Bạch Thoại Phật Pháp – Quyển 2

(白话佛法)

1. Nói về Phật đức và “tri hành hợp nhất”

QUYỂN 2 – TẬP 1
NÓI VỀ PHẬT ĐỨC VÀ TRI HÀNH HỢP NHẤT
(谈佛德与知行合一)

Phật đức là phẩm hạnh của một vị Phật. Là con người, chúng ta cần có phẩm đức của Phật, tức phải hội đủ đạo đức của Phật và tính đức của Phật. Phật Quả là quả báo và vị quả của Phật. Quả vô ngã là khi người tu thật sự thành tựu, ngay cả quả báo này cũng là không; quả vô ngã là không có quả, không có quả thì mới thật sự có quả, còn có quả thì lại là không có quả. 

Phẩm đức, đạo đức và tính đức của Phật đều là cảnh giới cao nhất, là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Khi tu thành, gọi là Đại giác viên mãn, tức hoàn toàn giác ngộ, trí huệ viên thông. Cần dùng “nhục thân chi quang” (ánh sáng của thân xác) kết hợp với “trí huệ chi quang” (ánh sáng của trí huệ); hai thứ ánh sáng hợp nhất chính là ánh sáng của Phật. Nhục thân chi quang là ăn chay, giữ tâm trí trong sáng, không làm điều xấu, thân thể sạch sẽ… tức là thân thể được thanh tịnh.

Để tu thành nhục thân chi quang, trước hết phải tu cho thân xác toát sáng, sau đó mới mở ra trí huệ chi quang. Khi trí huệ chi quang kết hợp với nhục thân chi quang, đó chính là Phật quang. Nếu thân xác bẩn thỉu, tâm trí bẩn thỉu, hành vi bẩn thỉu, linh hồn bẩn thỉu, thì Phật quang sẽ không thể chiếu rọi. Giống như một vật được bọc kín, ánh sáng mặt trời có chiếu vào được không? Nếu là thủy tinh trong suốt, ánh sáng mặt trời tự nhiên sẽ chiếu vào.

“Tri hành hợp nhất” là biết lý mà phải đi vào hành động. Học Phật pháp, nếu biết nhiều lý nhưng không hành trì, không thực hành, thì chưa thật sự là tri hành hợp nhất. Hành vi và kiến thức phải hợp nhất; những gì bạn tu tập và những kiến thức về Phật – Bồ Tát phải kết hợp làm một. Nghĩa là dùng kiến thức để phục vụ hành vi. Trong quá trình tu hành, khi tìm cầu kiến thức, đồng thời làm các việc lành, khuyên dạy người khác học Phật pháp, quý vị sẽ tăng trưởng trí tuệ (Phật trí). Khi làm việc thiện, quý vị cũng đồng thời ngộ lý, tăng trưởng trí tuệ và kiến thức Phật pháp. Mỗi người trong quý vị, khi khuyên dạy người khác học Phật pháp, đều có thể tăng trưởng Phật trí, dùng hành vi, hành động để thu nhận kiến thức. Kiến thức nhiều đến đâu mà không đi vào hành động, cho dù biết nhiều về Phật pháp, giảng ra đủ các lý, nhưng không thực hành, không ứng dụng, cũng coi như vô minh, được xem là vô tri. Hãy nhớ rằng, sau khi học, quý vị phải dùng kiến thức đó để cứu độ chúng sinh.

Đức Phật dạy rằng: “Phàm kẻ nào chấp trước vào một quan điểm nào, mà khinh thường các quan điểm khác, thì được xem là hèn kém.” Nghĩa là, khi chấp vào quan điểm của bản thân, tin rằng điều mình nghĩ là đúng, nhưng lại cho rằng quan điểm của người khác đều sai và khinh thường họ, thì được xem là hèn kém. Trên đời có quá nhiều người chấp vào lý thuyết riêng của mình, chấp vào quan điểm bản thân, chấp vào những gì mình đã học, mà khinh thường những điều khác. Người trí gọi đó là “trói buộc”. Người thông minh nói rằng, những ai chấp vào quan điểm của bản thân mà không tiếp thu quan điểm của người khác, chính là tự trói buộc, tự bọc mình lại, trói chặt bản thân. Phật pháp không phải là lý thuyết suông, mà là điều phải thực hành. Nếu học Phật pháp mà không hành trì, không ứng dụng, thì sẽ không tương ứng với Phật – Bồ Tát.

