cũng có người hoàn toàn không có hiệu quả.

Sau một thời gian, đệ tử cũng lâm vào tình trạng toàn thân bệnh tật: mắc chứng thoái hóa đốt sống cổ nghiêm trọng, cột sống cong lệch sang phải, phình đĩa đệm thắt lưng. Từ một người cao 1m82, đệ tử bị giảm mất 5cm chiều cao. Ngoài ra còn mắc viêm khớp dạng thấp, viêm dạ dày, viêm túi mật, rối loạn dẫn truyền thất trái, máu đặc, mỡ máu cao, xơ vữa động mạch cảnh, thiếu máu não…

Trải qua thời gian dài điều trị, rèn luyện và dưỡng sinh, tuy bệnh tình có phần được khống chế và cải thiện, nhưng rốt cuộc vẫn không thể trị dứt điểm.

Sau nhiều năm suy ngẫm và tìm hiểu sâu hơn, đệ tử mới dần hiểu ra: tất cả những điều này đều là nghiệp duyên của chính mình; là vì đệ tử chưa thực sự thấu hiểu giáo lý nhân quả trong Phật pháp. đệ tử chỉ nghĩ rằng chữa bệnh cho người mà không nhận bất kỳ thù lao nào là hành thiện; nhưng không hiểu rằng làm như vậy có thể đã can thiệp vào quy luật nhân quả báo ứng, vô tình làm tổn hại đến những chúng sinh ở trạng thái ẩn đang thực thi nghiệp báo nơi người bệnh.

Vì nóng lòng muốn giúp người mắc “bệnh hư”, đệ tử đã vô minh làm tổn hại đến chúng sinh khác, nên bản thân phải gánh chịu quả báo tương ứng theo luật nhân quả.

Để tiêu trừ nghiệp chướng của mình, đệ tử đã nhiều năm bôn ba giữa biển lớn Phật pháp. Hôm trước nghe pháp của một vị cao tăng thuộc pháp môn này, hôm sau lại đọc luận trước tác của một bậc đại đức thuộc pháp môn khác; hôm nay có người giới thiệu một bộ kinh của pháp môn kia thù thắng hơn. Cứ như vậy, đệ tử xoay chuyển giữa các pháp môn suốt hai, ba mươi năm, pháp môn nào cũng thấy hay, pháp môn nào cũng thấy tốt. Đệ tử chỉ hiểu được rằng học Phật cần có tín, nguyện, hành; cần có tâm từ bi, biết nhẫn nhục; chớ làm các điều ác, siêng làm các điều lành; phải thu nhiếp sáu căn, trừ ba độc, dứt sáu giặc, để đạt đến giới – định – huệ.

Đối với đệ tử, tín và nguyện thì không có vấn đề; nhưng rốt cuộc phải hành trì như thế nào? Làm sao tiêu trừ nghiệp chướng nơi thân, làm sao dứt trừ bệnh khổ? đệ tử vẫn chưa tìm được phương pháp giải quyết thực sự hữu hiệu.

1.2. Đài trưởng Lư đã chỉ cho đệ tử con đường tiêu trừ nghiệp chướng, dứt trừ bệnh khổ và tu tâm học Phật.

Vào một ngày cuối tháng 7 năm 2010, một vị đồng tu đã giới thiệu cho đệ tử cuốn sách《Nhất mệnh nhị vận tam phong thủy》của Đài trưởng Lư. Khi cầm được cuốn sách trên tay, đệ tử lại giống như trước đây, tranh thủ thời gian đọc một mạch không ngừng; chỉ trong vòng một ngày đã đọc xong toàn bộ.

Tâm trạng lúc ấy thực sự khó có thể diễn tả bằng lời. Giống như sau bao ngày mưa dầm liên tiếp bỗng nhiên nhìn thấy ánh mặt trời, trong lòng đệ tử như có hai cánh cửa đột nhiên mở ra, ánh sáng chan hòa không sao kể xiết. Pháp môn mà đệ tử khổ công tìm kiếm bấy lâu để tự cứu mình cuối cùng đã xuất hiện trước mắt.

đệ tử lập tức chạy vào Phật đường trong nhà, quỳ trước tượng chư Phật, Bồ Tát, thành tâm cảm tạ Quán Thế Âm Bồ Tát đã từ bi gia hộ, giúp đệ tử giữa biển học Phật mênh mang tìm được pháp môn phù hợp với căn cơ của mình.

Thông qua vị đồng tu ấy, đệ tử liên hệ được với cư sĩ Hạ tại Trường Xuân – người đang hoằng dương Pháp Môn Tâm Linh. Từ bà, đệ tử thỉnh được các sách của Sư phụ như 《Thiên – Địa – Nhân》, 《Bạch Thoại Phật Pháp》, 《Thế Giới Đồ Đằng》, cùng các băng ghi âm chương trình do Sư phụ thực hiện như《Huyền Nghệ Tổng Thuật》,《Huyền Nghệ Vấn Đáp》,《Trực Thoại Trực Thuyết》, 《Bạch Thoại Phật Pháp, và ghi âm các buổi “Giải đáp thắc mắc trực tiếp quy mô lớn”. Ngoài ra còn có các tài liệu liên quan đến  “Ngôi Nhà Nhỏ”, “Ngôi Nhà Lớn” v.v…

Ba đại pháp bảo “Niệm kinh, Phát nguyện, Phóng sinh” và dùng “Ngôi Nhà Nhỏ” để trả nợ, siêu độ vong linh, tiêu trừ nghiệp chướng, giải thoát bệnh khổ mà Đài trưởng Lư khai thị thật đơn giản, tiện lợi và thiết thực biết bao! Bạch Thoại Phật Pháp được giảng giải rõ ràng, dễ hiểu biết bao! đệ tử thực sự không biết phải làm sao để bày tỏ lòng cảm ân đối với sự từ bi gia hộ của Quán Thế Âm Bồ Tát dành cho mình.

đệ tử vui mừng khôn xiết, gặp ai cũng nói: chính Sư phụ đã dạy đệ tử cách học Phật, niệm kinh, tiêu nghiệp, trừ bệnh, tăng cường sức khỏe, tu tâm và làm người. Từ nay, đệ tử cuối cùng có thể dành trọn thời gian để chuyên tâm tu học Bạch Thoại Phật Pháp do Sư phụ hoằng dương.

Làm theo lời khai thị của Đài trưởng, trước bàn thờ tại gia, đệ tử đã phát nguyện trước Quán Thế Âm Bồ Tát:

Từ nay trở đi, nguyện theo sát Đài trưởng học tập Bạch Thoại Phật Pháp, tu tâm sửa mình.

Thiết lập công khóa niệm kinh hằng ngày.

Mỗi sáng niệm 7 biến Chú Đại Bi, 7 biến Tâm Kinh, 7 biến Lễ Phật Đại Sám Hối Văn; 49 biến Chuẩn Đề Thần Chú; 27 biến Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú; 21 biến Giải Kết Chú (sau một thời gian, tùy nhu cầu có thể tăng thêm Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú, Công Đức Bảo Sơn Thần Chú hoặc các kinh chú khác, đồng thời điều chỉnh số biến cho phù hợp). Ngoài ra, niệm 3 biến Chú Đại Bi hồi hướng cho Đài trưởng.

Ngoài công khóa hằng ngày, mỗi ngày tùy duyên niệm Giải Kết Chú và Vãng Sanh Chú mỗi loại 108 biến (đã duy trì như vậy liên tục 3 tháng; hiện nay khi có nhu cầu thì mới tăng niệm).

Cố gắng ăn chay, mỗi tháng ít nhất hai ngày chay (tốt nhất vào mồng một và ngày rằm).

Vào ngày mồng một và rằm âm lịch, ngoài công khóa thường ngày, cố gắng tăng cường niệm kinh (18 biến Lễ Phật Đại Sám Hối Văn; các chú như Chú Đại Bi, Tâm Kinh, Chuẩn Đề Thần Chú, Vãng Sanh Chú, Giải Kết Chú, Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú, Công Đức Bảo Sơn Thần Chú… mỗi loại 49 biến).

Hoằng dương Phật pháp mọi lúc mọi nơi, khuyên nhủ những người có duyên với Phật pháp phát tâm tu tâm niệm kinh; tùy duyên làm các việc thiện, siêng năng phóng sinh, chú trọng tích lũy công đức.

Tranh thủ thời gian niệm “Ngôi Nhà Nhỏ”, bình quân mỗi ngày niệm ít nhất một tờ trở lên. Ngoài việc hoàn trả nghiệp nợ cho bản thân, còn phát tâm cố gắng tích lũy thêm nhiều “Ngôi Nhà Nhỏ” để trợ duyên cứu độ chúng sinh hữu duyên.

1.3. Hiệu quả sau khi tu tập Pháp Môn Tâm Linh

 Ngôi Nhà Nhỏ quả thật là pháp bảo! Những người cần kinh lần lượt đến đòi kinh. Sau khi đệ tử niệm hơn hai mươi tờ Ngôi Nhà Nhỏ cho những người cần kinh của bản thân và của vợ đệ tử, không lâu sau, trong mộng xuất hiện hai người anh vợ khi còn sống vốn không qua lại nhiều; tiếp đó là một đồng nghiệp đã qua đời của đơn vị đệ tử lúc còn công tác, người từng vẽ tặng đệ tử một bức tranh; rồi đến người giới thiệu đệ tử vào Đảng khi đệ tử mới đi làm, đã mất hơn hai mươi năm; thậm chí cả những bạn học lớp 5–6 tiểu học đã hơn năm mươi năm không tin tức cũng lần lượt xuất hiện trong mộng. đệ tử hiểu rằng họ có lẽ đều là những người như Đài trưởng giảng, đến để đòi kinh. Vì vậy, dựa theo những con số xuất hiện trong mộng, đệ tử lần lượt niệm Ngôi Nhà Nhỏ hồi hướng cho họ; những trường hợp trong mộng không thấy con số thì đệ tử làm theo lời Đài trưởng dạy, mỗi người niệm 7 tờ Ngôi Nhà Nhỏ. Sau khi hoàn thành việc niệm và hồi hướng cho họ, tâm trạng đệ tử cảm thấy vô cùng nhẹ nhàng, thanh thản.

Hiện nay đệ tử gần như trở thành “người chuyên niệm kinh”, mỗi ngày đều dành vài giờ để niệm kinh. Nửa năm trôi qua, đệ tử đã niệm hơn 370 tờ Ngôi Nhà Nhỏ cho bản thân, gia đình, cùng cha mẹ đã quá vãng, anh chị em, đồng nghiệp, bạn học… và đã nhận được những hiệu quả thật sự nhiệm mầu. Nghiệp chướng trên thân đệ tử giảm đi rõ rệt, các chứng bệnh kể trên cũng cải thiện đáng kể hoặc thuyên giảm rõ ràng.

Việc niệm Giải Kết Chú để hóa giải mâu thuẫn giữa đệ tử và người bạn đời cho thấy hiệu quả rõ rệt nhất. Trước đây, chúng đệ tử thường xuyên bất hòa, chỉ nói vài câu không hợp ý là cãi vã. Sau khi học Pháp Môn Tâm Linh, đệ tử liên tục trong ba tháng mỗi ngày chuyên tâm niệm 108 biến Giải Kết Chú để hóa giải oán kết. Hiện nay, vợ chồng đệ tử không còn cãi nhau như trước; gặp việc cũng có thể bình tĩnh bàn bạc.