Cần hiểu rằng, không phải ai cũng là nhàn nhân, và cũng không thể nhàn tức. Nếu một người không phải là nhàn nhân, thì không được nhàn; nếu là nhàn nhân, cũng không phải là thường nhân. Từ những câu này, ta có thể ngộ ra một đạo lý: làm việc phải làm trên công và đức. Nếu làm bất cứ việc gì chỉ dựa trên thiện, chỉ thực hiện một việc lành, thì chưa được gọi là công đức. Phải làm việc trên công và đức, như vậy mới thật sự có lợi cho thân – tâm. Công là xuất phát từ tâm, vượt ra ngoài phạm vi việc thiện thông thường mới được gọi là công. Dùng Phật tâm để làm việc thiện, kết hợp với Phật đức – tức đạo đức, phẩm hạnh của Phật, cùng với đức của bản thân, thì việc làm đó được gọi là công đức.

Con người nên tự quy y, quy y Tam Bảo tự tính; tự quy y Phật, Pháp, Tăng của chính mình. Phật ở trong tâm, Pháp ở trong hành, Tăng ở trong giới. Còn ai có thể làm quy y cho bạn? Bản thân quý vị vốn đã là Phật – Bồ Tát, thì quy y ai? Học Phật không được tham ái; tham ái khiến con người làm điều ác vô cùng, vì tham và ái khiến người ta không sợ ác, làm vô số điều bất thiện. Vì vậy, thánh nhân, hiền minh là những người biết khắc chế vọng niệm; người có tu tập gọi là thánh nhân, chỉ khi khống chế được vọng niệm của mình mới thật sự trở thành thánh nhân. Phàm phu dùng vọng niệm tác phàm, vì vọng niệm quá nhiều nên thành phàm. Cuối cùng, Sư phụ dạy đệ tử: kẻ ngu dốt cầu lỗi nơi thầy, người trí học điều hay nơi thầy. Trong xã hội, đừng nhìn vào khuyết điểm của người khác, mà hãy nhìn vào điểm tốt. Trong ba người, nhất định có một người là thầy của mình; trong mười bước, nhất định có cỏ thơm. 

QUYỂN 2 – TẬP 2
LƯ ĐÀI TRƯỞNG NÓI VỀ PHẬT PHÁP VÀ NHÂN QUẢ
(卢台长谈佛法与因果)

Hôm nay, Sư phụ sẽ giảng với quý vị về Phật pháp và pháp lực. Nhiều người biết rằng Phật pháp có pháp lực vô biên, nhưng cũng có người thắc mắc: tại sao có nhiều thiên tai, nhân họa, mà Phật – Bồ Tát không phát lòng từ bi cứu độ, tại sao không ngăn chặn những tai họa xảy ra? Bởi vì Phật – Bồ Tát không can thiệp vào nhân quả; những nghiệp cộng nghiệp và biệt nghiệp do chính mình gieo, mình nhất định phải nhận quả báo. Dù pháp lực của Phật – Bồ Tát vô biên, nhưng đối với những người không có duyên với Phật – Bồ Tát, Ngài cũng không thể cứu độ họ. Có ba trường hợp mà Phật – Bồ Tát không thể cứu độ.

Thứ nhất, người vô duyên: nếu có duyên với Phật – Bồ Tát, Ngài mới có thể giúp đỡ, cứu độ. Nếu vô duyên, Phật – Bồ Tát cũng không thể cứu. Khi quý vị cầu Phật, tức là quý vị tạo ra duyên với Phật, Phật – Bồ Tát mới trợ giúp. Nếu không cầu, nghĩa là quý vị không có duyên với Phật, Phật – Bồ Tát không thể cứu, dù Ngài có hiển linh đi nữa.

Thứ hai, Phật – Bồ Tát không thể tiêu trừ định nghiệp. Định nghiệp là mệnh, là nghiệp đã được định sẵn, tức tất cả những việc quý vị đã làm trong kiếp trước; nhân mà chính mình gieo, quả chính mình nhận gọi là định nghiệp. Những nhân mà chính mình đã gieo, Phật – Bồ Tát không thể tiêu trừ, nghĩa là Phật – Bồ Tát không can thiệp vào nhân quả.

Thứ ba, Phật – Bồ Tát ở nhân gian không thể độ tận chúng sinh, vì nếu không có duyên với Bồ Tát, Ngài sẽ không thể cứu độ quý vị. Ví dụ, hôm nay Sư phụ cho quý vị đến nghe Pháp, nhưng quý vị nói “không có thời gian”, thì Ngài làm sao cứu độ quý vị? Sư phụ có thể giúp quý vị thế nào? Nguyên nhân chính là vấn đề duyên.