 1.4. Học Phật tu tâm là con đường lâu dài, như đi trên băng mỏng; phải bắt đầu từ những việc nhỏ trong đời sống hằng ngày

Chính Đài trưởng đã giúp đệ tử hiểu rằng hiện nay đệ tử vẫn đang ở giai đoạn hoàn trả nghiệp nợ khi tu học Pháp Môn Tâm Linh, chứ chưa thực sự đạt đến giai đoạn tu tâm. Con đường để tu thành chánh tri, chánh kiến, chánh quả vẫn còn rất xa. Tâm đệ tử vẫn chưa đạt đến cảnh giới “định”, định lực còn rất yếu. Lòng tham và tâm sân hận chỉ cần sơ suất một chút là có thể bộc phát.

Ví dụ như ngày 6 tháng 1 năm nay, ổ khóa cửa chống trộm của ba đơn nguyên trong khu chung cư chúng đệ tử bị ai đó nhét gỗ vào làm tắc lại. Những người ra ngoài muốn vào nhà phải gọi điện để người thân xuống mở cửa. đệ tử đi tìm thợ sửa khóa đến sửa cửa của đơn nguyên mình. Khi ấy, đệ tử lại không kiểm soát được tâm sân hận, ngay trước mặt người thợ sửa khóa mà buông lời nguyền rủa người đã nhét gỗ kia, nói rằng người đó sẽ bị báo ứng, tay sẽ bị tàn phế, v.v…

Kết quả, vì đệ tử buông lời nguyền rủa người khác nên cũng phải chịu sự trừng phạt tương ứng: sau khi sửa xong khóa, lúc đóng cửa đệ tử bị cánh cửa kẹp vào tay.

Sự việc này khiến đệ tử hiểu sâu sắc rằng quy luật cân bằng của vũ trụ là chân thật không hư giả, ai cũng phải chịu sự chi phối của nó. Nhân đây, đệ tử cũng muốn khuyên những ai thường tham chút lợi nhỏ, hoặc tâm tham, tâm si, tâm sân còn nặng, hãy mau mau sám hối và tu tâm! Hãy sửa đổi thói quen xấu, chỉnh sửa lỗi lầm và tội lỗi của mình. Nếu không, rất khó tránh khỏi sự trừng phạt của nhân quả và quy luật vũ trụ – chỉ là vấn đề sớm hay muộn mà thôi. Khi ấy, quý vị có thể sẽ mất đi rất nhiều, rất nhiều…

Con đường học Phật thật sự gian nan như đi trên băng mỏng. Phải luôn giữ gìn tâm mình, không để bị tham – sân – si chi phối; phải bỏ công phu ngay trong những việc nhỏ nhặt của đời sống hằng ngày.

Đệ tử nguyện kiên định không dao động, y theo lời dạy của Đài trưởng mà chân thật tu hành. Kính xin Đài trưởng và Quán Thế Âm Bồ Tát từ bi gia hộ, chứng tri và ghi nhớ tâm nguyện của đệ tử.

Cảm ân Quán Thế Âm Bồ Tát!

Cảm ân Đài trưởng!

Tín đồ Pháp Môn Tâm Linh; tại Trường Xuân, Trung Quốc; Châu Quốc Tài, Ngày 19 tháng 2 năm (中国长春心灵法门信众周国才2011 年 2 月 19 日)

Cảm tạ Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát!

Cảm tạ Đại Từ Đại Bi Đài trưởng cùng toàn thể nhân viên Đài Đông Phương!

Đệ tử sinh năm 1952, nguyên quán Chiết Giang. Thuở thiếu niên gia nhập Hải quân, sau khi chuyển ngành thì sinh sống tại Thanh Đảo cho đến nay.

Trong suốt một năm rưỡi qua, nhờ pháp môn do Đại Từ Đại Bi Đài Trưởng truyền dạy, đệ tử đã vượt qua rất nhiều cửa ải khó khăn. Từ những lần chuyên tâm học Phật mang lại các cảm ứng nhiệm mầu, đến những lúc ý chí không vững mà phải nếm trải quả khổ, rồi đến những điều Đài trưởng nhìn thấy khi xem đồ đằng – tất cả đều chứng thực sự huyền diệu của Pháp Môn Tâm Linh.

 2.1. Chỉ số chức năng gan tăng cao kéo dài – trong quá trình chạy chữa bệnh lần đầu biết đến Pháp Môn Tâm Linh

 Tháng 8 năm 2009, do chỉ số chức năng gan bất thường, đệ tử phải nhập viện điều trị. Trong quá trình điều trị, qua các kiểm tra siêu âm B, CT… phát hiện sỏi mật, nang ống mật, gan nhiễm mỡ và một loạt bệnh chứng khác. Đệ tử lần lượt điều trị tại Bệnh viện Nhân dân Thanh Đảo, Bệnh viện số 5 Thanh Đảo (chuyên khoa gan mật), Bệnh viện số 6 Thanh Đảo (chuyên khoa bệnh gan)…

Dù đã trải qua các phương pháp tán sỏi, điều trị bằng thuốc Đông y điều dưỡng… nhưng tình trạng vẫn không cải thiện, các chỉ số chức năng gan còn tăng vọt nhanh chóng. Đầu năm 2010 xuất hiện vàng da nghiêm trọng, ăn uống kém, cân nặng từ 85 kg giảm nhanh xuống còn 61 kg, sức khỏe ngày càng suy yếu.

Trong quá trình bôn ba tìm thầy chạy chữa, đệ tử có cơ duyên tiếp xúc với Pháp Môn Tâm Linh qua người thân gia đình. Dưới sự hướng dẫn của người thân, đệ tử bắt đầu làm công khóa hằng ngày.

Vì đã kiểm tra nhiều lần mà vẫn không tìm ra nguyên nhân chính gây rối loạn chức năng gan, nên bệnh được xem như chứng nan y. Đệ tử mỗi ngày niệm 27 biến Chú Đại Bi, cầu xin Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát gia hộ cho mình sớm được hồi phục.

 2.2. Chẩn đoán ung thư gan mật – cả gia đình dốc sức niệm kinh cầu hồi phục

 Tháng 3 năm 2010, đệ tử lần nữa nhập viện tại Bệnh viện Nhân dân Thanh Đảo, khoa ngoại, để điều trị tình trạng tắc ống mật. Trong quá trình xét nghiệm, phát hiện ung thư ống mật. Tin dữ ấy khiến cả gia đình như sét đánh ngang tai.

Theo phương pháp của Pháp Môn Tâm Linh, người mắc bệnh ung thư cần chuyên tâm niệm Chú Đại Bi, phát nguyện, phóng sinh và niệm Ngôi Nhà Nhỏ để siêu độ. Khi còn ở trong bệnh viện, đệ tử phát nguyện ăn chay vào ngày mồng một và ngày rằm, mỗi tháng phóng sinh một lần, đồng thời chuyên tâm niệm Chú Đại Bi. Vì ở bệnh viện không tiện niệm Tâm Kinh, nên phần Ngôi Nhà Nhỏ do người nhà thay đệ tử niệm, con gái giúp niệm Lễ Phật Đại Sám Hối Văn.

Ngày 10 tháng 3, trong ngày phẫu thuật, khi bác sĩ kiểm tra định kỳ thì phát hiện tim có vấn đề, nguy cơ gây mê rất cao. Trong suốt hơn ba giờ phẫu thuật, người thân và con gái liên tục niệm Chú Đại Bi cầu cho ca mổ được thuận lợi. Cuối cùng, đệ tử cũng bình an vượt qua ca phẫu thuật.

Tuy nhiên, do trước đó chưa biết là ung thư ống mật nên việc niệm kinh còn ít, khối u đã phát triển khá lớn, không chỉ ống mật xuất hiện nhiều đoạn tắc nghẽn mà gan cũng đã có dấu hiệu di căn. Bác sĩ chỉ có thể tiến hành phẫu thuật tạm thời nhằm giảm nhẹ triệu chứng, chứ không thể cắt bỏ hoàn toàn phần tổn thương.

 2.3. Sau khi xuất viện chuyên tâm tu Phật – giữa gian nan xuất hiện kỳ tích

 Ung thư ống mật vùng rốn gan được xem là một trong những loại ung thư nguy hiểm nhất, lại thêm đã có di căn sang gan. Theo lời bác sĩ, tuổi thọ của đệ tử có thể chỉ còn từ 3 đến 6 tháng.

Trong thời gian nằm viện, người thân và con gái vẫn kiên trì không gián đoạn niệm Ngôi Nhà Nhỏ để siêu độ cho đệ tử. Khi xuất viện, chỉ số chức năng gan của đệ tử gần như trở lại bình thường. Sau ca phẫu thuật giảm nhẹ mà chức năng gan có thể hồi phục như vậy, có thể nói là một kỳ tích không nhỏ.

Sau khi xuất viện ngày 10 tháng 6, đệ tử chuyên tâm tu học Phật pháp. Mỗi ngày niệm 3 biến Chú Đại Bi, 7 biến Tâm Kinh, 7 biến Lễ Phật Đại Sám Hối Văn; đồng thời chuyên niệm thêm 108 biến Chú Đại Bi mỗi ngày. Ngôi Nhà Nhỏ từ chỗ vài ngày một tờ, dần tăng lên mỗi ngày một tờ (những ngày mưa thì không niệm).

Trong quá trình ấy, mỗi dịp mồng một và các ngày lễ, đệ tử đều tự mình đi phóng sinh, nghiêm túc giữ lời nguyện ăn chay vào ngày mồng một và ngày rằm.

Tình trạng sức khỏe dần dần cải thiện. Cân nặng từ 61 kg tăng lên 79,5 kg. Đối với bệnh nhân ung thư gan mật, việc tăng cân đã khó, mà tăng được nhiều như vậy lại càng là điều đáng mừng.

Mỗi lần tái khám tại bệnh viện, bác sĩ đều rất ngạc nhiên, nói sắc mặt của đệ tử khá tốt. Đệ tử đã vượt xa thời hạn sinh tồn mà bác sĩ từng dự đoán. Qua các kiểm tra như CT…, khối u cũng không lan rộng nhanh như nhận định ban đầu. Một lần nữa, điều đáng mừng lại xuất hiện.

 2.4. Tâm có phần giải đãi, lại gặp bệnh khó chữa

Có lẽ vì qua nhiều lần kiểm tra thấy bệnh ung thư được khống chế khá tốt, trong tâm đệ tử dần sinh ra sự giải đãi. Tuy mỗi ngày vẫn làm công khóa, nhưng không cầu thâm nhập, chỉ dừng lại ở tâm niệm “bảo làm thì làm”, chứ chưa thật sự nghiên cứu Pháp Môn Tâm Linh một cách chân thành từ tận đáy lòng.

Bắt đầu từ tháng 11 năm 2010, đệ tử xuất hiện triệu chứng đầy bụng, khó tiêu. Nhưng khi ấy đệ tử không đủ chú ý đến hiện tượng này. Đến đầu năm 2011, tình trạng ngày càng nghiêm trọng, ăn uống khó khăn, cân nặng nhanh chóng giảm xuống còn 57 kg. Qua nội soi dạ dày phát hiện môn vị bị phù nề và hẹp lại. Sau hơn 20 ngày nhập viện điều trị kháng viêm vẫn không thuyên giảm, hiện đang chuẩn bị tiến hành phẫu thuật.

Bác sĩ nói rằng, trường hợp môn vị phù nề và hẹp thông thường chỉ cần điều trị kháng viêm là có thể khỏi. Nhưng tình trạng của đệ tử tương đối hiếm gặp, hơn nữa chỗ hẹp lại gần tá tràng, không thể đặt stent qua nội soi dạ dày, chỉ có thể tiến hành phẫu thuật ngoại khoa để chuyển hướng ruột.

Đây lại là một chứng bệnh hiếm gặp nữa. Đệ tử nghĩ rằng có lẽ do tâm lễ Phật của mình có phần giải đãi mà chiêu cảm nên.

2.5. Cảm ân Đài trưởng chỉ đường – lập chí hoằng truyền Pháp môn

 Bác sĩ cho biết, do vị trí hẹp khá đặc biệt, cho dù phẫu thuật cũng khó đảm bảo tỷ lệ thành công. Đệ tử hiểu rằng, nếu tình trạng không thể ăn uống tiếp tục kéo dài, sức đề kháng sẽ suy giảm nghiêm trọng, bệnh ung thư sẽ càng khó khống chế.

Ngay khi cả gia đình gần như tuyệt vọng, nhờ sự giúp đỡ của chư vị đại đức tại Đài Đông Phương, đệ tử vô cùng may mắn được liên lạc với Đài trưởng đại từ đại bi.

Đài trưởng xem đồ đằng cho đệ tử.

Trên đồ đằng hiện ra hình ảnh một chiếc tàu ngầm mà toàn bộ người trên đó đều đã qua đời. Điều này khiến đệ tử nhớ lại thời quân ngũ, bản thân từng tham quan một chiếc tàu ngầm gặp nạn, ký ức ấy đến nay vẫn còn in sâu trong tâm trí.

Đài trưởng còn nói có một linh tính nhất định muốn dẫn đệ tử đi. Điều này khiến đệ tử nghĩ đến người vợ đã qua đời vì tai nạn xe cộ. Khi đệ tử lâm bệnh, bà ấy mất chưa đầy ba năm.

Ngoài ra, Đài trưởng đặc biệt nói rằng Bồ Tát đã từng cứu đệ tử rồi. Điều này lại khiến đệ tử nhớ đến sau ca phẫu thuật, thân thể quả thật có chuyển biến tốt, cân nặng dần hồi phục.

Đệ tử hoàn toàn tâm phục khẩu phục.

Bởi vì bất luận là những trải nghiệm cá nhân trong quá khứ hay tình trạng hồi phục sau khi mắc bệnh, đệ tử chưa từng nói với Đài trưởng dù chỉ một lời. Như vậy đủ để chứng minh sự huyền diệu của Pháp Môn Tâm Linh.

Đồng thời, Đài trưởng cũng chỉ ra những thiếu sót trong công khóa của đệ tử: phóng sinh chưa đủ, tâm lễ Phật chưa đủ thành kính, chưa tích cực hoằng truyền Pháp môn để lợi ích cho người khác như chính bản thân mình đã được lợi ích.

Những lời chỉ dạy ấy khiến đệ tử càng thêm kiên định tín tâm lễ Phật, đồng thời hiểu rõ phương hướng nỗ lực trong tương lai.

Từ khi phát bệnh cho đến nay, số Ngôi Nhà Nhỏ do chính đệ tử tự niệm đã vượt quá 130 tờ; số do người nhà trợ niệm càng vượt hơn 700 tờ. Nhưng đệ tử hiểu rõ rằng, vì khi còn trẻ làm hải quân đã ăn quá nhiều hải sản còn sống, hơn nữa trên đồ đằng cho thấy nghiệp chướng của đệ tử vẫn còn rất nặng, nên những gì đã làm vẫn còn xa mới đủ.

Hôm nay, đệ tử ghi lại từng bước trải nghiệm kể từ ngày biết mình mắc bệnh ung thư, hy vọng có thể mang lại sự khích lệ và thức tỉnh cho nhiều người hơn nữa. Có thể nói, trong hơn một năm qua, chính Pháp Môn Tâm Linh đã đồng hành cùng đệ tử vượt qua hết cửa ải này đến cửa ải khác, giúp đệ tử trở thành một “kỳ tích” không nhỏ trong y học.

Tri ân sự chỉ dẫn của Đài trưởng, cảm ân Đài trưởng đã mang đến cho đệ tử một pháp môn nhiệm mầu như vậy, khiến đệ tử không còn sợ hãi lo âu, mà đối với tương lai tràn đầy hy vọng.

Đệ tử thành tâm khẩn cầu Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn gia hộ cho đệ tử có thể một lần nữa vượt qua cửa ải này, để có thêm thời gian dùng chính trải nghiệm chân thật của mình mà trợ giúp Đài trưởng hoằng pháp cứu người!

Đồng tu Trần – Thanh Đảo; Ngày 1 tháng 4 năm 2011
(青岛陈同修 2011 年 4 月 1 日)

Kính bạch Đài trưởng, kính thưa quý vị khách quý và các đồng tu, xin chào tất cả quý vị!

Trước hết, đệ tử xin cảm tạ Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi và Đài trưởng đã cứu chữa, để hôm nay đệ tử có thể đứng tại đây chia sẻ.

Trong gia tộc của đệ tử, rất nhiều người đã qua đời vì ung thư. đệ tử mang gen di truyền có nguy cơ gây ung thư. Tháng 3 năm 2009, khi đó đệ tử 79 tuổi. Đài trưởng nhìn ra đệ tử có bệnh ung thư gan, và giảng giải rằng bệnh có hai loại: một là bệnh sinh lý, hai là bệnh do linh tính. Ung thư ác tính đều thuộc về bệnh do linh tính.

Nhờ đó đệ tử hiểu rằng khi tuổi già, chức năng miễn dịch suy giảm, nghiệp chướng nhiều đời nhiều kiếp sẽ chuyển hóa thành linh tính, khiến gen gây ung thư trong gan của đệ tử bị kích hoạt, làm cho tế bào gan tốt biến thành tế bào ung thư.

Ngày 6 tháng 3, siêu âm phát hiện 3 nốt ung thư gan.

Đài trưởng nói có thể giúp đệ tử, nhưng bản thân đệ tử cũng phải niệm kinh. Thế nhưng đệ tử nghĩ rằng chỉ cần niệm kinh và uống thuốc là có thể giải quyết, nên đã không làm phiền Đài trưởng. Thực ra đó là vì quá tự tin, chưa hiểu hết tầm quan trọng của sự gia trì và trợ giúp.

Ngày 6 tháng 4, siêu âm kiểm tra, các nốt ung thư giữ nguyên kích thước.

Ngày 21 tháng 5, chụp cộng hưởng từ cho thấy chỉ còn lại một nốt ung thư nhỏ lại, các nốt khác nghi là u nang.

Đệ tử bắt đầu mù quáng lạc quan. Đài trưởng nhìn ra đệ tử sẽ không chuyên tâm niệm kinh, và chỉ rõ sau này bệnh sẽ tái phát.

Sau các lần siêu âm vào tháng 9 và tháng 11, một vị bác sĩ quyết định hẹn một năm sau tái khám.

Ngày 24 tháng 5 năm 2010, bác sĩ Đường tại Phòng khám Khang Bình cho rằng không thể đợi đến một năm mới kiểm tra, yêu cầu siêu âm ngay. Kết quả phát hiện lại ba nốt ung thư gan, nốt lớn nhất có kích thước 2,2 × 2,9 × 2,4 cm.

Sự xem nhẹ của đệ tử quả đúng như lời Đài trưởng đã nói trước. Chức năng gan suy giảm nghiêm trọng. Đầu tháng 6 năm 2010 xuất hiện vàng da. Ngày 10 tháng 6, sau khi bác sĩ Thiệu tại chuyên khoa Phòng khám Khang Bình kiểm tra, tháng 11 đã viết giấy giới thiệu yêu cầu đệ tử lập tức nhập viện điều trị tại Bệnh viện St George.

Sự chuyển biến ác tính đột ngột này buộc đệ tử phải cầu cứu Đài trưởng.

Sau đó xảy ra hai sự việc kỳ lạ

Việc đầu tiên vào ngày 12 tháng 6, Đài trưởng xem đồ đằng và nói:  “Ông vẫn còn đang làm business, còn muốn kiếm tiền sao?”

Đệ tử đáp: “Dạ đúng vậy. Đó là việc mới phát sinh mà ngay cả vợ đệ tử cũng không biết. Ngày 7 tháng 5, có một phụ nữ không biết tiếng Nga muốn triển khai một hoạt động kinh doanh bán hàng qua mạng sang Nga. Nhưng việc này đã bị Đài trưởng nhìn ra.”

Đài trưởng nói: “Bồ Tát việc gì cũng nhìn thấy. Ông không thể giấu được Bồ Tát. Ở tuổi này rồi, đừng nghĩ đến chuyện kiếm tiền nữa. Hãy an tâm dưỡng lão, đem hết khả năng tài lực mà phóng sinh, tiêu tai kéo dài thọ mạng.”

Sự việc kỳ lạ thứ hai: Về chuyện nhập viện, đệ tử thưa rằng nếu đệ tử nằm viện, tinh thần và sinh hoạt của vợ đệ tử sẽ bị ảnh hưởng rất lớn. Đài trưởng trầm ngâm một lát rồi nói: “Vậy thì hoãn lại nửa tháng.”

Sau khi rời đài phát thanh về đến nhà, đệ tử gọi điện cho Phòng khám Khang Bình để hẹn bác sĩ Thiệu vào ngày 17 tháng 6. Nhưng được trả lời rằng bác sĩ Thiệu chỉ hai tuần mới đến khám một lần, nên chỉ có thể hẹn vào ngày 24 tháng 6.

Vừa đúng là chậm lại hai tuần, như lời Đài trưởng đã nói.

Trong khoảng thời gian này, đệ tử bắt đầu thật sự nghiêm túc niệm kinh. Vì Đài trưởng dặn: “Ông phải phát đại nguyện.” đệ tử thưa rằng sẽ niệm kinh, ăn chay, phóng sinh. Đài trưởng nói: “Đại nguyện là phải đem trải nghiệm chữa khỏi bệnh của mình kể cho nhiều người nghe.”

Thế là đệ tử chuyên tâm niệm kinh mỗi ngày: 7 biến Lễ Phật Đại Sám Hối Văn, 49 biến Chú Đại Bi, 7 biến Tâm Kinh, 21 biến Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú. Đồng thời ăn chay và phóng sinh.

Quả thật dưới sự gia hộ của Quán Thế Âm Bồ Tát, chức năng gan dần dần hồi phục, sắc vàng trên người nhanh chóng tan biến. Các tế bào ung thư vốn tăng sinh rất nhanh dần dần chuyển hóa tốt hơn.

Điều này tuyệt đối không phải là điều thuốc men có thể làm được trong một thời gian ngắn như vậy.

Ngày 24 tháng 6, khi bác sĩ Thiệu nhìn sắc mặt của đệ tử, ông cho rằng không cần nhập viện điều trị nữa.

Thật là kỳ diệu!