Trong thế gian, những người vô duyên với Phật pháp được gọi là đại địa thổ. Nghĩa là những người không có duyên với Phật pháp và Phật – Bồ Tát, giống như bụi đất trên đại địa. Ngược lại, những người hữu duyên, ở cùng Bồ Tát, có thể cùng Bồ Tát cứu độ chúng sinh, được gọi là trưởng trung thổ (đất trong lòng bàn tay). Trưởng trung thổ nghĩa là Bồ Tát đã đặt quý vị trong lòng bàn tay, chỉ khi có duyên với Bồ Tát, Ngài mới có thể cứu độ quý vị. Trong thế gian, định nghiệp của con người là không thể chuyển đổi. Định nghiệp là tất cả những việc quý vị đã làm trong kiếp trước, tạo nên định số của vận mệnh, gọi là định nghiệp. Định nghiệp đã được định, không thể chuyển đổi; vận mệnh con người có thể thay đổi, nhưng chỉ thay đổi từng năm một. Dù Phật pháp vô biên, cũng phải tuân theo định luật nhân quả. Nếu quý vị làm những việc rất xấu, Bồ Tát không thể giúp quý vị tiêu trừ tội nghiệp.

Đừng nghĩ rằng hôm nay làm một việc thiện có thể bù đắp cho những việc ác đã làm trước kia, điều đó là không thể. Nhân quả là nhân quý vị tự gieo, quả quý vị tự nhận, người khác không thể thay thế. Phủ nhận định luật nhân quả chính là phủ nhận chân lý của con người và vũ trụ. Nhân quả trong chân lý vũ trụ của đời người là đã định, là thiên luật, không thể lay chuyển, là chân lý mà vũ trụ không thể thay đổi, là chân lý vĩnh hằng; thế giới chúng sinh cũng như vậy. Ví dụ, khi quý vị làm việc ác, nhất định sẽ nhận quả báo xấu, chịu khổ trong địa ngục. Địa ngục chỉ là nơi thực thi thiên luật. Bồ Tát từ bi như vậy, tại sao thấy có nhiều chúng sinh chịu khổ trong địa ngục mà không cứu hết được? Bởi vì đó là nhân quả, không ai có thể thay đổi được.Cần nhớ rằng không được động đến nhân quả, không làm việc ác, không gieo nhân dữ; làm gì sẽ nhận quả đó, nhân nào sẽ gặt quả đó. Phật pháp nói rằng Phật pháp vô biên, nhưng đó là trong một nghĩa đặc thù. Nghĩa đặc thù là: Phật pháp vô biên khi cứu độ những chúng sinh hữu duyên; pháp lực mới thể hiện là vô biên. Đối với người có thiện nghiệp, Phật pháp là pháp lực vô biên. Đối với người có trọng tội nghiệp, Phật pháp cũng là pháp lực vô biên, nhưng như có câu “Thiên mạng hồi hồi, thưa nhi bất lậu”, chỉ cần làm việc xấu, không thể thoát khỏi sự trừng phạt của luật trời.

Con người có thành tâm, Phật sẽ cảm ứng. Chỉ cần một người thành tâm sám hối, Phật – Bồ Tát chắc chắn sẽ cảm ứng. Tất cả tai họa trên thế gian đều là do cộng nghiệp gây ra. Bồ Tát cứu độ những chúng sinh hữu duyên, đang chịu tổn thương bởi cộng nghiệp, và đó đều là người tốt; chỉ những người tốt Bồ Tát mới cứu. Ví dụ, cùng mắc một loại bệnh, tại sao có người sống sót, còn có người lại mất sớm? Những người trẻ mất sớm là vì không có duyên với Phật – Bồ Tát. Phật pháp phải vận hành theo thiên luật, theo nhân quả và nghiệp báo. Nhân quả không thể thay đổi, nghiệp báo cũng không thể thay đổi.

Nhân quả đều có trong mệnh. Người tu tâm mà không tu mệnh thì không được; nếu không thay đổi mệnh của mình, sẽ sinh ra tà kiến, tham ái, vô minh. Tà kiến là cho rằng bản thân luôn đúng. Vô minh là không hiểu chân lý, không biết gì cả. Tham ái là gì cũng muốn, ham muốn vô biên. Con người phải học cách buông bỏ, mới có thể kiềm chế tham ái. Nếu tu tâm mà tà kiến, tham ái, vô minh chưa được tiêu trừ, thì sự tu tâm đó chắc chắn còn sai sót, có lỗ hổng.