Tối ngày 12 tháng 6, đệ tử nằm mơ thấy mình ngồi bên bàn. Trên bàn có một chồng giấy rất lớn, không rõ là ai. Có người dùng tay đẩy chồng giấy về phía đệ tử và nói:

“Hãy viết lại câu chuyện của ông.”

Ngày 13 tháng 6, Chủ nhật, con trai đưa đệ tử đi phóng sinh hai con cá lớn.

Ngày 14 tháng 6, chủ phòng khám nơi đệ tử làm việc gọi điện nói:

“Tối qua tôi mơ thấy ông khỏi bệnh và trở lại làm việc. Nhìn kỹ ông, sắc vàng trên mặt đã hoàn toàn biến mất.”

Tối 14 tháng 6, con trai đến thăm đệ tử, cũng nói rằng đêm trước mơ thấy mặt đệ tử một nửa còn vàng, nửa kia đã trắng hồng. Nhìn lại thì tròng mắt cũng không còn vàng nữa.

Rạng sáng ngày 15 tháng 6, khi tỉnh dậy, đệ tử cảm thấy một luồng thanh khí từ trên xuống thẳng vào dạ dày, toàn thân vô cùng thư thái.

Tất cả những việc này đều xảy ra sau khi Đài trưởng nói rằng Bồ Tát sẽ giúp đệ tử.

Trước đây, đệ tử niệm kinh không chuyên tâm. Chương trình phát thanh và blog cũng không thường xuyên nghe và đọc.

Hiện nay đệ tử đã nghiêm túc hơn, mỗi ngày niệm kinh không gián đoạn. Nếu một hôm không kịp niệm đủ, ngày hôm sau nhất định bù lại cho đủ.

Ngoài ra, mỗi ngày một tờ Ngôi Nhà Nhỏ, tuyệt đối không thiếu nợ.

Chủ nhật ngày 20, sau khi phóng sinh, đứng bên bờ sông phát nguyện với Quán Thế Âm Bồ Tát, tai trái đệ tử vang lên âm thanh “đối cách” bằng giọng Thượng Hải.

Sau đó nhiều lần đệ tử mơ thấy Đài trưởng: Có lần trong một lớp học, Đài trưởng bưng một bát cơm gạo lứt đưa đệ tử nếm thử. đệ tử lấy vài hạt nếm rồi nói: “Rất thô.” Có lần đến nhà Đài trưởng. Khi bước vào cửa, Đài trưởng đang dạy trẻ nhỏ học bài. Ngài đứng dậy đón đệ tử, đệ tử nói điều gì đó. Bên phòng kế bên, tiếng truyền hình phát trận bóng đá Đức – Argentina vang lên làm đệ tử tỉnh giấc. Lại có một lần, phòng ngủ của đệ tử tràn ngập mùi đàn hương. Vợ đệ tử nói: “Thơm quá!” đệ tử biết rằng Quán Thế Âm Bồ Tát đã đến cứu đệ tử.

Ngày 18 tháng 11, trong mộng có tiếng nói rằng có thể đổi Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú sang 108 biến Chuẩn Đề Thần Chú.

Từ ngày 19 tháng 11, đệ tử đã điều chỉnh công khóa theo như vậy.

Dưới sự gia trì của Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi và Đài trưởng, bệnh tình của đệ tử nhanh chóng chuyển biến tốt.

Kết quả kiểm tra y học như sau:

Ngày 24 tháng 5 năm 2010, siêu âm phát hiện 3 nốt ung thư, nốt lớn nhất 2,2 × 2,9 × 2,4 cm.

Ngày 22 tháng 6, chụp cộng hưởng từ chỉ còn 2 nốt, đều dưới 1 cm.

Ngày 8 tháng 7, chụp CT chỉ còn 1 nốt, đường kính 1,2 cm.

Ngày 10 tháng 12 chụp CT, chỉ còn một nốt 1,0 cm, chưa xác định là lành tính hay ác tính.

Chỉ số xét nghiệm: Ngày 11 tháng 6 năm 2010, AFP (alpha-fetoprotein) = 169 (bình thường 0–8)

Ngày 30 tháng 7: 52

Ngày 29 tháng 9: 10

Ngày 29 tháng 9, HBV-DNA (axit nucleic virus viêm gan B) ≤ 2.00E+1

Ngày 23 tháng 12, HBV-DNA ≤ 2.00E+1

Báo chí đưa tin ông Tư Đồ Hoa (Szeto Wah) tại Hồng Kông, sau hơn một năm chống chọi với ung thư tại Bệnh viện Prince of Wales ở Sa Điền, cuối cùng đã qua đời ngày 2 tháng 1 năm 2011, hưởng thọ 79 tuổi.

Không phải vì nguyên nhân nào khác, mà vì tế bào ung thư tăng sinh quá nhanh, sức tàn phá quá mạnh. Dù bác sĩ hàng đầu và thiết bị tiên tiến nhất cũng không thể cứu chữa.

Đệ tử mắc bệnh năm 2009, chuyển biến nặng vào tháng 6 năm 2010, nhưng chỉ trong nửa năm đã hoàn toàn hồi phục. Chính nhờ pháp lực vô biên của Quán Thế Âm Bồ Tát và sự gia trì của Đài trưởng mà ung thư được chuyển hóa, mạng sống của đệ tử được cứu vớt.

Đài trưởng là thầy của đệ tử, là ân nhân cứu mạng của đệ tử. Một ngày làm thầy, trọn đời là ánh đèn soi đường. Ơn nhỏ như giọt nước, xin nguyện báo đáp như suối nguồn. đệ tử nguyện đem câu chuyện của mình chia sẻ với càng nhiều người càng tốt.

Hôm qua (ngày 7 tháng 1), đệ tử đã viết thư cho ông Lý tại Hồng Kông, nói rằng:

  1. Đài trưởng sẽ đến Hồng Kông vào tháng 4 năm nay để diễn giảng và giải đáp thắc mắc.
  2. Đài trưởng không phải bác sĩ nhưng hơn cả bác sĩ.
  3. Đài trưởng là bậc cao nhân có thể giúp trị bệnh đã phát và cả bệnh chưa phát. đệ tử khuyên ông Lý nên tham dự buổi diễn giảng. Bởi vì những người giống như ông Tư Đồ – chịu áp lực tinh thần lớn – tại Hồng Kông có rất nhiều. Họ dễ mắc bệnh do linh tính, và chỉ khi cầu Đài trưởng mới có thể được cứu độ.

Lưu tiên sinh; Ngày 16 tháng 1 năm 2011; Buổi giải đáp tại Hurstville (

Hiện nay, nơi Lưu tiên sinh trước đây từng có rất nhiều khối u và tế bào ung thư, nay hoàn toàn không còn tìm thấy một dấu vết nào. Không những vậy, ngay cả virus gây ung thư cũng đã không còn tồn tại.

Dưới đây là báo cáo y khoa do bệnh viện cấp cho ông Lưu tiên sinh, một lần nữa chứng minh sự thù thắng nhiệm mầu của Pháp Môn Tâm Linh. ( Ảnh minh hoạ)

Kính lạy Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi!

Kính lạy Đài trưởng Lư Quân Hoành đại từ đại bi!

Kính thưa chư vị đồng tu!

Đệ tử xin tri ân Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn, linh cảm rộng lớn; tri ân Đài trưởng Lư Quân Hoành đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn!

Đệ tử đến từ Trường Xuân, năm nay 74 tuổi. Bạn đời của đệ tử đã qua đời cách đây vài năm. Đệ tử và người con gái mắc bệnh tâm thần phân liệt suốt 23 năm nay nương tựa vào nhau mà sống.

Hôm nay, đệ tử đưa con gái đến Hồng Kông tham dự pháp hội của Đài trưởng. Đệ tử mong được mọi người tận mắt chứng kiến và làm chứng:

Sau khi đệ tử học theo pháp môn của Đài trưởng, chuyên tâm niệm Ngôi Nhà Nhỏ, căn bệnh tâm thần phân liệt kéo dài 23 năm của con gái đệ tử đã hoàn toàn khỏi hẳn.

Chính nhờ Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi, chính nhờ Đài trưởng Lư Quân Hoành đại từ đại bi đã cứu cả gia đình đệ tử, cứu con gái đệ tử.

Đệ tử xin thành tâm cảm tạ Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn!

Đệ tử xin thành tâm cảm tạ Đài trưởng Lư Quân Hoành đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn!

Con gái của đệ tử tên là Mã Tinh.

Năm 1988, khi còn hai tháng nữa là tốt nghiệp trung học, một ngày trên đường tan học về nhà, cháu bị chặn đường cướp cặp sách, chịu cú sốc tinh thần rất lớn. Về đến nhà thì vừa khóc vừa la, ôm đầu nói: “Não của con bị người ta giật mất rồi.” Đầu đau đến mức đập vào tường.

Sau khi tốt nghiệp trung học, cháu không thể thi lên cấp ba. Ở nhà suốt ngày tinh thần hoảng loạn, đêm khuya thường bỏ chạy ra ngoài, chạy vào rừng tối đen không thấy bàn tay trước mặt. Có lần cảnh sát tuần tra phát hiện rồi đưa về.

Bệnh tình ngày một nặng hơn. Ban ngày cháu đứng trước cửa sổ, tay không ngừng múa máy, miệng lẩm bẩm không rõ nói gì. Đồ đạc trong nhà muốn vứt là vứt, muốn đập là đập. Ban đêm thức trắng không ngủ.

Đệ tử đưa cháu đến Bệnh viện Đại học Y khoa số 1 tại Trường Xuân khám bệnh. Kết quả chẩn đoán là tâm thần phân liệt, có bác sĩ nói là chứng hysteria. Từ đó đệ tử tìm đủ mọi cách: tìm thầy thuốc dân gian, đông y, tây y… điều trị một thời gian nhưng hoàn toàn không có hiệu quả.

Có người khuyên nên đến chùa quy y Phật môn. Năm 1992, tại một ngôi chùa ở Trường Xuân, đệ tử và con gái làm lễ Tam Quy. Từ đó lễ Phật, niệm Phật, cầu xin chư Phật Bồ Tát gia hộ. Mỗi ngày mùng Một và ngày Rằm, đệ tử đều dẫn cháu đến chùa tham dự pháp hội, viết sớ siêu độ, lập bài vị, cúng dường vong linh.

Tháng 6 năm 2002, chồng của đệ tử bệnh nặng. Đệ tử vừa chăm sóc chồng, vừa chăm sóc Mã Tinh. Có một vị Phật hữu thấy đệ tử một mình quá vất vả, không thể quán xuyến nổi, nên giới thiệu hai mẹ con đến một viện an dưỡng tại huyện Huy Nam.

Tháng 10 năm 2002, cha của Mã Tinh qua đời.

Các cư sĩ và lãnh đạo tại đó rất quan tâm chăm sóc hai mẹ con, giúp đệ tử trông nom con gái. Vì sợ cháu bỏ chạy ra ngoài nên phải dùng dây buộc tay chân, thay phiên nhau trông giữ cả ngày lẫn đêm.

Đệ tử ở đó suốt sáu năm liền, không dám về nhà. Một mình đệ tử không thể chăm sóc nổi, một bước cũng không dám rời mắt.

Tết năm 2007, đệ tử nghĩ rằng nên đưa con gái về Trường Xuân ăn Tết tại nhà. Ngày 26 tháng Chạp về đến nhà, thì ngày 27 đã bắt đầu đập phá. Đệ tử biết năm đó không thể ăn Tết ở nhà được, nên ngày 28 tháng Chạp lại đưa cháu đến Viện an dưỡng Quảng Thiện tại Trường Xuân để đón Tết.

Sau Tết, một đoàn từ Cáp Nhĩ Tân đến tổ chức pháp hội Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm tại Viện an dưỡng Quảng Thiện. Mọi người đều bận rộn viết sớ, chỉ sơ ý một chút, cháu lại bỏ đi. Cháu đi đến khu vực gần nhà máy ô tô, may mà em gái của tổng giám đốc Ninh tại Viện an dưỡng Quảng Thiện nhận ra, bắt taxi đưa cháu trở lại. Nếu không thì đã lạc mất rồi.

Ngày 28 tháng 3 năm 2008, lúc 3 giờ 30 chiều, tại Viện an dưỡng Cực Lạc ở trấn Triều Dương, huyện Huy Nam, chỉ sơ ý một chút, con gái đệ tử lại bỏ đi. Cháu đi xa hơn một trăm dặm, đến ngày thứ năm mới tìm được.

Tháng 7 năm 2008, Mã Tinh nhất quyết đòi về nhà, không ăn uống, tuyệt thực, nói: “Về nhà, mẹ phải chữa bệnh cho con.”

Ngày 30 tháng 8, hai mẹ con trở về nhà tại Trường Xuân. Ngày mùng Một tháng Sáu âm lịch năm 2010, đệ tử dẫn con đến đạo tràng họ Dương làm lễ Tam Quy và pháp hội siêu độ cho linh tính. Sau khi pháp hội kết thúc, một vị cư sĩ ở Cát Lâm hỏi trụ trì đạo tràng: “Ở đây còn ‘Ngôi Nhà Nhỏ’ không?” Vị trụ trì nói: “Để tôi tìm xem.” Rồi tìm được hai tờ Ngôi Nhà Nhỏ. Chính lúc đó, lần đầu tiên đệ tử nhìn thấy Ngôi Nhà Nhỏ.

Từ đạo tràng bước ra, đệ tử đi đến Hòa Bình Đại Thế Giới khắc đĩa. Nhìn thấy một phụ nữ cũng đang khắc đĩa ở đó. Đệ tử nghĩ thầm: “Người này tướng mạo xinh đẹp như vậy, chắc đời trước đã từng dâng hoa trước Phật.” Vừa hay bà ấy đang nói chuyện về Ngôi Nhà Nhỏ. Đệ tử liền hỏi: “Niệm ‘Ngôi Nhà Nhỏ’ là thế nào?”

Bà ấy nói: “Nhìn con gái bác là bệnh vong linh điển hình.” Khi ấy đệ tử không hiểu, hỏi lại: “Bệnh vong linh là gì?” Bà ấy nói: “Là bị vong linh nhập.” Bà nói tiếp: “Chỉ có niệm ‘Ngôi Nhà Nhỏ’ mới là phương pháp duy nhất có thể chữa khỏi bệnh cho con gái bác.” Nghe bà ấy nói chắc chắn như vậy, đệ tử liền nói: “‘Ngôi Nhà Nhỏ’ thì tôi có thể niệm được.” Bà ấy nói: “Nếu bác thật sự muốn niệm, muốn con gái khỏi bệnh, thì một hai câu tôi nói không hết. Tôi cho bác số điện thoại. Nếu bác đến tìm tôi, con gái bác thật sự còn có hy vọng cứu được.” Vừa chia tay người ấy, trên đường về Mã Tinh lại nổi cơn làm loạn. Đệ tử rất vất vả mới đưa được cháu về nhà.

Về đến nhà, đệ tử nghĩ: “Người này mình không quen không biết, mà nói chắc chắn như vậy. Nhất định phải thử xem.” Ngày hôm sau, đệ tử đến nhà vị cư sĩ ấy. Bà đã tỉ mỉ giới thiệu Pháp Môn Tâm Linh, chỉ dẫn cách niệm Ngôi Nhà Nhỏ. Khi ra về, đệ tử mang theo sách, đĩa và Ngôi Nhà Nhỏ.

Ngày hôm sau, đệ tử liền phát nguyện điền 108 tờ Ngôi Nhà Nhỏ, bắt đầu niệm cho các vị “oan gia trái chủ” của Mã Tinh. Niệm được nửa tháng, hiệu quả chưa rõ rệt, Mã Tinh vẫn nổi nóng, đập phá đồ đạc. Đệ tử gọi điện cho vị cư sĩ kia, bà nói: “Phải gọi hồn cho Mã Tinh, cầu Bồ Tát và giao tiếp với vong linh trên người cháu, khuyên họ rời khỏi thân thể Mã Tinh, đi đến nơi tốt hơn.” Đệ tử làm theo lời chỉ dẫn, hiệu quả lập tức khác hẳn, mỗi ngày một chuyển biến.

Trước khi quen vị cư sĩ ấy vài ngày, đệ tử từng dẫn Mã Tinh đến nhà một vị cư sĩ chuyên xem bệnh ngoại khoa. Khi đó, linh tính trên người Mã Tinh nhập vào người kia và nói mình là cô ruột của Mã Tinh – tên là Mã Tiểu Thúy (nghe người trong gia đình kể là đã mất từ khi còn nhỏ). Khi ấy đệ tử không hiểu, cũng không nói với vị cư sĩ kia. Sau này bà biết chuyện, liền bảo đệ tử lập tức điền 21 tờ Ngôi Nhà Nhỏ, kính tặng: “Cô của Mã Tinh – Mã Tiểu Thúy”. Bà nói: “Ghi rõ tên vong linh, một đối một trả nợ, hiệu quả sẽ tốt hơn.” Lần này, sau khi đốt xong Ngôi Nhà Nhỏ, sự chuyển biến của Mã Tinh đặc biệt rõ ràng.

Trước đây mỗi ngày phải uống ba viên thuốc, nay giảm còn hai viên; ban ngày không cần uống thuốc nữa, chỉ uống hai viên trước khi ngủ. Tâm trạng vui vẻ hơn, tinh thần tốt hơn, mỗi ngày còn cười nói, ca hát. Công khóa mỗi ngày của đệ tử không gián đoạn: 7 biến Chú Đại Bi, 7 biến Lễ Phật Đại Sám Hối Văn, 7 biến Tâm Kinh, 21 biến Chuẩn Đề Thần Chú, 21 biến Giải Kết Chú, 21 biến Vãng Sinh Tịnh Độ Thần Chú.

Sau đó tiếp tục niệm cho con gái: 7 biến Lễ Phật Đại Sám Hối Văn, 7 biến Tâm Kinh, 7 biến Chú Đại Bi, 21 biến Giải Kết Chú.

Thời gian sau bữa ăn thì niệm Ngôi Nhà Nhỏ. Từ tháng 6 năm 2010 đến nay, đệ tử đã niệm tổng cộng 433 tờ Ngôi Nhà Nhỏ cho Mã Tinh.

Nhờ Ngôi Nhà Nhỏ, con gái vui vẻ hơn, không còn nổi giận, ra đường biết nắm tay đệ tử sợ đệ tử té ngã, còn biết giúp cầm đồ. Biết tiêu tiền, biết mua đồ, biết xới cơm cho đệ tử, biết nhường chỗ ngồi.

Những điều này suốt 23 năm qua chưa từng xảy ra.

Nhìn con gái từng ngày hồi phục, đệ tử càng thêm niềm tin vào Ngôi Nhà Nhỏ. Ngôi Nhà Nhỏ thật sự linh nghiệm, Pháp Môn Tâm Linh quá tốt đẹp. Đệ tử nguyện không ngừng niệm, niệm cho đến khi tim ngừng đập, không thể niệm được nữa mới thôi.

Từ đó, đệ tử chấm dứt 23 năm có nhà mà không dám về, bắt đầu sống cuộc sống bình thường như bao người khác.

Chính Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn đã cứu con gái đệ tử.

Chính Đài trưởng Lư Quân Hoành đại từ đại bi đã cứu cả gia đình đệ tử.

Năm 2011, đệ tử sẽ tiếp tục phóng sinh, và phát nguyện khi có cơ duyên thích hợp sẽ trở lại Viện an dưỡng Cực Lạc tại trấn Triều Dương, huyện Huy Nam. Vì nơi đó biết rõ tình trạng Mã Tinh trước đây, đệ tử sẽ cho họ thấy Mã Tinh hiện nay, và giới thiệu Pháp Môn của Đài trưởng đến đó, cứu giúp những bệnh nhân tại viện (nơi đó có hơn mười người mắc bệnh tâm thần), để họ sớm lìa khổ được vui, sớm ngày hồi phục.

Đệ tử đi đến đâu, sẽ mang theo Pháp Môn Tâm Linh đến đó, cứu độ nhiều chúng sinh hữu duyên hơn nữa.

Tết Nguyên đán năm 2011 là cái Tết vui nhất trong hơn hai mươi năm qua của đệ tử.

Đêm Giao thừa, con dâu đến đón hai mẹ con sang nhà con trai để đón một cái Tết đoàn viên. Con gái đệ tử cũng rất vui, còn nói: “Xem chị dâu con khéo quán xuyến gia đình chưa, nhà cửa gọn gàng biết bao, thứ gì cũng đầy đủ.”

Nhìn con gái như một người bình thường, tảng đá lớn treo lơ lửng trong lòng đệ tử suốt 23 năm qua cuối cùng cũng rơi xuống. Tâm đệ tử từ đó mới thật sự an ổn. Hiện nay đệ tử không đi đâu nữa, ở nhà chuyên tâm tu học Pháp Môn Tâm Linh, niệm kinh, niệm Ngôi Nhà Nhỏ.

Trên đây là toàn bộ trải nghiệm chân thật của đệ tử. Một người mắc bệnh tâm thần suốt 23 năm nay đã khỏi hẳn. Đây chính là quá trình đệ tử học Pháp Môn Tâm Linh và niệm Ngôi Nhà Nhỏ. Nay chia sẻ cùng mọi người, hy vọng có thể khơi dậy niềm tin nơi các bậc cha mẹ có con em mắc bệnh tương tự.

Xin mọi người hãy kiên định niềm tin, đừng từ bỏ, đừng lo buồn, đừng mê man, cũng đừng bất lực — bởi vì chúng ta có Đài trưởng Lư Quân Hoành cứu mạng!

Chỉ cần theo Đài trưởng tinh tấn tu hành, dù gặp chuyện gì, Quán Thế Âm Bồ Tát và Đài trưởng Lư Quân Hoành đều có thể cứu giúp chúng ta.

Đệ tử xin cảm ân Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn.

Đệ tử xin cảm ân Đài trưởng Lư Quân Hoành đại từ đại bi.

Đệ tử cũng cảm ân vị cư sĩ Hạ đã dẫn dắt đệ tử bước vào pháp môn này.

Đồng thời cảm ân các đồng tu và những người hảo tâm đã giúp đỡ đệ tử suốt hơn hai mươi năm qua.