Sư phụ dạy quý vị, tâm thái quyết định tương lai của quý vị. Nếu có tâm thái tốt, tương lai sẽ tốt; nếu tâm thái xấu, tương lai sẽ không tốt, hãy cùng nhau cố gắng tu học.

QUYỂN 2 – TẬP 3
TÍNH MỆNH SONG TU, TRÍ GIẢ NGỘ DUYÊN
(性命双修,智者遇缘)

Tính mệnh song tu, nhiều người đều biết rằng về già hoặc khi gặp tai họa, tính mệnh khó bảo. Vậy tính mệnh khó bảo là gì?

Mệnh là thân xác của quý vị. Tính là linh hồn của quý vị. Tính mệnh khó bảo có nghĩa là linh hồn và thân xác đều không bảo toàn được. Vì vậy, cần phải tu tính và tu mệnh, cả hai đều quan trọng như nhau.Tu tính là tu bản tính, tu lương tâm. Tu mệnh là tu thân xác và hành vi. Do đó cần song tu tính mệnh. Nếu quý vị không có mệnh, sẽ không tu được tính; nếu mệnh của quý vị rất kém, khổ cực vô cùng, và không có duyên tiếp cận pháp môn của Đài Trưởng, thì đó là người không có phúc báo.

Mệnh là nền tảng của sự tu hành. Tu hành nhất định phải nội tu và ngoại tu. Nội tu là tu cho tâm được an định, bình lặng. Ngoại tu là đối với chúng sinh không gây chướng ngại. Sư phụ thường dạy quý vị về “ngoại quan vô ngại”, tức là nói đến ngoại tu: phải tu cả tâm lẫn hành vi của mình. Ngoại tu cần có tâm từ bi, phải tu từ dung mạo, không để lộ tướng gian xảo; khiến người khác vừa nhìn đã cảm nhận được tướng Bồ Tát. Người tu tâm, diện mạo cũng sẽ thay đổi. Nếu hôm nay gương mặt quý vị vẫn còn hung dữ, điều đó cho thấy tâm của quý vị căn bản chưa được tu tốt. Một người học điều gì thì phải giống điều đó; học Bồ Tát thì phải giống Bồ Tát. Ngoại tu giống Bồ Tát, nội tâm cũng giống Bồ Tát, như vậy mới thật sự là Bồ Tát chân chính. Người nội tu thì ít bệnh, ít phiền não, bởi vì tâm thái đã hòa hoãn, tâm đã an định. Khi tâm bình ổn, con người tự nhiên sẽ giảm bệnh tật, giảm khổ não. Người ngoại tu thì diện mạo phải hồng hào, trắng mà ửng hồng; đôi mắt có thần, toát ra ánh sáng; tính tình nhu hòa, lời nói lễ độ, có trí tuệ. Bình thường không nói thì thôi, nhưng hễ mở lời là sáng tỏ, rõ ràng, khiến người nghe liền hiểu.

Dù ngoại cảnh phát ra bất cứ âm thanh gì, cũng phải lắng nghe tiếng Phật trong nội tâm, lắng nghe tiếng nói của Phật và Bồ Tát trong chính lòng mình.

Bất luận gặp chuyện gì, Sư phụ dạy quý vị một then chốt: chỉ cần khởi lên một niệm, lập tức phải học cách hóa giải. Hãy xem đó là sự khảo nghiệm của Phật – Bồ Tát dành cho mình. Khi cảm nhận có điều không tốt xảy ra, phải nghĩ rằng đó là Phật – Bồ Tát đang thử thách mình, rồi tự hỏi bản thân: làm thế nào để vượt qua cửa ải này, phải chịu đựng được sự khảo nghiệm ấy. Chỉ cần trong mọi việc đều nghĩ đến Bồ Tát, thì trên đời này còn có khó khăn nào không thể vượt qua, còn có thử thách nào không thể chiến thắng?

Người học Phật nhất định phải ghi nhớ chuyện đã qua thì không cần nghĩ lại; hiện tại không cần căng thẳng; chỉ cần niệm Phật thì tự nhiên được cát tường. Những việc đã xảy ra rồi, nghĩ nhiều cũng vô ích; những việc chưa đến, hà tất phải hoảng sợ. Thực sự nắm vững một ngày hôm nay còn hơn mơ tưởng hai ngày mai. Ngày ngày niệm Phật, tự nhiên sẽ được bình an và may mắn.