Quán Âm diệu pháp thật nhiệm mầu,
Ngàn khổ muôn sầu đều dứt mau.
Ngôi Nhà Nhỏ nếu chuyên tâm niệm,
Linh tính siêu rồi bệnh cũng tiêu.
Đường quanh lối rẽ từng lạc bước,
Chỉ vì chưa gặp diệu phương này.
Diệu phương Bồ Tát thật đúng bệnh,
Chẳng cần khắp chốn kiếm thuốc thầy.
Ngôi Nhà Nhỏ chính là lương dược,
Chân tâm, tín nguyện chẳng thể thiếu.
Nghiệp chướng tiêu trừ lòng hoan hỷ,
Bồ Tát gia trì hướng Tây phương.

Pháp hội Giải đáp tại Hồng Kông; Ngày 9 tháng 4 năm 2011
(香港解答会2011 年 4 月 9 日)

Kính bạch Đài trưởng Lư Quân Hoành và các sư huynh thư ký Đông Phương Đài:

Đệ tử chính là cư dân mạng SUSAN mà Đài trưởng đã nhiều lần nhắc đến trong chương trình phát thanh – người kết hôn bảy năm, sau bốn tháng niệm kinh thì mang thai.

Tại buổi giải đáp ngày 16 tháng 1 năm 2011, khi Đài trưởng tiếp khí với Quán Thế Âm Bồ Tát, Bồ Tát đã nói với Đài trưởng hai chữ: “Phát tâm.”

Trong thời gian đệ tử niệm kinh, có rất nhiều cảm ứng xảy ra, cuộc sống của đệ tử và gia đình ngày càng tốt hơn. Đệ tử tin rằng tất cả đều liên quan mật thiết đến việc phát tâm chân thành tu tâm niệm kinh.

Cuối tháng 7 năm 2010, đệ tử có duyên tiếp xúc với Pháp Môn Tâm Linh.

Lúc đó cô ruột của đệ tử bệnh nguy kịch. Đệ tử đăng lời cầu cứu trong một nhóm Đông y, một cư dân mạng tên “Tùng Tùng Lưu Thủy” đã giới thiệu Pháp Môn Tâm Linh cho đệ tử.

Vì từ khi hơn mười tuổi, đệ tử đã theo mẹ quy y, trong nhà có thờ Phật, nên lập tức sinh tâm hoan hỷ với pháp môn này.

Trước đó đệ tử không niệm kinh, cũng không biết niệm. Nhưng sau khi đọc blog của Đài trưởng, chỉ trong ba ngày đệ tử đã tìm được trên mạng và học thuộc bốn loại kinh văn trên Ngôi Nhà Nhỏ, mua giấy vàng, và đến ngày thứ ba thì bắt đầu niệm Ngôi Nhà Nhỏ.

Ngày 1 tháng 8 năm 2010, đệ tử niệm tờ Ngôi Nhà Nhỏ đầu tiên cho các vị “chủ nợ” của cô ruột.

Từ ngày đó trở đi, ngoài thời gian ăn uống, ngủ nghỉ và sinh hoạt cần thiết, hầu như đệ tử đều đang niệm kinh.

Cũng chính từ ngày bắt đầu niệm kinh, đệ tử không còn lo lắng bồn chồn, không còn u sầu bi thiết, mà đối với cuộc sống tràn đầy niềm tin.

Sau khi hoàn thành ba tờ Ngôi Nhà Nhỏ, đệ tử gọi điện về nhà, mẹ nói bệnh tình của cô đã chuyển biến tốt, có thể xuống giường đi lại.

Buổi tối đệ tử gọi điện cho cô, nói rằng mình đang giúp cô niệm kinh cầu nguyện, và khuyên cô phát nguyện từ nay không ăn hải sản còn sống nữa. Cô lập tức đồng ý.

Ngày 12 tháng 8, đệ tử trở về quê. Vừa đặt hành lý xuống, đệ tử liền đến bệnh viện nơi cô đang điều trị.

Tình trạng của cô lúc đó không được tốt. Tóc rụng rất nhiều, hai bên má do xạ trị nên đỏ rát như bị cháy nắng. Ăn vào là nôn, mỗi ngày nôn rất nhiều lần. Hằng ngày phải truyền nhiều ống mannitol, nếu không thì đau đầu dữ dội, khó chịu vô cùng.

Đệ tử nói với cô: “Nếu đau đầu thì niệm Chú Đại Bi. Nếu thực sự không niệm được thì nghe Chú Đại Bi trong máy MP3. Ở nơi như bệnh viện, niệm Chú Đại Bi cũng có thể bảo hộ bản thân.” Từ đó, cô bắt đầu nghe Chú Đại Bi, có lúc còn khe khẽ hát theo.

Kể từ ngày đệ tử về nhà, bệnh tình của cô chuyển biến tốt dần từng ngày. Ban đầu bác sĩ điều trị quyết định cho cô làm 30 lần xạ trị. Nhưng khi làm đến hơn mười lần thì cơn đau đầu đã giảm rõ rệt. Làm đến 20 lần thì đầu không còn đau nữa. Khi hoàn thành 25 lần xạ trị, chụp cộng hưởng từ tăng cường não bộ, khối u trong não đã biến mất.

Bác sĩ quyết định năm lần điều trị còn lại không cần thực hiện nữa, cho cô xuất viện về nhà tĩnh dưỡng. Vừa khi cô tạm thoát nguy hiểm, bên nhà ông ngoại lại gọi điện báo tin ông bệnh rất nặng. Đệ tử cùng mẹ lập tức về nhà ông.

Ông đã nhập viện, triệu chứng là sốt cao và đau bụng. Đệ tử xem phim CT vùng bụng, thấy có vài đốm trắng nhỏ. Bác sĩ nói đó là bọng nước, nhưng đệ tử nghi ngờ đó là nghiệp chướng như Đài trưởng từng giảng, nên lập tức bắt đầu niệm Ngôi Nhà Nhỏ cho ông.

Không ngờ vừa niệm xong một tờ, có thể do nghiệp chướng bị kích hoạt, ông vốn đã xuất viện lại sốt cao phải nhập viện lần nữa. Đệ tử vội vàng niệm thêm hai tờ Ngôi Nhà Nhỏ. Chẳng bao lâu sau, cơn sốt liền hạ.

Mẹ của đệ tử, gần sáu mươi tuổi, nhìn thấy sự linh nghiệm của Ngôi Nhà Nhỏ, cũng bắt đầu chăm chỉ học Chú Đại Bi, mong sớm có thể niệm Ngôi Nhà Nhỏ giúp ông ngoại.

Trở lại chuyện của cô ruột.

Sau khi xuất viện, cô không chuyên tâm niệm kinh tại nhà. Đệ tử đã nhiều lần khuyên nhủ, nhưng có lẽ vì thân thể còn rất yếu, lại thêm người xung quanh không ủng hộ việc niệm kinh, nên chỉ dựa vào một mình cô thì rất khó.

Đệ tử cũng thử khuyên những người khác, nhưng họ không để tâm. Vì vậy, đệ tử chỉ có thể một mình tiếp tục niệm Ngôi Nhà Nhỏ cho cô.

Các sư huynh đã niệm qua Chú Đại Bi và Ngôi Nhà Nhỏ đều có thể cảm nhận được hiệu quả rất rõ rệt, thậm chí nói là vô cùng thần kỳ. Thực sự không niệm không biết. Khi đệ tử giúp cô mát-xa cánh tay bị sưng phù do tác dụng phụ của xạ trị, đều thầm niệm Chú Đại Bi trong lòng, cánh tay đó mắt thường cũng thấy tiêu sưng rất nhanh, cô đệ tử đều rất lạ, cùng là mát-xa, tại sao đệ tử ấn thì tiêu sưng, người khác ấn lại càng đau.

Một hôm, đệ tử nói chuyện với dượng về bệnh tình của cô, nói có thể vong linh trên người cô cần tiền, chúng ta hay là đốt thêm chút tiền cho họ. Dượng hôm đó liền mua một đống tiền giấy đốt. đệ tử hôm đó, đệ tử và em gái ngủ ở nhà cô, hơn một giờ đêm, đệ tử đột nhiên mơ thấy một người đứng trước mặt đệ tử, nói chuyện với một người sau lưng đệ tử: “Cho mày bao nhiêu tiền ?” Người kia rất tức giận nói: “#%*!! Mới cho tao ba mươi đồng!” Sau đó đệ tử hỏi dượng tổng cộng đốt bao nhiêu tiền giấy cho oan gia trái chủ, dượng nói mua ba mươi đồng tiền giấy. đệ tử đột nhiên hiểu ra, số tiền đốt giấy thực sự quá ít. Muốn họ có thể đi đến chỗ tốt (thiện xứ), bắt buộc phải niệm Ngôi Nhà Nhỏ, chỉ có Ngôi Nhà Nhỏ mới là tiền mệnh giá lớn.

Cuối tháng 9, bạn bè giới thiệu đệ tử đi làm ở nơi khác, mới vào làm, thời gian giúp cô niệm Ngôi Nhà Nhỏ cũng ít đi, sinh mệnh của cô cũng đi đến hồi kết, sau đó bệnh nặng, qua đời vào cuối tháng 10. Trước khi cô qua đời, đệ tử đã gửi cho oan gia trái chủ của cô 13 tờ Ngôi Nhà Nhỏ, phóng sinh hai lần. Bây giờ nghĩ lại, đệ tử làm quá ít. Bản thân công đức không đủ, cho nên khi giúp cô niệm Ngôi Nhà Nhỏ, luôn có oan gia trái chủ đòi kinh đệ tử, đệ tử còn phải niệm Ngôi Nhà Nhỏ cho oan gia trái chủ của mình. Người khác trong nhà sinh bệnh, đệ tử lại phải giúp niệm Ngôi Nhà Nhỏ, cả ngày cảm thấy không đủ thời gian.

Sau khi cô qua đời, mẹ và em gái đệ tử dưới sự động viên của đệ tử cũng bắt đầu niệm Ngôi Nhà Nhỏ, ba người chúng đệ tử cùng niệm Ngôi Nhà Nhỏ giúp cô siêu độ, trong 49 ngày sau khi cô mất, ba người chúng đệ tử tổng cộng giúp cô niệm 51 tờ Ngôi Nhà Nhỏ. Vì đều là người mới học, đều không có công lực gì, thường thường niệm cho cô vài tờ Ngôi Nhà Nhỏ, thì có oan gia trái chủ đòi kinh chúng đệ tử, chúng đệ tử còn phải siêu độ cho oan gia trái chủ của mình trước.

 May mà gặp được Đài trưởng Lư, chúng đệ tử có pháp bảo siêu độ người thân, chúng đệ tử cũng có pháp bảo giải quyết vấn đề của chính mình.

Đệ tử mỗi ngày kiên trì làm công khóa, có thời gian thì đi mua cá phóng sinh, hoặc nhờ bạn bè thân thích giúp phóng sinh. Mỗi lần phóng sinh xong, hương phổ (hình dáng tàn hương) trong nhà đều hiển thị Bồ Tát có đến qua.

Trước khi tiếp xúc Pháp Môn Tâm Linh, sức khỏe đệ tử đặc biệt không tốt, luôn có bệnh vặt không dứt, sau đó còn mắc bệnh trầm cảm, uống thuốc vào thì như người gỗ, ngừng thuốc thì khó chịu, cảm giác bệnh có thể tái phát bất cứ lúc nào. Thuốc tây, thuốc bắc, liệu pháp vận động đều thử qua rồi, hiệu quả không lớn, mấu chốt là toàn trị ngọn không trị gốc. Cuộc sống của đệ tử, cũng vì bệnh tật, trở nên ngày càng tồi tệ.

 Phải cảm ân Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát!  Cảm ân Đài trưởng Lư! Cảm ân các sư huynh Ban Thư ký Đài Đông Phương! Cảm ân sư huynh Tông Tông Lưu Thủy! Cũng phải cảm ân cô của đệ tử! Từ khi đệ tử phát tâm tu tâm niệm Kinh cho tốt, bệnh trầm cảm của đệ tử hoàn toàn khỏi hẳn, hơn nữa cũng không vì bệnh khác mà phải đi bệnh viện. Niệm Kinh hai tháng, đệ tử đã có được công việc khiến đệ tử hài lòng hiện tại, càng thần kỳ hơn là: Niệm Kinh bốn tháng, đệ tử vậy mà lại mang thai. Kết hôn bảy năm, đệ tử vẫn luôn không mang thai, tuy không giống người khác chạy khắp nơi tìm bệnh viện cầu sinh con, nhưng trong lòng cũng khá sốt ruột. Đau khổ nhất là, đệ tử trước kia sợ mang thai, sợ sinh con, lo lắng không thể giáo dục tốt con mình, không thể cho nó cuộc sống hài lòng. Bây giờ không có gì có thể làm đệ tử sợ hãi nữa, tất cả mọi việc đều có nhân quả, chúng ta gieo nhân, thì phải dùng tâm bình thường để gánh chịu quả của nó, bất kể là tốt hay xấu. Hơn nữa, chúng ta phải gieo nhiều nhân thiện, như vậy mới có thể kết nhiều quả thiện. Nghĩ đến Bồ Tát trên trời đang phù hộ chúng ta, lòng đệ tử vô cùng bình hòa an tường.

Điều khiến đệ tử vui nhất là, nửa năm qua, ông ngoại, mẹ, dì hai, mợ, em gái, bạn thân, đồng nghiệp, chồng đệ tử đều bắt đầu niệm Kinh rồi. Mọi người đều cảm thấy sức khỏe ngày càng tốt, tâm trạng ngày càng tốt, làm việc ngày càng thuận lợi.

Quý vị hiện còn đang do dự chưa quyết, là một Phật tử, những gì đệ tử nói đều chân thực không hư dối. Cuối cùng đệ tử chỉ muốn nói một câu: Sớm ngày phát tâm, sớm được an tường.

 Cư dân mạng Susan – Ngày 27 tháng 2 năm 2011
(网友 Susan 2011 年 2 月 27 日)

Kính gửi Đài trưởng Lư!

Cảm tạ sự từ bi của Quán Thế Âm Bồ Tát, cảm tạ sự từ bi cứu độ của Ngài, để người cha già gần 90 tuổi của đệ tử lại được tái sinh; để đại gia đình đệ tử lại khôi phục sự tường hòa và yên bình ngày xưa. Đệ tử thay mặt gia đình bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ngài!

 17 ngày trước, đệ tử nhận được điện thoại của chị gái sống cùng cha, chị gái trong điện thoại không còn giọng nói tự tin ngày thường, chị run rẩy nói: “Bệnh của cha có chút… ý kiến bác sĩ là con cái không ở bên cạnh có thể về thăm”. Trước đó đệ tử có niệm cho cha mỗi tuần 2 tờ Ngôi Nhà Nhỏ, 49 biến Chú Đại Bi, không biết vấn đề nằm ở đâu? May mắn gọi được điện thoại cho Đài trưởng Lư, đây cũng là Bồ Tát đang phù hộ cha đệ tử, để ông kéo dài tuổi thọ. Đài trưởng Lư nói cha đệ tử gặp vấn đề rồi, người thân của đệ tử đang “kéo ông đi”, hơi gấp, nhưng niệm Kinh cho tốt chắc không vấn đề gì, ông vẫn còn thọ. Vì mục đích để người nhà an tâm, ngày hôm sau đệ tử vẫn vội vã về bên cha.

 Cách nhau 5 tháng, gặp lại cha ánh mắt đờ đẫn, không thể nói năng, không thể tự lo liệu, hoàn toàn biến thành một người khác. Đệ tử hôm gặp cha, cô hộ lý nói cha đệ tử nói mớ: “Các người đều không lo cho ta nữa, ta muốn cái màu đỏ…” đệ tử biết câu này không phải xuất phát từ bản thân cha. Đệ tử biết việc cấp bách là tranh thủ thời gian niệm kinh văn Ngôi Nhà Nhỏ. Cách đó ba ngày, lại xảy ra tình huống, sáng sớm từ bệnh viện vừa về đến nhà, còn chưa kịp thở, nhận được điện thoại: “Cha ở bệnh viện làm loạn rồi, mau về đi”. Trong lúc vội vã, đệ tử đốt một tờ Ngôi Nhà Nhỏ. Đến bệnh viện thấy cha ngồi trên ghế, vẻ mặt cứng đờ, trong mắt lộ ra ánh nhìn hung dữ, không còn vẻ hòa ái từ tường ngày xưa. Một tay nắm chặt ống truyền dịch, sức của đệ tử không thể di chuyển ống truyền, hộ lý giữ chặt kim tiêm, giống như một chiến trường nồng nặc mùi thuốc súng.

 Ý của cha là muốn kết thúc: không muốn sống tiếp nữa. Nhìn thấy cảnh này, trong lòng có chút chua xót, đệ tử biết là lực độ Kinh văn đệ tử niệm chưa đủ, “oan gia trái chủ” – người cần kinh của đệ tử sốt ruột rồi. Đệ tử vội vàng nói với cha: “Xin đừng vội, cho con chút thời gian con sẽ tranh thủ thời gian niệm Kinh văn Ngôi Nhà Nhỏ”. Ngoài ra, qua việc này cho đệ tử biết: Chúng ta phải thiện đãi vong linh, không được đùa giỡn với linh giới, giúp đỡ họ cũng là giúp đỡ chính mình. Tiếp theo, đệ tử cố gắng mỗi ngày niệm 3-4 tờ Ngôi Nhà Nhỏ, còn đảm bảo niệm 49 biến Chú Đại Bi cho vùng phổi của cha, còn nhờ người nhà phóng sinh diên thọ cho cha.

 Chưa đến 20 ngày, giống như Đài trưởng Lư đã nói: Cha đệ tử mỗi ngày một khác, sẽ khỏe lại. Thật sự phải cảm tạ ơn cứu mạng của Bồ Tát sống Đài trưởng Lư. Từ hôm qua, cha đệ tử lại cầm tờ báo ông thích xem nhất, một ngày đọc hai lần, còn ngồi bên giường, nói chuyện đĩnh đạc, kể chuyện quá trình trưởng thành của các con với hộ lý v.v…; ra ngoài hoạt động cũng có thể tự đi lại. Người nhà nhìn thấy sự thay đổi của cha đều thở phào nhẹ nhõm, chỉ biết kinh ngạc trước sự thay đổi trước và sau khi cha bị bệnh. Trong lòng đệ tử hiểu rõ: Là Pháp Môn Tâm Linh: Hứa nguyện, Phóng sinh, Ngôi Nhà Nhỏ đã cứu mạng sống của cha đệ tử. Chỉ có Đài trưởng Lư Ngài mới có thể đưa chúng ta ra khỏi biển khổ nhân gian. Gặp được Ngài là phúc khí của đệ tử và cha đệ tử cùng gia đình.

 Ngoài ra, đệ tử còn có một cảm xúc, chúng ta có Bồ Tát sống Đài trưởng Lư phù hộ và giúp đỡ, vô cùng có cảm giác an toàn. Tuy nhiên, còn rất nhiều người hoàn toàn không tìm thấy phương hướng, vẫn đang giãy giụa trong biển khổ. Mỗi lần đến bệnh viện thăm cha, bệnh nhân trong bệnh viện không chỉ là người già, hiện nay nhiều hơn là người trẻ, những chàng trai tuấn tú, cô gái xinh đẹp, thậm chí là trẻ em. Có một người trẻ nói: Không biết tôi phạm tội gì khiến tôi mắc bệnh. Theo báo chí đưa tin: Mỗi sáng 6 giờ, cầu vượt trước cổng Bệnh viện Nhi Bắc Kinh đã xếp hàng, xe cộ cũng tắc nghẽn.

 Bồ Tát sống Đài trưởng Lư Ngài một lần nữa giúp đỡ đệ tử, cứu gia đình đệ tử, đệ tử sẽ trân trọng tất cả những gì hiện tại. Vì hoằng dương pháp môn của Ngài tận tâm tận lực giúp đỡ người cần giúp. Một lần nữa cảm tạ Ngài!

 Lý Lợi – Ngày 6 tháng 8 năm 2010 (李莉 2010 年 8 月 6 日)

Pháp Môn Tâm Linh có thể diệt trừ mọi khổ đau, chân thật không hư dối. Phàm những tín chúng học Pháp môn Tâm Linh, phần lớn đều cảm nhận được Đài trưởng dùng tâm từ bi “vô duyên đại từ” để hoằng dương pháp môn của Quán Thế Âm Bồ Tát cứu độ chúng sinh.

Pháp môn Tâm Linh là liều thuốc thần y cứu độ những người bệnh “hư bệnh”, giúp hóa giải oan kết, hoàn trả những món nợ của nhiều đời nhiều kiếp, tiêu trừ nghiệp chướng nhiều đời nhiều kiếp của chính mình, thoát khỏi biển khổ; là ngọn đèn chỉ đường giúp những người tu hành học Phật nhiều năm mà vẫn còn ở trong màn sương mê mờ có thể đến được bờ bên kia.

Chỉ cần nghiêm túc làm theo sự hướng dẫn của Đài trưởng để tu hành: niệm kinh, phóng sinh, phát nguyện, thì đều có những mức độ lợi ích và thể nghiệm khác nhau.

Vì sao lại xuất hiện sự khác biệt về mức độ thọ ích như vậy? Chúng tôi cho rằng ngoài sự khác biệt về căn cơ cá nhân của tín chúng, nguyên nhân chủ yếu là đa số người chỉ chú trọng học “phương pháp” mà chưa nắm được chân nghĩa của “tu tâm”; đặc biệt là đối với việc thanh tịnh hóa tham, sân, si – “tam độc” của bản thân – còn chưa đủ, năng lượng tự thân chưa cao.

Phương pháp giải quyết chỉ có thể là hạ công phu nơi việc tu tâm, phải theo sát Đài trưởng, tiến cùng thời đại, học tốt Pháp môn Tâm Linh của Đài trưởng, để đời này sống có ý vị phong phú, tương lai ra đi không vướng mắc ràng buộc.

Nếu muốn tìm hiểu chi tiết hơn về tình hình Pháp Môn Tâm Linh của Đài trưởng Lư, vui lòng truy cập “Địa chỉ Blog của Đài trưởng Lư Quân Hoành” http://lujunhong2or.com, tra cứu các bài viết “Bạch Thoại Phật Pháp”, “Huyền Nghệ Tổng Hợp”, “Huyền Học Vấn Đáp”, “Cảm Ngộ Thính Giả”, “Phản Hồi Cư Dân Mạng” v.v…, nghe ghi âm các chương trình “Huyền Nghệ Tổng Hợp” 3 tiếng mỗi tuần, “Huyền Nghệ Vấn Đáp” 2 tiếng mỗi tuần, “Trực Thoại Trực Thuyết” nửa tiếng mỗi tuần, “Bạch Thoại Phật Pháp” nửa tiếng mỗi tuần và các buổi giải đáp trực tiếp quy mô lớn do Đài trưởng Lư Quân Hoành chủ trì trên Đài Phát thanh Đông Phương Hoa ngữ Úc Châu.