Trí giả gặp duyên thì tự được lực. Người có trí tuệ khi đối diện với mọi nhân duyên, dù là thiện duyên hay ác duyên, đều có thể rút ra sức mạnh từ đó. Nhiều người khi gặp khó khăn lại càng thêm kiên định niềm tin, nhờ vậy mà nhận được lực nâng đỡ từ nghịch cảnh. Người có trí tuệ, dù gặp thuận duyên hay nghịch duyên, đều có thể thu nhận lợi ích. Thất bại của hôm nay chính là nền tảng cho thành công của ngày mai; còn thành công của hôm nay cũng có thể là dấu hiệu cho những thử thách của ngày mai. Thực chất, tất cả đều chỉ là một chữ “duyên”.

Nói cho mọi người biết, theo khoa học đã chứng minh, cảm xúc chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến chức năng miễn dịch của con người. Cảm xúc tốt hay xấu đều tác động trực tiếp đến hệ miễn dịch của thân thể. Khi một người nổi giận, buồn bã, thì sức đề kháng sẽ suy giảm. Tương tự như vậy, sân giận sẽ sinh ra những chất độc giống như nọc rắn. Khi một người nổi giận, chẳng khác nào con rắn đang phun độc. Vì thế, giận dữ có thể làm hại đến tính mạng, cũng có thể nói là tự mình đầu độc chính mình, bởi vì hệ miễn dịch bị tổn hại, từ đó làm thân thể sinh bệnh. Người hay nổi giận là người trí tuệ không khai mở, bệnh tật sinh ra từ cơn giận thì không ai có thể gánh thay.

Thật ra tiềm năng của con người là vô hạn. Vậy dùng phương pháp nào để khai mở tiềm năng của con người? Chính là dùng tâm biết ơn để khai mở tiềm năng ấy. Bạn càng biết ơn, tiềm năng của bạn càng lớn, phương pháp giải quyết vấn đề cũng càng nhiều. Lòng biết ơn có thể khai mở tiềm năng, giúp bạn hóa giải tai nạn, vượt qua khó khăn, tiêu trừ tâm sân hận và sinh khởi tâm yêu thương. Con người sống trên đời cần phải biết trân quý phúc báo, đừng đợi đến khi không bệnh mà lại phung phí, tàn hại thân thể của mình, rồi đến khi có bệnh mới oán trách, than phiền. Điều này, nói theo cách thường thấy, chính là lãng phí sinh mệnh. Bình thường hãy tu tâm, tu hành nhiều hơn, tích lũy công đức nhiều hơn. Như vậy, khi bệnh đến sẽ không còn oán trách nữa, bởi vì bệnh sẽ nhanh chóng thuyên giảm và hồi phục.

Sau đây là một điều cần đặc biệt lưu ý khi giảng cho đệ tử: Khi dâng nước cúng Phật, Bồ Tát, tuyệt đối không được dâng cốc trống (tức là không được đặt cốc rỗng lên trước rồi mới rót nước vào). Trong cốc nhất định phải có sẵn một ít nước rồi mới đem cúng. Nước có tác dụng tiêu trừ tâm tham của con người. Vì vậy, những vật phẩm dâng cúng lên Phật, Bồ Tát nhất định phải xuất phát từ sự chí thành chí kính, dốc trọn tâm ý, không được xen lẫn bất kỳ tâm lý tiếc nuối hay không nỡ nào trong đó.

Cúng nước là để nhắc nhở bản thân không khởi tham – sân – si, không sinh tâm keo kiệt, bủn xỉn. Nước có bốn công năng:

1. Tính thanh tịnh: Khi dâng nước cúng, thân và tâm của bạn sẽ trở nên an hòa, khỏe mạnh; sáu căn tạm thời được thanh tịnh.
2. Tính mềm mại:  Nước giúp ý niệm trở nên nhu hòa, mềm dịu. Người thường xuyên uống nước thì tâm ý tương đối bình tĩnh; người ít uống nước dễ nóng nảy. Ví dụ, khi miệng khô, toàn thân bốc hỏa thì rất dễ phát sinh sân giận.
3. Nhuận hầu: Uống nhiều nước giúp lời nói trôi chảy, dễ nghe, diễn đạt lưu loát. Nước giúp tâm an định, làm cho đầu óc tỉnh táo, minh mẫn.
4. Trong sạch: Giúp ý niệm sáng suốt, thanh khiết, không vẩn đục.

Sư phụ khuyên răn các đệ tử, người học Phật nên lấy người khác làm thầy của mình, lấy đức hạnh của người khác làm đức hạnh của mình, lấy hành vi và biểu hiện tốt của người khác làm tấm gương cho bản thân noi theo.

Lên đầu trang