Ở đây cũng xin nhắc nhở những người vẫn còn mang một số nghi ngờ, hoài nghi đối với Pháp môn Tâm Linh của Đài trưởng Lư, hãy mau chóng tự tìm nguyên nhân nơi chính mình, buông bỏ nghi ngờ, hạ quyết tâm làm theo những lời khai thị của Đài trưởng Lư, nắm chặt thời gian tu tâm – thời gian thật sự không đợi người đâu!

Thời gian phát sóng chương trình của Đài trưởng Lư (giờ Sydney, Úc):

Huyền Nghệ Tổng Thuật (xem đồ đằng):

Thứ Ba, Thứ Năm, Thứ Bảy hàng tuần

17:30 – 18:00

Huyền Nghệ Vấn Đáp (không xem đồ đằng):

Thứ Sáu hàng tuần

12:30 – 14:30

Chủ Nhật hàng tuần

12:00 – 14:30

Trực thoại trực thuyết:

Thứ Sáu hàng tuần

 12:00 – 12:30

Bạch Thoại Phật Pháp:

Thứ Năm hàng tuần

17:10 – 17:30

Điện thoại đường dây trực tiếp chương trình của Đài trưởng Lư: 0061 2 9698 8866

Điện thoại tư vấn của Thư ký Đài Đông Phương: 0061 2 9283 2758

Tháng 12 năm 2011 tại Sydney (2011 年 12 月于悉尼)

Nếu quý vị có ý muốn hỗ trợ in ấn Kinh Phật và bộ sách “ Bạch thoại Phật pháp”, xin vui lòng chuyển toàn bộ vào tài khoản của tổ chức từ thiện hợp pháp đã đăng ký. Thông tin tài khoản như sau:

(1) Australia Oriental Media Buddhist Charity Association (Tổ chức Từ thiện Truyền bá Phật pháp, Úc – Ngân hàng St George)

  • Tên ngân hàng (Tiếng Trung / Chinese): 圣乔治银行
  • Tên ngân hàng (Tiếng Anh / English): ST GEORGE BANK
  • Tên tài khoản (Account Name): AUSTRALIA ORIENTAL MEDIA BUDDHIST CHARITY ASSOCIATION
  • Mã khu vực ngân hàng (BSB Number): 112 879
  • Số tài khoản (Account Number): 432 033 033
  • Mã SWIFT (SWIFT Code): SGBLAU2S
  • Địa chỉ ngân hàng (Address of Bank): 699 GEORGE ST, HAYMARKET NSW 2000, AUSTRALIA
  • Địa chỉ người thụ hưởng (Address of Recipient): 54 Meagher St, Chippendale, Sydney NSW 2008, Australia

(2) Australia Oriental Media Buddhist Charity Association

(Tài khoản chuyên dụng cho việc xây dựng Quán Âm Đường/Làng Quán Âm)

  • Tên ngân hàng (Tiếng Trung / Chinese): 圣乔治银行
  • Tên ngân hàng (Tiếng Anh / English): ST GEORGE BANK
  • Tên tài khoản (Account Name): AUSTRALIA ORIENTAL MEDIA BUDDHIST CHARITY ASSOCIATION
  • Mã khu vực ngân hàng (BSB Number): 112 879
  • Số tài khoản (Account Number): 432 919 934
  • Mã SWIFT (SWIFT Code): SGBLAU2S
  • Địa chỉ ngân hàng (Address of Bank): 699 GEORGE ST, HAYMARKET NSW 2000, AUSTRALIA
  • Địa chỉ người thụ hưởng (Address of Recipient): 54 Meagher St, Chippendale, Sydney NSW 2008, Australia

(Lưu ý: Đây là tài khoản duy nhất được Đài Đông Phương công nhận để hỗ trợ in ấn sách.)
Nhà xuất bản: Australia Chinese Buddhist Association Press

Đài trưởng Lư Quân Hoành hiện giữ chức Chủ tịch Hiệp hội Phật giáo người Hoa Úc Châu, Chủ tịch Hội đồng quản trị Cơ quan Từ thiện Hoằng dương Phật pháp Truyền thông Đông Phương Úc Châu, Chủ tịch Tập đoàn Phát thanh Truyền hình Báo chí Truyền thông Đông Phương Úc Châu, Thái Bình Thân Sĩ (Justice of the Peace) của Úc, tước hiệu Datuk của Malaysia, Giáo sư thỉnh giảng danh dự của Đại học Siena (Ý), sở hữu bằng Cao cấp về Tâm lý học tại Úc; đồng thời kiêm nhiệm chức Chủ tịch của nhiều hội đoàn người Hoa, là một kiều lãnh yêu nước tại Úc hơn ba mươi năm qua.

Đài trưởng Lư Quân Hoành từ nhỏ đã nghiên cứu Phật học và Huyền học, từng được các bậc cao tăng đại đức danh sư chỉ điểm. Ngài dùng diệu pháp của Phật pháp, lấy “đại thần thông” của Bồ Tát để độ hóa chúng sinh hữu duyên, khiến chúng sinh phá mê khai ngộ, thông qua việc học Phật, niệm kinh, tu tâm để thay đổi vận mệnh.

Suốt ba mươi năm qua, Đài trưởng Lư Quân Hoành làm việc miệt mài, quanh năm không nghỉ, tận tụy hoằng dương tinh túy Phật giáo tại Úc và trên toàn thế giới, thúc đẩy sự nghiệp từ thiện và giao lưu văn hóa hòa bình, xúc tiến sự hòa hợp tâm hồn nhân loại. Đến nay, Ngài đã có gần 10 triệu tín chúng tại hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới.

Hơn ba mươi năm cứu độ chúng sinh miễn phí, Đài trưởng Lư đã khai thị Bạch Thoại Phật Pháp cho Phật hữu khắp thế giới, dùng chân lý Phật pháp để chỉ đạo nhân sinh hiện đại, giúp vô số chúng sinh đạt được sự giải thoát về tâm hồn. Chỉ trong vài năm ngắn ngủi, dấu chân hoằng pháp của Ngài đã in khắp nơi trên thế giới. Từ năm 2010 đến nay, Ngài đã tổ chức hơn hai trăm buổi diễn thuyết lưu động toàn cầu tại các thành phố lớn của Úc, New Zealand, Hoa Kỳ (New York, Los Angeles, Boston, San Francisco), Canada (Toronto, Vancouver), Singapore, Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan, Malaysia, Thái Lan, Indonesia và các nước châu Âu như Anh, Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Bỉ… Tại hơn 30 quốc gia và khu vực, các buổi diễn thuyết đều gây tiếng vang lớn, giúp 10 triệu người trên thế giới thay đổi vận mệnh, gia đình hòa thuận, xã hội hài hòa, thế giới hòa bình. Pháp hội tháng 2 năm 2017 tổ chức tại Singapore với 80.000 người tham dự là một sự kiện thịnh đại chưa từng có. Đài trưởng Lư nhận được sự chào đón nồng nhiệt và kính yêu của Phật hữu thế giới, đồng thời được truyền thông quốc tế quan tâm và đưa tin rộng rãi. Ngày nay, “Pháp Môn Tâm Linh” đang dấy lên một làn sóng niệm kinh, học Phật, tu tâm sôi nổi khắp nơi trên thế giới.

Bản thân Đài trưởng Lư và Cơ quan Từ thiện Hoằng dương Phật pháp Truyền thông Đông Phương Úc Châu do Ngài lãnh đạo đã quyên góp hơn 1 triệu đô la tiền thiện nguyện cho các hoạt động cứu trợ thiên tai như lũ lụt, động đất, hỏa hoạn trên khắp thế giới, cũng như cứu chữa trẻ em thiểu năng, người già neo đơn, người mắc bệnh trầm cảm thông qua các tổ chức từ thiện lớn.

Nhờ những đóng góp nổi bật cho sự phát triển văn hóa hòa bình quốc tế và sự nghiệp từ thiện, Thái Bình Thân Sĩ Lư Quân Hoành đã nhiều lần nhận danh hiệu Đại sứ Hòa bình Thế giới tại các hội nghị hòa bình quốc tế tổ chức ở Liên Hợp Quốc, Quốc hội Hoa Kỳ, Bảo tàng Khoan dung Hoa Kỳ, Berlin (Đức), cũng như tại Đại hội Liên hợp Tôn giáo Thế giới ở London (Anh). Năm 2015, Ngài Lư Quân Hoành vinh dự nhận giải thưởng từ Hạ viện Hoa Kỳ biểu dương những đóng góp trong việc thúc đẩy giao lưu văn hóa hòa bình trên phạm vi thế giới. Năm 2016, Quốc hội Hoa Kỳ trao bằng khen cho Thái Bình Thân Sĩ Lư Quân Hoành, ghi nhận những cống hiến to lớn của Ngài trong nhiều năm qua cho cộng đồng quốc tế về việc truyền bá từ bi hài hòa và nỗ lực vì hòa bình thế giới. Chính quyền thành phố West Orange, bang New Jersey, Hoa Kỳ đã trao tặng giải thưởng Công dân Danh dự thành phố West Orange cho Ngài. Tại Úc, nhờ những đóng góp nổi bật và uy tín trước công chúng, Ngài được Chính phủ Úc trao tước vị “Thái Bình Thân Sĩ” (Justice of the Peace) và được Quốc hội Úc trao giải thưởng công nhận. Ngài cũng được Hoàng gia Malaysia phong tước hiệu Datuk danh dự trọn đời; trở thành Giáo sư thỉnh giảng danh dự của Đại học Siena, Ý. Là một lãnh đạo kiều bào nổi tiếng thế giới và tinh hoa người Hoa, Ngài được Chính phủ Trung Quốc đặc biệt biểu dương và đưa vào “Niên giám Nhân vật Trung Quốc năm 2014”. Ngài tham dự Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc lần thứ 12 năm 2015 với tư cách khách mời đặc biệt. Tháng 9 năm 2015, nhận lời mời của Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, Ngài tham dự “Hội nghị thượng đỉnh Liên Hợp Quốc về Văn hóa Hòa bình 2015” tổ chức tại trụ sở Liên Hợp Quốc, cùng bàn luận về hòa bình thế giới với Chủ tịch Đại hội đồng, Tổng thư ký Ban Ki-moon và các nhà lãnh đạo chính yếu các nước. Từ năm 2017 đến 2019, Ngài đã có bài phát biểu chủ đề tại “Đại lễ Vesak” của UNESCO.

Đài trưởng Lư Quân Hoành luôn hướng về quê cha đất tổ, mấy chục năm qua đã cống hiến cho việc thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc và Úc, hoằng dương văn hóa truyền thống Trung Hoa và tinh túy Phật giáo ra thế giới, giúp chúng sinh thông qua niệm kinh học Phật để cải thiện vận mệnh của chính mình, học tập, làm việc và sinh sống tốt hơn, sống hướng thiện, phục vụ tốt hơn cho sự phát triển của quốc gia và xã hội.

Lên đầu trang